48 NGUYỆN ADIDA Q.THƯỢNG

 

Kính thưa Quí đọc giả !

Kinh Vô Lượng Thọ là tạng kinh rất quý báu cho người tu học Phật, nhất là cho hành giả tu Tịnh Độ Tông. Nhưng ý kinh rất thâm sâu khó thông, khó hiểu và ý chỉ trong kinh Đức Phật dùng thần thông nơi hào quang trí huệ Phật biến hiện hóa ra nhiều phương tiện, mượn sự tướng con người là vua Vô Tránh Niệm có pháp danh là Bảo Tạng, tu thực hành 48 đại nguyện mà thành tựu Tánh Đức A Di Đà. Ngài mượn cảnh là thế giới Tây phương Cực Lạc để hiển bày cõi Cực Lạc có các vật báu là xa cừ, mã não, san hô, lưu ly, hổ phách, vàng ròng. Tất cả đều là pháp tướng dùng làm phương tiện diễn bày mục đích Phật dùng sự tướng dạy Vua Vô Tránh Niệm và tất cả chúng sanh tu niệm Phật để thấy rõ các niệm thường sinh khởi tại tâm biết thế nào là chánh niệm và  tà niệm là gì, hầu khắc phục được các tâm niệm khi phát khởi đều thực hành sáng suốt, xa lìa các niệm vọng tưởng, ngõ hầu thanh lọc tâm quay về tự tánh thanh tịnh chơn như sẵn có.

Kính thưa quí vị !

Quả là một duyên lành đến với chúng Liên Tông Tịnh Độ và mọi người, nhất là khóa tu niệm Phật ngày mùng 05 vào mỗi tháng. Đã hơn một năm cứ vào mỗi khóa tu niệm Phật hằng tháng đều được Sư phụ thuyết giảng, nhắc nhở bằng một thời pháp hướng dẫn dạy tu về pháp môn Tịnh Độ, mục đích là NIỆM PHẬT THẤY TÁNH.

Vào ngày mùng 07 tháng 07 năm 2010, lúc khuya sau khi xong thời tu thiền Sư phụ cho biết là “Sư phụ đã vào được Thế Giới Cực Lạc”. Từ đó về sau mỗi lần được nghe giảng Sư phụ đều dạy về phương cách tu thấy Cực Lạc tại tâm. Với tâm hoan hỷ Sư phụ cho biết rằng Sư phụ đã thông suốt, giảng trạch được 22 đại nguyện trong 48 đại nguyện A Di Đà, đến sáng hôm đó Sư phụ đã trọn vẹn sáng suốt thông đạt đủ 48 lời nguyện và hứa rằng sẽ giảng lại tất cả cho đại chúng khi đủ duyên thành tựu. Đây là đại sự nhân duyên, là mạng mạch của Phật pháp. Hiện tại là một duyên lớn đối với chúng Liên Tông. Lời thuyết giảng tại Thiền Viện Minh Đức, nhờ hồng ân Tam Bảo, Phật lực gia trì, Sư phụ đã sáng suốt triển khai, giảng giải 48 đại nguyện trong kinh Phật thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh thâm mật nghĩa. 48 đại nguyện đã thành tựu Đức Tánh A Di Đà do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tuyên thuyết, với mật ý dạy cho tất cả chúng sinh cõi Ta bà biết phương pháp tu sửa bản tâm, hầu trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng giác các pháp, thấy lại tự tánh A Di Đà chính tự tâm của mỗi người, phải tìm lại chính mình. Lời thuyết thâm sâu của đức Phật, Ngài mượn nơi sự tướng A Di Đà cùng 48 đại nguyện thiết tha làm hành trang cho chúng ta đồng phát nguyện. Đây không chỉ là nguyện riêng của một Đức A Di Đà mà trong mỗi chúng ta nếu ai hướng về sự tu giác ngộ bản tâm thể nhập vào tự tánh Di Đà thì nên phát 48 đại nguyện để tánh được thể nhập chơn như thanh tịnh giác ngộ, thấy lại nguồn tâm đó là chánh báo, y báo sẽ là thế giới Tây phương Cực Lạc chính tại tâm ta đã sáng suốt xây dựng bằng tự lực, bằng vô lượng công đức của 48 đại nguyện. Chúng ta hãy cương quyết tự biết rằng đây là lời phát nguyện chính tự tâm ta, thành Phật cũng tại tâm ta.

Nguồn gốc quyển sách này có được từ nơi trí huệ tu hành của Sư phụ đã quyết lòng dùng sự sáng suốt, cùng nguyện lực thuyết giảng, mục đích làm sáng tỏ mật ý của 48 đại nguyện A Di Đà, để người tu niệm Phật thêm phương tiện dễ dàng thông suốt, thấu triệt mật ý của Đức Phật đã dạy trong kinh mà chúng ta hằng đọc tụng trong giai đoạn tầm tu học Phật.

Trước đây Sư phụ tu về Thiền tông, nhưng vì tâm nguyện độ chúng sanh, vì thấy Thiền rất khó tu, ít phương tiện diễn nói nên phải chuyển cách giảng giải bằng pháp Tịnh độ. Phải tùy thời, tùy căn cơ của mọi người nương vào pháp niệm Phật dùng nhiều phương tiện để giáo hóa chúng sanh vì tu thiền thì tâm phải tịnh, tâm muốn tịnh thì phải nhờ thiền đó là cách hướng dẫn thiền tịnh.

Sở dĩ nói niệm Phật thấy tánh và nói đức Phật Thích Ca Mâu Ni dùng thần thông trí huệ hiện tướng chỉ cho chúng sanh ngộ tánh vì đó là lời của Đức Thích Ca Mâu Ni trong Kinh Di Đà có dạy :

Một câu A Di Đà Phật chính là PHÁP để được vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni trong thời ngũ trược, nay đem toàn thể QUẢ GIÁC này trao cho chúng sanh đời trược ác, đó là cảnh giới sở hành của chư Phật, chỉ Phật với Phật mới hiểu cùng tận nỗi, chẳng phải cữu giới dùng tự lực mà tin hiểu rồi”.

Đem pháp giới thể làm thành thân và cõi của Phật A Di Đà, vì vậy danh hiệu A Di Đà chính là bổn giáo lý tánh của chúng sanh”.

Trong thời kỳ này đối với hàng cư sĩ tại gia phải cần hiểu biết mục đích của người tu là ra khỏi con đường sanh tử. Pháp môn niệm Phật gồm tự lực và tha lực, mà điều cần thiết duy nhất là phải tin tưởng tuyệt đối vào bổn nguyện Tánh Đức A Di Đà. Bổn nguyện A Di Đà là dùng danh từ nương Phật hiệu để cứu độ khắp chúng sanh gồm hữu tướng và vô tướng. Người trì danh hiệu Phật cần hiểu rõ việc này, vì không đủ tự lực để hiện tại được vãng sanh nên cần phải nương vào pháp niệm Phật, pháp là lý của tha lực. Vãng sanh Cực lạc bằng phương pháp  quay trở về tự tánh không còn niệm vọng tưởng là điều chắc chắn không còn nghi ngại, gọi là tu trực chỉ chơn tâm. Đây là phương pháp dành cho người tu học Phật hữu duyên phát đại bi tâm, một lòng nguyện vì đại chúng cho mình và tất cả mọi người đều tự tại giác ngộ giải thoát.

Ta phải tin rằng kiếp sống thế gian là vô thường, mạng sống ngắn ngủi như hơi thở ra vào, các pháp hữu vi đều là huyễn hóa, không có chủ thể, niệm niệm sinh diệt không ngừng, từng sát na biến hoại chẳng ngừng nghỉ, tất cả đều đưa tới khổ não, vô minh và trói buộc.

Tin sáu nẻo luân hồi thật là nguy hiểm chướng nạn, sơ sẩy chỉ trong ý niệm cũng đưa chúng sinh trầm luân cả ngàn muốn ức kiếp.

 

 

Phẩm 1 và 2 nói về lục chủng thành tựu, có pháp hội Thánh chúng tại thành Vương Xá trong Núi Linh Thứu cùng 12 ngàn vị Tỳ Kheo cùng nhau có mặt, tất cả đều là bậc Đại Thánh, đã đạt thần thông trí huệ sáng suốt, có Tôn giả Kiều Trần Như, Tôn giả Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Tôn giả Ca Diếp, Tôn giả A Nan... đều là Thượng Thủ. Cùng Bồ Tát Di Lặc tất cả Bồ tát trong hiền kiếp này cùng tới hội tập.

1. Có ngài Hiền Hộ.

Ngài Hiền Hộ chỉ đến niệm giác thường hằng của người giác ngộ, niệm này thường hộ trì tâm được an lạc. Thường giữ gìn từng tâm niệm của chúng sanh.

16 chánh sĩ chỉ đến những tâm niệm đã chánh kiến sáng suốt.

2. Bồ Tát Thiện tư duy nói đến các niệm từ chánh kiến của bậc giác ngộ, các tâm niệm đều thuận thiện, biểu thị cho các niệm sáng suốt, chính xác theo chơn lý Phật hòa hợp với Tánh Đức A Di Đà thanh tịnh giải thoát.

3. Bồ Tát Huệ Biện Tài là trí huệ đã sáng suốt có khả năng diễn nói, biết diệu dụng mọi phương tiện, khéo nói giáo lý chơn chánh cho mọi người tin tưởng mà kiến tánh.

4. Bồ Tát Quán Vô Trụ các niệm sáng suốt quán xét thấy biết rõ các pháp bên ngoài thế gian cùng các vọng tưởng đều là vô thường, không thật, nên không ái nhiễm, chấp trụ vào các pháp huyễn của thế gian, quyết lòng tu lìa các tà niệm để kiến tánh.

5. Bồ Tát Thần Thông Hoa, hoa trí huệ, hoa giới hạnh, thông suốt đủ năng lực chuyển hóa các pháp mê lầm, dùng các niệm sáng suốt, khéo giáo hóa đưa chúng sanh mê muội vào cõi an lành Cực lạc kiến tánh thấy được tự tâm.

6. Bồ Tát Quang Anh, ánh sáng trí tuệ minh quang của người giác ngộ sâu rộng, không ngằn mé, soi rọi khắp 10 phương cõi nước.

7. Bồ Tát Bảo Tràng, những tâm niệm thông suốt dùng pháp bảo là chơn lý giác ngộ ứng dụng làm đạo tràng để giáo hóa chúng sanh, diễn bày diệu lý, tuyên dương chánh pháp, dùng pháp bảo thù thắng đưa chúng sanh nhập vào tự tánh.

8. Bồ Tát Trí Thượng, trí cao thượng tột cùng siêu xuất vào đạo tràng này sẽ được chánh đẳng chánh giác.

9. Bồ Tát Tịch Căn, các niệm tự sáng suốt thanh tịnh nên giữ gìn được sáu căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không ô nhiễm vướng mắc vào sáu trần, các niệm không còn niệm vào pháp thế gian. Tất cả dục vọng đều được vắng lặng, gọi là các căn đều tịch lặng đó là Tịch Căn Bồ tát.

10. Bồ Tát Tín Huệ, Bồ Tát phải thường sống với niệm sáng suốt nơi tín, nguyện, hạnh nên nhờ đức tin sâu xa mà sinh trí huệ.

11. Bồ Tát Nguyện Huệ, sự sáng suốt là nguyện lực kiên quyết dùng trí huệ nguyện tu kiến tánh vãng sanh Tịnh độ.

12. Bồ Tát Hương Tượng, người tu dùng nguyện lực làm niềm tin, là sức mạnh vượt qua mọi cám dỗ thế gian, lìa khỏi các niệm luân trầm, thường sống với tánh giác tự làm chủ các pháp.

13. Bồ Tát Bảo Anh, người giác ngộ thông suốt các pháp nên tự tánh hằng chứa những pháp bảo trí huệ tinh anh. Như 48 đại nguyện là kho báu trí tuệ, là diệu pháp có năng lực giúp cho chúng sanh nương theo mà thực hành nếu không thối chuyển sẽ thành chánh đẳng chánh giác.

14. Bồ Tát Trung Trụ, niệm sáng suốt không nghiêng về thế gian hay xuất thế gian, dù ở cõi Ta bà mà tâm không nhiễm ô hay oán ghét, nhàm chán các pháp thế gian, dùng tánh giác mà chuyển hóa các chúng sanh đều được an vui, giải thoát đó là trung đạo.

15. Bồ Tát Chế Hạnh, người giác ngộ tự biết hành trì, khống chế các hành động do tà niệm tại tâm sai sử, luôn thường giác mà giữ gìn giới đức.

16. Bồ Tát Giải Thoát, người trí huệ tự giác, tự giải tỏa mọi buồn phiền, não loạn, dục vọng ra khỏi tự tánh, không chấp vào các niệm tâm luôn tự tại, đối với các pháp không phân biệt nhiễm tịnh đều an nhiên tự tại, bất động.

Tất cả danh từ gọi là chư Bồ Tát được diễn bày trong pháp hội Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ mượn danh từ dùng sự tướng để chỉ vào tự tánh nói đến quả vị chứng đắc tại tâm Ngài, sự sáng suốt trí huệ là vô tướng mới là chơn thật tướng.

Đây là sự vi diệu của pháp truyền tâm ấn. Phật dùng hình ảnh các Bồ Tát để tượng trưng chỉ vào trí tuệ từng niệm tại  tâm Ngài sẵn có, mà truyền đạt ấn vào tâm tất cả chúng sanh, để tự thấy lại chính tâm mình mà tự giác ngộ thành Phật cũng giống như Ngài. Đức Phật đã nói rằng : “Đây là tạng pháp bí mật của chư Phật ba đời, là quả diệu giác ví như viên bảo châu trên búi tóc Luân Vương không thể khinh xuất trao cho người khác mà Như Lai chỉ truyền trao cho bất cứ chúng sinh nào quyết chí hoàn thành địa vị Thiên Nhân Sư tiếp nối hạt giống Bồ đề. Tất cả tâm thể phải xa rời mọi luận giải thế gian, vì tâm thể nhơ bẩn mà chúng sinh mãi mãi luân chuyển trong ba cõi sáu đường đời đời chịu khổ, nếu tâm thể ấy được chuyển hóa thanh tịnh mà chúng sinh thành tựu được Giới Định Huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến đắc quả A La Hán... nhẫn đến địa vị Phật Đà”.

Nơi mỗi người đều đầy đủ hạnh nguyện Bồ tát vì vậy chúng ta nên tự phát huy Đại Hạnh Phổ Hiền tại tâm mình, là nguyện vương ( nguyện lớn ) gồm đầy đủ vô lượng hạnh nguyện. Buông xả tất cả các pháp mê lầm, dùng tâm niệm trí huệ A Di Đà là tánh đức thanh tịnh vô lượng quang, trùm khắp, thông thấu hết thảy các pháp hiểu biết viên mãn, viên thành Phật đạo, chánh đẳng chánh giác.

Theo kinh Bi Hoa vào thuở xa xưa có đại kiếp gọi là Thiện Tri ( Tri kiến tâm niệm thiện lành ) cõi nước thanh tịnh tên Tân-Đề-Lam (tâm niệm thanh tịnh) có Vị Chuyển Luân Thánh Vương ( vua tâm ) là Vô Tránh Niệm, nghĩa là người tu hành niệm Phật phải sống với tánh giác, vô tranh, không tranh chấp hơn thua, ganh ghét, thù hận, tránh niệm ác, vọng tưởng, tham dục, luyến ái, xả ly dục vọng thấp hèn, xa lìa các niệm khổ não, tránh hẳn những niệm tham, sân, si, ái. Với pháp hóa hiện này Đức Phật dạy rằng, ai ai cũng có niệm thiện do sự tư duy tri tầm có thể chuyển hóa niệm mê thành sáng suốt, biết rõ được các tâm niệm, hầu tránh ba đường ác. Vậy Vua Vô Tránh Niệm là tránh niệm ác. Tâm niệm sáng suốt dẫn đầu đưa ta đến pháp niệm Phật để buông bỏ các niệm vọng tưởng trần lao, đến nhất tâm bất loạn. Người không loạn niệm sẽ an định, nhập tự tánh Di Đà vô biệt niệm đã vãng hết tập niệm trần lao, không sanh lại niệm mê lầm, hoàn toàn trong sạch gọi là vô sanh. Những sự ái nhiễm vì dục vọng, độc ác, ích kỷ, hận thù đã quá vãng, vắng lặng không sanh khởi cách biệt bởi sự giác ngộ, vô sanh ( không sanh ) nên gọi là vãng sanh Tịnh Độ (niệm mà vô niệm).

 

VÃNG SANH có nghĩa bỏ thế giới ác trược (Ta bà) chuyển thành thế giới thanh tịnh an vui. Lúc mê muội sống với dục vọng trần lao tham, sân, si, thương ghét, tranh giành, đấu tranh, chấp thật, những tập tục là những thói quen không bỏ được thành mê tín. Trong Kinh Phật nói đến Địa ngục, Nhơn, A-tu-la, Thiên. Thiên là nói cõi trời, nói cõi này vì chỉ đến phước báu người tu thập thiện. Nói địa ngục là do tâm niệm mê si nên nói là địa ngục, vì chấp vào tướng nên nói là địa ngục, vì chấp vào tướng nên ta cho là có ông cai quản địa ngục.

Trong câu chuyện Ngài Na Tiên Tỳ Kheo, trả lời cùng vua Milanđa qua cách cật vấn. Vua hỏi cái gì là Na Tiên Tỳ Kheo, Ngài Na Tiên không trả lời mà hỏi lại vua rằng : “Tâu Bệ Hạ đến đây bằng gì?”. Vua nói “Trẩm đến đây bằng xe”. Ngài Na Tiên nói cùng Bá Quan văn võ làm chứng lời vua nói, thật sự nhìn bên ngoài thì rõ ràng vua đến bằng xe. Nhưng Ngài Na Tiên hỏi vua “Tâu Đại Vương, cái bánh xe có phải là xe không? Con bò có phải là xe không? Tất cả bộ phận từng phần không phải là xe, vậy mà vua nói đến đây bằng xe”. Như vậy vua nói không đúng, tất cả bánh xe, càng xe, mui xe, con bò, sắt thép hoàn toàn do sự kết hợp lại gọi là xe, đều do các pháp hợp lại mà thành. Vậy có cõi Thiên là Trời cũng do nhiều pháp tu Thập Thiện hợp lại bởi nhiều tâm niệm mà thành, dùng danh từ thế gian mà đặt tên. Phật dạy các pháp đều như huyễn, nếu bất cứ pháp nào có tên gọi đều do nhiều duyên kết tựu mà thành.

Một danh từ được gọi là Phật cũng do nhiều duyên thiện lành sáng suốt, trí huệ hợp lại thành pháp thân Phật. Đức Quán Âm thành tựu do 12 lời nguyện, Đức A Di Đà do 48 lời nguyện. Tất cả đều chỉ về tự tánh mà diễn nói. Vãng sanh có nghĩa là vô sanh ( không sanh ), vãng là chết, nhưng cái gì chết cái gì sanh?

Có tên gọi các vị La Hán là Phật chỉ ngay những tâm niệm, giận hờn, ghen ghét, tức tối, tham lam v.v… không còn nữa gọi là vãng, không còn sanh lại tâm độc ác, tội lỗi nữa nên gọi là vô sanh. Nên các vị La Hán gọi là bậc vô sanh, nghĩa là những tâm niệm nghĩ nhớ về lục đạo không còn lai vãng, chỉ có sự sáng suốt biết rõ các pháp biến hiện đều do duyên hoàn toàn không thật, nên không chấp vào các duyên để tạo nên tâm niệm nào cả. Đó là tâm niệm đã thanh tịnh, vắng lặng đối với các pháp (loạn pháp). Hiện tượng vãng sanh là những hiện tượng do con người tạo ra, đó chỉ là hiện tượng vãng sanh bên ngoài có thể tạo ra mọi hiện tượng, còn cái thật vãng sanh của chơn tâm phải thật sự tu hành sáng suốt biết rõ từng tâm niệm biến chuyển mê lầm vì vô minh hay thanh tịnh, còn vướng trụ hay tự tại, thông suốt rõ ràng mới là chơn thật vãng sanh.

Người học Phật nên hiểu rằng Tam Bảo có thường trụ Tam Bảo và Xuất Thế Tam Bảo. Ta thường chiêm bái, tín ngưỡng tôn thờ, lễ lạy hình tượng Phật đó là tín ngưỡng qua hình tướng thế gian bên ngoài, đó là phần vỏ, còn tự tánh xuất thế phải tự tư duy tu, thật sáng suốt biết rõ ràng. Bên trong tự tánh Phật là phần tinh túy, là ruột của đạo Phật, chiếu soi hằng sáng. Thông hiểu 48 lời nguyện là 48 giới của Bậc Bồ Tát giáo hóa chúng sanh, xuất từ tự tánh A Di Đà gồm 10 giới trọng và 48 giới khinh vì 48 lời nguyện là hành trang, là con đường ta nương về Tây phương Cực Lạc.

Người tu thấy được tâm là đã gần được với Phật, còn ngược lại không thấy được tâm là xa cách Phật muôn trùng vì “Phật tức tâm”, mà người không thấy tâm tức là không thấy Phật bao giờ. Bởi đạo Phật chủ ý về tâm, ta không nên theo hình tướng giàu nghèo, tốt, xấu, hơn thua nên bị lừa đảo không thật.

Vua Vô Tránh Niệm thống trị bốn châu thiên hạ (tự tánh thanh tịnh trùm khắp các cõi), vua Vô Tránh Niệm ( tự tánh sáng suốt ) thống trị tất cả chúng sanh trong tự tánh hằng sa Quốc độ khắp hết các cõi Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới (gồm tất cả các cõi trong tâm). Người tu thực hành bằng tâm niệm hướng đến thập thiện được phước báu an lạc cõi trời. Người mang tâm thập ác hướng đến quả khổ não, đau buồn đúng theo nhân quả.

Trong triều đình vua Vô Tránh Niệm có Quan Đại Thần tên là Bảo Hải rất sáng suốt thông minh, mến mộ giáo lý, tướng hảo thông tuệ. Vua Vô Tránh Niệm sống được với những tâm niệm tôn quý nên danh là Bảo Tạng ( ý này nói đến tự tánh con người có chứa rất nhiều châu báu ) ( Pháp bảo ) đầy đủ sáng suốt, chứa đủ cả đó gọi là TẠNG PHÁP. Lục Tổ nói “Trong tâm có tất cả, trong tâm chứa muôn pháp”.

Bảo Tạng thấy thân tâm thế giới vô thường, khổ đau, không bền, không thật, hư huyễn nên nguyện xuất gia tu Phật tinh tấn, không bao lâu chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thành Phật, hiệu là Pháp Tạng Như Lai.

Ta hãy nhìn vào Như Lai Tạng Tánh chính mình, buông xả những niệm không thật, huyễn hóa, mê lầm để sống cùng Tạng Tánh chơn như sáng suốt, trí huệ, chứa đầy đủ công đức và phước báu thiện lành, với pháp này Phật muốn dạy cho tất cả chúng sanh cõi Ta bà chớ không nói riêng Ngài Pháp Tạng. Thời này chúng ta là những người tu theo pháp của bậc Đạo Sư chỉ dạy, thì ai ai cũng nên sáng suốt thông thấu không phân biệt là lời dạy này chỉ riêng cho Ngài Pháp Tạng được học, mà tự cho rằng ta không có phần thì vô cùng lầm lẫn. Phật nói đến Pháp Tạng là muốn từ nơi hóa thân Phật biến hiện phương tiện để đời đời giáo hóa cho tất cả chúng sanh thấy được như lai tạng tánh chính nơi mình. Nên Ngài có nói trong Kinh Pháp Hoa “TA VÌ ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN THỊ HIỆN ĐẾN THẾ GIAN LÀ CHỈ CHO CHÚNG SANH NGỘ NHẬP PHẬT TRI KIẾN” ( thấy tánh thành Phật ). Vậy đây là Quốc độ mỗi chúng ta cần nên biết.

Danh thơm của Bồ Tát Bảo Tạng đến tai vua Vô Tránh Niệm, vua thỉnh Phật và chư Tăng cúng dường thật chu đáo Quan Đại Thần Bảo Hải sau khi nghe pháp chứng Thánh quả Cư sĩ Bồ Tát, sau khi thiết triều tâu với vua Vô Tránh Niệm “Bệ Hạ cúng dường cầu phước nhân thiên, dù tốt đẹp vẫn ở tướng vô thường biến đổi như gió thoảng mây tan, hiện nay do túc nghiệp đời trước tu phước, nên bây giờ được quả vị tôn quý không ai sánh bằng, thuận việc giúp đời cơm no áo ấm đó chỉ là phước hữu lậu, vẫn còn sự bất an vì sanh, lão, bệnh, tử, sao bằng phát tâm Bồ đề, hành Bồ Tát đạo, kiến tạo nước Phật thì tất cả đều hạnh phúc biết bao”.

Đây là Phật chỉ đến sự chuyển hóa tự tâm vua Vô Tránh Niệm, lời khuyên tu của Ngài Bảo Tạng (tự tánh bừng sáng) nhắc ta nên quay vào tự tâm, để nhận biết rằng đừng nên mong cầu vào phước bên ngoài. Vì đó là phước hữu lậu, là sự sanh diệt vô thường còn quẩn quanh trong lục đạo, phải cương quyết tu tập lìa các niệm xấu ác để trang nghiêm Quốc độ, thanh tịnh tại tâm là ta đã giữ được Tịnh Thổ, là Thế giới Tịnh Độ tự tâm của Đức A Di Đà, là Giáo chủ cõi Tây phương vô cùng an lạc, hạnh phúc “TỰ TÁNH DI ĐÀ DUY TÂM TỊNH ĐỘ”.

Vua Vô Tránh Niệm nghe xong vô cùng hoan hỷ, thu xếp việc triều chính ( thanh tịnh tự tâm ) đến cúng dường Phật, Tăng thính pháp. Lúc này thấy Đức Bảo Tạng Như Lai nhập định phóng quang sáng suốt, soi rõ mười phương thế giới Tịnh độ của chư Phật cho chúng hội chiêm bái. Vua Vô Tránh Niệm cũng nhập chúng thấy nhân dân của mình sắc thân, không ngời sáng như dân Phật, trí huệ cũng kém hơn, Quốc độ đền đài bằng cây đá chạm trổ thô thiển, trong khi cung điện xứ Phật làm bằng cây bảy báu, lưu ly, xa cừ, xích châu, mã não, san hô, hổ phách v.v… đặc biệt cõi Phật không có dân nghèo khó, bệnh hoạn, chết chóc.

Nói đến vua Vô Tránh Niệm là chỉ hành giả tu Phật. Ta hãy quay lại tự tâm đặt ngay lời Phật dạy với vua là lời Phật dạy chính ta, phải đặt ngay vua Vô Tránh Niệm là tự chính tâm mình để thâm nhập nhận liền lời dạy của Phật. Phật nói cho vua nghe như nói chính với chúng ta đang nhận lấy lời Ngài, tự đặt lòng ta vào vị trí này thì vô cùng hoan hỷ, mọi tà niệm sẽ tiêu tan, nên thu xếp các tâm niệm bận rộn, nghe lại tiếng lòng ( Quán Thế Âm ) nuôi dưỡng lại tự tánh, các vọng niệm thật sự vắng lặng là tâm an được định, sáng suốt thấy tất cả mười phương trong tâm địa, từ cõi Phật, Bồ Tát, La Hán, Duyên Giác, Thinh Văn, A Tu La, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh. Dùng pháp nhãn chiếu soi thấy được sự an lành cõi Cực Lạc, nơi đó có những tâm niệm thiện lành đang chiêm bái Phật ( chơn tâm ), sự thanh tịnh, sáng suốt sẽ thấy được chính ta, mỗi tâm niệm tượng trưng dân trong nước của vua ( thấy biết còn niệm lăng xăng ) nên nói sắc thân không ngời sáng, còn niệm vô minh nên trí huệ còn non kém, đền đài cung điện chỉ phước hữu lậu, tạm có cõi nhân thiên luôn sanh diệt, không thật, nên nói thô thiển. Cung điện xứ Phật được kiến lập bằng cây bảy báu, đó là pháp bảo do những phương pháp sáng suốt tập tu xây dựng gọi là Thất Bảo ; đức tánh thuần khiết là pháp bảo được kết thành bởi công hạnh của người tu là từ bi, hỷ xả, giới, định, huệ, cõi trong sạch này toàn những tâm niệm cao thượng thiện lành, không có tham, sân, si, não loạn, niệm ác cũng không sanh (vì không sanh diệt nên nói không hề có sự chết chóc).

Quan Đại Thần Bảo Hải về dinh thự riêng. Vua Vô Tránh Niệm hồi cung suốt đêm không ngủ, hồi tưởng, tư duy xét xem sự thanh tịnh các cõi Phật, thành lập đại nguyện xây dựng nước Phật cho chính mình. Hôm sau vua đến lễ bái Bồ Tát Bảo Tạng xin chứng minh ngài phát nguyện Bồ đề dù trăm ngàn kiếp khổ khó, một lòng thực hiện quyết không thối chuyển.

Quan Bảo Hải về dinh thự riêng, ý dạy ta phải nhất tâm chỉ chuyên nhớ Phật ( Phật nói đến tánh giác, nói đến sự an định ) nên nói đến NGÀI THẾ GIAN ĐỊNH TỰ TẠI VƯƠNG NHƯ LAI. Vua suốt đêm không ngủ là nhắc đến tự tánh đã tỉnh thức, giác ngộ của người tu, luôn luôn săn sóc tự tánh, xem xét từng tâm niệm. Hồi cung là quay vào tự tư duy, quán xét các cõi nơi lòng mình, lìa bỏ niệm mê lầm, độc ác, tham, sân, si phát Bồ đề tâm nguyện tu hành xa lìa mọi tội lỗi.

