TIỂU SỬ THIỀN VIỆN MINH ĐỨC

 



   Đã từ rất lâu cái tên gọi thiền viện Minh Đức đã ăn sâu vào lòng biết bao người Phật tử và khách hành hương bởi cái không khí trong lành, những thắng cảnh đơn sơ kết hợp với vẻ đẹp thiên nhiên của một vùng núi cộng với một khoảng không gian tự do, thoải mái sau khi nghe một thời pháp và xem văn nghệ Phật giáo. Tất cả những gì diễn ra ở đây chỉ đặc trưng nơi này mới có được vì vậy mà Phật tử và du khách dù có đi đâu, đến đâu cũng đều rất thích ghé lại nơi này trong các tour du lịch TP. Hồ Chí Minh – TP. Vũng Tàu và các tỉnh miền Đông, miền Tây – TP. Vũng Tàu.


CLICK ĐỌC TIẾP ...



       Theo trục quốc lộ 51, tới ngã ba đường vào di tích khu Căn Cứ Núi Dinh thuộc thôn Phước Thành, xã Tân Hòa, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cũng chính là đường vào thiền viện Minh Đức. Tuy nhiên, nơi đây du khách lại đặt cho cái tên đường rất ư là “thoát tục”; tức ngã ba núi Bồng Lai Tiên Cảnh. Không phải ngẫu nhiên mà có cái tên này. Tất cả bắt đầu bằng những câu chuyện khai sơn thiền viên Minh Đức trong những ngày gian nan mới thành lập mà du khách quen gọi là chùa Bồng Lai. Đại đức đạo hiệu Thích Minh Đức, thế danh là Đặng (Phan) Văn Kiềm (sở dĩ mang họ Đặng là vì khi còn nhỏ, thân phụ được một gia đình họ Đặng nuôi dưỡng), sanh ngày 17/12/1942 (nhằm ngày mùng 10/11 ÂL năm Nhâm Ngọ), tại ấp Long Hoà, xã Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; thân phụ là cụ ông Đặng Văn Há và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Đời. Năm 1972, Đại đức rời quê hương đi du hoá khắp Sài gòn, rồi lần lượt đến các tỉnh miền Đông và miền Tây, vừa tự tu vừa tuỳ duyên thuyết pháp, tiếp độ người hữu duyên. Trong khoảng thời gian này, Ngài nương Hòa thượng đạo hiệu Thích Hồng Tại, thế danh Đoàn Trung Còn tu học. Mãi đến năm 1989, Đại đức mới xuất gia dưới sự chứng minh của Hoà thượng đạo hiệu Thích Đồng Huy (Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) và thọ giới Sa di tại Giới đàn Long Thiền (Đồng Nai). Năm 1993, Ngài thọ giới Tỳ kheo tại Giới đàn Thiện Hòa I (Bà Rịa – Vũng Tàu). Và kể từ đó, Đại đức là một trong những người "tiên phong" trong sự nghiệp hoằng pháp độ sanh, phát triển GHPGVN xã Hội Bài (nay là xã Tân Hoà) hưng thịnh như ngày nay. Bên cạnh đó, Đại đức rất tích cực hoạt động và đóng góp rất lớn trong công tác Phật sự của GHPGVN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nhiệm kỳ II, III, IV và V với chức danh Thường trực ban Trị sự, Trưởng ban Văn hóa ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Phó ban Trị sự GHPGVN liên xã Hội Bài (Tân Hòa – Tân Hải – Tóc Tiên), nhiệm kỳ II, III và IV. Năm 1983, Đại đức thành lập thiền viện Minh Đức (năm 1994, chính thức đại trùng tu Chánh điện) và tu viện Tam Quy. Năm 1993, chùa Tịnh Độ. Năm 1994, tịnh thất Tường Vân và Di Đà sơn. Riêng thiền viện Minh Đức là địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng nhất trong khu vực núi Dinh nầy. Nhớ lại ngày nào Thầy về đây vùng núi hoang vu, vắng vẻ, chỉ toàn là cỏ, nhiều loại thú rừng, lưa thưa chỉ có mấy ngôi nhà của dân và vài am cốc lá của các nhà sư tu hành muốn xa lánh chốn phồn hoa đô thị. Điện thì chưa có, đường thì chỉ là lối mòn nhỏ sau khi đi lại nhiều cỏ bị mòn không mọc lên được, còn muốn sử dụng nước thì phải xây hồ để lấy nước từ suối. Sau khi thầy trò nỗ lực khai hoang bằng cách ban ngày thì bứng đá, trồng rừng, làm rẫy… tự tìm kế sinh sống, ban đêm thì tinh tấn tu hành… Vài năm sau đó, thiền viện được dựng lên; tường thì được làm bằng vách đất, mái thì lộp lá. Lúc này, Phật tử và khách hành hương khắp nơi đổ về yêu cầu thầy giảng pháp, đặc biệt là muốn nghe pháp kệ của thầy. Khi Thầy ngâm kệ thì thật sự làm cho người ta “rúng động” cả tâm tư, tình cảm và muốn tu hành ngay lập tức! Với sự trợ duyên của Chính quyền địa phương, sự ủng hộ của GHPGVN tỉnh nhà và đặc biệt nhất là sự tín tâm của cư sĩ Phật tử, đàn na thí chủ, Thầy đã thành lập được một ban văn nghệ Phật giáo với nhân lực trong thiền viện nhằm phục vụ nhu cầu văn nghệ cho Phật tử cũng như du khách khi dừng chân nghỉ lại qua đêm nơi đây. Từ đó, tiếng lành đồn xa, chỉ duy nhất tại thiền viện này có chỗ nghỉ ngơi, sinh hoạt lành mạnh cho Phật tử và khách hành hương nghỉ lại qua đêm. Và cũng từ đó, thu hút nhiều Tăng, Ni, Phật tử về đây xây dựng tự, viện, tịnh xá, tịnh thất tu hành. Giáo hội Phật giáo Việt Nam xã Hội Bài được thành lập để sách tấn và quản lý sự tu học và sinh hoạt của hàng ngàn Tăng, Ni và Phật tử, rồi hàng trăm hộ dân kéo đến sinh sống bằng nghề buôn bán. Hiện nay, thì nơi đây qui tụ vài chục ngôi tự, viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường với cả ngàn Tăng, Ni và nam nữ cư sĩ Phật tử tu hành, tạo thành một hình ảnh đẹp “xứ Phật” giữa chốn “trần gian”. Cùng với sự phát triển ấy mà cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện và nâng cao với phương châm Nhà nước, tu sĩ và nhân dân cùng làm đường xá, cầu cống, điện đường, trường trạm và nước sạch. Vào những ngày lễ lớn như Phật đản, khánh đản Phật Di Đà, vía Quan Thế Âm Bồ Tát, mùa Vu Lan - Báo Hiếu v.v… thu hút vài ngàn người. Hàng năm, có khoảng vài chục ngàn người đến đây vì nhu cầu tín ngưỡng tâm linh cũng như khao khát một đời sống tinh thần bình an và hạnh phúc đích thực. Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, học hỏi và hành trì Phật pháp, Đại đức đã thuyết giảng hàng ngàn thời pháp, trong đó đặc biệt nhất là pháp kệ của Thầy đã làm "thức tỉnh" những ai chưa hề một lần biết "quay trở lại với chính mình". Hàng triệu cuốn băng Cassettes, đĩa MP3, CD, VCD, DVD đã được phát hành và cập nhật thường xuyên trên trang mạng Phật giáo www.thienvienminhduc.com và nhiều người đã tìm đến đây sau khi nghe pháp âm của Thầy. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho chư Ni an cư trong ba tháng mùa mưa; năm 1993, Đại đức mở trường Hạ và liên tục duy trì trường hạ Ni trong 19 mùa an cư; mở lớp dạy giáo lý, Phật thất cho cư sĩ; mở lớp học tình thương; đóng góp công tác từ thiện xã hội; xây dựng nhà tình thương cho địa phương; trồng cây gây rừng, tích cực tham gia phòng chóng cháy và bảo vệ rừng theo dự án 327 của Nhà nước; cứu trợ, ủy lạo đồng bào nghèo, khó khăn, trong và ngoài tỉnh; hỗ trợ quỹ khuyến học cho trẻ em nghèo hiếu học tại địa phương… Ngày nay, thì thiền viện tương đối khang trang với nhiều thắng cảnh gây ấn tượng trong lòng du khách. Bên cạnh, thiền viện là đài Quan Âm đứng trên hồ trông hướng ra đường lộ tượng trưng cho tấm lòng của Bồ Tát luôn có mặt khắp nơi phổ độ chúng sanh. Hình tượng và ý nghĩa của Bồ Tát Quan Âm ngày nay hầu hết Phật tử đều rất tôn kính và tin tưởng tuyệt đối. Cổng vào thiền viện vừa xây dựng lại vào năm 2008. Chánh điện xây dựng kiểu cổ lầu trông rất thoáng và mang đậm nét cổ kính. Bên phải chánh điện là dãy nhà khách và cũng là nơi chúng Ni An cư Kiết hạ sạch sẽ và thoáng mát. Bên trái chánh điện