Đức Phật Thích Ca thị hiện ra đời thuyết pháp 49 năm có tám mươi bốn ngàn pháp môn, chính yếu là chỉ cho chúng sinh mở cửa trí tuệ, mở tuệ giác. Dù cho ta tu Tịnh độ Tông, Thiền Tông, Thiên Thai Tông, Pháp Hoa Tông mục đích là mở tuệ giác, trí tuệ, nếu không khai mở được tâm là tu mù. Trí huệ là hào quang chiếu soi tự tánh, ánh sáng quang minh thông suốt hết những tâm niệm thiện lành, hay độc ác, giúp con người thấy được tự tâm, kiến lập Cực Lạc an lành, hay sa đọa.

Chúng ta hiện có mặt cõi Ta bà này, không chỉ mới một lần, mà đã luân hồi xoay vòng sanh tử từ vô lượng kiếp. Từ nơi tánh thanh tịnh chơn như vì một niệm bất giác mê lầm tự chọn mà sinh khởi, niệm này từ vô minh duyên theo ngoại cảnh mượn thất tình lục dục làm mạng sống nên niệm niệm liên tục sanh tâm giận, buồn, thương, ghét, yêu, ham muốn đó là khổ, vui, lợi, hại, khen, chê, tốt, xấu tám pháp này gọi là gió bát phong, ta mê lầm nương vào đây tạm mượn làm hơi thở, làm sự sống mà Phật nói đó là vô thường, huyễn ảo, không thật. Sự vô thường này luôn sanh diệt, nếu bất như ý thì đau khổ, vui trong giây phút vì được quyền lợi do nơi nhân quả phước họa vô thường được rồi thua. Nếu được khen tặng, ca tụng thì duyên theo âm thanh mà cho rằng ta tốt đẹp sanh lòng ngã mạn, kiêu hãnh, tự cao. Các pháp luôn biến chuyển không dừng, nên đến việc không như ý, nghịch duyên thì sanh tâm phiền não, đau khổ, oán hận cuộc đời, hận người, ghét cảnh, vì những nguyên nhân này là hạt giống chính ta nuôi dưỡng mãi không dừng, kết quả là đã trồng cây phiền não, sân, si vào đất tâm lớn dần tươi tốt, bám chặt gốc rễ vô minh đơm hoa, kết quả, nên đời này sang kiếp khác mãi trầm luân cõi Ta bà khó mà giác ngộ, thấy lại chơn tâm có sẵn. Nên trong kinh Phật nói đến thời Đức Nhiên Đăng Cổ Phật ( đó là hào quang sáng suốt, tự nhiên của mỗi con người sẵn có từ vô thủy vô chung bất cùng tận đã tàng ẩn bởi bụi vô minh che mờ, phủ kín “đèn trí tuệ” )

Tại sao ta thường phải tôn thờ, chiêm bái, lễ lạy, niệm Phật? Hãy tư duy nghiệm xét cho rõ ràng.

Sự tôn thờ lễ lạy hình tượng Phật, vì là hình ảnh tượng trưng để tạo niềm tin cho ta tín  ngưỡng đặt niềm tin nhớ đến từng đức hạnh, từng pháp tu, công đức trùm khắp mà ngày nay thế gian hết lòng tôn kính, tôn thờ gọi là Thế Tôn.

Hình tượng Phật do con người tạo nên là phần vỏ bên ngoài là pháp hữu vi, không bền chắc, là pháp thế gian. Phần ruột bao gồm những pháp xuất thế gian đó là 48 lời nguyện. Nếu từ nơi mỗi người bất cứ chúng sanh nào phát lòng đại nguyện, thực hành hết lòng gìn giữ thì sẽ vãng sanh Cực Lạc, trở lại Quốc độ an lành ( tự tánh chính ta kiến lập ).

Nếu muốn chuyển hóa tự tánh phàm phu trở về tự tánh Di Đà phải thành tựu nhiều pháp sáng suốt, trí tuệ, nghĩa là phải đầy đủ nguyện lực, phải trọn niềm tin, mạng sống là công hạnh tu hành giữ gìn giới luật, tạo vô lượng công đức. Phật dạy người tu Tịnh Độ phải đầy đủ Tam Tư Lương là TÍN NGUYỆN HẠNH nên Ngài đã phát 48 lời nguyện làm gương cho tất cả chúng ta. Trong chúng ta nếu muốn về cõi Di Đà tại nơi tự tánh cũng phát 48 lời nguyện như Ngài để chuyển hóa độ hết chúng sanh trong tự tâm chính mình, đó là những tâm niệm tham, sân, si, độc ác, dục vọng tối tăm, mê lầm, ô nhiễm, ích kỷ, hẹp hòi tất cả những niệm vô minh trở nên thanh tịnh, sáng suốt vắng lặng chiếu soi.

Điều nguyện thứ I, nếu con được thành Phật mà trong cõi nfước con còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

Nguyện lời chư Phật độ vì

Nguyện lời thành thật hôm nay mọi nhà

Nguyện hành như hạnh Thích Ca

Nguyện tu thành Phật không sa ngục hình

Nguyện trừ ác đạo vô minh

Nguyện làm như thật tánh tình Như Lai

Nguyện làm tâm đạo hôm nay

Nguyện cùng chư Phật tương lai rạng ngời

Nguyện rằng Bồ Tát khắp nơi

Hành đạo chánh giác tuyệt vời độ sanh

Nguyện làm tất cả điều lành

Nguyện tu thành Phật độ sanh muôn loài

Nguyện rằng nghiệp chướng hôm nay

Không còn ác đạo ngày ngày sửa sang

Nguyện tu tâm nọ bình an

Nguyện tu thành Phật thế gian hết phiền

Nguyện tu tâm trí hiện tiền

Nguyện làm Phật đạo hóa duyên mọi nhà

Nguyện hành theo đạo Thích Ca

Nguyện làm tốt đẹp bá gia vui mừng

Nguyện thành tâm Phật như mùa xuân

Rọi toàn ánh sáng vô cùng vô biên

Nguyện đời an lạc bình yên

Mọi người giác ngộ tâm thiền như như

Nguyện trên Phật Tổ lòng từ

Dạy truyền tất cả hôm nay đắc thành

Tâm thanh cùng nguyện thực hành

Cúi đầu xin Phật, chúng sanh thương nhờ

Tới đây xin tạm dứt lời

Chúc cầu Phật tử về đời nguyện tu.

 

Sở dĩ có lời nguyện trong nước không có ác đạo, vì con người sống mãi chạy theo vật chất của cuộc đời, thường đua chen, đấu tranh, lường lận, lợi dưỡng. Những gì có mặt trên đời đều cố chấp cho là của ta nên bất chấp không sợ tội lỗi, quyết tâm chọn cái vô thường, tạm bợ cứ gìn giữ cho là ta, các tâm niệm đó hoàn toàn do tâm biến hiện. Sự giàu, nghèo, sang, hèn, tốt, xấu đều không thật, vì lầm nên người mê bị chúng lừa đảo, đây là những tâm niệm, là nhân tạo nghiệp đưa ta vào tam ác đạo. Người nuôi dưỡng tâm niệm tham là nghiệp của cõi ngạ quỷ đạo ; sống với niệm sân hận, oán thù, hung ác là tạo nghiệp cõi súc sinh đạo ; si mê, mù quáng, tối tăm sống cùng tâm niệm thấp hèn, ích kỷ là nghiệp của địa ngục đạo, gọi là Tam đồ khổ. Nếu ta cứ mãi đùa vui, nuôi dưỡng con đường này thì trong cõi nước ( đất  tâm ) có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Chúng ta có nhiều tập khí, nhiều tính toán, mãi lăng xăng, Phật nói đó là bệnh của chúng sanh, gọi là nặng nghiệp. Ta phải bỏ dần sự điên đảo thì tâm sẽ được thanh tịnh, nên quán sát thật sâu để thấy được cảnh giới của Đức Phật. Tu phải thấy được nguồn tâm chính mình, coi lại những tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, phải thường sáng suốt thấy nó chuyển biến ra sao? Tu phải xác định ngay tâm, không nhìn hình tướng, giàu, nghèo, sang, hèn, phải biết rõ tâm nào là tâm Phật, tâm nào là tâm chúng sinh. Tâm hiện tất cả sự thạnh suy, thành bại của các pháp ta đang mang thân người, nhưng sau khi bỏ xác thân thì chỉ còn pháp, còn nghiệp chính do tâm tạo tác thiện nghiệp, ác nghiệp hay thanh tịnh, sáng suốt, giải thoát tức là pháp từ bi trí huệ. Vậy ta phải biết quy y Phật (niệm Phật), quy y Pháp phải coi lại pháp ta đang sử dụng là pháp gì? Có từ bi, hỷ xả, bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ hay còn pháp tham, sân, si đó gọi là trạch pháp, vì pháp là mẹ sanh ra chư Phật, pháp là nội tâm của Đức Phật còn tượng Phật chỉ là hình tướng bên ngoài do tâm con người tạo ra. Nếu không có pháp thì tượng Phật chỉ là gỗ đá được tạo nên. Cho nên khi lạy Phật ta phải sáng suốt biết rằng ta không lễ lạy hình tượng mà ta đang nhớ đến công đức Phật, nhớ đến đức tánh cao cả, vô thượng đức từ bi thương chúng sanh hết lòng khuyên dạy. Ta học Phật phải biết pháp, nếu không hiểu điều này sẽ trở thành người học đạo mê mù vô ích.

Hiện nay là thời mạt pháp chỉ còn pháp môn Tịnh Độ nên ta phải quyết tu học, phải phát đại thệ nguyện.

Phẩm thứ sáu phát nguyện thành chánh đẳng chánh giác tức là kiến tánh. Kiến tánh có nghĩa là thấy lại tâm tánh chính mình, vậy ta hãy quay lại coi tâm tánh mình ra sao? Có bao nhiêu ác, bao nhiêu hiền lành, bao nhiêu sáng suốt, bao nhiêu tham dục, bao nhiêu sân si hận thù?

Ta cứ mãi chạy ra bên ngoài theo nhà cửa, xe cộ, ruộng vườn, tài sản, danh lợi thế gian. Ta muốn về cõi Cực Lạc, điều cần nhất là phải niệm Phật nhất tâm bất loạn, thấy lại tâm tánh tự nơi mình. Nếu như mãi mãi làm chuyện bên ngoài là bố thí, cúng dường, làm lễ trai tăng, từ thiện, xây cất chùa, nuôi Tăng Ni đó chỉ là phước hữu lậu thế gian, nếu tâm vẫn còn xấu xa, độc ác dù cho làm gì đi nữa cũng không vãng sanh Cực Lạc được.

Kiến tánh là gì ? Là người biết xét từng lời nói, quay vào tự tánh sáng suốt rằng khi lời nói thốt ra có làm hại ai, khổ sở ai hoặc nói ra vì thương yêu giúp đỡ, nói lời đạo đức, lời nghĩa nhân ( nói theo lời Phật dạy ). Còn nói theo sự giận hờn, nóng nảy, nói đại, nói càng là người không biết nuôi dưỡng Phật tánh, không thấy được tánh. Tổ Minh Đăng Quang dạy :

Mở lời trước cạn xét suy

Rằng ta cất tiếng ích chi chăng là

Bằng như lời nói thốt ra

Làm buồn kẻ khác thì ta xin đừng…

Người kiến tánh khi nói năng hay làm việc gì cũng cẩn thận. Ngày xưa ta nói đùa, nói đại, thiếu dò xét, nói bởn cợt bừa bãi, nói càng, nói điên đảo, nói độc ác. Nên người có trí tuệ, trước khi nói nên xét tâm thật sâu, nghĩ suy cho kỹ, việc này mọi người đều làm được. Việc kiểm tâm tánh là việc làm của đệ tử Phật. Muốn thực hành pháp môn của Như Lai phải thường xem xét tâm, vì mỗi tâm hạnh thanh tịnh là mỗi tướng tốt của Như Lai, vẻ đẹp là dùng pháp trong sạch mà trang nghiêm Quốc độ. Tất cả những pháp lành được viên mãn là Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật, nghĩa là thanh tịnh hoàn toàn. Mỗi tâm niệm đều sáng suốt biết rõ đó là các pháp được xâu kết lại trong sự an lành, hạnh phúc, tự tại, giải thoát tại nơi thế gian gọi là Thế Gian Định Tự Tại Vương Như Lai, là trang nghiêm 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp trong mỗi con người, nếu thực tu đúng giáo pháp chắc chắn sẽ thành tựu được. Vị Tỳ Kheo chơn chánh không phải bên ngoài cạo tóc, đắp y mà phải dùng 250 giới Tăng, 348 giới Ni trang nghiêm Quốc độ nơi tự tâm, nên giới luật là vị Đạo Sư dẫn đường cho vị tu hành đến bờ giải thoát. Người cư sĩ không chỉ bên ngoài tụng kinh, niệm Phật, làm phước, bố thí, cúng dường, xây tháp, nuôi Tăng Ni là đủ, mà phải quay vào tâm tánh nhận biết rõ ràng về Tam Quy, Ngũ Giới, phải tôn kính ba ngôi Phật–Pháp–Tăng, luôn luôn thường sáng suốt, biết rõ năm giới mà giữ gìn làm thân mạng, nghĩa là không sát sanh, không trộm cắp, tham lam, không nói dối, không tà dâm, không cờ bạc uống rượu.

Tam quy là quay về ba phương pháp :

1. Quy y Phật : Là quay về Phật Tánh chính mình, là tự tánh sẵn có vốn thanh tịnh từ xưa nay. Bản chất là bổn lai diện mục hằng sáng suốt không nhiễm bởi một niệm khổ, vui, thương, ghét, tham lam, sân si nào cả, đó là căn bản hằng sáng nơi tánh chơn như vắng lặng. Mọi vọng tưởng trần lao là thế giới vô nhiễm, vô ưu. Trong sự vắng lặng này sẽ được sáng suốt bởi trí tuệ biết vạn pháp đều thanh tịnh, tùy duyên đến, tùy duyên đi, không ràng buộc vào một ai. Sở dĩ nói buông xả, giải thoát vì khi đối cảnh biến hiện sinh pháp, căn duyên trần gặp thức sanh tâm chấp thật nên niệm niệm không dừng do vô minh nên sa đọa vào lục đạo, đọa vào rừng mê. Cho nên Phật dạy ta phải thường niệm Phật tức là niệm trở lại tự tánh chính mình, để không dong ruỗi theo tâm niệm mê lầm, tự quy y Phật Tánh tại tâm mình là phương pháp tự quy y Phật.

2. Quy y pháp : Tất cả mọi sự việc từ hoàn cảnh, từ vật chất đến tinh thần, vô hình hay hữu hình, có tướng hoặc vô tướng đều gọi chung là pháp. Nên Tổ dạy “Nhứt thiết do tâm tạo, vạn pháp quy tâm”, tất cả các pháp biến hiện có không đều như huyễn, như sương, như ảnh, như bóng, như bọt, như điện chớp, không thật, phải thật nhận ra rằng chính thân ta cũng là pháp ( sắc pháp ). Nhà cửa, tài sản, vợ chồng, con cái, cha mẹ, người thân hiện tại đều là sắc pháp, là vật chất hữu hình ( hữu hình hữu hoại ), đến sự vui, buồn, thương, giận, ghét, ưa ( pháp vô hình ) là pháp sanh diệt. Những gì có sanh sẽ có hoại nên luôn biến đổi, đều là vô thường tạm có. Ta phải dùng trí huệ Phật là Phật nhãn, nhận biết tất cả vạn vật muôn loài, mọi sinh hoạt trong cuộc sống đều là pháp, với sự hiểu biết này ta sẽ nhận ngay lời Phật dạy những gì thành tựu đều là pháp. Nếu biết muôn sự vật đều không thật nên khi tan rã, hoại diệt thì sự sáng suốt biết nó không thật, không thường còn, sự biết này là định lực giúp ta an ổn, tự tại buông xả các khổ đau. Không tham ái, tiếc thương nên người niệm Phật muốn được nhất tâm bất loạn phải dùng sự sáng suốt đúng như thật, biết rõ tất cả đều là pháp đó mới là y pháp, nên nói là tự quy y pháp.

3. Tự quy y Tăng : Người an lạc phải tăng trưởng sự thanh tịnh, phải gìn giữ giới luật, biết rõ mọi tâm niệm sinh khởi trong tâm nguồn gốc là do tham vọng, ái dục, tranh chấp, mê đắm vì tư lợi phát sanh. Với những tà niệm này người tu nên thường kiểm soát tâm, phải chuyển hóa ngay sự lầm sai. Thực hành sự vắng lặng tại tâm, không khởi các niệm tà pháp. Niệm hiện tiền là trí huệ sáng suốt nhận rõ đây là vọng niệm, tà pháp, ác niệm, điên đảo sinh khởi, nên nói là chuyển mê thành giác, chuyển niệm ma ra niệm Phật, biến đổi tâm niệm địa ngục thành tâm thanh tịnh gọi là Cực Lạc. Thế giới Tịnh Độ trong sạch, những niệm thô ác, gò nổng, ô nhiễm đã thanh tịnh nên Phật nói cõi Tịnh Độ không có kẻ xấu ác mà chỉ toàn chư thiện nhân, chư Bồ Tát và Thánh Chúng, đất trải bằng vàng ròng, đó là Quốc độ tại tâm đã thanh tịnh của người được gọi là Tăng.

Ngũ giới không sát sanh, đạo Phật là trọng về nhân quả, muôn loài ai cũng quý mạng sống, mang nghiệp súc sinh vì mượn tâm niệm tham, sân, si làm mạng mạch nên chịu thọ nghiệp trong tam ác đạo. Loài súc sinh tâm niệm khác nhau nên mang nghiệp không đồng do ác nghiệp không giống nhau. Như nghiệp mang lông đội sừng, loài bàng sanh đi hàng ngang, loài trên bờ, loài dưới nước, có những nghiệp mang thân súc sinh mà cả đời phải chịu giam nhốt trong lồng, trong chậu, hay bị cột trói ; có loài phải đem thân làm việc cho con người còn bị roi đòn, đem thân mạng ra để tạo ra tiền của cho con người thọ hưởng, đó là sự trả vay nhân quả không thể nói hết. Tất cả nói chung là loài vật, đó là nghiệp báo của từng tâm niệm điên đảo mê lầm độc ác từ tâm mà tự nhận lấy.

Con người hiện có mặt trên cõi Ta Bà hình tướng đều khác nhau. Cũng là người nhưng không hoàn toàn giống nhau vì tâm niệm không đồng, nên có kẻ giàu sang, người nghèo khổ, tật nguyền, câm, ngọng, điếc, mù lòa, ngu si, thông minh, trí tuệ, kẻ hung ác, người thiện lành đây là do tâm niệm mà sinh ra pháp, là do sự tương ứng của tâm niệm mà hiện tướng sai khác không đồng. Với nhân là niệm sanh quả là tướng, nên hiện nay người được đầy đủ lục căn đã có duyên là pháp lữ, từng giữ gìn năm giới nên Phật dạy ta không nên sát sanh hại mạng, vì mang nặng nghiệp do mê lầm mà chịu mang thân loài súc sinh có thể là thân bằng quyến thuộc, cha mẹ, ông bà của ta đang chịu quả báo. Nên được thân người phải giữ năm giới, trong đó có giới sát để không mang niệm dữ, tạo nghiệp hận oán, thù hằn chém giết lẫn nhau, vì luật nhân quả tự nhiên có vay thì phải trả không hề thiên lệch. Tránh được điều này khi tái sanh qua đời khác, không còn sát phạt lẫn nhau gây đau thương máu đỗ. Tránh sát sanh được lợi ích cho chính mình và tất cả chúng sanh nên ta phải quyết lòng gìn giữ từng tâm niệm khi sinh khởi trước khi phạm vào giới sát. Trong kinh Phật dạy : “Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Ngừng nghiệp sát là nuôi dưỡng tâm niệm của tánh đức từ bi, vì sáng suốt biết rằng muôn loài cũng như ta, cũng có tánh Phật, họ trước kia cũng là con người nhưng mê lầm bị sa đọa vào sự khổ vô minh, phải tìm cách cứu họ không nỡ sát hại, để hưởng cái vui thú trong giây lát. Tất cả nghiệp đều là pháp do tự tâm niệm chính ta chiêu cảm mà có quả báo khổ vui.

* Không tham lam trộm cắp : nói về thế gian, tham lam trộm cắp là phạm pháp sẽ bị trừng phạt hiện tại đó là luật pháp. Chỉ về nhân quả nơi tâm có rất nhiều sự tham do tâm niệm phát sinh, vì mê lầm chấp thật rằng mọi việc trên đời là ta, nên cố nhận cha ta, mẹ ta, chồng ta, vợ ta, con ta, tài sản vật chất của ta, cái vui của ta, ta buồn, ta thương, ta ghét, ta giận, ta yêu, mọi pháp đều cho là ta, nên Phật nói là chấp ngã. Nếu ai đụng tới quyền lợi thì ta đau khổ. Tham cho ta, tham cho người thân của ta, tâm niệm giữ gìn cái ta này đã ăn sâu vì thói quen từ vô lượng kiếp, vì vô minh mãi niệm cái tham này nên làm bất cứ mọi chuyện như lừa đảo, trộm cắp, dối gạt, giành giựt, đấu tranh để được lợi, cung phụng cho cái thuộc về ta, nếu không sáng suốt điều này thì nghiệp tham do tà niệm mà tạo tác gọi đó là phạm giới ( phạm pháp ), nên Phật dạy muốn được thân người phải gìn giữ giới luật đây là giới thứ hai trong ngũ giới cấm. Tội gian dối, nói lừa đảo, đâm thọc, lợi mình, hại người, gây xích mích, hận thù, đau khổ, phiền não cho nhau, là giới thứ tư mà Phật dạy cho ta tỉnh giác.

Vì tâm nhiều dâm dục, dục vọng tham sắc nên niệm muốn, ưa thích, yêu, khi tham vọng tràn đầy thì bất chấp hậu quả không còn nhớ đến nhân nghĩa đạo đức nên giới này là giới thứ ba mà Phật khuyên dạy cho người giữ ngũ giới.

Không uống rượu, cờ bạc vì người say sưa không làm chủ được bản thân, tâm si mê cuồng loạn, điên đảo có thể làm điều sát nhơn, hại mạng, tự giết hại trí tuệ mình, làm đau khổ Phật tánh mình, mà còn đem đau khổ, phiền não cho người thân. Tự hại mình đời này mà đến đời sau không sáng suốt mãi chìm sâu trong bóng tối, chẳng những gây đau bệnh cho mình, cho người thân mà còn làm phiền cho xã hội. Cờ gian bạc lận là tâm muốn ăn thua, sát phạt lẫn nhau, khi ngồi sòng bạc chỉ còn giữ chặt niệm hơn, thua, đấu tranh vì tham vọng chất đầy trong tâm, không còn nhớ việc nào ngoài chuyện ăn thua, đó là nguyên nhân hiện tại làm tan nhà nát cửa, hại gia đình. Nếu muốn làm người tốt đẹp đời sau phải giữ gìn năm giới đó là nhân đạo.

Trong tâm có tất cả, vạn pháp do tâm tạo. Tất cả pháp thành tựu đều do nhiều duyên hợp lại. Bồ Tát là một danh từ, tên được gọi do Đức Phật dùng làm phương tiện để chỉ đến tâm giác ngộ của con người, được kết lập bởi sáu pháp là lục độ ba-la-mật gồm : Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định và Trí Huệ. Trong kinh biểu tượng voi sáu ngà là chỉ đến cái quý nhất của loài có tướng to lớn (Tượng), đó là đức hạnh của người cao thượng là Đại Trượng Phu. Người sống với sáu pháp này là Xuất Trần Thượng Sĩ, đó là bậc Bồ Tát nguyện độ khắp hết chúng sanh, sự cứu giúp niệm Bố Thí của Bồ Tát chỉ về tự tánh con người vì mê lầm nên mãi lưu giữ những tâm niệm sa đọa, độc ác, giành giựt, hơn thua, tranh chấp, gian xảo, xấu xa… Nên chính nơi ta hãy là Bồ Tát nơi tự tánh, dùng tâm niệm từ bi với năng lực, trí huệ chính mình nơi đây đã có đầy đủ lòng thương yêu, sáng suốt, từ bi, hỷ xả, có đủ đức tánh thiện, có tâm niệm vị tha, từ ái. Ta hãy là Bồ Tát tự cứu tất cả chúng sanh tự nơi tâm ta còn đau khổ đọa đày là những tâm niệm tối tăm, mê muội, đọa lạc, lầm sai. Bồ Tát dạy, ta hãy thật sự bố thí, thí tất cả pháp hư vọng, ảo ảnh, lầm chấp, tham đắm, thấp hèn trở nên sáng suốt trí tuệ. Bồ Tát dạy ta bố thí pháp là phải nhìn thông suốt những pháp mê vọng, loạn cuồng nơi tự tâm, buông xả mà thí, loại bỏ những pháp mê lầm, chấp trước từ lâu đã che kín bởi vô minh phiền não. Các pháp này thành tựu bởi niệm sanh, nên mỗi niệm gọi là chúng sanh. Nhiều niệm chúng sanh kiến lập thành một thế giới chúng sanh là một cõi. Thế nên trong tâm ta có vô số chúng sanh không tính đếm được, Phật gọi là vô lượng vô biên, tất cả chúng sanh đều cần Bồ Tát giáo hóa. Vậy ta hãy là Bồ Tát vào Quốc độ chính tự tâm ta mà giáo hóa chúng sanh nơi tự tâm ta, vì tu là phải trở lại chính mình, tu với chính mình, trở lại bổn lai diện mục (thấy lại mặt mũi căn bổn của mình), tu tại tâm, sửa tại tâm, tự ta cứu lấy ta, ma cũng ta, người cũng ta, trời cũng ta, Bồ Tát do ta, Phật tại tâm, tất cả đều lưu xuất tại nguồn tâm. Ta hãy tu tập làm Bồ Tát, làm Phật, làm Thinh Văn, Duyên Giác, La Hán vì Phật dạy rằng : Ta làm được chúng sanh làm được, Thánh với Phàm chỉ một bổn lai, khác nhau kẻ tỉnh người mê, đời này vẫn mê thì làm sao ra khỏi tam ác đạo được. Không ai thương mình bằng mình tự thương lấy mình, hãy tự cứu mình. Cứu mình là hằng ngày tự biết kiểm tra tâm từng dấu nét, từng niệm khởi. Kiểm một ngày thì sáng một ngày, hằng kiểm tâm là hằng giác, nếu gián đoạn là chợt tỉnh, chợt mê. Người thường sử dụng tâm sáng suốt gọi là Bồ Tát, độ chúng sanh khắp mười phương Quốc độ tức là độ chúng sanh tự tâm chính mình, mà không có chúng sanh nào được độ. Đi cũng kiểm tâm, nằm cũng kiểm tâm, làm công việc cũng kiểm tâm, đây là Bồ Tát chính ta độ chúng sanh tự tâm ta. Phật đã sách tấn an ủi ta rằng ví như một hồ nước lớn mà dùng gào tát mãi thì cũng cạn vì vậy mà Bồ Tát nguyện độ tất cả chúng sanh, nếu còn một chúng sanh trong địa ngục thề không thành chánh giác. Tất cả chúng sanh trong tự tâm đều trọn thành Phật đạo, đó là thực tướng sám hối.

Pháp tu thiền là tự ngồi kiểm tâm, pháp niệm Phật cũng kiểm tâm, mục đích hằng coi có còn Phật (chơn giác) hay đang sống với vọng ma (vọng tưởng), là đang sống với mộng tưởng lăng xăng, đó là điều khó của người tu. Phải thấy rằng nếu còn niệm độc ác trong tâm là đất tâm đang nuôi dưỡng cọp, beo, rắn độc, sói lang, tâm phải thật trong sạch mới là tâm niệm của Bồ Tát, nên trong kinh nói :

“Hóa Bồ Tát chúng vô cùng vô biên”

“Độ sanh 48 lời nguyền”.

Tất cả những vọng nghiệp sai lầm đều được giáo hóa kết thành Bồ Tát chúng, là ta đã trì giới, nhẫn nhục kiên trì, tinh tấn vượt qua mọi khó khăn, vượt lên khỏi thế gian, lìa mọi thói quen chất chồng nhiều đời nhiều kiếp trải qua bao lần sanh tử.

Niên qua mấy độ nở tàn ( sanh tử )

Chủ nhân (chơn tâm) khuất bóng trong màn
                                           vô  minh
. ( CLKS )

Hạnh Bồ Tát là pháp, xuất sinh chính nơi đức hạnh của ta. Ta là Bồ Tát tánh, tự dạy dỗ tâm ta, tự hàng phục tâm niệm ta, vận dụng năng lực Bồ Tát nơi tự tánh, điều phục ma chướng tự tâm. Bồ Tát tự tâm luôn lắng nghe tiếng lòng ( những niệm khổ ) đang đau khổ, đang phiền não, đang oán than, Bồ Tát thị hiện khắp nơi khi tâm điên đảo. Bồ Tát luôn giáo hóa lục căn được thanh tịnh, chuyển xoay tà nghiệp hòa nhập chơn như, dứt mọi suy nghĩ, tính toán hơn thua, tham vọng, muốn ham, mong cầu, van xin, hay nhờ vả vào quyền lực nào, hoàn toàn xả bỏ niệm ưa thích thế gian với trí tuệ giác ngộ biết tất cả đều là pháp không thật. Phải hướng vào tâm, coi tâm hiện là tâm đạo hay đời, tâm người, trời, a-tu-la, ngạ quỷ, súc sanh hay tâm Bồ Tát, có tâm Phật hay không ? Coi tâm lương thiện hay độc ác, cần phải có thời gian thật dài, ngày lẫn đêm phải chăm chú tu học không lơi lỏng, phải thường tu tập, nếu người thường kiểm tâm sẽ được vô lượng công đức, là người đã kiến tánh. Người này sẽ được vô cùng an lạc, vô cùng hạnh phúc cho chính mình và đem đến cho mọi người sự bình an, cao thượng. Ta nên xét kỹ cách tu hành cho đúng pháp và chính xác. Nếu giữ được tâm thường sáng suốt, trí tuệ là vô lượng công đức. Nếu ta bố thí bằng tấm lòng bác ái, bằng lòng từ bi, hỷ xả, thương người là vô lượng công đức. Còn bố thí cúng dường không được những tâm thanh tịnh đó, còn mong cầu phước cho mình thì phước đó hữu lậu, chẳng được công đức, vì tất cả phước họa đều tại tâm. Tâm rất quan trọng, nếu người tu học được kiến tánh, thì 48 lời nguyện của Đức A Di Đà dạy cho ta mục đích là thấy tánh. Nhờ sự sáng suốt của nội tâm, chiếu soi vạn pháp, không khởi niệm duyên theo ngoại cảnh sanh tâm vì theo cảnh sẽ quên chơn tâm, bỏ tất cả tướng là chơn thật tướng. Bỏ tướng bên ngoài còn chơn tánh bên trong gọi là thực tướng, là thấy Phật ( thấy Phật dứt sanh tử ), tự ta phải giáo dỗ tâm ta. Nên trong kinh nói rằng thường giáo hóa chúng sanh khắp mười phương cõi nước. Ta phải thường an ủi, dặn dò những tâm niệm giận hờn, oán trách, chua ngoa cho quen dần sự thanh tịnh. Phật nói rằng nếu ai thường giáo hóa chúng sanh là thường cúng dường vật quý báu cho Phật. Nhưng Phật dạy rằng, trong các pháp cúng dường, cúng dường pháp là cao quý nhất. Nếu có thiện tri thức dặn dò, an ủi, chỉ dẫn cho ta đó là phước báu lớn nhất, vì người mê lầm sa đọa rất khổ đau, nên người bố thí pháp sẽ hóa giải được sự phiền não trở nên sáng suốt sanh trí huệ. Ta phải tự độ tự tánh ta, nên ngày xưa Lục Tổ nói với Ngũ Tổ rằng : “Khi mê thì Thầy độ, giác ngộ rồi con tự độ lấy con”, khi kiến tánh rồi thì tự tánh ta tự độ lấy ta. Kiến tánh thì sáng suốt không còn đọa trong ba đường ác. Có nghĩa là xưa kia ta tham, sân, si, phiền não, tự tánh ta bị đọa đày trong đau khổ, nóng nảy, bức rức, bất an như người đi trong đêm tối, nay nhờ kiến tánh, lần hồi bớt dần những xấu ác, phát sinh trí huệ thù thắng, không còn vướng mắc vào các cảnh đau khổ, phiền não nữa, gọi là A-nậu-đa-la Tam-miệu-tam-bồ-đề (giải thoát tất cả các sự khổ), vậy người kiến  tánh không còn bị đọa trong tam ác đạo ( ba đường ác ). Người đã kiến tánh đã tự tại vì sáng suốt tâm không còn độc ác, ích kỷ, hận thù nên không còn ở trong ác đạo. Có ác đạo là do tự ta tạo chớ không ai đày đọa ta cả, cũng không có quyền lực nào cứu gỡ ta, vì luật nhân quả rất công bằng. Người kiến tánh sống với sự trong sáng tức đã vãng sanh, có nghĩa là các niệm tham, sân, si, mê muội đã quá vãng, không còn sanh niệm lại nữa nên gọi là vô sanh. Người mê lầm tạo ác đạo thì tự vào để sống với nghiệp tự tạo, không ai giải quyết được. Khi tâm niệm đã in sâu vào ác đạo thì tự nhận lấy, tất cả thiện ác tự ta làm chủ lấy, vì chính do ta tạo tác. Ở thế gian nếu có người mang tội chịu án tử hình, cũng chính do người ấy tạo tội, tự mình chịu lấy, không ai có thể cầu xin, năn nỉ được cả. Trời Phật không tạo thiện ác cho ta mà chính do ta tự tạo, nên không thể cầu xin, van lạy, nhờ Phật trời ban phước hay giáng họa cho ta được. Nếu người tâm ác độc thì khi chết địa ngục sẽ bao trùm, còn người sống với tâm trí huệ thì tâm thênh thang rộng lớn gọi là giải thoát tự tại. Người đã tạo đầy đủ phước đức, lúc sanh tiền đã tạo phước báu vô lượng hiện tại nên gọi là đầy đủ công đức, nếu sống được chánh báo là nhân tại tâm, thì sẽ có y báo chính tại tâm ta đó là quả. Cuộc sống hiện tại ở thế gian là nơi ta xây dựng công đức, hay tội lỗi chỉ ở tại thế gian vì Phật dạy rằng : “Phật pháp bất ly thế gian giác. Ta giác ngộ được các pháp thế gian, sáng suốt quyết định buông xả hay vướng mắc tùy nơi tâm niệm mà giác ngộ hay si mê, với tự tánh giác biết được tâm đang phiền não thì thức tỉnh buông xả tức tâm bồ đề hiện tại. Mê muội tạo tham, sân, si, độc ác, giết người, hại người, lừa đảo thì đã tự tạo cho mình khổ sở bất an. Các pháp đều do nơi tâm tự tạo, người kiến tánh thấy rõ các pháp nên niệm không sanh, không niệm vào ác đạo nên nói là vãng sanh Cực Lạc. Vậy trước khi tác ý, hành động việc gì phải đo lường hậu quả ra sao? Nếu như ta cứ niệm Phật mà không thấy được các niệm ác, tâm cứ duyên theo lấy niệm ác này làm mạng sống, gọi là tà mạng, thì không thể vãng sanh, tâm vẫn còn niệm mê không thể an lạc được, nên nói niệm Phật mà không thành chánh giác. Tại vì sao? Vì không biết được tâm chơn chánh niệm Phật, hay chánh tri kiến niệm Phật, vì miệng thì niệm Phật mà tâm mình vẫn còn niệm ma. Nếu như có ai chửi mắng, nói oan ức ta thì lập tức hãy quay vào tự tánh chính mình dùng trí huệ chiếu soi xuyên suốt thấy được niệm có khởi lên buồn, tức, đau khổ, trả thù không? Phải tự nhận tại lòng rằng (Quán Tự Tại Bồ Tát) nếu ta chửi mắng trả lại thì cả ta và người đều khổ, sẽ là oan gia, thù hận với nhau, biết rõ đây là ác pháp, thì cái biết này là trí Phật là giác. Còn như chưa thành tựu được Phật trí, phải mượn câu Nam Mô A Di Đà Phật để ngăn chặn sân, si, phiền não. Ta đã sử dụng được trí Phật thì sự phiền não chất chứa thù hằn nơi tâm sẽ tan biến ngay. Nên ta thường sống với trí Phật, khi nghe thấy việc thế gian đều sáng suốt giác biết xử lý tốt đẹp, an ổn nên trong mười danh hiệu Phật gọi là Thế Gian Giải. Trí Phật khác với câu niệm Phật, vì câu niệm Phật là mượn phương tiện để nương nhờ đến trí Phật, tự tìm cách xử lý các niệm lăng xăng nương vào câu niệm Phật chính là nương pháp. Pháp môn Niệm Phật là pháp, nên pháp là phương tiện, là thuyền bè đưa ta đến Phật trí ( giác ). Nếu tu hành dù cho miệng niệm Phật mà không giải quyết được sự buồn khổ, phiền não, tham, sân, si thì đó vẫn còn tà niệm cư trú nơi tâm ta, vẫn còn sống với chúng địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh thì vẫn còn đau Khổ. Thế gian là đa niệm, đa phiền não, đa niệm giận hờn, đa niệm chất chứa, đa niệm tham đắm, đa niệm sân si, đa niệm tranh giành, nên nói đến vua Vô Tránh Niệm là phải tránh các ác niệm, tránh mọi tranh đua, tránh oán hờn, tránh niệm tham, sân, si, tất cả niệm này đều vắng lặng gọi là thanh tịnh. Tâm tịnh tự quốc độ tịnh, nếu ở thế gian mà không sống được tự tại thì vẫn còn vướng vào mạng lưới vô minh, mạng lưới vô hình nhưng thật là chắc chắc.  Cho nên dù ở thế gian bất cứ việc gì ta cũng phải sử dụng tâm tự tại dù cho:

Ai chửi mắng thì ta giả điếc

Đợi cho người hết giận ta khuyên

Chữ nhẫn hòa ta giữ đầu tiên

Thì đâu có mang câu hờn oán ( CLKS ).

Người tu học kiến tánh thường sanh trí huệ vì tánh giác lúc nào cũng có sáng suốt theo kèm, nên giác là Phật, người kiến tánh ở đâu thì Phật ở đó, người đó nói thì Phật nói. Còn như mất sáng suốt thì Phật nơi ta tịch diệt, ma sẽ hiện tiền. Ta ở đâu thì ma ở đó, ta làm việc thì ta làm việc gọi là ma sự, ta phải ở trong trí huệ sáng suốt. Trí huệ là ở tại tâm mình, tu tại tâm mình, không nên chạy kiếm tìm cầu ở đâu cả vì Phật ở tại lòng ta.

Vậy điều nguyện trong nước không có ác đạo, nếu ai muốn về thế giới Cực Lạc là trong tâm người đó không còn niệm ác đạo.

Vậy Cực Lạc ở đâu? Ở tại tâm ta, vì Niết Bàn do tâm tạo. Tâm có đủ thế giới nhưng xưa nay ta quen sống với thế giới ác đạo, thế giới đó toàn cỏ hoang, rắn rít, bò cạp đó là các  niệm súc sinh, hung ác ta chưa dọn dẹp. Người tu là dọn tâm cho sạch, là Tịnh Thổ nước Tây phương, nước Bồ Đề, Cực Lạc, là cõi toàn tâm niệm người trí tuệ, đây là quốc độ tại tâm ta. Nếu quốc độ chưa sạch sẽ, chưa trí tuệ, chưa sáng suốt thì ta phải ra sức dọn dẹp, ta phải dọn niệm ác ( tà niệm ). Người cư sĩ giữ năm giới là nhân đạo, không giữ năm điều này là ác đạo, nếu trong tâm ta còn điều ác này thì quốc độ của ác thú, ăn gian, ăn giành, ăn giựt, nói dối, gian xảo, tham lam, cờ bạc, rượu chè, sát sanh, hại mạng, quốc độ đó được tạo dựng thì tâm niệm của ta nếu không trí tuệ sáng suốt thì không gọi là Cực Lạc, Tây Phương được. Ta phải trở vào tự tánh tìm cho được quốc độ Tây phương, cõi ấy tự nơi lòng của ta, là hiện đạo, vì ngoài tâm không có Phật nào khác cả, Phật tức tâm, tâm tức Phật, ngoài tâm không có thế giới nào cả (vạn pháp quy tâm), ta nên coi lại tự tâm có phải là thế giới Cực Lạc? Nếu trong tâm không có Cực Lạc (an lạc) thì không có thế giới cực lạc nào ngoài tâm cả. Hướng về quốc độ Cực lạc là hướng về tự tâm. Nếu ta càng lễ lạy Phật thì càng phải sửa tâm, chớ không lạy Phật mà cầu xin về Tây phương, việc này không thể có được, luôn luôn nhớ lời Phật dạy là phải sửa tâm. Ta phải định nghĩa rõ ràng tu là sửa, phải đại tu là đại sửa, chữa hết các tâm niệm mê lầm trở nên thông thoáng, đối các pháp không vướng bận vào niệm ác mới lìa được cõi ác đạo. Ta tự sửa sang quốc độ trong tự tánh tức là tự trang nghiêm quốc độ, phải thường có những tâm niệm thiện lành sáng suốt, dọn dẹp tự tâm. Nếu tu không trở lại nguồn tâm, săn sóc tu chỉnh tâm mình, làm cho tâm sáng suốt, trí tuệ thì không phải là đệ tử Phật. Dù có ở chùa đó chỉ là vỏ bên ngoài, trí tuệ, đạo đức là ruột mới đầy đủ viên mãn cho người tu hướng về Tây phương Tịnh Độ, nguyện trong nước không có ác đạo, nguyện không đọa vào ba đường ác, quyết tâm không khởi niệm độc ác, không nghĩ đến điều bất chánh, không nghĩ nhớ đến điều ác, không dùng niệm thô ác làm mạng sống nên nói là không sa đọa vào ác đạo. Nếu khởi niệm ham muốn là sa vào niệm mãi không chuyển đổi là đọa. Tiền bạc vật chất thường quấy rối ta, quốc độ ta phải tự giữ  lấy.

Đức Phật thường biến hiện hình tướng bên ngoài làm phương tiện để giáo dạy chúng ta, khuyên nhắc ta quay về tự tánh. Tại sao gọi là tự tánh? Vì đó là tánh tự có sẵn nơi mỗi người, nó tự chính nơi ta, không ai cho được cả, không ai đày đọa mà chỉ nơi ta xây dựng bằng tâm niệm mà nên. Tự ta độ lấy ta, tự ta bỏ thói hư tật xấu chớ không ai bỏ cho ta cả. Trở lại tự tánh xét từng tâm niệm sáng suốt là chìa khóa để ta mở cửa kho tàng trí tuệ vô tận chứa vô số pháp bảo không thể nghĩ bàn.

Lời nguyện là gì ? Nguyện là lời thề, chắc chắn không thay đổi, quyết lòng phát xuất từ tự tâm sáng suốt nên lời nguyện thứ I và thứ II là Phật dạy chính chúng ta, phải nhất tâm phát nguyện, hết sức giữ gìn bảo vệ tự nơi lòng không thay đổi, nguyện tại tâm không còn niệm ác gọi là lìa cõi ác đạo. Nếu tâm hẹp hòi, nhỏ bé thì đó là cõi của loài trùng, kiến, muỗi mòng cho nên ta phải chọn tâm niệm cao thượng, rộng lớn gọi là đại bi, trí tuệ, là lìa tất cả tướng mới là chơn thật tướng. Quốc độ từ bi là vô lượng vô biên trùm khắp, vì tâm rộng lớn nên nơi nào cũng đến độ được, đó là tâm Bồ Tát. Phật nói độ khắp chúng sinh trong mười phương thế giới. Ta phải nhớ rằng quốc độ sáng suốt, trí tuệ là quốc độ của chư Phật. Quốc độ u tối là của ma, tùy nơi tự tâm mà biến hiện. Cực Lạc tự nơi ta, địa ngục tự nơi ta, vì tự tâm ta có tất cả, tự tâm ta sanh muôn pháp. Bồ Tát tự nơi ta, Phật tự nơi ta, ma tự nơi ta, người tự nơi ta.

Ta phải nương vào kinh Phật vì kinh là nguồn tâm của Phật, bốn mươi tám lời nguyện là pháp từ nguồn tâm của Phật, mỗi lời kinh từ niệm sáng suốt là một phần pháp thân Phật. Nếu học tu theo Phật thì phải biết pháp vì pháp là mẹ sinh ra chư Phật. Tâm sáng suốt là quốc độ chư Phật, ta phải dùng pháp Phật mà soi rọi lại tâm và hiểu rành nhân quả.

Nguyện thứ nhất tôi thành Phật được

Thì nước tôi là nước tịnh thanh

Ngục hình, ngạ quỉ, súc sanh

Thảy đều chẳng có sanh thành nơi đây.

Nguyện thứ ba : Nguyện thân có sắc vàng, bốn nguyện có 32 tướng tốt, năm nguyện thân không sai biệt.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dùng thần thông biến hiện tất cả pháp làm phương tiện chỉ dạy cho tất cả chúng sinh qua mọi sự tướng. Mục đích của Ngài là dùng tướng để chỉ tánh, ta phải hiểu thật sâu vào mật ý của Ngài, không chấp chặt vào hình tướng mà sai lệch sự tu hành trở thành mê tín. Ngài khéo diễn bày phương tiện vì sau khi chánh đẳng chánh giác Ngài nói rằng đạo ta khó chỉ, khó dạy nhưng vì lòng từ bi thương xót chúng sanh mãi luân hồi hụp trồi nơi biển nghiệp nên tùy theo căn cơ mà thuyết giáo. Trong mỗi lời nguyện Ngài đều mở đầu dạy : “Lúc con làm Phật” là nhắc ta, lúc ta làm việc phải ở trong tánh giác, đang sử dụng các pháp thiện hạnh như Từ bi hỷ xả, Bát chánh đạo, Lục độ ba-la-mật là ta đang làm Phật để giáo hóa từng niệm trong tự tánh ta được sáng suốt, đây là việc cần thiết khi đọc tụng lời nguyện. Ta cần chú ý cho thật rõ ràng, vì từng lời nguyện khi ta thông được là con đường đưa tự tâm ta xa lìa không còn niệm vào ác đạo, tự tại ngay ở thế gian liền an lạc. Tâm sáng suốt, an định nên gọi là Thế Gian Định Tự Tại Vương Như Lai, đó là danh hiệu người tu, tâm đã an định tại nơi thế gian, vì Phật pháp bất ly thế gian giác. Tâm định chơn như bất nhiễm không, dời đổi là Như Lai. Pháp định tâm là lớn nhất, là vua đứng đầu, chỉ định cho ta tu tập phát sinh trí huệ. Tâm an ổn quốc độ được trang nghiêm, cõi nước tại tâm không có ác đạo ( ba đường ác ), tất cả niệm niệm đều thanh tịnh, bình đẳng, không còn nghĩ nhớ, không còn niệm tỉnh, niệm mê nên gọi là Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh. Đại Thừa Vô Lượng Thọ là xe lớn thọ nhận được tất cả pháp, niệm niệm đều sáng suốt là giác, kinh là từ trí tuệ qua lời dạy của Đức Phật. Tất cả danh từ trong kinh đều chỉ vào tự tánh chính nơi tâm người, cần xét kỹ tâm mới có thể thâm nhập kinh tạng. Bởi vì thời gian học Phật của kiếp người rất ngắn, ta không để mất thời gian mà uổng phí kiếp làm được thân người.

Khi con làm Phật, tất cả chúng sinh sanh vào nước con, đều tự biết thấu thiện ác đã làm vô lượng đời trước, có thể nhìn suốt, nghe thông, biết  tận sự việc ở trong 10 phương, ba đời, không đặng nguyện này, thệ không thành chánh giác”. Ta phải lìa các tướng, tuy dụng tướng làm phương pháp dạy chúng sanh, nhưng Phật đã cẩn thận sợ ta lầm chấp tướng nên ngài nói rằng. Dĩ kiến sắc cầu ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai. Có nghĩa là nếu ai dùng hình thức tướng như : cúng kiến, cầu xin, cúng dường là những việc còn bên ngoài mà mong thấy Phật là điều không thể có, như vậy kinh này dạy ta phải lìa bỏ mọi hình tướng, vì sao ?

 Phật dạy tất cả tướng đều là hư vọng, như bào ảnh, như điện chớp, như bọt, như bóng, đều là hư huyễn, không thật, như vậy nghĩa như thế nào ? Nếu ai giàu thì cũng có người giàu hơn, cũng có lúc nghèo không bền mãi. Nhưng nghèo cũng có khi phước đến thì sẽ giàu, vì vậy nên nói không thật. Con người từ bé đến lớn, trẻ thì đến già, già thì bệnh, bệnh thì chết, chết sẽ tan hoại ; quyền uy chức tước danh vị cũng vậy, nhà cửa, xe cộ, đất đai, ruộng vườn, danh lợi ở thế gian đều không thật. Các pháp không trụ ở vị trí nào nhất định cả nên Phật nói đó là vô thường, đều qua các trạng thái thành, trụ, hoại, không hay sanh, già, bệnh, chết đó là tứ khổ, bốn sự khổ của con người. Nếu ta cứ mãi chạy theo tướng dù có đọc tụng kinh bao nhiêu hay tu bất cứ pháp môn nào đến vô lượng kiếp cũng không an lạc, vãng sanh được. Vậy muốn hiểu kinh theo mật ý đúng chơn lý của Phật phải nhớ lời Phật dạy rằng : “Lìa các tướng mới là chơn thật tướng”, lìa tất cả chư tướng là tướng nhân, tướng ngã, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, nếu nói đến tướng người nhưng không thật là người vì sao? Phật dạy ta không dựa vào hình tướng nào cả, mà muốn chỉ ngay vào tự tánh con người ( trực chỉ nhơn tâm ). Nếu là con người mà tâm có chứa những pháp tham lam, độc ác, sân si, thù hận, ganh ghét, đầy tội lỗi thì bên ngoài tướng là người nhưng bên trong pháp của nó là ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, ta phải nhìn thẳng vào tâm, mới thấy được tướng ba đường ác. Không chấp vào tướng bên ngoài vì thân không bền, không thật mà nghiệp nơi tâm thọ nhận là nguồn gốc khổ đau. Nên chư Phật ( trí huệ sáng suốt nơi tự tánh ) có thần thông vừa nghe qua liền biết ngay người đó đang ở cõi nào, đó là thấy tâm người chớ không chấp vào sự thấy tướng. Thấy người giàu sang nhưng Phật nói tuy giàu sang nhưng không thật là giàu sang vì các pháp sẽ biến đổi. Đến Như Lai mà không gọi là Như Lai mới thật Như Lai. Ta không thể nhìn qua hình tướng bên ngoài mà nói đó là Phật, cứ dựa theo tướng bên ngoài qua việc thờ phượng do con người tạo lập nói là Phật là phỉ báng Như Lai. Những vẻ đẹp của ảnh tượng do con người sơn phết, trang điểm là sự tạo dựng bằng chất liệu tạm giả của thế gian, vì việc sinh sống, lợi lạc không thể cho đó là Phật được hoặc ai có xưng danh là Như Lai đều lừa ta cả. Ta phải xác định rõ rằng, Phật Thích Ca vì có trí huệ là Tam Tạng Kinh điển được xây dựng bằng Đức Tánh Từ Bi, là lòng thương yêu muôn loài, là đức độ siêu phàm, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả nên khi lễ lạy Phật ta không quyết định ngoài tượng Phật, vì tượng hình chỉ là pháp tượng trưng ; ta phải hướng ngay vào công đức, vào trí tuệ, vào sự sáng suốt vô lượng từ nơi hào quang Phật, vào sự trang nghiêm từ công đức Phật được kết thành bởi mười danh hiệu Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Con người không thật là sau khi bỏ xác thân, thì không còn là người nữa. Nếu ai làm ác do tâm tạo tác thì sau khi bỏ xác thân sẽ đọa vào ác đạo là ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục nên không phải là người, vậy nên người không thật. Nếu ta tu thập thiện giữ 10 giới tại tâm, sau khi bỏ thân thì tâm này là đức độ của 10 giới nên được sanh Thiên, không phải do thân sanh mà pháp được thành tựu theo niệm mà có nhân quả, tâm là chánh báo thì y báo ngay nơi tâm. Như người được giàu sang mà không phải là người giàu sang, vì hạnh Đức là hành động của giới pháp Thập Thiện nên tự nơi pháp Thập Thiện mà có giàu sang. Con người chỉ là dụng cụ để pháp nương mà sanh có hành động, có phương pháp ta mới làm giàu, nên sự giàu này là pháp chớ còn người không có giàu nghèo. Pháp là do phước hay họa mà thành, tất cả đều là pháp. Như có người cho là tài giỏi thì sự tài giỏi này có từ trí thông minh sáng suốt, nếu không có trí thì con người đần độn, không nói là tài giỏi được, nên mọi việc được thành tựu đều là pháp, không có tướng nào thật cả. Trí huệ là chơn thật, không bị hoại diệt, giàu sang sẽ diệt, trẻ già chết sẽ diệt, khổ vui sẽ diệt, đẹp xấu sẽ diệt. Nên Phật dạy ta tu phải sáng suốt trở về chơn thật tướng, là tướng trí huệ, tướng sáng suốt, tướng không bị vô minh che lấp vì tất cả tướng đều là pháp, nên tướng nhân là tướng người là không thật. Nếu nhìn bên ngoài cho là thật người mà không thấy được sự thành trụ hoại diệt của các tướng, cứ chấp thật vào sự thấy phàm phu, là ta bị điên đảo, vì giàu sang nghèo hèn nếu thấy được bằng trí biết họ tạm mượn pháp của thời quá khứ, tượng trưng bằng hình dáng con người, Phật gọi là hóa thân tạm sử dụng pháp giàu, nghèo. Ta thường có tâm thương ghét với người xuất gia vì nhận qua tướng ưa thích hay không ưa thích. Nếu ai làm vừa lòng thì thương, hay thấy họ tu mà nghèo thì tội nghiệp, nghèo giàu chỉ là pháp do phước hay không phước mà nên. Ta phải coi tự tánh người đó có phải là tánh Phật hay không? Nếu nhìn người xuất gia qua hình tướng cạo tóc, mặc y pháp cho là người tu là sai lệch với chơn lý. Ngày xưa Phật nói với Ngài A Nan “Nếu ông ở gần bên ta mà không sống được với chơn lý thì như cách xa ta ngàn dặm, còn như người cách xa ta ngàn dặm mà thông suốt giáo lý thực hành sáng suốt sống với chân lý, tuy cách xa ta nhưng như đang ở gần ta vậy”. Người hiểu được chơn lý Như Lai, sống với chơn lý làm lợi ích cho chúng sanh, nếu cứ theo tướng bên ngoài chỉ làm việc thế gian, không ích lợi gì cho Phật Pháp cả. Phật nói rất rõ, sau thời kỳ mạt pháp chỉ còn Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh chỉ còn 100 năm thì mạt pháp, vì sao? Vì người tu theo pháp niệm Phật chỉ hăng hái một thời gian sẽ nản chí, không còn tin vì mãi niệm Phật, nghĩ đến cầu xin cho được phước, việc nào cũng hy vọng, mang tâm niệm cầu xin Phật, không được như ý muốn thì chán nản, chỉ có người tu có trí huệ xa lìa được các niệm ác. Tâm được tự tại, an ổn, thảnh thơi mới còn lưu giữ giáo pháp nơi lòng mà tôn thờ, kính bái. Đây mới gọi là thời kỳ lựa tuyển, nếu ai là con Phật thì sẽ tự nhận ngay, chỉ còn một số ít tu đúng theo giáo lý Phật nên nói rằng “Bổn đạo đông chở xuồng dong không đầy”. Nếu mãi tu theo bên ngoài thì chúng sanh vẫn là chúng sanh vì tâm không tức Phật. Nếu không giác ngộ được tướng thứ nhất thì mãi mãi lầm đường lạc lối. Vậy nên thế gian không có tướng nào thật cả.

Nếu ta không sống bằng tướng chớ sống bằng gì? Phải biết rõ, chúng ta thường sống bằng niệm, cứ mãi nghĩ nhớ hết niệm này đến niệm nọ, lấy đó làm mạng sống của ta hằng ngày. Đức Phật vì biết ta mãi niệm nghĩ nhớ chuyện thế gian nên gọi là phàm phu tục tử, luôn nhớ đến pháp hưởng thụ ăn, ngủ, vui, chơi, mặc đẹp, được sung sướng, đua đòi đó là những tà niệm hằng ngày của ta không dừng nghĩ nhớ, đến khi bỏ thân xác là chết vẫn còn mang niệm nghĩ nhớ đến tài sản, con cái, người thân là vẫn còn niệm tưởng thế gian. Có khi niệm hận thù, oán ghét, căm hận nên niệm đó là tà pháp, là ma đòi nợ trả thù, đòi ăn v.v… đó là vẫn còn niệm tưởng không dứt, niệm vào cõi tam ác đạo. Vì mãi sống trong niệm tưởng nên Phật dạy, ta hãy bỏ niệm tưởng thế gian mà nhất tâm niệm nhớ Phật, niệm Phật đó là niệm giác, tức là chánh đẳng chánh giác. Từ xưa nay vì mê lầm không biết, cứ chạy theo tiền tài, danh lợi, ăn uống, mê ngủ đó là  tài, sắc, danh, thực, thùy, là năm dục trong kinh Phật dạy, vì lẽ đó ngăn che nên ta không thể thâm nhập được tạng kinh bí  yếu này. Nếu ai nghe hiểu được kinh này là thâm nhập được giáo pháp đại thừa vô lượng nghĩa, không nghe hiểu được kinh này vì tâm còn chao động, chưa an định khó mà thông suốt.

Nếu nói sống không có người thì sống bằng gì? Nếu nói là ơn thì chỉ là tình cảm bên ngoài, đó không phải là giải thoát. Giải thoát là khi đối diện còn giao tiếp qua lại ở thế gian, nhưng khi bỏ thân nếu tạo nghiệp báo chỉ mình ta chịu, vì ai ăn nấy no, ai tu nấy sáng, ai tạo phước thì tự hưởng, tạo tội lỗi thì đọa tam ác đạo, luật nhân quả nghiêm minh, không ai có thể thay thế hay cứu giúp được, nên Phật dạy “Ta không ban phước hay giáng họa cho ai cả”. Đến ngày chết chỉ có mình ta nếu lúc còn sống không tự lực tu hành cứ mãi cầu xin, nương dựa đó là tư tưởng sai lầm, mà Phật nói “cất nhà trên hư không”. Ta không thể dựa vào đâu, Phật dạy “Các ông không dựa vào ai cả, hãy tự tạo cho mình một hòn đảo”. Người thế gian cứ tưởng dựa vào cha mẹ, anh em, chồng vợ là bền chắc, là hạnh phúc, nghĩ là có uy quyền chức tước là tất cả. Nhưng đến khi nhắm mắt không còn gì, chỉ con nương dựa vào Tam Bảo, trí tuệ sáng suốt nếu biết nương tựa vào đó thì khi ra đi đã có tư lương, làm lương thực của sự hiểu biết riêng, làm hành trang an ổn, là vốn liếng trí tuệ chính nơi ta đã xây dựng từ chơn lý tu tập, như vậy đã lìa được tướng thế gian.