vừa là giảng đường vừa là sân khấu phục vụ văn nghệ Phật giáo có sức chứa hàng ngàn người vào những dịp lễ lớn của thiền viện. Nhà Tổ và nơi sinh họat chúng Ni nối tiếp bên cạnh sau khu giảng đường. Phía trước chánh điện là hòn non bộ với cảnh trí vườn Lâm Tỳ Ni nơi thái tử Sĩ Đạt Ta đản sanh trên có chín rồng phun nước. Bên cạnh là tượng đức Bổn Sư Thích Ca và bệ thờ bằng đá hoa cương tôn trí bốn cảnh: Vườn Lâm Tỳ Ni, Bồ Đề Đạo Tràng, vườn Lộc Uyển và Câu Thi Na, được xây dựng năm 2005. Kế tiếp là thập tháp bằng đá khối thờ thập đại đệ tử của đức Phật, phía sau là 10 bức tranh chăn trâu, xung quanh là lan can để hành hoặc tọa thiền. Kế bên là khu vườn Nai với cảnh trí Phật Chuyển pháp luân tiếp độ năm anh em Kiều Trần Như, xây dựng năm 2006. Bên cạnh là trụ đá đầu sư tử được mô phỏng theo trụ đá của vua Asoka, người có công đóng góp rất lớn trong việc phục hưng Phật giáo và Kết tập Kinh điển lần thứ ba ở Ấn Độ, 100 năm sau khi đức Thế Tôn Niết Bàn. Phía sau những cảnh trí này là tháp bằng đá khối (xây dựng năm 2010) sẽ tôn thờ Sư phụ Thích Minh Đức – Người đã khai sáng và phát triển rực rỡ một khu “Bồng Lai Tiên Cảnh” từ khu rừng núi nhiều thú, ít người này. Tổng thể khuôn viên thiền viện chỉ khoảng hai mẫu đất, xung quanh được trồng nhiều cây cảnh lại được chăm sóc cẩn thận nên hoa trong chậu lúc nào cũng trổ hương thơm ngào ngạt, nhất là loài nguyệt quế, mai chiếu thủy… Một khu nhà trù phục vụ Phật tử, khu nhà dành riêng cho cư sĩ và khu nhà lá mát mẻ, tất cả tiện nghi sinh họat đều tương đối đầy đủ, sạch sẽ và thoáng mát. Phật tử và khách hành hương về đây dùng bữa và nghỉ ngơi đều hài lòng vì không khí ở đây vừa ấm cúng, thân thiện như trong gia đình lại vừa tự do, thoải mái và thanh thản như chốn “Bồng Lai”. Một điểm đặc biệt nữa là xung quanh vùng núi này chùa chiềng nhiều hơn nhà dân và số luợng tu sĩ chiếm đại đa số. Riêng dịch vụ thương mại từ du khách đến thiền viện nuôi sống khoảng 30 hộ dân địa phương. Và cái tên núi Bồng Lai Tiên Cảnh quả thật là không có gì làm lạ trong lòng những du khách hơi “khó tính”! Chỉ một lần du khách ghé lại đây thôi thì cũng đủ cảm nhận cái đạo, và cái tình người ở chốn này. Riêng thiền viên Minh Đức đã nỗ lực hết sức mình trong việc hoằng pháp lợi sanh với phương châm “phục vụ chúng sanh tức cúng dường chư Phật” đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng ngôi nhà chung Giáo hội của tỉnh nói riêng, Phật giáo Việt Nam và quê hương đất nước nói chung. Tuy so với những thắng tích chùa chiềng trong cả nước thì lượng khách đến đây cũng còn khiêm tốn, nhưng sự thu hút du khách đến đây bởi điểm đặc trưng hấp dẫn riêng biệt thì chỉ nơi này mới có. Tuy nhiên, thiền viện Minh Đức cũng còn đó những mối ưu tư, trăn trở cần phải khắc phục nhất là vấn đề các hộ dân buôn bán lấn chiếm lòng lề đường, vệ sinh an toàn thực phẩm và an ninh trật tự trong sinh hoạt của du khách khu vực trước cổng chùa. Điều này rất cần sự hợp tác và quản lý chặt chẽ của ngành Du lịch và Chính quyền địa phương. Nếu làm tốt công tác này thì trong tương lai gần núi “Bồng Lai Tiên Cảnh” sẽ nhanh chóng trở thành một trong những trọng điểm du lịch tâm linh, tham quan tour TP. HCM, miền Đông, miền Tây – núi “Bồng Lai Tiên Cảnh” không những chỉ có giá trị về mặt tâm linh mà còn có cả giá trị về mặt kinh tế và môi trường sinh thái. TRỞ VỀ ĐẦU TRANG

 

ẢNH

titel

VIỆN CHỦ ĐĐ THÍC MINH ĐỨC

ẢNH

titel

EMTY..

ẢNH

titel

EMTY..

go to top