Người tu không nương tựa ai cả, nếu người giàu cứ nương tựa vào con cháu, chỉ trong thời gian giới hạn cũng sẽ bỏ lại mà ra đi một mình, không nương mãi được, phải lìa các tướng mà sống bằng năng lực của mình, nên khi bỏ xác thân, có sự an lạc tại tâm như cởi áo mùa Hạ mặc áo mùa Đông rất tự tại. Vì quen trụ vào tướng nhân là cha mẹ, anh em, chồng vợ v.v… nên mãi vướng mắc chịu khổ đau. Tướng ngã là chấp vào tôi, tôi thương, tôi ghét, tôi không vừa lòng, tôi đẹp, tôi xấu, tôi buồn, tôi vui, tôi sang giàu, tôi hạnh phúc … đó là ngã, phải sáng suốt biết ta đang niệm về tôi. Tổ Minh Đăng Quang dạy :

Sao sao sao cũng là sao

Sao sao cũng đặng thế nào cũng xong

Tâm không vạn sự đều không

Tâm chơn vạn pháp thảy đồng quy chơn

Học đòi theo bậc Thánh Nhơn

Phải trừ tâm vọng mới hườn bổn nguyên.

Vậy tâm vọng tức là tâm chấp ngã, phiền não, giận hờn, vì chấp vào đây nên suốt đời quẩn quanh cõi ác đạo. Ta phải ra khỏi cõi này nghĩa là buông xả, không còn nghĩ nhớ niệm đến nữa. Ta cứ nghĩ xuống cõi thế gian là bị đày hoặc được rước về cõi Phật, cõi Trời, thật là sai lầm, vì thực tế khi làm gì ta cũng khởi niệm từ nơi tác ý. Việc này chính nơi tâm niệm ta tự tạo, mọi suy nghĩ phát ra hành động đều do tâm niệm cả, không ai sắp đặt mà do tự tâm ta vậy. Có phiền não cũng do nơi ta niệm đến ; an ổn, Niết Bàn cũng do niệm tạo ra ; chồng vợ do niệm thương yêu tạo ra, con cái do niệm khởi ái tạo ra. Nên ta tự xét tâm nếu còn tạo ra tham, sân, si thì còn tạo ra ác nghiệp trong ba đường ác, là còn tạo lẩn quẩn vào thế giới ta bà sinh tử. Như không còn tham muốn chấp sự nuôi dưỡng cho ngã thì vô ngã vì cho là có nên nói niệm dựa vào tiền bạc, dựa vào con người, tình yêu để phục vụ cho cái tôi. Nếu không có ngã ( tôi ), không chấp vào thân thì không đòi hỏi cái gì cả. Nếu thân là mượn tạm thời chỉ là sắc pháp biết sẽ tan hoại thì tâm sẽ rảnh rang, không niệm vướng trụ vào pháp nào cả. Nếu còn ngã thì bận bịu vô cùng, cho là nhà tôi, con tôi, cha mẹ, người thân yêu của tôi, tiền bạc của tôi, nếu còn gì của tôi đều ràng buộc. Nên kinh dạy về các cõi nước trong tâm là muốn chỉ cách cho ta buông xả các niệm thuộc về tôi, không niệm nhớ nữa, mới rảnh rang dứt niệm, mới tự tại vãng sanh, không còn niệm tới lui trong ba đường ác là cõi không ác đạo. Phật dạy các pháp thành tựu đều do duyên hợp lại mà thành, là do niệm mà sinh tạo thành pháp. Nếu bỏ cái vỏ bên ngoài là thân thì cái gì là ta, từng tâm niệm là cái lăng xăng, ham muốn, đòi hỏi, nó dẫn dắt tâm ta vào mọi cảnh giới nên tâm không yên, không định, nên không có thế giới Cực Lạc tại tâm. Các niệm dẫn dắt đến quốc độ nào cũng trụ, cũng vướng mắc gọi là niệm dẫn chúng sanh. Niệm dẫn đến chỗ sa đọa là cờ bạc, rượu chè trát tán, hung ác, đấu tranh, giết hại nghiệp dẫn đến si mê. Nghiệp này do ta tích tụ từ bao đời đầy ấp trong tâm trí, không sáng suốt nên không thấy được các chúng sanh, gọi là không kiến tánh, tức là không thấy được tâm. Chỉ biết việc bên ngoài là dục vọng, ham muốn, tưởng là bền thật, các pháp vô thường trong sự có không mãi trôi dạt lênh đênh nơi biển đời khổ ải. Ngũ Tổ dạy, nếu tu mà suốt đời không thấy được tâm thì vô ích vì Phật tức tâm, không thấy tâm thì không thấy Phật, nếu thấy tâm thênh thang sáng suốt trí tuệ thì đồng như tâm Phật. Như tâm chưa được tương ưng thì còn cách Phật rất xa, nếu tâm không tương ưng thì cầu Phật làm gì? Nếu học kinh phải lìa được tướng ngã mới thâm nhập sáng suốt kinh Phật, hiểu được thâm ý Phật dạy. Nếu không hiểu kinh thì chỉ tu đối đãi vừa lòng ở thế gian là cầu an, cầu siêu, trai Tăng, cúng dường, cúng sao hạn, không cứu được tâm vì vẫn còn chấp chứa những phiền não, chưa buông xả được nên mê muội vẫn là mê muội, chưa chuyển hóa được ác nghiệp.

Phật đặt tên là chúng sanh, với danh từ này ta phải biết ai sinh ra chúng, trong tâm ta hằng ngày sanh ra vô lượng niệm nên gọi là chúng sanh. Thức cũng sanh, ngủ cũng sanh, đến chết cũng còn ôm niệm giữ không lìa, vì niệm niệm liên tục sinh khởi không dừng, rất đông nên gọi là chúng sanh. Ta thường sanh niệm thương, ghét, đòi hỏi từ trong tâm mà sanh ra đó là chúng sanh, nên trong kinh nói : “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Vậy ai độ chúng sanh? Chỉ có trí tuệ sáng suốt tự nơi ta, tự độ chúng sanh trong tâm ta. Nếu khi nóng giận, sân si sinh khởi (đó là niệm chúng sanh) ta liền giác ( tánh giác đó là Bồ Tát ) biết đang nóng giận, sân si liền buông xả không niệm thì ngay đó niệm không sinh. Nếu thấy được niệm sân si, độc ác, tội lỗi nội tâm mà vô niệm (không niệm) thì ta đã trở lại chính mình (chơn tâm). Nếu ánh sáng trí tuệ tự chiếu soi vào tâm thấy được sự ô nhiễm, tội lỗi, không duyên theo nên các pháp ấy đã diệt trừ ( phiền não tức Bồ đề ). Ta phải nuôi dưỡng từng tâm niệm cho trong sạch, là phục vụ chúng sinh, không để cho chúng sinh đau khổ, u mê, các chúng sinh lần lần sáng tỏ, giác ngộ nên nói là cúng dường chư Phật, vì không còn độc ác tội lỗi nữa gọi là Bồ tát thường giáo hóa chúng sanh.

Trong Kinh Di Đà được Phật diễn tả là cõi Cực Lạc ( tâm cùng cực an lạc ) có vô số chư Bồ Tát, vô số Thinh Văn, Duyên Giác, La Hán hằng ngày hái hoa cúng dường chư Phật (cúng dường những niệm mê lầm được giác ngộ sáng suốt gọi là chư Phật vì Phật là giác), không phải hoa thế gian mà là hoa trí tuệ, vì hằng ngày thường đem trí huệ phục vụ cho các chúng sanh càng lớn đạo đức trí huệ hết sạch niệm mê lầm, trí huệ trùm khắp không gian và thời gian, không chen một giờ phút niệm mê lầm nữa, đó là cúng dường chư Phật vô số ở mười phương cõi nước. Ta phải nuôi dưỡng chúng sinh tự tâm mỗi ngày thêm lớn sự sáng suốt, nuôi bằng trí tuệ chính của ta, trong kinh Phật nói là cúng dường cơm (hương tích). Ăn toàn trí huệ sáng suốt, không để chúng sinh ta ăn trộm, ăn cướp, ăn gian, ăn lận, ăn lừa, ăn đảo, ăn mạng, phải ăn bằng hương thơm trí huệ. Tâm được nuôi dưỡng sáng suốt trí huệ là cúng dường vô lượng chúng sanh, vô lượng công đức, đó là danh hiệu Đức Di Đà. Nếu càng nuôi dưỡng chúng sinh bằng trí huệ thì tự tánh ta càng thêm rộng lớn, sự hiểu biết đó là Phật lực của người tu, là Bồ Tát bất thối, rất sung mãn.

Ta biết thọ dụng bằng trí huệ mới là chơn thật, còn như thọ những vật dụng ở thế gian thì chỉ có giới hạn. Thọ thân là giả nên sẽ hư hoại, tình yêu cũng thay đổi vì tâm người mê muội gọi là vô thường, lúc thương, lúc giận, tiền của cũng theo phước duyên lúc giàu, lúc nghèo nên không thật, sự thọ dụng thế gian đều không thật. Nếu ta lìa được bốn tướng thì sẽ thọ dụng được trí huệ, tại chơn tâm tự tánh.

Phật dạy rằng “nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”. Có nghĩa là khi thấy sắc ta không đắm nhiễm là không đọa vào sắc, không thọ dụng. Thấy vàng bạc mà không sanh tâm, lìa bỏ, không niệm ưa thích thì chơn tâm đã thanh tịnh, đó là giác ( Phật ). Nếu không lìa được là ma, nên đệ tử Phật đã an định không còn lăng xăng với tà pháp gọi là Thế Gian Định Tự Tại Vương Như Lai. Dù ở thế gian không vướng bận niệm thế gian là thỏng tay vào chợ, ở trong chợ đời mà không vướng bận cuộc đời, tự nhiên, tự tại, nếu còn trong bốn tướng thì còn điên đảo. Ta phải tự kiểm điểm bản tâm ta, nếu muốn thâm nhập tạng kinh bí yếu Vô Lượng Thọ hay vào pháp tánh Như Lai, muốn vào thế giới Cực Lạc phải kiến giải rằng ta không mang tiền của về Cực Lạc được, không mang con cái, vợ chồng, đem sự hơn thua, tranh đấu về được, không đem bất cứ vật gì về được, nên không ôm giữ mãi chỉ khổ lụy cho tâm ta. Điều này rất khó nên Phật có thí dụ rằng, nếu dắt con trâu đi qua lỗ kim còn dễ hơn chỉ cho người kiến tánh thấy lại chơn tâm. Ta phải bỏ tướng tham nhân, tham ngã, tham thọ giả, tham chúng sanh, nếu sáng suốt điều này mới vãng sanh Cực Lạc được.

Nguyện thân có sắc vàng ròng, chỉ đến vật quý ở thế gian là vàng, là chỉ đến niệm cao quý, tâm cao quý y như vàng ròng không xen lộn, ô nhiễm bởi tạp chất ; chỉ tâm không còn vướng bận niệm thế gian, là tướng nhân, ngã, chúng sanh thọ giả là còn tham đắm, đó là còn đòi hỏi, thích ưa, những điều này là bợn nhơ làm vàng, không phải là vàng ròng thực chất được. Ý này muốn chỉ về tâm, không vướng mắc, không ô nhiễm, nếu tâm không còn niệm nhớ vướng mắc vào tài sản, tình yêu… là rảnh rang mọi thế sự. Thệ nguyện nơi tự tánh tâm là vàng ròng, quyết định phải làm được, nguyện sống suốt đời lấy chơn lý Phật làm mạng sống (chánh mạng) dù đến giờ chết cũng giữ chơn lý mãi mãi không rời gọi là hằng giác (chánh niệm). Còn nguyện bằng cửa miệng mà không có tâm nguyện thì chỉ là hình tướng bên ngoài, không đúng là tâm nguyện. Nguyện được bằng tâm là chơn chánh niệm Phật, là sống được với tự tánh Di Đà vô biệt niệm, đã tương ưng cùng thế giới chư Phật. Đã vãng sanh vì không còn sanh lại niệm mê lầm của thế gian là vô sanh, không còn sanh tâm niệm hướng vào lục đạo, không vào lục đạo là hết ham muốn là thiểu dục tri túc, vì không còn ngã thì cái ham muốn này chẳng cho ai cả. Còn lo lắng cho người thân là còn tướng nhân còn thọ giả, phải thật hiểu biết sáng suốt mới ra khỏi bốn tướng này. Mắt ta vẫn thấy, vẫn biết tất cả nhưng không niệm trụ sanh tâm vướng mắc vào là đã giác (Phật). Phật là tánh giác nên trước tượng Phật là hình tượng ta cũng không chấp vào đó là Phật, mà phải xác định rõ ràng, sáng suốt, phải hằng giác, không còn tâm vướng bận pháp thế gian đó là vô lượng công đức Phật, cũng như phải thấy được tánh giác chính ta là Phật. Còn hình tướng Phật thế gian chỉ do con người tạo ra bằng huyễn xảo thế gian, đó là sự tượng trưng bằng tâm con người mà có. Tất cả các pháp thuộc về thế gian qua hình tướng đều như huyễn, ta chỉ nương vào pháp với sự tín ngưỡng tạm thời, muốn giác ngộ phải tự tuy y Phật Tánh tại tâm mình.

Nguyện có 32 tướng tốt”, không phải tướng bên ngoài là lỗ tai dài, tay quá gối, chân mày trắng, vì những hiện tướng này Đức Phật muốn nói lên để diễn bày sự sáng suốt của trí tuệ, nếu người tu không dính mắc vào danh lợi, chức quyền, sắc đẹp, nam nữ, giàu nghèo… là tương ưng cùng 32 tướng tốt, tướng tốt không bị ô nhiễm vào pháp thế gian đã được trang nghiêm bằng trí tuệ bằng đạo đức thanh tịnh.

Nguyện thân không sai biệt, niệm niệm đều y nhau, toàn vàng ròng không xen lẫn, toàn giác, không còn chợt tỉnh, chợt mê, không phân biệt sự tốt xấu, không niệm gì là của người hay của ta cả, tất cả niệm tâm vốn đồng, đều là pháp, không gì là của tôi. Con người cho là tôi nhưng khi rời rã trở lại với thất đại thì không có gì là tôi cả. Tất cả tướng không là tôi thì không còn sai biệt. Nếu có giàu, nghèo, tốt, xấu, còn nam, còn nữ, còn hơn thua, phải quấy, còn kỳ thị lẫn nhau, là còn sai biệt khi dứt các niệm này là đã vào thế giới của chư Phật.

Nếu ta chưa có nguyện nào nơi tự tâm mình, dù có bố thí, cúng dường cầu phước bao nhiêu cũng không vào được quốc độ chư Phật ( Ngũ Tổ nói, không thấy được nguồn tâm, phước nào cứu được ). Có lần Đức Phật nói với Ngài Tu Bồ Đề “Người có của đem cúng dường bằng châu báu, vàng bạc, trân quý nhiều bằng tam thiên đại thiên thế giới, vậy phước đức cúng dường đó có lớn không?” Ngài Tu Bồ Đề bạch đức Thế Tôn phước cúng dường đó rất lớn. Phật dạy “Phước đó tuy lớn nhưng không bằng người sáng suốt, trí huệ hiểu biết, tu tứ cú kệ thì phước đó vô lượng không thể nói hết được”.

Vậy tứ cú kệ là gì? Là tứ vô lượng tâm, Tứ Diệu Đế, Minh tâm, Kiến tánh, Tứ tướng … đó là vô lượng vô biên công đức vì hết thảy chúng sanh đồng thanh tịnh, đồng trực vãng Tây Phương, chúng sanh không còn sai biệt vì đã trọn thành Phật đạo, người không còn niệm sai biệt là tương ưng với đại nguyện A Di Đà. Nguyện lực này nuôi sống chơn tâm là phát nguyện thành Phật, nếu không làm được thệ không thành chánh đẳng chánh giác.

Sống với nguyện lực A Di Đà là thường quán xét tâm, thấy từng niệm nói đến mười muôn ức cõi, biểu tượng chỉ vào tự tánh niệm niệm không dừng, mỗi niệm sa vào vọng tưởng là sinh ra mỗi cõi ta sa đọa. Hằng ngày thường có hằng hà sa số là niệm liên tục sinh khởi biến hiện tại tâm nên có hằng hà sa số cõi, Phật nói từ cõi Ta Bà về đến Cực Lạc phải qua mười muôn ức cõi, tức là 10 muôn ức niệm là chỉ đến sự mê muội liên tục không gián đoạn. Mỗi niệm mê là một cõi mãi kéo dài hằng hà sa số niệm, nên nói là hằng hà sa số cõi hay mười muôn ức cõi. Vì cứ mãi mê theo dục vọng nên thường tạo nghiệp luân hồi sanh tử như thế.

 

Kinh nói :

Khi con làm Phật, tất cả chúng sinh sanh vào nước con đều tự biết thấu thiện ác đã làm, vô lượng đời trước, có thể nhìn suốt, nghe thông biết tận sự việc ở trong mười phương ba đời, không đặng nguyện này, không thành chánh giác.

Nguyện thứ hai nước này tịnh giới

Đàn bà cùng con gái tịch nhiên

Những người trong cõi nhơn thiên

Cùng loài cầm thú cần chuyên tu hành

Thảy đều đặng hóa sanh thọ cảm

Thất bảo trì, cửu phẩm liên hoa.

Nguyện thứ ba dân chúng Phật Đà

Khi cần ăn uống, hóa ra sẵn sàng

Bát Thất bảo, bĩ bàng đựng lắm

Trăm món ngon khỏi sắm ở đâu

Ăn rồi khí dụng liền thâu

Không cần phải rửa phải lau nhọc nhằn.

* Vãng sanh có 2 điều chính :

- Thực tướng vãng sanh là chắc chắn vãng sanh.

- Hiện tượng vãng sanh là sự lờ mờ chưa chính xác. Ở thế gian thường theo hình tướng con người qua trạng thái vô thường luôn thay đổi cho là thật nên dễ bị lầm lẫn. Tổ dạy, những gì còn âm thanh, sắc tướng đều như huyễn, không thật. Nếu tu mà cứ mãi để tâm niệm vào xe cộ, nhà cửa, tiền bạc, người thân, luôn nhớ đến vật chất bên ngoài là khẩu hành mà niệm vẫn còn nhớ nghĩ đến tà đạo, không giải thoát được tâm. Kinh Bát Nhã Kim Cang dạy, nếu cứ chạy theo âm thanh, sắc tướng là người ấy hành đạo tà, không thể thấy Phật, vì đạo tà không vào được chánh đạo. Ta không nên chạy theo tướng, nếu người sắp chết mà nhìn vào hiện tướng thấy sắc mặt đỏ hay do sự tưởng tượng báo trước, có mùi thơm đó là hiện tượng. Phật dạy “Này các ông, sau thời kỳ mạt pháp, nếu các ông thấy có hiện tượng hay hình ảnh hiện ra giữa lưng trời, chiếu hào quang, người ấy giảng pháp, các ông có lễ lạy không? Nếu như các ông lễ lạy sẽ bị Ma Vương gạt vì ma có ngũ thông biến hóa vô cùng”.

Sau thời kỳ Đức Phật nhập diệt, Ngài A-Nan làm Tổ độ được Ma Vương, mà xưa nay Ma Vương thường theo khảo Phật. Ngài A-Nan nói với Ma Vương rằng : “Này Ma Vương, hôm nay ngươi là đệ tử của ta, ngươi có tài biến hóa vô cùng, từ khi Bổn Sư ta tịch vì thương nhớ quá  muốn thấy được hình ảnh Bổn Sư, với thần thông phép tắc của ngươi, có thể biến hóa ra được hình ảnh của sư phụ giống ngày xưa không?”. Ma Vương trả lời “Việc đó con làm được, nếu Sư phụ thấy con hiện ra đừng quỳ lạy, đảnh lễ làm con tổn phước thì con sẽ hiện ra”.

Ngài A-Nan nói “Ta sẽ không lạy”, Ma Vương liền nói Sư phụ hãy ngó qua tay phải thì sẽ thấy Đức Phật tới. Quả nhiên ngài A-Nan thấy đức Phật cùng 1250 đệ tử theo cùng Phật. Ngài A-Nan mừng rỡ vội vàng quỳ xuống lạy và đảnh lễ, Ma Vương ngăn lại “Con đã nói trước đó là do con biến ra sao Sư phụ còn đảnh lễ”. Thời kỳ này rất nhiều kỹ xảo khoa học, ta phải cẩn thận khi coi phim ảnh cần phải biết thực tướng vãng sanh.

Vậy vãng sanh là gì ? Là vô sanh, vô sanh là không sanh, nhưng theo lập luận thế gian qua sự tướng nói là không sanh thân trở lại cõi đời này nữa, đó là mượn tướng mà nói về niệm khởi là không sanh niệm khởi. Nên Kinh A Di Đà nói, người Phật tử còn nghiệp mà nói rằng được đới nghiệp vãng sanh, nghĩa là còn nghiệp còn vô minh, còn tư hoặc, trần sa hoặc, nhưng tại sao được sanh về cõi Cực Lạc, Phật dạy trong kinh có Tứ Thánh Quả.

Sơ quả là Tu-đà-hườn là nghe Phật dạy thế gian có khổ, tập, diệt, đạo gọi là Tứ Diệu Đế. Muốn diệt khổ, không còn luân hồi sanh tử thì phải sống với đạo đế là Bát Chánh Đạo. Tu Bát Chánh Đạo phải có chánh kiến, hiểu biết sáng suốt, các pháp không còn mê lầm nữa, biết thân giả tạm, hình tướng giả tạm, không thật nên không bị ai lừa đảo ; đã sống với mắt trí huệ chánh tư duy, hiểu rành thế gian là tạm bợ, tạm thời tất cả đều do tâm mà sinh ra. Nhưng thỉnh thoảng cũng còn buồn, giận nên nói còn lậu hoặc còn phiền não. Đã có chánh tri kiến nên thấy được những điều này bất chợt gợi lên nhưng cũng tự giác biết mà xa lìa gọi là chánh tư duy. Đó là thất lai vì giữ niệm chưa được kiên cố, nên niệm sanh trở lại, bỏ một niệm mê không sanh lại nữa là một kiếp, bỏ hai niệm mê là hai kiếp… bỏ được sáu niệm là sáu kiếp, còn sinh khởi một niệm gọi là Nhất lai. Cải tạo từng phần phiền não vô minh là được vãng sanh từng phần, chỉ nói về niệm không tính theo thời gian, ta vượt qua thời kiếp là bỏ một niệm tham, bỏ một niệm giận, bỏ một niệm phiền não, bỏ một nhiệm nhớ đến đau khổ… là sẽ qua được một kiếp. Vì tập nhiễm thói quen khó bỏ, phải tập buông dần, buông dần còn một niệm quay trở lại gọi là Nhất lai. Sự cố gắng giữ gìn chánh niệm nhưng vẫn còn gợn lại niệm vô minh sanh khởi là nhất lai, vẫn còn một thoáng buồn giận nhưng liền giác, còn một lần niệm nhớ lại là nhất lai. Khi phiền não giận ngấm ngầm nơi tâm, nhớ lại sáu bảy lần mới hết là thất lai, còn người tâm giận khởi lên mà liền biết là nhất lai ( lai là còn một niệm vọng tưởng chợt trở lại là còn lai vãng vào ác đạo ). Nếu không còn phiền não giận hờn, nóng giận… niệm mê lầm không còn sanh khởi, nhớ lại là vô sanh. Tâm đã hoàn toàn thanh tịnh như như không động gọi là quả vô sanh hay vãng sanh Cực lạc ( tâm hoàn toàn an lạc ). Nếu tâm người tu được như vậy thì ngồi đâu, ở đâu cũng tự tại là vãng sanh hết các tà niệm, vọng niệm dứt nghiệp ô nhiễm tâm trong sạch hiện tiền, không đợi chờ đến khi nhắm mắt ( chết ) mới vãng sanh, nghĩa là tâm hiện tại không sanh, không niệm trở lại cuộc đời, không còn chất chứa phiền não, đau thương, hẹp hòi, ích kỷ v.v… sư thật này rất rõ ở tại tâm ta. Nên Phật dạy, ngoài tâm ta không tìm Phật ở đâu cả, xứ của ta là ở tại tâm ta không tìm Phật ở đâu cả. Quốc độ cũng ở tại tâm, tùy xứ kiết tường vân, thành ý phương ân. Mỗi quốc độ chứa vô số Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và cũng có rất nhiều tâm niệm do tâm tạo thành của Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh. Ta tu là lọc lựa lại những tâm niệm tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, sân giận, phiền não. Ta không tạo tâm thú cầm, chỉ còn lại sự sáng suốt trí huệ các Bậc Thánh, nên các niệm phàm phu tục tử đều quá vãng, không còn niệm sanh trở lại, tất cả đều sáng suốt, đây là Thế giới cực lạc. Phải phát bồ đề tâm một lòng niệm Phật, nhất quyết lấy tâm niệm Phật nhập Phật tri kiến. Đó là đại sự nhân duyên, sự thâm diệu của pháp tu Tịnh Độ.

Tất cả con người đều là pháp, thân là do tứ đại hợp thành ( sắc pháp ), các niệm thường sanh khởi là tâm pháp, gọi là pháp thành tựu. Pháp nhờ giới luật mà thành Phật, là thành tựu giới pháp là pháp thân Phật. Người tu phải có giới định huệ cũng là giới pháp, nên con người đầy đủ giới pháp cũng là Phật tạo thành pháp giới thanh tịnh. Con người nếu giới tâm thanh tịnh cũng là Tăng, nếu không có người thì không có Phật, có pháp, có Tăng. Nhất quyết ta không tin vào sự lừa đảo, vào sự mê muội bày vẽ của một ai mà phải biết vãng sanh như thế nào? Phải sáng suốt xác nhận rằng vì tâm tạo nhiều sai quấy, mê muội, tham, sân, si, phiền não, ái, thủ đều xây dựng do tâm nên phải sáng suốt tu sửa ngay tại tâm, phải vãng sanh ( buông xả ) hiện tại tà niệm chính ngay tâm mình ( xả ly ), không nhờ vào bất cứ ai chuyển hóa được tự ta, phải tự độ lấy tâm ta, vì các pháp sanh trong ta còn đang khổ não thổn thức u sầu.

Chúng sanh khổ con nguyền tự độ.

Vì tham lam sân hận ngập trời

Phá si mê trí huệ tuyệt vời

Con nhớ Đức Di Đà Lạc quốc
                     ( tự tánh sẵn có )

Nếu hiện tại ta vẫn tham, sân, si, hận thù, cố chấp muôn trùng ( nghiệp ) mà đến giờ chết cho là vãng sanh thì không đúng chơn lý nhà Phật vì đạo Phật phải chấp nhận rõ ràng có nhân và quả. Nhân là các tư tưởng tà niệm đã quá vãng ( đã chết ) không còn luân hồi niệm nhớ sanh lại nữa gọi là vô sanh ( không còn khởi niệm lại hòan cảnh đã qua ), mới thật sự vãng sanh. Ta không chạy theo phong trào, lời nói, bày vẽ mà phải dùng trí tuệ sáng suốt nhận định bằng chánh kiến sự việc thật rõ ràng, không nhận định mơ hồ mà uổng phí kiếp người học Phật.

Nguyện thứ tư nhân dân trong nước

Muốn áo quần khăn lược mão giầy

Thảy đều hóa đủ sẵn bày

Khỏi mua, khỏi giặt, khỏi may cực lòng.

Nguyện thứ năm giáp vòng địa lợi

Từ đất bằng lên tới hư không

Thảy đều lầu các điện cung

Cùng là cây trái ao sông cửa nhà

Các thứ ấy đều là trân bảo

Cùng bá thiên hoa báu hương thơm

Hiệp nhau thành tạo kết đơm

Trau dồi trang sức, cho làm phần ba

Mùi hương ấy xông ra khắp đủ

Cả mười phương hưởng thụ cấp kỳ

Chúng sanh hạnh nguyện chuyên trì

Tin và tưởng Phật, đến kỳ vãng sanh.

Nguyện thứ 6, thứ 7 và thứ 8

Nguyện có túc mạng thông

Nguyện có thiên nhãn thông

Nguyện có thiên nhĩ thông.

Nguyện là gì? Nếu ta chỉ nguyện bên ngoài cửa miệng dù quỳ trước Tam Bảo hay bất cứ hoàn cảnh nào đó chỉ là hình thức nguyện, không phải là thực tướng nguyện.

 Vậy thực tướng nguyện như thế nào? Nếu một người phạm tôi ăn cắp, bị bắt đối trước mặt người xử lý, họ chỉ xin lỗi hứa suông nói là sẽ chừa bỏ vì hiện tại sợ sệt, xấu hổ ; hứa sẽ chừa bỏ, hứa sẽ làm người tốt, van lạy xin tha tội, việc đó vì hoàn cảnh phải hứa cho qua. Như vậy nguyện này không chắc bởi không có thực hành, chỉ là hình thức gấp rút nói cho qua vì muốn lợi cho mình không thật lòng sửa sai chừa lỗi ( sám hối ). Cũng một người phạm lỗi vì nhậu nhẹt ăn chơi trác tán, tan nhà, nát cửa, làm cho gia đình phải khổ sở, nghèo đói, bất ngờ nhớ lại mình đã làm điều sai quấy làm người thân khổ sở, bất an vì đã tiêu tan tài sản, thấy được điều lầm lỗi hối hận quỳ trước mọi người xin tha lỗi nguyện chừa bỏ sai lầm, thật lòng không tái phạm nên quyết định chừa bỏ thì người này là thực tướng nguyện, nguyện này nhất định sẽ làm được, không trở lại thói hư tật xấu nữa.

Ta nên sáng suốt biết rằng 48 đại nguyện khi đọc lên chính là ta phát nguyện tại tâm thật tha thiết. Ta hứa phải làm được, khi miệng đọc, tâm tụng cho chính ta phải theo lời dạy dỗ của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã tuyên dạy. Nếu ai muốn về Cực Lạc phải phát 48 lời nguyện như đức Di Đà đã từng phát nguyện vãng sanh Tịnh Độ. Không đọc kinh như trả bài với Phật mà mình phải vượt lên, bám víu vào sức kiên quyết thực hành cho được lời nguyện, cho chắc chắn tại tâm mình. Tu tại tâm mình, thật sự tại tâm, thật là ngay thẳng gọi là TRỰC CHỈ NHƠN TÂM, nghĩa là nguyện lực này nhất định phải hoàn thành. Một trong 48 lời nguyện này đức Phật Thích Ca muốn dạy cho tất cả chúng sanh được thành chánh đẳng chánh giác, ai cũng có khả năng thành Phật.

Nói đến “Khi con thành Phật”, ta phải hiểu Phật đang nói với ai ? Đó là Phật nói với tất cả chúng ta, với mọi người Phật dạy ta tự nhớ lại. “Khi con thành Phật”, vua Vô Tránh Niệm phát nguyện với Định Tự Tại Vương Như Lai, nguyện rằng “Khi con thành Phật…”. Chúng ta cũng vậy ở tại thế gian này đối trước các pháp dù khổ vui mà ta có trí huệ sáng suốt, biết sử dụng pháp ở ngay thế gian, tâm được tự tại không vướng bận vào sự đau khổ, không cho vui là thật thì đã tự tại ra khỏi các pháp thế gian, tâm an định nên ta đã gặp thế gian Định Tự Tại Vương Như Lai tại tâm ta. Nếu nguyện thành Phật thì phải làm những điều này, nếu không được thì không thành Phật vậy khi thành Phật các chúng sanh về cõi con.

Ai là chúng sanh? Chính là ta, tức là khi vừa niệm đến tham, sân, si, phiền não, ghen ghét là các chúng sanh trong cõi tâm ta hiện đang ở trong lòng ta xuất hiện hay những suy nghĩ những tâm niệm không thật đó là những chúng sanh mê muội sanh khởi. Nhưng khi giác ngộ được các pháp thì những tư duy cũng là niệm nhưng đã sáng suốt biết được những chúng sanh tự trong lòng ta, quốc độ ta, thế giới ta, ta đều biết rõ, đó là những chúng sanh là quyến thuộc của ta từ vô lượng kiếp. Nếu tu mà không biết rõ được vô lượng kiếp trước ( vô lượng tâm niệm si mê ) thì nhất định sẽ không thành Phật. Nếu ta cứ nhờ vào cách bói toán coi vô lượng kiếp trước của ta thì không thể biết được, chính tự ta sẽ nhìn lại những tâm niệm mê lầm, mỗi niệm ấy là mỗi kiếp của ta ở tại tâm thường làm cho tâm vẩn đục, u tối, ta phải hiểu rằng “nhược kiến chư tướng, phi tướng tức kiến Như Lai” bỏ tướng nam, tướng nữ, tướng già, tướng trẻ, tướng sang hèn, tướng con người thì thấy Như Lai (giác). Nếu mãi chấp vào các hình tướng là còn kẹt vào tướng thế gian. Nếu nghĩ rằng kiếp trước tôi là nam, nữ, sang, giàu hay nghèo khó là đã chấp kẹt vào tướng. Phải bỏ các tướng đó, soi vào tâm liền thấy hiện tại tâm vẫn còn tham, ích kỷ, đố kỵ, ganh ghét, độc ác thì vô lượng kiếp trước cũng là như vậy vì nhân kiếp trước là quả hiện tại không sai. Chắc chắn vô lượng kiếp ta đã lăn vùi trong mê đắm, đã tạo nhiều điều ác, nên hiện nay dù đến với Phật pháp ta vẫn còn tăm tối. Vì vậy, Đức Phật Thích Ca vì lòng bi mẫn xót thương dạy trong mỗi chúng sanh nên mở tâm bồ đề, phát lời thệ nguyện như Đức Di Đà hầu tiêu trừ quá vãng những niệm si mê, không còn đọa vào ba đường ác. Nếu hiểu được điều này thì ta đã có TÚC MẠNG MINH, ta đã biết được quá khứ chính nơi ta mà tu sửa. Ta phải cần biết vị lai bằng cách nhìn vào tâm hiện tại đã bỏ được những tâm niệm, suy nghĩ tà ác, tham lam, sân hận hay chưa? Nếu thấy tâm đã an ổn, không còn những điều vướng bận trong lòng, đã thuần khiết thanh tịnh, không còn những tà niệm trong quốc độ tại tâm ta hoàn toàn sáng suốt, trí tuệ thì chắc chắn đã chứng quả vô sanh.

Ta phải thấy rõ việc thiện ác đã làm, phải xét thẳng vào tâm, người theo tướng là chạy theo tiền của, vật chất, chỉ thấy những thứ này nên không thấy được tâm. Phải thấy hiện tại bây giờ tâm còn chứa bao nhiêu sự ác, có giảm bớt hay không?

Vậy thành Phật là gì? Thành Phật là LÀM CHỦ ĐƯỢC TÂM, nghĩa là làm chủ sự nói năng là chánh ngữ ; làm chủ việc làm là chánh nghiệp ; làm chủ sự nghe, sự thấy là chánh kiến ; làm chủ sự suy nghĩ là chánh tư duy ; làm chủ tâm là chánh định. Nếu không làm chủ được những điều này sẽ bị đọa vào ác nghiệp. Vì nếu nghe êm tai thì thích, thấy sắc đẹp thì mê nên sa vào ở mãi nơi đây, trụ vào là đọa mãi mãi không ra được gọi là vướng mắc. Người ghiền rượu thì đọa vào rượu, ghiền xì ke thì đọa vào xì ke, tham vật chất thì đọa vào vật chất, tham sắc đẹp thì đọa vào sắc, tham tiền thì đọa vào tiền bạc, có khi mất thân mạng tại chỗ vì sự sa đọa này. Người tu phải nhìn rõ tâm niệm chính mình có còn bị đọa vào các cõi các thế giới này không? Đang ở xứ nào? Có đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh a-tu-la không? Ta  phải sáng suốt coi lại chính tâm ta, nếu không còn tham lam ích kỷ, hẹp hòi, não loạn, tranh giành, hơn thua, danh lợi thì tại nơi tâm cũng không còn một niệm ác nào lai vãng đó là không đọa vào ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nếu ta nghe được biết được thì gọi là nhất lai, không niệm lui tới sáng suốt biết rõ rằng đã xả bỏ những thói quen tập nhiễm hưởng những điều vui, nếu chú ý thực hành sẽ tương quan ngay cuộc sống thì được kết quả an lạc giải thoát, nếu phát nguyện làm được chắc chắn được vãng sanh.

Tội là chi, phước lại là chi

Đa mang hai gánh nặng như chì

Sợ làm chi hai danh tự vô nghì.

( Huyền Giác Thiền Sư )

Tâm làm ta khổ, tâm tạo địa ngục, tâm cũng đưa ta đến cõi Trời, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, La Hán, Phật. Ta hãy lau chùi lại gương lòng, không ai có quyền bắt tội ta nếu ta không làm điều sai trái. Phật thường ở nơi ta hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, vì mê loạn trong ảo ảnh cuộc đời nên không nhìn thấy, khi thanh tịnh giác ngộ liền có Phật sát bên. Vậy Phật là ai ? Chính là tự tánh Di Đà, viên giác diệu tâm. Người học Phật vừa khởi niệm liền sợ tội là nhân không đọa vào đường ác. Ta thường sợ tội ở hồn mà không biết sợ tội ở tự tâm. Ta mãi làm ra tội, Ta bà hay Cực Lạc do chính tại tâm ta, cảnh tùy tâm chuyển. Tịnh độ là pháp giới nhất chân hay là chuyển Ta bà thành Tịnh độ, hay chuyển phiền não tức bồ đề. Tâm còn cõi Ta bà mà chuyển Cực Lạc là điều khó vì Ta bà là nhiều bất bình, bất mãn, đau khổ. Đức Phật cũng là con người tại Ta bà, ví như sen ở nơi bùn lầy mà vẫn nở tốt đẹp. Đó là sự đặc biệt tinh khiết của sen, dù trong bùn nhưng vẫn tỏa ngát sự thơm tho đậm nét, đậm sắc màu. Phật nói dù ta ở đời ngũ trược ác thế, nhưng vẫn biết đi trên sự an lạc, mỗi bước đi đều nở đóa sen, đó là sự biểu trưng rằng dù ở trong đường ác nhưng tâm vẫn là sen, vẫn bước đi bằng niệm sen hồng, khi được đại Bồ đề, đại Niết Bàn cũng ở tại Ta bà chớ không ở nơi nào khác. Vậy hiện tại ta cũng ở đời ngũ trược ác thế, cũng bùn lầy nhưng phải tự giữ lấy tâm ta cho thật trong sạch dù trong cõi bức ngặt, nóng nảy mà tâm sen không hề héo úa. Kinh dạy :

Dương chi tịnh thủy

Biến sái tam thiên

Tánh không bát đức lợi nhơn thiên

Diệt tội tiêu khiên

Hỏa diệm hóa hồng liên.

Tất cả những niệm sai lầm được chuyển hóa thanh tịnh, tam thiên đại thiên thế giới của các cõi tự tâm, nhờ tu bát chánh đạo làm an ổn cho người tu giữ ngũ giới và người tu thập thiện không còn vướng trụ vào vọng niệm tư tưởng của cuộc đời, nên không nói là oan khiên, nghiệp chướng. Tâm nóng nảy sân hận là hỏa diệm sơn, là sức nóng vô lượng được hóa giải thanh tinh diệu mát, là hóa thành sen hồng thơm ngát. Nếu biết chuyển Ta bà thành Tịnh độ là đã cúng dường pháp, là bố thí pháp, bố thí tất cả pháp thuộc về sở hữu cho là của ta, bố thí hết sự phiền não, sân si … Bố thí niệm phiền não chuyển thành niệm an vui, niệm Tà bà buông bỏ thành niệm hướng về Tịnh độ.

Tổ Thần Quang xin Ngũ Tổ cho con pháp an tâm. Tổ dạy “Ông đem tâm ta an cho”. Tổ Thần Quang trả lời “Con tìm tâm không có”. Ngũ Tổ nói “Ta đã an tâm cho con rồi đó”. Tâm không thật thể, nó vốn vô thường, khi còn mê muội duyên theo cảnh làm ta đau khổ, khi hết duyên thì không còn tâm nào cả. Nếu có chánh niệm, chánh định, chánh tư duy thì không còn tâm nào cả. Lửa sân hận tuy không hình tướng nhưng nó sẽ tạo thành tâm sân si, nóng nảy, tác hại nguy hiểm vô cùng. Ta phải hằng nhắc nhở tâm, có người nhờ sâu chuỗi mà nhắc nhở tâm, gìn giữ tâm bằng cách niệm nương vào chuỗi mà nhắc rằng.

Ái hà thiên xích lãng

Khổ hải vạn trùng ba

Dục thoát luân hồi khổ

Tão cấp niệm Di Đà.

Ta phải trở lại tự tánh chính nơi ta, vì sông sầu, biển ái mênh mông, sâu vô lượng. Ta đang ở biển khổ muôn trùng, muốn thoát Ta bà khổ, phải gấp rút niệm nhớ TỰ TÁNH DI ĐÀ sáng suốt, trí tuệ, bình đẳng. Ta không thể nương tựa vào đâu, không niệm nhớ bất cứ niệm nào ở cuộc đời, chỉ để tâm ý niệm nhớ đến tánh Phật, niệm Phật tại lòng thôi. Như vậy tâm ta không còn bị sa đọa vào đường ác vì có ba đường ác chính từ niệm ta sinh ra, làm sự nghiệp xây dựng địa ngục, nếu biết được rõ ràng thì hiện tại đã thật sự vãng sanh các tà niệm, đã hóa giải được nghiệp si mê. Kinh Vô Lượng Thọ Đức Phật Thích Ca muốn dạy cho tất cả chúng sanh được thoát khổ bằng phương pháp thâm nhập kinh, trí tuệ bừng sáng, tâm được tự tại. Ta hãy tự phát nguyện tại nơi tự tánh chính mình, tự tu học, không tu biểu diễn, khoe khoang, không tu danh, tu cho ai xem cả, tự tu để tự hết khổ, tự ngộ. Nếu bị đọa địa ngục do nơi tâm niệm thì cũng do tự ta nhận chịu, sự khoe khoang, dù có phẩm vị danh ngôn cũng không cứu được ta.

Nghe rõ sự việc khắp 10 phương” là nhớ rõ hết những niệm sai lầm từ xưa nay còn chất chứa đầy ắp tại tâm, không được ánh sáng quang minh nào hóa giải, tăm tối khắp 10 phương thế giới cõi nước trong tâm, cả ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Ta hãy nghe lại những niệm của chúng sinh trong tâm từng đau khổ, khổ sanh, khổ lợi, khổ tình ; khổ vì vợ chồng, con cái, cha mẹ, anh em, người thân; khổ vì vật chất tài sản, khổ vì thương ghét khổ sanh già bệnh chết. Nghe rõ để nhớ lại ba đời, tư duy để biết rõ rằng ở trong luân hồi đời nào cũng vậy, cũng khổ, quá khứ đã khổ, hiện tại đang khổ, nếu không tu tương lai cũng khổ y như vậy. Ta nghe tiếng lòng rất rõ đó là tu hạnh lắng nghe, hạnh Quán Âm tầm thinh cứu khổ, nghe bằng trí tuệ Bát Nhã, nghe vào chính tự lòng ta, không nghe bên ngoài dư luận, bàn tán, vẽ vời, thêu dệt bằng hình tướng, mà hãy tự làm chủ tâm ta không để pháp thế gian, hay quyền lực nào định đoạt cả, không sợ sệt lo âu, sống như thế nào? Chết như thế nào, sẽ về đâu? Thật là khổ ải vạn trùng ba vì vô sở đắc cố, nên khi tâm đã tự tại, bình an thì tự nhiên sự tự do đã sẵn, không tìm cầu ở đâu tự mà hết khổ, hết đọa là giác ngộ giải thoát, phải tự thực tế hiện tại nơi tự tâm không tìm cầu van xin nơi nào mà có được.

Nguyện có túc mạng thông, đã thông biết rõ ràng có quốc độ tại tâm giống như thấy trái cây nằm trong bàn tay. Phật nói “Ta giảng pháp cho các ông, là đem thế giới Cực Lạc cho các ông thấy được, như để trái umbala trong lòng bàn tay cho các ông coi vậy”. Khi nghe giảng đọc tụng phải tự quay vào tâm, thấy hiểu biết rõ ràng các pháp, không còn nói rằng Ta bà cách Cực Lạc mười muôn ức cõi, đó là thế giới Cực Lạc đang nằm ở tại lòng của chính ta. Vì mê muội nên Cực Lạc nơi tâm ta còn tăm tối, vì còn các tà niệm trong tâm che chắn làm mờ tánh giác. Các niệm vào đường súc sanh, ngạ quỷ đang hoành hành, ta phải ra sức dọn dẹp nơi tâm đã có niệm sáng suốt là đấu chiến thắng Phật, giúp ta có sức mạnh giác ngộ tại tâm, để trang nghiêm quốc độ, trang nghiêm Tịnh độ.

Ngài Pháp Tạng Tỳ kheo học từ đức Phật Thích Ca, Phật là bậc Đạo Sư, tất cả chúng ta đều là học trò, là đệ tử của đức Phật Thích Ca, ta tu học theo giáo lý từ nơi kinh nghiệm trí huệ của Ngài giáo dỗ cho ta nương theo để thành Phật như Ngài. Pháp Tạng Tỳ kheo cùng chúng ta đều là học trò của đức Phật Thích Ca, cũng học từ 48 đại nguyện, ai cũng phải thọ trì, mà Ngài Pháp Tạng tỳ kheo đã đỗ đạt đầy đủ từ nguyện lực thành chánh giác có Phật hiệu A Di Đà nhờ thực hành 48 đại nguyện. Vậy trong tất cả chúng ta nếu phát bồ đề tâm, bồ đề nguyện muốn về Cực Lạc, thành bậc Thượng Thiện Nhân không còn tâm cực ác, không còn là người ác, được thân cận A Di Đà thì phải thực hành thông suốt kinh nghiệm mà Phật đã chỉ dạy, tu theo đúng chơn lý, tu ngay hành vi sai phạm chính mình sẽ TRI KIẾN PHẬT, sáng suốt nhập vào tự tánh A Di Đà chính tại tâm ta vậy. Nên có vô số Đức A Di Đà đã đỗ đạt thành Phật, vô lượng vô biên đức độ A Di Đà được chánh giác gọi là vô lượng Phật. Ta hãy dùng pháp thế gian mà nói rằng, nếu kinh nghiệm qua trí thông minh của người học về kinh nghiệm trị bệnh,gc sống hằng ngày không ai dứt niệm được cả, cho nên đã tu mà cứ niệm xe cộ, niệm thấy nhà cửa, niệm thấy vật chất sở hữu của ta, người thân của ta, đó là chấp trước. Người tu phải bố thí xả bỏ yđó là tự khởi niệm sanh vào cõi ác, thường niệm không chuyển gọi là địa ngục vô gián ( không gián đoạn ). Trong các quốc độ tại tâm, nếu sáng suốt biết rằng giờ phút nào cũng niệm, nếu ta thấy được đang niệm gì gọi là kiến tánh. Người tu mà không thấy tánh thì không ích lợi gì. Nên Ngũ Tổ dạy “Nếu tu mà không thấy được nguồn tâm thì học đạo vô ích”. Thấy được tâm niệm lần lần chứng được các thông của đức Phật dạy, biết được tất cả niệm là chứng đắc túc mạng thông, thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, biết được tâm niệm của người là tha tâm thông, phải đủ thần thông mới thành Phật được. Tha tâm trí thông là trí biết rõ các niệm, biết loại bỏ những niệm giận hờn, phiền não phàm tục, ghen ghét, không còn vang dội ra vô trong trí nhớ nữa. Những thói quen xấu ác không còn, trí thông cảm sẵn sàng yêu thương, tha thứ mọi người, có lòng giúp đỡ dù rất khó nhưng nguyện sẽ làm được.

 

Tự tánh là chơn như, dù bị vô minh che lấp nhưng vẫn còn mãi mãi đời này đến đời sau, ta phải cương quyết tu, tu mãi dần dần sẽ trong sạch.

Đường đi khó,

Không khó vì ngăn sông cách núi

Mà khó vì lòng người ngại núi e sông.

Đức Tự Tại vương Như Lai nói rằng, dùng một gàu lớn tát mãi có ngày sẽ cạn, dù ngày đêm không ngại biển sẽ vơi dần. Vậy sông sầu, biển khổ của ta nhứt định tát mãi có ngày sẽ cạn. Nếu có chúng sanh nào sáng suốt, trí tuệ, có tha tâm trí biết được tâm niệm của mọi người và luôn cả mình, biết họ cần gì? Bệnh gì? Thì mới có thể giáo hóa họ được. Dù cách xa mười muôn ức cõi vẫn có tha tâm thông, tha tâm trí hiểu người, biết người rõ căn cơ mà chỉ dạy. Dù cho tâm họ là quốc độ xa cách muôn ngàn dặm đức Phật cũng có thần thông mà giáo hóa. Nếu không quyết lòng tu thì tham sân si, khổ đau, vui buồn, thương ghét tràn đầy, nếu chưa kiến tánh thì không thành Phật được. Ai cũng có sẵn tánh Phật, ta tu để trở về tánh Phật thật khó vô cùng, ta tu cũng phải phát nguyện thành Phật.

Người kiến tánh là duyên thành Phật, không còn chạy theo hình tướng bên ngoài, không theo nhân quả tham sân si, mạn ; sự vô hình có vô lượng phiền não, bên ngoài có sự cám dỗ của cuộc đời đều phức tạp là cạm bẫy, hầm lửa đều là hiểm nạn, nếu không trí huệ sẽ sa đọa mãi càng tăng trưởng vô minh. Trong ngoài đều có phiền não, không muốn ai tu hành luôn phá hoại, cản trở hảm hại cần sám hối. Không theo sự đẹp, xấu, thương yêu, hận thù, không chạy theo lục dục thất tình. Nếu học Phật phải thấy ma hiện tiền mà tự giác không sanh tâm sợ hãi, thối lui, dù khó khăn phải tinh tấn vượt qua là giúp ta tiêu nghiệp.

Kinh Kim Cang dạy ta thọ trì đọc tụng. Thọ trì là thực hành theo lời dạy. Nếu bị người lăng nhục, khinh bỉ ta phải thương xót cho họ, tìm cách khuyên giải vì mê muội nên họ có hành động độc ác sẽ rơi vào ác đạo. Ta phải quay về sống với tâm niệm tự nơi mình, không đua đòi theo sắc tướng bên ngoài, gọi là kiến tánh hay còn gọi là thấy tâm. Vì mãi chạy theo bên ngoài tiền của, vật chất đó là theo cảnh quên tâm, thấy cảnh mà không thấy tâm. Ta tu hãy quên cảnh để trở về với tâm. Tại sao? Vì bất cứ sinh vật nào sống ở thế gian, nói chung là muôn loài đều sống bằng tâm. Muốn ăn, muốn đi, muốn nghĩ, tính toán làm bất cứ điều gì đều từ tâm niệm khởi xuất. Ta phải biết vạn pháp đều do tâm khởi, điều này mọi người quên lãng, thường không chú ý đến. Nếu ta có duyên gặp thiện tri thức giảng dạy, phải thật sự sống bằng tâm. Khi bắt đầu sống được với tâm, gọi là thấy tâm hay thấy tánh ( kiến tánh ) hay là thấy Phật ( đã giác ), tại sao? Trong kinh Phật nói rõ rằng “Phật tức tâm, tâm tức Phật”, chớ không nói con người này, mặt mũi này, giọng nói âm thanh này tức Phật. Chỉ có tâm tức Phật, Phật tức tâm. Nếu ta trở về chọn tâm trong sạch thanh tịnh là sống với chánh mạng, đó là đã thọ dụng được pháp thân Phật, sống bằng tự tánh Phật. Còn nếu bỏ tâm chạy theo hoàn cảnh giàu, nghèo, buồn, khổ là đã bỏ Phật quên tâm. Ta biết quay về với Phật tâm chính mình là đã trở về quy y chánh pháp. Nếu càng chạy theo danh lợi vật chất bên ngoài là theo sự đau khổ, phải sáng suốt dùng trí huệ nhận định mọi việc trong cuộc sống, hành động thế nào, nói năng chơn chánh, ăn ở như thế nào đừng vướng bận vào tâm, niệm niệm đều bằng sự buông xả. Nếu niệm Phật phát hiện tâm lung tung, nhiều vọng niệm thì đó là thấy được tâm đang bất an. Từ xưa nay không để ý vào tâm, mãi phóng túng nên không thấy tâm điên đảo. Thấy được sự điên đảo đó chính do niệm khởi sanh tâm, phải cần quan sát cảnh giác niệm khởi, tự giữ gìn giáo hóa. Khi hết điên đảo tâm dừng là định, giác hết tất cả niệm là Phật không xa. Vì biết tâm điên đảo không niệm theo là sáng suốt, trí huệ. Ta mãi thấy giả tướng bên ngoài là vật chất, tiền tài, người thân đều chấp thật cho là của ta, là theo giả cảnh bỏ chơn tâm. Đây là chỗ bắt đầu vào cửa Phật, nên mới thấy được Phật tâm ta đang rối bời mà tu sửa lại cho thanh tịnh. Ta đừng sợ hãi mà cần nhìn tâm thật rõ, coi kỹ lại còn vướng bận điều gì, tự ta xả bỏ dần dần sẽ an ổn. Ta mãi niệm việc thế gian tranh giành, hơn thua, tiền của, niệm hoàn cảnh khổ, vui, giàu, nghèo, địa vị v.v… những niệm bên ngoài là tà niệm, không chấp thật mãi duyên theo. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy chúng ta lời nguyện thứ 18 là chuyên trì niệm nhớ hồng danh A Di Đà, nghĩa là niệm nhớ lại tự tánh A Di Đà sẵn có tại tâm ta, đó là chánh niệm. Niệm sáng suốt vô lượng quang là Nhiên Đăng cổ Phật. Đèn trí huệ sáng suốt tự nhiên từ vô lượng kiếp, vô thủy vô chung vẫn còn mãi mãi vì mê muội bị bụi trần lao làm mờ quên lãng.  Niệm lại tánh Phật sáng suốt trí huệ, tự tại giác ngộ giải thoát chính nơi tâm ta. Tâm niệm Phật, Phật niệm tâm, thông suốt không gián đoạn gọi là THỰC TƯỚNG  NIỆM PHẬT.

Nguyện thứ chín chúng dân từ thiện

Tai chẳng nghe những chuyện không lành

Có đâu sự ác tự hành

Mấy điều nghiệp chướng đã thành vô danh.

Nguyện thứ 10, nguyện Thần túc thông.

11 nguyện giáp cúng dường chư Phật.

Khi con thành Phật” ta đọc lên lời này nên nhận định chính xác rõ ràng do chính từ miệng ta đọc, tâm ta nguyện, lời nguyện này là chính ta thọ dụng từ lời dạy của đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã dạy cho Ngài Pháp Tạng Tỳ kheo và cả cho ta, hiện ta đang tu học theo giáo pháp của Ngài. Ta chú ý rằng vua Vô Tránh Niệm là tiền thân Ngài Pháp Tạng Tỳ kheo, gặp thế gian Định Tự Tại Vương Như Lai đã phát 48 đại nguyện (tâm định là Vua Tự Tại, là pháp lớn nhất rất thù thắng đưa ta đến trạng thái an lạc tại thế gian nên gọi là Thế Gian Định Tự Tại Vương Như Lai). “Nếu có chúng sanh nào ở cõi con”, nếu trong tâm ta còn một niệm nào xấu ác, bất nhân ( là còn chúng sanh ở cõi con ), nếu còn ở cõi ta ( tâm ta ) là còn đọa trong ác đạo. “Được thần thông tự tại ba-la-mật-đa”, nghĩa là trong tâm ta đã an ổn, vui vẻ, sáng suốt, không vướng bận, có suy nghĩ điều gì cũng không làm hại ai, gây buồn phiền, khổ sở cho ai, với ta cũng chẳng còn niệm nào buồn phiền, ta đang hân hoan, sáng suốt trí tuệ đầy đủ, đó là những nghĩ nhớ, là những chúng sanh ( niệm ) đang sống trong trạng thái an lạc. Ba-la-mật-đa là không còn sự gì ràng buộc, là giải thoát, nếu niệm A Di Đà Phật mà nghe tâm hạnh phúc an lạc, vui sướng, không giận trách, hờn, buồn, dù trước kia đã có nhưng bây giờ không còn niệm nhớ nữa tất cả đều quên, đó là các niệm trong tâm, là những chúng sanh trong tâm ta đã an lạc. Phật gọi tâm đó là cõi nước hay quốc độ, “Trong khoảnh khắc đi trăm ngàn vạn ức cõi Phật để cúng dường”. Nếu thật tâm phục vụ chúng sanh, không cầu danh lợi cho ta tức cúng dường chư Phật, có nghĩa là nếu ta lo được cho mọi người, cho chúng sinh là cúng dường chư Phật. Mọi người dù mê muội nhưng ai cũng có Phật tánh sẽ thành Phật khi giác ngộ. Từ lúc ta biết niệm Phật thấy rõ từng niệm, từng niệm biết tâm được hạnh phúc, vui vẻ, không thắc mắc, giận trách, oán ghét ai cả là ta đã cúng dường chư Phật khắp 10 phương. Mỗi niệm không loạn là giác (Phật) đã thành Phật, là một vị Phật. Còn ngược lại mãi hận thù, tranh chấp, là đọa vào ác đạo, là nuôi dưỡng chúng dạ xoa, vì ta niệm dạ xoa, không phải là niệm Phật. Nếu xem kinh mà không sáng suốt được lý kinh, không có hào quang trí tuệ thông được lẽ thật theo ý chỉ của Phật thì cũng như ta đọc kinh ngồi trong bóng tối không thấy được gì cả. Trí huệ là đèn ( nhờ đèn trí huệ quang minh soi đường ). Nếu tâm ta chưa được thần thông tự tại là còn chấp kẹt vào việc thế gian, còn giận, buồn, bực bội, nóng nảy thì không đền ơn cha mẹ, Cửu Huyền Thất Tổ chư Phật khắp 10 phương. Ta không nên có tư tưởng tự định đoạt cho rằng Phật ở trên trời vì đó chỉ là sự tưởng tượng hoặc ở Niết Bàn vì đạo Phật rất đơn giản, không cầu xin mà được, không đổi chát bằng một hình thức nào vì đây là lời phát nguyện chính ta chớ không riêng đức Di Đà. Đức Thích Ca đã khéo léo dùng phương tiện huyền biến dựng lên đức A Di Đà để chỉ tự tánh ta, nếu bất cứ ai thành tựu được điều này thì  liền có A Di Đà tại tâm (Phật tại tâm) sẵn sàng cùng ta về Tây phương Cực Lạc.

Cực Lạc nào ở đâu xa

Cực Lạc dòng giống tâm ta vẹn toàn

Cực Lạc là cái tâm vàng

Bên ngoài vướng bận khó sang vô cùng

Bây giờ ta đã ngồi chung

Hãy về Cực Lạc ở chung một nhà

( nhà Như Lai )

Tạm đây là cõi Ta bà

Mà tòa Cực Lạc gọi là tâm như

Đạo thì đừng có riêng tư

Một lòng tu niệm như Bổn Sư lúc nào

Tu sao trên dưới một màu

Tu hành là đạo bước vào Phật tâm.

 

Nguyện thứ 10 chúng sanh đều ví

Huyễn thân là mộng mị mà thôi

Vậy nên lòng chẳng nhiễm đời

Tánh không ham muốn khắp nơi vui cười

Nguyện giáp khắp cùng cúng dướng chư Phật.

Ta phải dùng huệ nhãn đi vòng khắp trong tâm ta, xét thấy không còn điều gì nhơ bẩn, không còn điều xấu xa tội lỗi, không còn độc ác đó là cúng dường chư Phật khắp 10 phương.

10 phương ở đâu? Ta phải hiểu trong kinh Phật dạy có tám phương : Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam, trên một phương, dưới một phương là 10 phương, mà tâm ta đều chứa đủ 10 phương. Ta hãy cúng dường chư Phật bằng tánh trong sạch thanh tịnh sáng suốt là khắp 10 phương, ta phải tự phát nguyện với chính ta. Nếu như ta lầm lỗi với cha mẹ, người thân của ta muốn được tha thứ tội lỗi, phải tự nguyện chừa lỗi sửa sai, nguyện bằng thật tâm, quyết định chừa bỏ không sanh lại niệm cũ nữa, phải chặt chẽ nơi lòng thật cương quyết chớ không thể đến trước Tam Bảo cầu xin sám hối với tượng Phật mà tâm không từ bỏ sự sai quấy thì không phải nguyện chơn chánh theo ý Phật dạy.

Nguyện mười một tiên người tuy khác

Hình dung đồng một sắc vàng y

Mặt mày nghiêm chỉnh phương phi

Trong ngần đẹp đẽ không chi sánh bằng.

Nguyện 12, nguyện quyết định thành bậc chánh giác “Khi con thành Phật nếu có chúng sanh về cõi con”, nghĩa là nếu còn những suy nghĩ, tính toán trong tâm con, tâm con là quốc độ tại tâm, thế giới tại tâm, vì ngoài tâm không có thế giới quốc độ nào khác. Nên Lục Tổ dạy “Trong tâm có tất cả”, đức Phật muốn chỉ tạng bí yếu sâu kính vô cùng cho tất cả mọi người nếu đủ duyên sẽ biết xa lìa phân biệt. Tâm không còn phân biệt, theo Phật dạy không phải tâm lờ đờ chết ai nấy chịu, bỏ mặc việc đời, bi quan yểm thế, không phải là không biết, không nghe, không thấy, không cho rằng phân biệt tôi giỏi, tôi đẹp, tôi giàu, tôi hay, tôi đắc đạo, tôi tài, anh xấu, anh nghèo, anh hèn hạ, không kỳ thị phân biệt với nhau, tất cả đều bình đẳng, tự tánh là thanh tịnh bình đẳng giác kinh. Tất cả chúng sinh đều có tánh Phật đồng nhau nhưng chưa đủ duyên để giác ngộ, nếu chỉ sống với tâm bên ngoài là còn phân biệt. “Khi con thành Phật nếu có chúng sanh vào nơi cõi con mà còn phân biệt giàu nghèo, sang hèn, tốt xấu là con không được chánh đẳng chánh giác”. Ta đối với tất cả mọi người giỏi, kẻ dở, dù sang hèn, mê hay ngộ đều không phân biệt vì họ cũng như ta đều có cơ hội chuyển đổi được, cũng có thể giác ngộ. Nếu ta không còn tâm phân biệt thì sẽ thành Phật. Ta không còn chấp ngã cho là ta tài giỏi hơn người hay không cho người khác là hèn hạ ngu si vì tâm Phật là bình đẳng giác. “Các căn tịch tịnh”  mỗi người đều có sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đều phải TỊCH TỊNH. Nếu ta tu có ý trốn bỏ thế gian tìm nơi yên tĩnh mà ở thì không có tâm thương yêu chúng sinh. Tu là phổ độ chúng sinh, ta vẫn ở trong cuộc đời nhưng thấy vàng, bạc, của tiền, tài sản, vật chất, món ngon vật lạ, sắc đẹp uy quyền là thật, mà hãy xét vào tâm không có niệm ham muốn tâm vẫn bình yên, an ổn, tự nhiên, khi đối diện các pháp không duyên theo, không khởi một cảm thọ nào đó là TỊCH là TỊNH. Nếu nghe âm thanh dịu ngọt, dễ yêu, dễ mến mà tâm không rộn rã, không rối loạn là tâm TỊCH TỊNH. Mắt tai mũi lưỡi… trước kia đòi hỏi, ham muốn bây giờ không còn nữa đó là TỊCH TỊNH. Ăn chỉ vừa đủ no, mặc vừa đủ ấm, không đòi hỏi, không khổ sở là sáu căn đã TỊCH TỊNH. Không đua đòi sự sống bên ngoài, luôn luôn thức tỉnh bằng tâm giác ngộ đó là TỊCH TỊNH. Tâm dối với sáu trần không nhiễm, không ái lúc nào cũng thường sống với trí huệ sáng suốt, không sống với tâm mê chạy theo hoàn cảnh dục vọng ham muốn bên ngoài ô nhiễm nữa nên “người sống trong nước con sáu căn đều TỊCH TỊNH”, “Nếu chẳng an trụ trong Niết Bàn thề không thành chánh giác”. Tâm cứ mãi lăng xăng, đảo lộn, hễ nghe khua động đồng tiền, sửa ngay ra dại chẳng kiêng chút nào, mắt thấy sắc không mê sắc, tai nghe âm thanh không mê âm thanh, miệng ăn chất thơm ngọt mà không đắm, không mê, thân chạm xúc sự êm ấm, sang đẹp không nhiễm là đã định tụ. Nếu tu mà tâm lăng xăng, ham muốn, đòi hỏi đủ điều thì khó về quốc độ Cực Lạc. Người tâm đã định tụ được các pháp thế gian gọi là đại Niết Bàn, không còn khổ đau lo sợ không đau thương oán trách, nên tâm hiện tại là trạng thái đại Niết Bàn, chơn tâm thanh tịnh đã hiển hiện, “nếu không được như vậy thề không thành chánh giác”.

Nguyện mười hai mười phương thế giới

Thiên nhơn cùng các loại chúng sanh

Hóa thân về cõi lạc thành

Chứng ngôi duyên giác Thinh Văn dễ đồng

Ngồi thiền tọa tấm lòng TỊCH TỊNH

Hiệp cùng nhau tính tuổi ít nhiều

Chẳng hề biết đặng bao nhiêu

Ngàn muôn ức kiếp số nhiều khó phân.

Nguyện 13 và 14, nguyện ánh sáng vô lượng nguyện quang minh chạm được an lạc.

Khi con thành Phật có quang minh chiếu khắp 10 phương”, khi ta xem kinh không được sáng suốt, buồn ngủ, dã dượi là không có trí tuệ quang minh làm sáng được ý kinh tối tăm gọi là không có ánh sáng quang minh. Còn người có hào quang trí tuệ coi đến đâu đều sáng, đều hiểu, càng thâm nhập kinh, tinh thần càng minh mẫn gọi là quang minh, còn tăm tối lừ đừ gọi là vô minh. Quang minh vô lượng chiếu khắp mười phương, là trong tâm bừng sáng rực rỡ, xem kinh đến đâu càng thông suốt, hiểu biết mật ý của Phật dạy. Mỗi lời kinh là vô lượng nghĩa, là ánh sáng vô lượng dẫn dắt ta về thế giới Cực Lạc an lành, đó là hào quang chư Phật rọi khắp mười phương. Còn tâm vẫn u tối là ta vẫn còn ở trong lục đạo luân hồi, vì không có ánh sáng quang minh nào rọi vào lục đạo cả. Hào quang sáng vô lượng gấp ngàn vạn lần mặt trời, mặt trăng. Nếu đọc kinh hay tự quán xét tâm mà thấy được các cõi nơi tâm thì ánh sáng này sáng hơn mặt trời, mặt trăng không hề bị ngăn ngại. Dù mặt trời, mặt trăng có rọi cũng không thấy được các cõi trong tâm vì ánh sáng này chỉ có giới hạn ; còn hào quang là đại quang minh chiếu xuyên suốt thấy hết các cõi mười phương thế giới. Dù đèn pha có rọi vào kinh mà người xem kinh đần độn cũng không nhờ đèn mà hiểu được. Còn hào quang sáng suốt trí tuệ sẽ chiếu sáng vô lượng rọi vào kinh sẽ thông suốt mật ý mà Phật muốn truyền đạt. Nếu thông được kinh như ăn được món ăn tinh thần được quang minh chiếu khắp 10 phương. Hào quang này trong kinh nói là SIÊU NHẬT NGUYỆT QUANG NHƯ LAI. Nếu có chúng sinh nào thấy hay chạm ánh sáng với hào quang trí tuệ. Nếu có chúng sanh nào nghe thấy hiểu biết lời khai thị, được nghe giảng dạy cho họ mà người nghe hiểu được là họ đã chạm vào được ánh sáng trí huệ vô lượng của người giảng, thì từ nơi tâm địa người nghe cũng có sự sáng suốt thanh tịnh bay vọt ra an lạc, thông suốt vô cùng, sự hạnh phúc qua trạng thái tuyệt vời khi được chạm vào ánh sáng quang minh. Tu là phát sinh trí huệ làm lợi ích cho mình và cho người. Nếu người sờ đụng ánh sáng tức là nghe, thông, hiểu đều sáng suốt tự tâm an lạc vô cùng, sẽ khởi  niệm thiện lành khi ánh sáng từ bi chạm đến. Khi nghe giảng dạy, khai thị từ sự bí yếu, vi diệu của tự tánh ta liền giác ngộ buông bỏ vạn duyên, biết pháp đời là giả tạm, là vọng huyễn, biết giữ gìn ngũ giới, tu tứ đế, tu thập thiện chứng quả Thinh Văn, giác ngộ hết vô minh, biết rõ duyên là tan hợp bởi luân hồi, vì mê lầm nên sanh tâm đau khổ. Khi giác ngộ nhân duyên ta trở lại tâm niệm thiện lành, biết rõ sự luân chuyển sanh diệt của thập nhị nhân duyên, phát tâm bố thí. Thí ngoại tài là san sẻ áo cơm, tiền bạc là điều tốt ở thế gian, làm tất cả việc lành nên không còn vô minh lao vào tội lỗi nữa. Nội tài là bố thí tất cả tài sản vì mê muội chứa giữ vào tâm như tham, sân, si, phiền não, tự cao, ngã mạn, chấp thân là thật, bảo thủ, ích kỷ, tranh giành v.v… đó là những tài sản đã làm khổ ta nên phát tâm bố thí tất cả, thí không thấy người cho và không thấy người nhận là đại bố thí. Quyết lòng tu học chơn chánh thành Phật giải thoát, là làm tất cả việc lành, không còn vô minh tội lỗi nữa, ta phải nhận rõ việc này, ánh sáng vô lượng là sáng nơi tâm, sáng nơi trí huệ.

Nguyện chạm quang minh được an lạc”. Nếu ta chạm được quang minh, được phước duyên gần gũi chạm vào người trí huệ khuyên nhắc, dạy dỗ đó là thiện tri thức nên ta được an lạc bình đẳng giác giống như trí huệ quang minh của chư Phật vậy.

Phật tử nghe thầy nhắc nhở

Biết bao lâu mới nở được sen lòng

Sen này tu học rất dày công

Hết lòng vì Phật đạo, hết lòng vì trần gian

Tự nhiên phiền não tiêu tan

Bước dần vào trí huệ vẻ vang vô cùng

Bên ngoài sắc đẹp hình dung

Rọi vào trí huệ sáng bừng mười phương

Bây giờ hạt giống mình ươm

Gieo vào tâm nội ta ươm quả Niết Bàn

Gieo vào tâm đạo sự bình an

Gieo vào tâm đạo thế gian vui mừng

Tự nhiên sáng suốt vô cùng

Vui mà còn đẹp vui cùng khắp nơi

Vậy gọi rằng Phật tử của Thầy ơi !

Hãy về cùng Phật rạng ngời từ nay

Nghiệp trần nhất định không vay

Sống bằng Phật trí ngày nay hẳn hòi

Tự nhiên túc một tiếng còi

Gọi kêu Phật tử giống nòi là Phật tâm

Nguyện rằng giác ngộ không lầm

Ta về với Phật cho tâm sáng ngời

Tu hành chớ đợi chiều mơi

Sống đời giác ngộ thảnh thơi an nhàn.

( Thích Minh Đức )

Người chịu học ham tu có trí huệ gọi là chạm được quang minh, tâm an lạc vì không còn chất chứa sầu não đã thật sự bình an. An lạc không là cảnh an ổn, vắng vẻ để lẫn tránh cuộc đời, hay nghe thấy sự vừa ý, vừa lòng mà đắc ý. Phải an lạc trong mọi hoàn cảnh bất cứ như thế nào, được, thua, vừa lòng, không thích cũng không sanh niệm phiền não, đau khổ ; ưa thích hay vui vẻ mà tâm luôn an định tự tại khi đối diện các pháp, sự an lạc thật sự là ta, người, vật hoàn cảnh đều tự tại. Người đã quyết chí tu học đối với giáo lý nhà Phật mỗi câu, mỗi nghĩa là vàng, là châu ngọc, là tài sản vô giá mới có thể vào dòng Thánh quả được vì chúng sanh đã lạc lầm từ vô lượng kiếp. Vô lượng kiếp có 2 nghĩa :

1- Thời gian rất dài phải vượt nhiều tiểu kiếp đến đại kiếp.

2- Tướng là dãi đãi, hôn trầm, phóng dật, thùy miên, biếng nhác, không chăm. Người tu phải tinh tấn vượt qua mọi nạn kiếp ( từng tà niệm ) mà trong kinh Tổ nói “Nhảy khỏi đầu sào trăm trượng”. Nếu mãi ở trong dục lạc tham cầu không thể an lạc được, đây là đại nguyện do đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy cho vua Vô Tránh Niệm tức Ngài Bảo Tạng tỳ kheo và cho tất cả chúng ta thảy đồng phát nguyện tu hành để trở lại Di Đà tự tánh thanh tịnh bình đẳng giác. Ta phải hết lòng tha thiết mà phát nguyện, đó là lời thề tận đáy lòng trước Phật, tâm kiên cố không thối chuyển, nguyện khắc phục sửa sai, chấm dứt mọi mê lầm bởi vọng tưởng điên đảo, phải phát tâm thực hành cho chứng quả Thánh. Không nguyện đẩy đưa ngoài miệng lấy có, gọi là trả nợ thì không ích lợi gì cả. “Khi con thành Phật sống lâu vô lượng” kinh dạy rằng “Kiến Phật dứt sanh tử”, nghĩa là thấy Phật ( tánh Phật ) sống lâu vô cùng. Kiến Phật là thấy Phật thấy tánh. Thấy tánh là ta buồn thì thấy tánh ta đang buồn, giận thì thấy tánh ta đang giận, tham là thấy tánh ta đang tham, sân si thì thấy tánh ta đang sân si, mê muội thì tánh ta đang tối tăm, ganh tỵ thì tánh ta đang ganh tỵ, tự ái tự cao tánh ta đang tự ái tự cao… đó là những bệnh hoạn của tâm người, khi những niệm này xuất hiện làm chơn tánh chìm vào quên lãng, ta phải tự giác sửa ngay vì phiền não tức bồ đề. Trong phiền não có sẵn bồ đề, chỉ cần phát hiện đó là tâm phiền não liền giác sửa ngay, tự chuyển hóa, buông bỏ, niệm phiền não lập tức là bồ đề. Phật dạy rằng, nguyện độ tất cả chúng sanh trong tự tánh (tâm) thành chánh giác, nếu vừa khởi tham sân si thì niệm ta là Bồ tát liền giáo hóa các chúng sinh mê muội tại tâm, ta là Bồ tát độ các niệm cứu chúng sinh nơi địa ngục, ngã quỷ, súc sinh, nguyện dẫn dắt tất cả niệm mê là các chúng sanh tại tâm thoát khỏi cõi đọa tam đồ khổ, ta phải độ tất cả chúng sinh tại lòng. Kinh nói rằng “độ hết thảy chúng sanh, nhưng không có chúng sanh nào được độ cả”, ta phải tự giảng giải cho ta ( chúng sanh trong tâm ) bằng quang minh sáng suốt.

Quang minh vân đài biến pháp giới

Cúng dường tam bảo khắp mười phương.

Tánh dục là ham muốn nếu không được như ý sẽ khổ, lường lận gian dối sẽ khổ, sân hận oán thù sẽ khổ, những niệm tưởng này luôn xúi dục ta buồn khóc, chửi mắng, hại người, hơn thua. Ta dạy chúng sanh trong tâm cũng giống như dạy dỗ con cái trong nhà, không để chúng tự do mà phạm pháp. Con khổ thì cha mẹ cũng khổ, trong tâm ta có đủ niệm súc sinh là rắn rít, cọp, beo, trâu, chó là những niệm độc ác cần phải tự dọn dẹp. Phật dạy tu là buông, là xả cho sạch những tư tưởng này để cõi tâm trở thành hoàn toàn là thế giới quốc độ của bậc Thánh nhơn. Chư Thiện nam tử, Thiện nữ nhơn là những người nam, người nữ đã hoàn thiện pháp tu đã tự giác, là chư Thượng Nhân, biết thân sống giữa cuộc đời mà tâm là Tây phương Cực lạc, đó là giáo hóa tất cả chúng sanh thành chánh giác.

Tâm si từ nơi tham mà ra, vì tham không thỏa mãn nên sân si, hờn oán vì sự tối tăm dốt nát, si là ba con rắn độc, tham là rắn hổ mang, sân là rắn hổ lửa, si là rắn hổ gầm là tam độc. Hiện ta thường nuôi dưỡng trong tâm hằng ngày vì si mê nên không phát hiện. Phật dạy phải thấy tánh để nhận rõ điều này mà tu tập. Tu là thường giác, không bỏ rơi tánh giác chết lịm vì si mê. Khi tham sân si nổi lên phải thường thấy, tự ta chuyển hóa thành niệm giác. Phật dạy “mê không sợ, chỉ sợ giác chậm”, phải thường cảnh giác trong cuộc sống lúc nào cũng có tánh giác theo kèm bên khi các niệm sanh khởi. Giác là ta phải tự giữ lấy niệm khởi chính tại tâm ta. Muốn làm Phật cũng ta, làm ma cũng tự nơi ta, giác mê tự ở lòng ta. Phật ma gần nhau như chuyển hơi thở. Phật nói “Khảy móng tay sẽ tới Tây phương”. Nếu mãi chạy theo niệm mê muội thì Ta bà cách Tây phương mười muôn ức cõi. Tất cả chúng sanh chư Phật đều ở trong thập pháp giới, chỉ là mê ngộ thôi. Vẫn có ngạ quỷ, súc sanh đây chỉ là do niệm khởi, nếu tâm khởi niệm Phật là Phật, khởi niệm mê là ma, ta thường sống trong tánh giác nên Phật vẫn là Phật, thường sống trong dục vọng là nuôi dưỡng ma. Kinh nói rằng “Phàm Thánh đồng cư độ”, ta cùng Phật không khác, vẫn có đầy đủ các niệm tham, sân, si nhưng khác chỗ Phật thì sử dụng trí huệ sáng suốt, thương yêu, cứu giúp muôn loài, sống với lòng từ bi hỷ xả, đem an vui, hạnh phúc, tốt đẹp đến mọi người, không bám níu vào các pháp giả tạm. Ma thì sử dụng tánh phàm phu mê muội, tối tăm, tự tư, tự lợi cho cá nhân, không màng đến sự đau khổ của muôn loài. Phật cũng là một con người nhưng biết sống bằng trí huệ nên gọi là Phật. Ta cũng là con người vì sống trong vô minh tham, sân, si nên gọi là chúng sanh, phàm phu mê đắm. Trong tự tánh Phật và phàm phu đều có đủ giống như nhau, nhưng Phật chọn những pháp thiện lành là chánh pháp làm mạng sống, gọi là pháp thân Phật. Chúng sanh mê đắm dục lạc, cứ chọn tà pháp tham, sân, si làm mạng sống gọi là tà mạng, tu học cần thông suốt điều này, kinh dạy :

Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng

Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn

Lưới đế châu ví đạo tràng

Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời

Trước bảo tọa thân con ảnh hiện

Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

Nghĩa là tánh sẵn có chúng sanh là tự nhiên rỗng lặng, không thiện, ác vì niệm phân biệt, không ngã nhơn chúng sanh thọ giả, chấp vào tướng nên sinh ra có các cõi. Giác là Phật, mê là chúng sanh. Tự tánh vốn như không, giác không mê, không chơn, không vọng, tự tánh như trên gọi là rỗng lặng. Tánh thường rỗng lặng nếu có những duyên tự kết hợp mà thành tựu các pháp, các pháp đều cảm thông nhau tùy duyên đến tùy duyên đi. Phật dạy khổ tập diệt đạo là pháp bảo, là mạng lưới sáng suốt của bậc giác ngộ, giúp người tu tập thông hiểu được tứ khổ, biết được pháp bằng trí tuệ, gọi là bảo châu, là đạo tràng nhờ ánh sáng quang minh dẫn ta đến bờ giác ngộ, sáng suốt khắp mười phương.

Phải thường nuôi dưỡng thánh thai, nuôi dưỡng tự tánh trí huệ tỏ rõ. Tu là nuôi thánh nhơn thành thánh quả cho lớn, có vô số Thanh Văn, Trời, Người trong nước đều thọ mạng vô lượng. Khi quán sát tự tánh ta hãy nhớ lời Phật dạy, thế gian có tứ diệu đế là tứ khổ (khổ, tập, diệt, đạo). Nghe Phật dạy ta biết rằng tham thân là khổ, thân già thì khổ, thân đau bệnh thì khổ, nhớ đến thân sẽ chết thì khổ, vì vô minh tưởng thân là thật có, tham thân chấp chặt cho thân là thật của ta, quên mất tánh giác. Phật dạy đừng mê thân, chỉ tạm nương thân mà tu hành. Bậc Thanh Văn biết thân này vì tham sân si, ích kỷ, hẹp hòi đang mang nặng liền có chánh tri kiến, đã thấy rõ sáng suốt. Nếu không chánh kiến chỉ biết sử dụng ngôn ngữ phàm phu là lời nói từ niệm tham sân si, phiền não, mạn nghi, ác kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ v.v… Muốn vào dòng thánh nhơn phải bỏ những niệm phàm phu này, dẹp cho rỗng lặng các tà niệm đã làm ô nhiễm tâm. Nếu muốn vào hàng Thánh Nhơn mà còn mê đắm thì không là Thánh Nhơn được. Kinh Thủ Lăng Nghiêm dạy nếu người tu miệng niệm Phật mà tâm niệm vào lục đạo luân hồi, còn lăng xăng, niệm chạy theo vọng tưởng mê đắm cuộc đời là còn sống bên ngoài tư tưởng đó tại tâm là tà niệm, là tẩu hỏa nhập ma, lầm cho ta là Thánh Nhân mà tâm còn tham sân si, lừa đảo. Hãy trực nhận tại tâm, biết đó là ma đang nhập tâm, chớ không cần xưng danh vị gì. Không xưng Tiên, Phật, Thánh nhưng giác ngộ nhìn vào đời sống, nhìn vào hạnh tu qua hành động, lời nói, không tham sân si, các niệm xấu ác không còn, ta có thể kết luận người đó là bậc Thánh Nhơn đang ở trong Thánh quả. Nên cõi Cực lạc có vô số Thanh Văn, khi phát nguyện muốn về cõi Phật ở an nơi này phải sống bằng hạnh Thanh Văn, các niệm mê lầm đã chuyển hóa khi giác ngộ vì đã phát nguyện theo lời Phật dạy gọi là có vô số Thanh Văn ở cõi Cực lạc, tức là có vô số niệm giác, thông hiểu pháp tứ đế đã giác ngộ về cõi Phật. Nếu hằng ngày thường sống trong niệm sáng suốt thì Trời người đều có thọ mạng. Ta giữ được năm giới, mười giới không phạm là đã thường sống với tánh giác. Đây là giới từ tánh giác giữ giới bằng tâm tự nguyện quyết không lầm lỗi, không vì sợ tội mà giữ bên ngoài. Giữ bên ngoài chỉ là giới tướng, còn giới tánh tự nơi tâm gìn giữ không sai phạm, tự ta trong sạch lấy để làm người xứng đáng trong cõi Phật, Thanh Văn trong cõi Phật, Trời trong cõi Phật, luôn luôn mạng sống là giới thanh tịnh, tự ta thanh tịnh lấy tâm ta. Thanh tịnh hay không tịnh, tự tịnh, không ai thanh tịnh ai, tự ta thanh tịnh lấy ta. Tự ta thanh tịnh không cần giữ giới cho ai thấy vì đó tu còn vướng vào danh. Ta tu cho chính ta, bỏ hẳn phiền não, bực bội, cuồng loạn, si mê, hung ác … những chướng loạn này giết cuộc đời ta, hại ta đau khổ chết đi sống lại nhiều lần trong vô lượng kiếp, hiểu được như vậy tự ta khắc phục lấy, không tu biểu diễn cho ai nhìn ngắm cả. Nếu tụng kinh nhiều, gõ mõ nhiều, niệm Phật nhiều, làm thiện nhiều mà trí huệ không sáng suốt, thanh lọc được tâm cho trong sạch, thì tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố vẫn chứa đầy chất ngất nơi tâm là chưa tu được chút ít nào cả.

Tụng kinh gõ mõ, niệm Phật, tu thiền mục đích là thâm nhập lời dạy của Phật để sửa tâm, niệm Phật để dừng vọng tưởng trở lại chánh niệm, tu thiền cho tâm an định sáng suốt sinh trí huệ, không làm được điều này thì chẳng ích lợi gì cho tâm cả. Không sinh trí huệ thì không thể chạm vào quang minh nên không an lạc được. Bên ngoài là gió bát phong : lợi, hại, nên, hư, khen, chê, tốt, xấu đó là duyên gặp nhau chỉ thổi phớt qua không thật, tu phải hiểu được điều này tự sửa chữa tâm không còn

 

Ppvướng bận. Khen cũng không màng, tâm vẫn bình thường, chê cũng không khổ ; khen là nịnh bợ, chê là đạp đỗ, tự tánh là hằng giác nên biết lợi hại là lẽ tự nhiên trong đời, không cho là hên xui, chỉ là gió thoảng không quan trọng. Tiếng nói âm vọng cũng là gió ta không chạy theo mà đau khổ, phải trở về thực tướng thanh tịnh là chơn tâm, phải xa lìa vọng tâm là giả tướng. Tu phải nhận rõ điều này ( học đạo mà không thấy nguồn tâm là vô ích ). Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn dạy, hành đạo mà không dụng được tâm là trở thành vô ích, tu bao nhiêu cũng vô ích không lợi lạc gì cho Phật tâm cả. Mặc dù là Thanh Văn, Trời, Người chưa thành Phật quả mà thường xét thấy tâm tánh của mình, luôn luôn giữ giới chơn chánh, khi gặp buồn phiền nóng nảy, si mê, còn niệm giết hại hãy coi lại tâm còn có niệm sát không? Còn mê sắc dâm dục không? Phải nhìn rõ các tướng đều là không thật tướng, tất cả là giả tạm không thật tướng. Vì tâm mê vọng nên không sống được với chánh tướng, chơn tướng. Phật dạy quán bạch cốt bên trong lớp da chỉ là xương. Quán thân bất tịnh là thân này sẽ tan rã, hôi thúi không có gì tốt đẹp cả. Ta cứ dựng lên cho là ngã. Sắc thọ tưởng hành thức là ngũ uẩn vốn giai không, mọi thứ đều vô thường, sẽ tan hoại khi  hết duyên. Nếu còn mê thân, mê vật chất, tiền của là còn mê ngoại đạo không vào được Phật đạo.

Giả như có ba ngàn đại thiên thế giới chúng sanh đều thành duyên giác trong trăm ngàn kiếp, cùng nhau tính đếm, nếu biết số lượng ấy, không thành chánh giác”, nghĩa là trong tự tánh có vô số chúng sanh đều có thể giác ngộ được. Muốn giác ngộ thấy nhân sẽ biết quả, hằng ngày ta nói gì ? Nghĩ gì ? Làm gì ? Hành động gì ? Quán xét nhân sẽ biết quả. Có vô số điều tức là vô số pháp ở thế gian để được chứng ngộ. Khi tâm nổi giận ta xét lại sự giận kéo dài bao lâu, đau khổ bao lâu ra sao? Người đối diện khổ như thế nào? Những điều thiện lành tốt đẹp, điều nên hư ta đã làm, xét lại tâm cảm nhận sự an lạc của các việc làm ra sao? Hạnh phúc thế nào? Ta đem cho người sự an lạc vui vẻ như thế nào? đó là niệm đã giác ngộ. Trong tâm ta có vô số niệm, xưa nay ta thường sống bằng niệm tiền, niệm tài sản, niệm nhà cửa, niệm đất vườn, niệm oan trái, niệm đẹp, niệm sự sang quý, niệm phải, niệm quấy… toàn sống với niệm, với suy nghĩ, tư tưởng mà ta nào biết, luôn luôn biến hóa theo tâm phàm tục đó là tư tưởng phàm nhơn. Nếu không thấy được cứ chạy theo vô minh, tăm tối là không thấy đường đi. Ta phải biết rõ lúc nào ta đang giận, ta đang mê, ta đang buồn, ta đang khổ, ta đang tốt … đó là những tư tưởng vô hình, niệm niệm liên tục không bao giờ ngừng nghỉ. Người làm chủ tâm là sắp xếp được tư tưởng chính mình, người không làm chủ được niệm, bị tư tưởng mê hoặc cứ chạy theo danh lợi, sắc, tài, mãi lạc vào rừng mê, tánh giác bị che khuất, trí huệ lu mờ. Người trí huệ làm chủ được các niệm tại tâm mình, từ niệm tưởng sẽ phát sinh lời nói. Nếu các niệm không chơn chánh, tánh giác không làm chủ được thì nguyện không thành Phật. Nếu làm được những điều này, thực hành được điều này mới có khả năng xứng đáng là người giác ngộ. Nếu tu lâu năm mà không được niệm giác thì chỉ hoài công.

Nguyện thọ mạng vô lượng”, người tu không nghĩ đến sự chết. Nếu niệm chết là còn nghĩ nhớ đến thân, nghĩ đến cái chết sẽ niệm đến sự bỏ của cải, tài sản, bỏ con, bỏ vợ chồng, nên Phật dạy lìa các tướng mới là chơn thật tướng. Mắt, tai, mũi, lưỡi đụng chạm sanh cảm xúc là tướng của sáu trần. Nếu biết buông xả liền nhập vào tánh giác vô lượng thọ, tức là mãi mãi không gián đoạn. Nguyện theo thần lực Tam Bảo, theo trí tuệ Phật làm người thiện lành, phải luôn sống với tự tánh giác ngộ các pháp. Nhơn thiên là niệm thường sáng suốt giữ gìn thập giới thanh tịnh, tạo những điều ích lợi cho mọi người mà vẫn thường ở trong tánh giác. Đến các bậc duyên giác là các tâm niệm giác, biết rõ sự vận hành luân chuyển của thập nhị nhân duyên, ngộ tất cả pháp đều do duyên sanh, cũng do duyên diệt, lúc nào cũng ở trong tánh giác, gìn giữ mỗi niệm sáng suốt, thanh tịnh liên tục nên nói có vô số Thanh Văn. Trong nước có vô số Thanh Văn, Duyên Giác, các hàng Trời, Người đều vô lượng, người kiến tánh không xa lìa trí huệ. Tổ dạy niệm niệm mà vô niệm, ta đừng lầm lẫn vô niệm là không có niệm. Đó chỉ là danh từ, ta không lệ thuộc vào văn tự mà nên chứng ngộ pháp tu. Vô niệm là không duyên theo niệm, không bám víu vào phân biệt, so sánh gọi là vô biệt niệm. Phật dạy tất cả giọt nước mắt đều có vị mặn, máu con người đều đỏ, không phân biệt giai cấp nào cả, ai cũng là con người, đều có Phật tánh giống nhau. Không phân biệt đó là vô biệt niệm, không còn suy nghĩ niệm như thế này, việc như thế nọ, thế kia, không cố chấp vào bè phái, không cho rằng cao thấp, khôn dại, nên hư, được thua, riêng tư gọi là bất tùy phân biệt, đó là niệm vào sự vô phân biệt. Sống với tánh giác là thường sửa sang từng tâm niệm gọi là phân biệt trí.

Thời đức Phật lúc ngồi thiền trong rừng tu pháp quán tâm, có Dạ xoa hiện ra ( Dạ xoa là nói đến niệm mê chấp còn trong tâm ) nói với Phật một bài kệ ca ngợi về pháp thế gian, đức Phật liền đọc một bài kệ giảng giải về chơn lý, nghe xong Dạ xoa liền biến mất. Câu chuyện trên đây chỉ đến những niệm mê muội, thấp hèn, độc ác tại tâm con người, các niệm đó được tượng trưng là dạ xoa. Bồ tát tự tâm là niệm sáng suốt, trí tuệ tại tâm liền giảng cho Dạ xoa ( tự niệm tâm ta ) nghe rằng:

Này hỡi ác nhơn, từ lâu nay những niệm ác do tâm tạo ra, như lửa cháy đốt cả cuộc đời, ngươi hãy tự sửa chữa tự cứu lấy” thì Dạ xoa liền biến mất ( niệm xấu ác trong tâm tự mất ), đó là các niệm trong tâm tự sinh khởi biến ra dạ xoa. Khi ta sáng suốt giác ngộ làm chủ được sẽ tự biến mất tại tâm vì tánh giác đã phát hiện Dạ xoa là tham sân si có sẵn trong tâm, nếu không cảnh giác thường hiện ra, ta hãy dùng trí huệ có sẵn làm nhiệm vụ Bồ tát thường giáo hóa chúng sanh, giảng dạy cho các niệm Dạ xoa tự  biến mất vì đã chạm vào trí huệ quang minh của A Di Đà. Các chúng sanh mê muội trong tâm từ vô lượng kiếp mãi khổ đau vì không được Bồ Tát sáng suốt dìu dắt, giáo hóa nên mãi chịu luân trầm trong ác đạo.

Lúc đó có những hàng chư Thiên từ hư không bay tới nói với Phật rằng : “Tôi sống an lạc ở cõi Trời rất hạnh phúc và hứng thú”, Phật trả lời rằng “Dù cho có an lạc ở trong phước nhưng không bền, không chắc, không tự giải thoát, phước đó chỉ giới hạn, không được vô lượng, đừng nên cố chấp, các niệm luôn biến hiện theo sự ham muốn mà quyến rũ ta”. Đức Phật sáng suốt trí huệ nên thuyết pháp bằng cách nhìn vào tự tâm nói về khắp các cõi vì trong tâm có đầy đủ tất cả, trong tâm chứa muôn pháp.

Lúc 49 ngày ngồi thiền định dưới cội Bồ đề, các niệm trong tâm Ngài sinh khởi tự biến hiện. Ngài nhớ đến người thân là công chúa Da-du-đà-la, La-hầu-la tượng trưng niệm tham ái, nhớ đến cung tần mỹ nữ là niệm ái dục nên gọi là ma nữ. Niệm nhớ vật chất của cải, ngôi vị vua chúa là ma, danh lợi, tất cả pháp đều là hoàn cảnh bên ngoài tạo thành tâm dục vọng, là niệm biến hiện tại tâm Ngài. Còn niệm lai vãng sự luân hồi của các tà niệm chưa quá vãng vẫn còn sanh khởi, các pháp vọng tưởng là giả tạm chợt hiện đến, các niệm này đã thành tựu trong thời gian Ngài đã tiếp xúc cảm thọ vào tâm, đó là nghiệp của thế gian còn tồn tại bởi thói quen huân tập, biến thành từng niệm nghĩ nhớ về quá khứ. Nên khi thiền định các niệm xưa cũ quay lại quấy nhiễu, ngăn che sự thanh tịnh, giác ngộ đó là chúng ma : ma tình ái, ma tiền tài, ma danh vị, ma sắc dục, biến hóa bằng tâm niệm để dẫn dắt tái sanh luân hồi về niệm cũ. Nếu không tự giác sẽ là nghiệp, dẫn ta luân hồi vào ác đạo. Đức Phật là bậc Thiên Nhơn Chi Đạo Sư, thường sống hào quang đại quang minh trí huệ, chiếu soi khắp mười phương các cõi trong tâm, có trí lực biết rõ nguồn gốc các pháp, biết chắc chắn đó là mê vọng của vô minh, đã hằng gạt gẫm chúng sanh đọa vào ác đạo, nên đức Phật ung dung tự tại giải thoát, vì đã giáo hóa các tà niệm hùng dũng giữa chúng ma không còn niệm nghĩ nhơ, dứt khoát xa lìa với hào quang tự tại. Phật chỉ nhập định tọa thiền tại chỗ, thân chẳng di chuyển đi đâu, không cầu cúng van xin, không nương vào các pháp thế gian, Ngài giác ngộ tất cả các niệm mê lầm điên đảo, tự độ hết chúng sanh trong tâm thành chánh đẳng chánh giác, tâm không còn ô nhiễm, sáng suốt rộng lớn chiếu soi vạn pháp. Ngài đã là bậc chánh đẳng chánh giác nên ma Vương tức là các niệm trong tâm đã khuất phục trước sức mạnh của định lực tự giác. Ta phải thường độ chúng sanh nơi tâm đắc thành Phật quả.

Nếu không độ được chúng sanh trong tâm cứ dẫn ta đến sự nói dối, lừa đảo, giận hờn, la hét, phá hoại chơn lý của ta. Ta học Phật pháp để làm gì? Để độ để giáo hóa chúng sanh tự tâm, được giác ngộ, không còn tự tung tự tác phá hoại đời ta. Vậy ta nguyện là quyết lòng phấn đấu, tinh tấn độ tất cả chúng sanh trong tâm không vào địa ngục. Ta phải tự phát nguyện rằng “nếu trong tâm ta còn một chúng sinh ( một niệm mê ) mê muội thệ không thành chánh giác”. Tâm có đủ Trời, Người, Thanh Văn, Duyên Giác tất cả đều được tánh giác giáo hóa đến chơn như, như thường, như nhiên, như như, chẳng động, ngửa nghiêng bên nào. Mọi người làm điều gì sai đúng ta đều nghe biết hết nhưng không chấp giữ để vào tâm, vì đã sống được với bản thể chơn như, đó là chơn tâm bất sanh bất diệt. Ai đều tự có duyên nấy, mọi pháp tu khác nhau tùy căn cơ tùy tâm lượng, không chấp vào sự tướng mà chê bai phỉ báng. Bổn phận người hướng đạo là nhắc nhở cho ta hết lòng, còn sự tu học còn tùy ở mỗi con người, không muốn, không cầu, không sợ chi cả. Ta không sống với tâm sanh diệt luân hồi, vì nó đã che lấp chơn tâm. Kiến tánh làm chủ được sanh già bệnh chết vì kiến tánh là sống được với tự tánh sáng suốt. Mê muội thì sống với xác thân ngũ uẩn, tứ đại, ăn uống, ngủ nghỉ. Nếu cứ chạy theo thân tứ đại, thì có sanh già bệnh chết vô cùng khổ sở. Sống với tự tánh là thường thấy các niệm, nếu sống với niệm nào phải biết rõ, thường niệm khổ, niệm buồn, niệm vui, niệm phiền não ta đều thấy thật rõ ràng mới có thể giáo hóa các niệm trở thành chánh niệm. Lúc nào cũng ở trong chơn chánh mà giáo hóa những niệm sai lầm, nếu được vậy thì tất cả chúng sanh trong tâm và chúng sanh ngoài thế gian đều an ổn hạnh phúc, đều trọn thành đạo quả. Phải theo dõi giáo hóa những tư tưởng sai lầm, xây dựng những tư tưởng này trở nên chơn chánh là chánh  niệm. Phải xây dựng những niệm xấu xa, phiền não, sân si trở nên tốt đẹp, thành những lâu đài Bồ đề mà cõi Cực lạc đức Phật đã từng diễn nói. Không theo cảnh mà bỏ tâm vì cảnh là sanh diệt, tâm là vòi vọi muôn đời không mất, vạn kiếp cũng là tâm. Nên con người có tâm mà lại bỏ tâm là quên bỏ chính mình. Ta thường săn sóc tắm rửa thân xác, còn tâm thanh tịnh là Phật mà không hề để lòng dọn dẹp, chùi lau, để tâm phải chịu lu mờ bởi bụi trần làm ô nhiễm.

Niệm Phật phải niệm bằng tánh giác, nếu chỉ niệm bằng miệng mà tâm rối bời, điên đảo, mãi niệm nhớ vọng tưởng buồn vui, thương giận, ghét, ghen, đau khổ, mê muội, phải dùng tánh giác sửa soạn hết những niệm này cho trong sạch mới đúng là thực tướng niệm Phật. Miệng niệm Phật mà tâm không sửa thì tâm vẫn còn mê vì miệng niệm Phật mà tâm niệm vào lục đạo luân hồi, phải biết tự biến hóa phiền não tức bồ đề mới là quang minh trí huệ. Tánh giác là biết sửa soạn các niệm hoàn mỹ tốt đẹp, chuyển hóa chúng sanh mê muội thành trí huệ. Tâm phải có đầy đủ từ bi hỷ xả mới là chơn niệm Phật, nếu không niệm trần lao thì chứng thánh quả.

Nguyện mười ba thiên nhơn trên giải

Hiệp cùng nhau đến mãi dân cư

Không hề biết rõ số dư

Tại An Dưỡng Quốc nhiều như cát Hằng.

Nguyện mười bốn dân hằng quốc độ

Thảy thảy đồng trường thọ miên miên

Không sao biết đặng số niên

Sống lâu vô lượng, vô biên kiếp đời.

Nguyện mười lăm dân thời thanh tịnh

Trụ vào ngôi chánh tín tự nhiên

Ly chư loạn tưởng đảo điên

Đắc vô phân biệt chứng duyên Niết Bàn.

Nguyện mười Sáu Lạc bang dân chúng

Vui vẻ mà thọ dụng đủ điều

Thảy đồng với các Tỳ kheo

Chứng phần vô lậu chẳng theo sự đời.

Nguyện mười bảy chư Phật xưng tán.

Tự tánh là tánh vua, cai quản tất cả các pháp, phàm phu chúng ta vì mê lầm, bỏ vua theo khách bên ngoài. Tự tánh là vua tất cả các pháp, vua của thế giới mười phương, vua của vạn vật. Sống với tự tánh là trở về nguồn gốc vua, nguồn gốc của chính ta gọi là Điều Ngự Trượng Phu nên tất cả chư Phật đều tánh thán vì tất cả Phật đều trụ ở Phật tánh.

Khi con thành Phật có vô số chư Phật ở vô lượng cõi ở mười phương thế giới, nếu không khen ngợi tên con, ở quốc độ con thề không thành chánh giác”. Nếu thành Phật không ai có thể lìa tánh giác mà thành Phật được, chắc chắn như vậy. Dù có làm phước bằng trời, dù dời non lấp biển, xây cất vô số chùa chiền đi nữa cũng phải sống với tánh giác mới là bậc chánh giác.

Người giác ngộ tự tánh biết có các cõi mười phương đều từ tự tánh mà có ; nếu không tự tánh thì không nói phương nào cả ; không tự tánh thì không nói tốt xấu nên hư, không có chúng sanh, không Trời Người, không nói Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật nào cả. Phật dạy khi giác ngộ có vô số Phật trong cõi mười phương thế giới khen ngợi tên con, nghĩa là hết thảy tâm niệm nơi tự tâm con người đều trở về tánh giác. Tức là xưa kia có niệm tham bây giờ đã giác, không còn tham vì các niệm đó đã tự giác ( thành Phật ). Hết thảy niệm mê, niệm ích kỷ, niệm hẹp hòi, niệm giành giựt, niệm danh lợi, niệm hận thù, niệm ghen ghét v.v… hằng hà sa số vô lượng, vô biên niệm nhiều như số các sông Hằng, tất cả đều là niệm chúng sanh không còn sanh nữa. Ngày nay đủ duyên trở về tánh giác sáng suốt, được giáo hóa chuyển đổi các niệm chúng sanh tự tâm không còn mê muội, niệm niệm đều tự giác thành Phật. Các niệm đã hóa Bồ tát chúng vô cùng, vô biên, đã tự giác chuyển hóa hằng hà sa số vô lượng, vô biên niệm giác gọi là chư Phật hiện khắp mười phương cõi nước, hằng sa quốc độ, là vô lượng tánh giác khắp mười phương gọi là vô lượng chư Phật đều xưng tán tên con.

Vậy tên con là tên gì? Tên con là TỰ GIÁC, tất cả niệm đều tự giác, đều thành Phật nên nghe đến tên TỰ GIÁC, hết thảy chư Phật đều xưng tán. Tự giác là tự ta giác ngộ trở về tự tánh đã thanh tịnh, sẽ giáo hóa chúng sanh là giác tha. Tự sửa chữa những niệm khởi do tính toán sai lầm của tự tâm từ xưa nay được giác trí huệ sáng suốt, tất cả các niệm nơi tâm đều thanh tịnh bình đẳng giác, gọi là giác hạnh viên mãn. Đã không còn niệm si mê cố chấp, hẹp hòi thì lúc đó dù còn đang mang thân tứ đại, cho rằng bất cứ ở nơi đâu thì trong tâm đã có vô số niệm đã giác, nên nói là vô số chư Phật hiện khắp mười phương đều xưng tán vì đã có vô lượng công đức không thể nghĩ bàn. Chúng sinh mê thì sống với vô lượng phiền não, vô lượng tội lỗi. Khi trở về tánh giác đã tự tu sửa thì vô lượng công đức, vô lượng trí huệ, vô lượng hào quang, vô lượng thọ, vô lượng an lạc cho tất cả thế gian làm được vô lượng lợi ích cho chúng sanh, không thể nghĩ bàn. Vậy ta hãy trở lại tu ngay tánh giác, đừng chạy đua bên ngoài, bỏ qua cơ hội làm người, là bậc thang sẵn sàng đưa ta đến con đường giác ngộ giải thoát. Đừng chạy theo đau khổ, đừng chạy theo cái tạm giả điên đảo, vọng tưởng bên ngoài, phải chịu luân hồi đày đọa trong tam ác đạo.

Công đức tánh giác thật vô lượng, nên người tu xuất gia được mọi người xá lạy. Ý nghĩa của sự xá lạy là tôn kính sự khắc phục được tâm niệm đã tự giác trở về tự tánh, quy y tánh giác, lạy các niệm giác, đã sáng suốt, đầy đủ đạo đức của hào quang vô lượng ; lạy tâm hạnh xuất thế mà phàm phu chưa làm được. Nếu tự xét thấy tự tâm có được các niệm giác đó là Phật, nếu vẫn còn niệm vô minh là ma vẫn còn cư trú, không đáng là bậc được người đời tôn kính xá lạy không gọi là Thế Tôn.

Nguyện mười bảy khi tôi thành Phật

Sẽ giảng kinh thuyết thật độ sanh

Làm cho sở nguyện đắc thành

Công tôi giảng đạo trọn lành hơn ai.

Nguyện mười tám, nguyện 10 niệm được vãng sanh.

Nếu làm chủ được mười niệm (không phải niệm A Di Đà Phật đếm từ 1 đến 10 lần). Vậy mười niệm là gì? Là niệm tham, niệm sân, niệm si, niệm phiền não, niệm ngã mạn, niệm nghi, niệm ác kiến, niệm tà kiến, niệm kiến thủ, niệm thân kiến là thập ác, thập kiết sử, nếu lìa được mười niệm này tất cả đều được vãng sanh. Không còn sanh khởi niệm nhớ lại trong tâm, các ác niệm đã được chuyển hóa thành thập thiện, gọi là các niệm đã chết, đã vãng sanh Tịnh độ. Chỉ cần nhớ lại tánh Phật thật sâu sắc, trở lại tánh giác bỏ hẳn mười niệm là Thập Kiết Sử thì liền nhập vào tánh giác ( chơn tâm ). Vậy đã bỏ niệm ma ta liền niệm Phật, đã dẹp được mười Kiết Sử ngu muội, gồm độn sử và lợi sử.

Độn sử là thập ác nếu không còn thì còn thập thiện. Nếu đã buông xả được các niệm ác, tâm sáng suốt tất được vãng sanh. Nói đến danh từ Phật, “rước” có nghĩa là tự trở về với tánh giác, các niệm giác thanh tịnh ở tự tâm đã thành Phật ( giác ), thành Bồ Tát sẽ rước các niệm mê vừa tự chuyển hóa nên đã giác, đó là Bồ đề quyến thuộc tại tâm, tất cả niệm giác đều là Thánh chúng Bồ tát đồng cùng nhau trực vãng Tây phương. “Khi con thành Phật chúng sanh nghe danh hiệu con” là nghe được niệm giác chính tâm ta hết lòng tin tưởng sẽ thành chánh giác, khi hết mê chắc chắn là đã giác, là Phật là tâm bình đẳng.

Ngoại trừ những kẻ ngũ nghịch phỉ báng chánh pháp” giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, làm cho Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng là người không trọng kính Phật. Người không thấy tánh nên không kính trọng Phật tánh chính mình, không thương Phật chảy máu. Việc làm qua hành động, ta đem Phật kinh doanh, dùng lời dạy trong kinh Phật để đổi lấy tiền, lợi dụng hình tướng Phật làm việc tà bậy mê tín dị đoan, tự tư lợi riêng cho bản thân là làm thân Phật chảy máu ; vì không giác ngộ hại cha mẹ thất vọng, đau khổ mà chết, cha mẹ hiện thời cũng là Cửu Huyền Thất Tổ, là Sư Trưởng là Thầy Tổ nhiều đời nhiều kiếp từ xưa đến nay ; phỉ báng chánh pháp là không nghe không tin chân lý giác ngộ, không trở lại tánh giác đã chỉ chú trọng vào tánh phàm phu, ham lợi dưỡng, nên trừ những hạng người này. Nếu phá tan được thập kiết sử lìa các tướng sẽ thành chánh giác đó là nguyện thứ 18, nguyện 10 niệm tất được vãng sanh.

Nguyện mười tám hóa thai khỏi dục

Người người đều đắc túc mạng thông

Biết hồi tiền kiếp xa trông

Hằng hà sa kiếp thảy đồng kim sanh.

Nguyện 19, nguyện nghe danh phát tâm. Khi đã kiến tánh giác ngộ các pháp thế gian không còn sử dụng phương tiện nghe của lỗ tai phàm phu, không nghe tiếng của những âm thanh phàm phu, phải dùng trí huệ bằng cách quán sát tâm nghe bằng tánh giác, nghe thật lắng sâu vào tâm, “Nếu có chúng sanh nào nghe diễn thuyết bằng tự tánh Phật, hết lòng kính tin thực hành tốt được vãng sanh”. Khi người chửi mắng mà ta nghe bằng tánh giác sẽ thành Phật vì nhângiác, quảPhật. Nghe  bằng tánh phàm phu thì thành ma ; nghe âm thanh nặng nhẹ, chửi mắng, nói xấu ta nên nhìn thẳng vào tự tánh ta thấy lòng thương cho họ vì mê muội nên tối tăm. Cũng miệng lưỡi đó ngày xưa của Như Lai mà ngày nay biến thành miệng lưỡi của ma, ta phải tìm cách đem duyên thiện lành giác ngộ giúp đỡ giảng giải cho họ thức tỉnh. Ta không khởi niệm sân si, thù hằn họ, phùng mang trợn mắt trả đủa lại, nói lời hơn thua là ta đã hiểu biết nghe bằng tánh giác, không còn sống với niệm vô minh gọi là vô minh diệt, vô minh tận.

Khi con thành Phật chúng sanh khắp mười phương phát tâm bồ đề” nghĩa là tự thấy khắp cả các niệm trong tâm đều an vui, hạnh phúc. Phát tâm niệm bồ đề, là đã phát bồ đề tâm “tu các công hạnh ba la mật”, lòng không còn chấp vào tướng, hoan hỷ bố thí, xả bỏ danh lợi, sống bằng tâm viên mãn nhẹ nhàng gọi là bố thí ba-la-mật, là bố thí  pháp kiên cố không lùi lại. “Nguyện đem các căn lành hồi hướng, nguyện sanh về cõi nước con”, sự giác ngộ của tự tánh vốn không lùi vì biết các pháp thế gian sinh diệt vô thường, vì không trí tuệ chấp thật nên vui thì nghe lòng an ổn, ưa thích ; buồn thì chán nản, bỏ liều. Người kiến tánh thì tâm bất thối chuyển, không trụ vào hoàn cảnh vui buồn, vươn mình sống với tánh giác, đối trước các pháp sinh diệt tâm vẫn tự tại, bình an. “Một lòng nghĩ đến con ngày đêm không dứt”, đêm ngày lúc nào ta cũng nhớ đến tánh giác không ngừng nghỉ, đó là thường niệm Phật ( niệm giác ), là thường nghĩ đến tên con, phải nhớ rõ là tánh giác có sẵn nơi mỗi con người. “Lại đem các căn lành hồi hướng, nguyện sanh về nước con, một lòng nghĩ đến con ngày đêm không dứt, đến khi mạng chung không còn đọa vào ba đường ác, Thánh chúng Bồ tát đều đón rước”. Mạng chung là mất, mạng là tánh ngã mạn, tự cao, ích kỷ, hẹp hòi đã mất. Các niệm khởi của thập kiết sử là tham, sân, si, tự cao, ngã mạn… đã chuyển hóa thành niệm của Bồ tát. Thọ mạng mê muội của các kiết sử từ xưa nay đã mạng chung, đã quá vãng hết, đã vãng sanh không còn sanh khởi lại nên có các niệm Thánh Chúng, các Bồ Tát chờ tại tâm ta tiếp đón rước ta về thế giới Tây phương Cực lạc. Nên trong tâm tất cả các niệm đều thanh tịnh an lạc, là Niết Bàn do tâm tạo. “Khoảnh khắc sanh về nước con” nghĩa là vừa bỏ niệm mê thì liền giác tức khắc, bỏ phiền não tức bồ đề, bỏ tâm sân hận liền có tâm thanh tịnh, thanh lương, bỏ ma thì có Phật, bỏ ác thì đã thiện lành, nếu đã chấm dứt phiền não sân si thường sống với tánh giác nhanh chóng như khảy móng tay vì đã giác ( Phật ) nên Phật nói Ta bà cách Cực lạc mười muôn ức cõi, nhưng khi đã giác thì nhanh như khảy móng tay thì tới Tây phương. Người giác ngộ không lùi bước trước mọi hoàn cảnh, cảnh chỉ là ngoại cảnh bên ngoài, nếu không tham trụ thì không hề chướng ngại tự tâm, nếu không được như nguyện thề không thành chánh giác.

Nguyện mười tám hóa thai khỏi dục

Người người đều đắc túc mạng thông

Biết hồi tiền kiếp xa trông

Hằng hà sa kiếp thảy đồng kim sanh.

Nguyện 19 nghe danh mà phát tâm. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh sáng suốt trí huệ vô lượng nên khi nghe danh hiệu này phải quyết định tu hành, đừng tìm cầu đâu xa, nên phát tâm tại nơi sự sáng suốt tự ta sẵn có, phát tại tâm, thành Phật tại tâm.

 

Nguyện 19 chúng sanh vạn vạn

Đều đặng rồi Thiên nhãn tịnh quang

Thấy toàn vũ trụ mười phang

Trăm ngàn muôn ức thế gian cũng tường.

Nguyện 20 lâm chung được tiếp dẫn.

Lâm chung là hết, là chấm dứt phiền não, tham, sân, si ; chấm dứt thập ác, hết tất cả mạn, nghi, ích kỷ, hẹp hòi. Tất cả đều mạng chung, đã chấm dứt, không còn lai vãng ở tự tâm. Có câu rằng “Phàm tâm tử, đạo tâm sanh”, phải phá nát vô minh, khi hết niệm trần lao ô uế thì các niệm trong sạch tự sanh ra, nghĩa là trở về với Tịnh thổ, trở về thế giới Cực lạc. Trở về Tịnh độ nơi tâm địa gọi là về với Phật tánh sáng suốt, trí huệ. Tất cả ác niệm, tà niệm nơi tự tâm đã mạng chung, vô minh đã mạng chung nên tánh giác hiện tiền tiếp dẫn không còn tái sanh lại nữa nên gọi là TỰ TÁNH DI ĐÀ VÔ BIỆT NIỆM, hào quang vô lượng quang minh đã tiếp dẫn, không còn sa vào các niệm, đọa vào lục đạo luân hồi. Bất cứ lời dạy nào ta cũng nên sáng suốt tư duy, xem xét điều đó có đem lợi ích an lạc cho ta và mọi người không. Dù cho đó là những tập tục, nghi lễ cũng nên quán xét cho thật kỹ, những gì ta học có làm lợi lạc an ổn cho tâm đó mới là chơn lý giải thoát, không để lầm lạc cần dò xét cho chính chắn.

Nói về Cực lạc ta phải biết rõ ràng có hay không? Trong kinh diễn tả cõi Cực lạc có ao thất bảo, có xa cừ, san hô, hổ phách, vàng ròng, đường đi lót bằng vàng có hay không?

Có phải hiểu có như thế nào, nếu tất cả những gì mà có sắc, có tướng Phật nói đều là hư vọng, như huyễn, như sương, như bọt, như điện chớp, như bào ảnh, như mộng. Thấy bằng sắc tướng là sự thấy bằng mắt phàm tục rõ ràng là có tướng, nhưng những gì có tướng đều hoại diệt vô thường, không thật, nên cõi Cực lạc không phải bằng sắc tướng mà bằng hào quang sáng suốt vô tướng. Các vật thế gian như nhà cửa, xe cộ, con người, thân quyến đều là tướng, gọi là pháp tướng.

Con người được thành tựu là duyên từ năm giới. Năm giới được giữ gìn toàn vẹn không sai phạm thì đời sau lục căn đầy đủ, nếu khiếm khuyết không tròn giới đức thì sau này làm người nhưng khuyết tật. Nếu hiện tại ta làm người mà không giữ được năm giới thì đời sau không được là người toàn vẹn vì thân người được hợp thành bằng đức độ của năm giới, đó là pháp giới. Vậy cõi Cực lạc cũng tạo bằng pháp. Đức Phật A Di Đà cũng xây dựng bằng pháp, là pháp thực hành 48 lời nguyện, là pháp giới thanh tịnh mới thành tựu Tịnh độ. Muốn về cõi Cực lạc phải hoàn thành 48 đại nguyện thì được chánh đẳng chánh giác, tất cả cảnh giới cõi Cực lạc được xây dựng bằng pháp kết tựu bằng 48 lời nguyện. Ta phải hiểu biết cảnh giới Đức Phật và các cảnh giới khác bằng trí, cũng như ở thế gian tất cả sự vật được xây dựng nên cũng bằng pháp và bằng trí. Ta phải biết tất cả đều bằng trí, không thể nhìn bằng mắt phàm phu. Ta tu cũng bằng trí, nếu thấy Phật, thấy cõi Cực lạc bằng mắt, bằng trí phàm phu là tà ma, ngoại đạo, phải thấy biết bằng tuệ giác, phải thấy pháp nào xây, pháp nào thành tựu Đức Phật? Pháp nào thành tựu con người? Pháp nào thành tam đồ địa ngục? Pháp tham, sân, si, phiền não, ác kiến, tà kiến, kiến thủ, thân kiến v.v… đều là nguyên liệu dành để xây dựng nên cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Những tánh chất này là nguyên liệu ở tại trong tâm ta, tự tâm xây dựng lấy vì trong tâm chứa muôn pháp, pháp nào cũng đều sử dụng được cả. Như lục độ ba-la-mật là giới của Bồ tát hạnh ; ngũ giới của con người ; thập thiện thành tựu chư Thiên ; 250 giới thành tựu quả đức Tỳ Kheo; 348 giới quả vị của Tỳ Kheo Ni. Thành Phật là giác hạnh viên mãn được thành tựu bằng Tam tạng kinh điển. Tất cả đều có đủ, mọi người  đều thọ dụng được vì vô minh không trí tuệ nên mãi chạy theo vật chất, quyền lợi, cá nhân. Những thứ này muốn thành tựu có được cũng bằng pháp, xây dựng nên sự giàu sang cũng bằng pháp, nên Tổ dạy “Vạn pháp đều do tâm tạo”, hết thảy các pháp từ địa ngục lên tới Cực lạc đều do tâm tạo. Nếu không khai thông trí huệ hiểu biết điều này mãi mãi đi tìm Cực lạc, Niết Bàn bằng vọng tưởng, không thế thấy biết được chơn lý của Phật, mãi lạc loài nơi vô minh chịu luân hồi trong mê tối.

Thời đức Phật có câu chuyện, có người hỏi Phật rằng “Bạch Thế Tôn, con đã đào sâu vào lòng đất, thật sâu nhưng không hề thấy địa ngục, ngó thật xa lên trời con cũng không thấy Niết Bàn”. Đó là người ấy muốn thấy địa ngục, Niết Bàn bằng mắt phàm phu. Vậy địa ngục có thật không? Niết Bàn có thật không? Phật trả lời không phải có cũng chẳng phải không. Người đó hỏi Phật, đạo Phật khó như vậy sao ? Phật trả lời chơn lý ta rất khó, kẻ ngu mê si không thể biết, chỉ có người trí mới biết được. Vậy ta hãy tự xét lại ta là người ở trong trình độ căn cơ nào? Người tu học phải biết dùng trí tuệ, các pháp đều thành tựu từ địa ngục đến Niết Bàn, nếu không hành pháp thì không thành tựu được vật nào. Phật dạy ta phải quy y Phật, quy y pháp, quy y Tăng. Theo Lục Tổ dạy, quy y Phật là quy y GIÁC, quy y pháp là quy y CHÍNH, quy Tăng là quy y TỊNH. Muốn thành tựu Phật phải có pháp nên gọi là Phật pháp. Không có Phật tướng chỉ là đức tánh, tu là hành trì pháp, nên hiện nay muốn thành Phật mọi người phải nương vào pháp niệm nhớ, hướng vào pháp môn NIỆM PHẬT mà hành trì. Thành tựu mọi kinh nghiệm cuộc đời cũng bằng phương pháp, dùng pháp không cầu xin van lạy ai cho ta cả, phải tự lực, tự học có được kinh nghiệm bằng trí. Quy y pháp, phải có lòng tin ở pháp. Pháp Phật là vô lượng vô biên, vô cùng vô tận, vô sở đắc, vì có đắc là niệm vào pháp tự mãn, tự cao ta phải tu mãi.

Người bị mù nên không biết đường đi, nhưng khi sáng suốt ( giác ) sẽ tự đi trong sự sáng suốt, trí tuệ, niệm sáng suốt sẽ tiếp dẫn những niệm mê lầm được chuyển hóa bởi sự tự giác. Nếu cứ cho rằng đức Di Đà, Quán Âm, Đại Thế Chí từ đâu bay xuống rước người niệm Phật khi bỏ xác thân thật là sự hoang tưởng vô cùng mê muội. Thật ra, có vô số Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát là các niệm sáng suốt, trí huệ tại tâm ta, đã tự giác ngộ chơn lý Như Lai, đã đủ định lực, sẵn sàng tiếp dẫn bằng hào quang trí huệ do vô lượng công đức tu tập, hành trì đã tự xây dựng bằng pháp Như Lai mà thành tựu tại tâm. Ta đã tự độ, tự dứt khổ, tự vãng sanh Cực lạc tự ở tại tâm, Ta bà Cực Lạc chỉ là mê và ngộ không hai, không khác. Nếu ta cứ mãi van cầu, lạy lục hình tướng bên ngoài mà không chịu sửa tâm, dưỡng tánh, hình tượng là vô tình, vô giác không cứu được ta. Vì hình tượng bên ngoài được con người tạo nên chỉ là hóa Phật tạo phương tiện, dùng làm sự tướng, tạm mượn hình ảnh làm bằng chất liệu thế gian vẽ ra có vô số hóa Phật, vô số Thinh Văn, Duyên Giác, có cõi Cực lạc, là hình ảnh tượng trưng biến hóa chỉ cho vô số niệm thiện lành đã trong sạch, sáng suốt tại tâm. Người tu niệm Phật tự tiếp dẫn bằng hào quang trí huệ là NIẾT BÀN DIỆU TÂM VÔ TƯỚNG NHƯNG THẬT TƯỚNG tự nhiên tự tại, hòa vào sự an lành thế giới Cực lạc. Có danh từ Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát cũng do đức Phật hóa ra, tạm mượn danh từ chỉ về các niệm, hóa Bồ Tát chúng vô cùng vô biên, nguyện sanh 48 lời nguyền, cùng lên chín phẩm đồng lên giác ngàn, liền nghe lời chú thuyết rằng, độ tha tất cả khắp cùng thế gian hết thảy có tướng là cho ta làm phương tiện tu học. Nói là hình tượng cũng nhờ các pháp đó giúp người sơ cơ mới có thể phát tâm tín ngưỡng, khi đủ duyên gặp thiện tri thức khai ngộ thấy lại tự tánh mà nuôi dưỡng tánh linh sẵn có do mê lầm cuộc đời bị bụi trần lao che khuất. Khi mê muội niệm niệm trần lao chấp thật nên đau khổ, trở lại tánh giác niệm niệm là từ bi hỷ xả, niệm niệm là giác ngộ, niệm nào cũng tốt đẹp. Niệm Phật là bỏ tất cả phiền não trần lao, không còn niệm nhớ nghĩ lại các pháp thế gian mới là chơn thật niệm Phật. Chữ A Di Đà Phật là ta tạm mượn danh hiệu để nhớ lại tự tánh A Di Đà chơn thật của ta. Nhờ A Di Đà là pháp mới có thể duy trì lâu dài, chờ dẫn dắt mọi niệm khởi của vọng trần qua bờ giác ngộ. Nhờ niệm A Di Đà Phật là Phật hiệu, giúp ta nương vào trực nhớ lại A Di Đà là tự tánh vô lượng quang.

Vậy Phật là gì? Là tự tánh, là giác. Ta cũng không có quyền bỏ câu A Di Đà Phật hiệu vì khi miệng niệm lên tâm phải giác, phải dụng pháp A Di Đà, pháp là mẹ sinh ra chư Phật. Vì Tâm ô nhiễm bởi tội lỗi, vô minh nên phải dùng pháp niệm A Di Đà để chuyển hóa niệm vô minh thành niệm A Di Đà, gọi là giáo hóa chúng sinh tự tâm đang mê muội, nhờ tánh giác giáo hóa tâm ta tự thanh tịnh. Phật (giác) từ trong trí sinh ra, còn mượn câu A Di Đà Phật là nương pháp nên gọi là pháp môn Tịnh Độ mà các pháp đều như huyễn. Nếu mãi niệm Phật mà tâm vẫn chưa an ổn vì chưa giáo hóa được các niệm mê thành giác ngộ.

Nguyện hai mươi Tây phương dân chúng

Vui vẻ mà thọ dụng đủ điều

Thảy đồng với các Tỳ Kheo

Chứng phần vô lậu chẳng theo sự đời.

Nguyện 21Khi con thành Phật, chúng sanh trong mười phương nghe danh hiệu con nhớ nghĩ nước con, phát tâm bồ đề kiên cố không thối lui, trồng các căn lành, hết lòng hồi hướng sanh về cõi Cực lạc đều được toại ý. Nếu có ác nghiệp đời trước nghe danh hiệu con hết lòng sám hối làm các điều lành lại trì kinh giữ giới, nguyện sanh về nước con mạng chung, nếu không an lạc còn đọa vào ba đường ác nếu không được như vậy thệ không thành chánh giác”.

Sám hối là người phải thấy tánh, vậy thấy tánh là sao? Ta phải xét lại ta có phải là người tu thấy tánh chưa? Khi giận phải thấy tánh tôi đang giận, buồn phải biết tánh tôi đang buồn, khi khổ tôi biết tánh tôi đang khổ v.v…. sự biết này gọi chung là tánh tôi đang phiền não. Trong kinh dạy, bỏ phiền não tức bồ đề, tự ta biết thấy ta đang phiền não, phải thấy trực chỉ vào tâm. Kiến tánh tu tại tâm hiện tiền này chấm dứt được các niệm sanh tánh sai lầm, không còn niệm nhớ đến nữa, lập tức còn lại tâm an định đã sáng suốt thấy pháp tánh. Sự thấy pháp, biết pháp là trí huệ tự có, đó là chơn tâm tự tánh hiển lộ ( kiến tánh ). Nhờ thấy được tánh đang tội lỗi ta sửa sang, khắc phục tâm, dần dần trong sạch, đây là pháp sám hối thực tướng, cứ lạy mãi mà không chịu sửa tâm thì không sáng suốt gì cả. Hằng giờ, hằng phút đều phải thấy tâm niệm của mình biết đang khởi niệm xấu vội sửa thì đã giác, tánh mê thì sửa chuyển hóa thành tánh giác. Ta phải sám hối bằng tánh giác, bằng sự tự nguyện chân thành, không sám hối bằng lời nói suông, lời nói bên ngoài, chỉ hứa suông như gió thoảng không thật.

Trong chuyện nhà Tổ kể rằng : lúc Lục Tổ nói với Ngũ Tổ “để con đưa Thầy qua sông”. Ngũ Tổ nói “đáng lẽ ta đưa con mới phải”, nhưng Lục Tổ nói “Bạch Thầy, khi con còn mê thì Thầy độ, khi con giác ngộ rồi tự tánh giác con độ lấy con”. Ta phải dùng tánh giác tự độ tánh mê lầm ngu muội. Nếu tu mà bỏ tánh giác thì dù làm bất cứ điều gì, hình tướng gì cũng không gọi là người tu. Người sáng suốt rồi phải tự dùng tánh đã giác tự độ lại tánh mình. Ta cần thông suốt điều này, người thấy tánh mới thấy được công ơn của đức Phật, thấy tánh rồi mới thấy được tội lỗi mà tự sám hối. Ta chưa hề bỏ tham, sân, si nên giờ phút nào cũng sống với tam độc tham, sân, si là pháp xây dựng, tạo lập nên cảnh giới địa ngục tại tâm người tự tạo mà có. Dù giữ được năm giới mà tâm chưa trọn vẹn, còn tham cảnh sắc giới, vô sắc giới, dục giới. Nếu ở trong ba cảnh này còn tham mà ta không tự sửa chữa thì nhất định vẫn ở trong ác đạo. Nếu được làm con người vẫn còn ở trong lục đạo luân hồi, đời đời kiếp kiếp vì tham không như ý sinh ra sân si, cáu gắt, nóng nảy, thiếu trí huệ nên gọi là si mê. Nếu giác là bậc trí vì không còn tham đắm. Người vô trí dù học hết kinh điển tâm còn tham vẫn là kẻ ngu dốt, mê si là vô trí. Ta phải dùng trí tuệ để nhận xét con người, chớ không dùng học thức mà biết được. Dù học thức, học Phật đến bao nhiêu mà tâm không bỏ được niệm tham sân si thì vẫn đọa lạc trong tam ác đạo, đều uổng phí công trình, tánh tham sẽ giết chết chư Phật ở tâm ta.

Cái tham bao thuở đã rồi

Cái mê một phút tỉnh hồi là xong

Dã tràng xe cát biển đông

Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì.

Kiến tánh sẽ thấy được sự mê muội của tánh tham sân si, phiền não… đều ở tại tâm, giác ngộ cũng ở tâm, những niệm xưa nay nhiều vô số. Ta cứ nghĩ đức Phật là người tốt tâm không còn chứa điều xấu ác, hoàn toàn không có niệm gì, đó là tư tưởng không đúng. Ai ai cũng có niệm buồn, vui, khổ, phiền não, thương ghét … vẫn có đủ, nhưng bậc đã giác ngộ kề bên lúc nào cũng có tánh giác theo kèm, sát xao liền bên nên dễ dàng giáo hóa các tà niệm trở nên thanh tịnh.

Còn những niệm giận buồn của ta khi sanh khởi, chỉ có tánh ngu mê theo sát nên tối tăm, ngu si chạy theo, không chuyển hóa được. Nếu có ai làm không vừa ý thì sanh tâm nóng giận, phải liền có tánh giác nhắc nhở. Nên Phật nói trong tâm ta cũng có địa ngục nhưng luôn có các Bồ Tát ( tánh giác ) theo giáo hóa, có Bồ Tát Địa Tạng tại tâm sáng suốt vớt liền các niệm sai quấy, lúc nào cũng có Bồ Tát Địa Tạng ở địa ngục tại tâm sẵn sàng cứu chúng sanh, nên nói rằng “Nếu địa ngục chưa trống không thệ không thành chánh giác”, Bồ Tát đó chính tự nơi tâm niệm trong ta thường giác, đó là trong tâm có tất cả.

Ta không nên ngã mạn, tự cao cho là  tâm ta đã tốt hoàn toàn, chỉ nhờ có tánh giác (Phật). Trong kinh Phật dạy “Phục vụ chúng sanh tức cúng dường chư Phật”. Phục vụ thực tướng Bát Nhã là mỗi niệm sanh khởi nơi tâm đều sẵn sàng phục vụ, giáo hóa các niệm mê si lầm lạc. Các niệm thập ác nhờ Bồ Tát giáo hóa trở nên thập thiện, tức đã cúng dường các niệm, đã trở thành chư Phật tại tâm ta, đó là cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát, cúng dường vô úy không thấy người cho và không thấy người nhận là vô úy thí. Hạnh đức của Quán Âm Bồ Tát giáo hóa các chúng sinh gọi là độ tha, đều thành Phật quả, đều trọn thành Phật đạo, là chư Phật hiện toàn thân cùng khắp mười phương các cõi tự tâm ta, giác hạnh đã viên mãn, nếu giáo hóa được chúng sanh tự tâm thì thành chánh giác. Phải kiên cố mà dạy dỗ vì ta với nó không khác, tuy hai mà một, chỉ một tâm mà sinh ra. Đây là sự vi diệu của tâm, nên nói chơn không mà diệu hữu. Phải thường theo dõi mà săn sóc tâm như săn sóc thánh thai, nếu xấu mà biết sửa chữa sẽ thành tốt, tốt mà tự cao ngã mạn sẽ thành xấu. Không ỷ lại chức quyền địa vị thế gian, phải tự là Bồ Tát giáo hóa chúng sanh khắp mười phương thế giới nơi tự tâm ta.

Câu chuyện vào thời đức Phật, có một đệ tử cùng Thầy đi khất thực, đang cùng đi trên đường bỗng vị Thầy dừng lại, đứng yên một hồi lâu, rồi tiếp tục đi nữa. Lúc về nhà, người đệ tử thắc mắc hỏi Thầy, tại sao đang đi mà Thầy dừng lại? Vị Thầy trả lời rằng, vì lúc đó Thầy thấy chúng sanh trong tâm đang niệm điều sai quấy, tà bậy, khó dạy nên ta dừng lại để giáo hóa dạy dỗ chúng nó, mới được an ổn thành vị Thanh Văn. Ta thường giáo hóa các niệm chúng sanh thuần thục thì khi vừa khởi lên liền sáng ngay, không còn kéo dài niệm mê muội được giáo hóa nhanh chóng, ta không sợ mê chỉ sợ giác chậm. Giác chậm vì nghiệp chướng quá sâu dày, cũng như những cái ghiền ở thế gian vì biết không lợi ích ta vẫn muốn bỏ nhưng rất khó khăn, phải kiên trì nhẫn nại, quyết chí, chí nguyện phải lớn, nguyện tu phải lập chí vững chắc nên gọi là Đại Thế Chí. Hạnh đức này luôn luôn có sẵn trong tâm ta ( chí lớn ở thế gian ), niệm niệm khởi đều thấy được để tu sửa, là thật tướng sám hối. Còn chỉ nguyện suông trước Tam Bảo là hữu tướng sám hối hay là trì danh sám hối, không bằng thực tướng sám hối, ta phải sám hối bằng tự tánh.

Tự tánh gồm đủ tất cả mười phương “nhớ nghĩ đến con”, là nhớ nghĩ đến sự sáng suốt, trí tuệ vì tự tánh là quốc độ, là cõi giới “phát bồ đề kiên cố không thối lui”. Nên ta nghe Phật dạy biết được tự tánh mà lâu nay ta chưa từng giáo hóa, thì phải nhất quyết giáo hóa, gìn giữ, không thối lui là Bồ Tát bất thối. “Trồng các căn lành hết lòng hồi hướng về Cực lạc”, phải nuôi dưỡng giáo hóa đến khi trong tâm hết sân si sinh khởi, biết được các niệm này đã thanh tịnh “đều được toại ý, nếu có ác nghiệp đời trước, nghe danh hiệu con hết lòng sám hối” nghĩa là nhớ đến Tự tánh Di Đà vô biệt niệm phải hết lòng sám hối, hết lòng giáo hóa “làm các điều lành trì kinh giữ giới”. Ta phải xem kinh Phật, tự tư duy ; người thường xem kinh là niệm pháp, niệm niệm luôn hướng về lời dạy của Đức Phật đó là điều kiện tìm hiểu, là phương pháp để tu học. Ta mãi chạy theo việc hơn thua thế gian cũng là niệm pháp nhưng đó là niệm pháp thế gian, không tu học được. Kinh là pháp của Phật để lại gọi là pháp bảo, là tài sản quý báu, nếu ta thờ ơ, xem thường thì không giữ được một vốn liếng nào để xây dựng sự nghiệp Phật pháp, mãi mãi là nô lệ cho cuộc đời. Vì thường niệm pháp thế gian, phục vụ nuôi dưỡng Ma Vương, mãi mãi là chúng ma không thoát được sanh già bệnh chết. Kinh nghiệm của Phật sẽ giúp ta phát sinh trí huệ vì đó là tài sản vô giá của chư Phật ba đời ( duy tuệ thị nghiệp ) nếu xa lìa kinh, xa lìa pháp bảo sẽ bơ vơ kinh hoảng. Tổ dạy :

Bàng hoàng giữa chốn rừng mê (vô minh)

Không ai dùm chỉ đường về cho con

Ngây thơ (mê muội) trí nhớ đâu còn

Lại thêm nạn chướng giết mòn tánh linh

Đồng thời nhiều kẻ chung quanh

Rủ con vào nghiệp tử sanh luân hồi (lục đạo).

Ta phải thường trì kinh giữ giới, kinh ở đâu thì pháp Phật ở đó. Nếu ta thường xem kinh, thường niệm pháp, sống với kinh pháp thì kinh và pháp Phật thường ở trong lòng, trong tâm ta, là mạng sống ta, ta đã chuyển hóa thân phàm phu trở thành pháp thân Phật, nên được Thiên Long Bát Bộ thường giữ gìn kinh Phật. Người trì kinh cũng được chư Thiên Thần Hộ Pháp bảo hộ vì đó là pháp bảo được người hộ trì, diễn nói bằng hào quang trí huệ. Còn trong tâm mãi ôm giữ pháp thế gian là thập ác, thì sẽ sa đọa vào ác đạo vì mãi duyên theo nghiệp vô minh sẽ triền miên khổ ải.

Kinh là mạng mạch của chúng Tăng, là mạng sống của trí huệ, xa lìa kinh là mất mạng sống trí huệ “nguyện sanh vào nước con mạng chung, không lạc vào ác đạo”, phải hằng nhắc nhở tâm, hiện giờ đến lúc bỏ thân xác nguyện không khởi một niệm ác, dù trong hoàn cảnh nào cũng theo dõi từng niệm khởi, tìm hiểu tư duy kinh điển, chắc chắn không khởi vọng niệm đọa vào đường ác. Nếu bỏ kinh pháp, bỏ tâm niệm, không gìn giữ, mãi chạy theo pháp thế gian, là theo cảnh bỏ quên tâm.

Liền sanh về nước con, nếu không được vậy thề không thành chánh giác”, nếu muốn thành Phật mà không thực hiện được phương pháp giáo hóa tâm niệm, không tự nguyện sửa các niệm sai quấy thì không thể an lạc được. Phải hội đủ sự thành tựu từ các duyên lành là sám hối ; trì niệm kinh Phật giáo hóa chúng sanh mới thường sanh trí huệ ; tâm an lạc, trí huệ sáng suốt mới thành chánh giác, phải đầy đủ pháp mới thành Phật quả. Pháp nào là Bồ Tát, pháp nào là sự giác ngộ của Duyên Giác, pháp nào là tự giác của Thinh Văn, pháp nào là người chơn chánh phải thành tựu các pháp. Bồ Tát là 58 giới gồm 10 giới trọng 48 giới khinh ; chư thiên là bát quan trai gồm 8 giới, thập thiện đạo là 10 giới ; loài người là 5 giới; ngạ quỷ, súc sanh địa ngục là tâm buông lung không giữ gìn giới, nên có huệ nhãn nhìn vào con người sống với pháp nào, thành tựu pháp nào, hãy tự chiếu soi để tu tập. Vậy Cực lạc có nhưng do pháp mà thành tựu, xây dựng, kiến lập nên tại tâm của con người. Ai thành tựu pháp nào sẽ về cõi đó, phải thấy pháp bằng trí tuệ mới kiến lập được Cực lạc. Ta phải theo dõi từng niệm mà tự sửa chữa gọi là sám hối tại tâm, có Cực lạc tại tâm, thành Phật tại tâm, tự giác tại tâm, giải thoát tại tâm vì Niết Bàn vô sanh diệt là vô tướng.

Nguyện hai mươi mốt nhơn thiên trong nước

Tha tâm thông biết được chẳng sai

Những điều tâm niệm mỗi loài

Muôn ngàn thế giới không ngoài tánh linh.

Nguyện thứ 22, nguyện thứ 23Nguyện chuyển thân nữ thành nam”, “khi con thành Phật cõi nước không có phụ nữ”. Vì chỉ là pháp nên không có nam hay nữ, có tướng là tùy nghiệp, tùy niệm sanh diệt mà thể hiện tướng hình. Đại thừa là vô lượng nghĩa, mỗi niệm sai được sửa chữa là phần giác, tự chứng phần là trí tuệ Phật. Trí tuệ Phật thông biết qua nhiều căn cơ trình độ. Pháp cũng vậy, nói đến danh từ không có phụ nữ, đàn bà là muốn chỉ đến những niệm ích kỷ, nhỏ hẹp, thấp hèn, sự nói năng, ngôn ngữ đều không minh bạch, không cao thượng nên phải tự xét lại coi tâm niệm ta có phải là bậc quân tử hay hạng tiểu nhân. Nếu là quân tử thì không nhỏ mọn, bỏn xẻn, ích kỷ, hẹp hòi, ganh tỵ, soi mói, chấp nê mới là tâm là niệm của bậc thiện nam tử. Ý kinh nói đến pháp thấp hèn, ích kỷ giống như phái yếu. Thân người nữ cũng là sắc pháp, vì tâm đã bình đẳng giác không hề phỉ báng một pháp nào cả “nếu có người nữ nghe danh hiệu con phát tâm bồ đề chán ghét thân nữ”, không chê pháp người nữ nhưng không hành pháp yếu hèn nữa, phải bỏ niệm hẹp hòi, không sử dụng đã chuyển đổi đã tự giác liền biến thành nam, là sử dụng pháp của người nam mạnh mẽ. Tất cả đều là pháp, chỉ tạm dùng phương tiện mà chỉ về tánh giác, không chấp tướng thật mà luận giải phân biệt được. “Mạng chung liền hóa thành nam sanh về nước con”, ý nói quy y Phật là trở về tánh giác đã là bậc quân tử không còn hẹp hòi. “Các loại chúng sanh ở thế giới mười phương sanh về nước con đều hóa sanh trong hoa sen thất bảo”, nghĩa là niệm trong sạch trí huệ không còn niệm ô nhiễm bởi tham lam của thói hư tật xấu nên gọi là hoa sen, không ô nhiễm bùn nhơ nên thành chánh giác. Phải kiểm lại tâm còn pháp thấp hèn, yếu đuối nào giống nữ nữa không? Phải thường giáo hóa các niệm chúng sanh. Tu là giáo hóa tự độ, sáng suốt giúp đỡ mọi người là độ tha. Tâm niệm hẹp hòi gọi là chúng sanh hay gọi là niệm của nữ nhơn, phải nương tựa vào niệm quân tử, tượng trưng niệm tự giác, gọi là bậc giác ngộ, gọi là Vô Thượng Sĩ (tâm cao thượng), Điều Ngự Trượng Phu (bậc lớn làm chủ các pháp). Với pháp niệm này Phật mượn hình tướng Di Đà để dạy tất cả chúng sanh, cùng 48 lời nguyện là pháp thành tựu A Di Đà tự tánh.

Vì thấy tâm niệm chúng sanh ích kỷ, bỏn xẻn, hẹp hòi nên Phật dạy ta tự giáo hóa tâm là chuyển mê ra ngộ, chuyển Phàm thành Thánh. Mượn tướng người nữ để chỉ niệm nhỏ hẹp, thấp hèn, tự chuyển đổi thành niệm sáng suốt, rộng rãi là tướng người nam. Nên nói “nguyện chán thân nữ” là không còn đeo đuổi, nhàm chán sự giả tạm, tham sân si, phiền não. Tàm quý là biết xấu hổ, danh từ “chán thân nữ” chuyển niệm xấu ác, hèn mọn thành thiện lành trong sạch. “Nguyện chán thân nữ chuyển thân nam” đã kiến tánh thấy niệm nhiễm ô là trần lao, ô trọc, nghiệp chướng nên không khởi niệm. Đã vô lượng kiếp vì nghiệp chướng sâu dày, thường sống với niệm vô minh trần lao bỏn xẻn nên nguyện chán thân nữ (niệm) chuyển (niệm) thân nam.

Kinh pháp Hoa nói đến Long Nữ là loài súc sinh. Long nữ là loài rồng sống dưới nước, nơi ở là đáy biển, là chỗ sâu, ý này chỉ chúng sinh thường sống trong hầm sâu vô minh tăm tối, đó là những niệm thấp hèn sâu kín, từ lâu đọa trong biển nghiệp của tâm súc sinh, niệm niệm vô minh. Khi ấy Ngài Trí Tích Bồ Tát (trí huệ sẵn có) hỏi ngài Văn Thù Sư Lợi rằng “Ngài qua cung rồng hóa độ được bao nhiêu chúng sanh?”. Ngài Văn Thù Sư Lợi nói “Tôi giáo hóa ở biển ( Ta bà ) việc như thế đó, có con gái vua rồng là Long Nữ mới tám tuổi, có căn tánh lanh lẹ, có trí huệ khéo, biết căn tánh hành nghiệp của chúng sanh, đặng pháp tổng trì, biết các tạng pháp rất sâu kín của Phật nói điều có thể thọ trì sâu mầu vào thiền định (thấy rõ các niệm trong tâm), rõ thấu các pháp, tâm bồ đề bất thối chuyển, nàng thương chúng sanh như con đỏ ( thương các niệm thấp hèn trong tâm ), công đức đầy đủ, lòng nghĩ miệng nói pháp nhiệm mầu, rộng lớn, từ bi, nhơn đức, khiêm nhường, ý chí hòa nhã, nàng ấy có thể đến bồ đề”.

Long Nữ là loài rồng, lại còn mang thân nữ là loài thú tuổi còn nhỏ, mới tám tuổi vẫn có thể thành Phật được chánh giác. Tự tánh đã sẵn có trí tuệ tuy mang tướng súc sinh, chỉ vì nghiệp hoặc vì thị hiện nguyện độ chúng sinh mà hiện tướng, nếu giác ngộ thì bất luận nam hay nữ đều chứng quả. Nhìn vào tướng thì có nam hay nữ nhưng khi giác ngộ thì tánh giác vốn bình đẳng, khi kiến tánh đã bỏ các thói quen, tội lỗi, xấu xa, thấp hèn đều giác ngộ thành Phật. Cho nên những niệm thấp hèn của cõi súc sanh, ngạ quỷ, tất cả gọi là ở trong biển nghiệp bao la sâu kín tận cùng vì vô minh. Nếu biết giáo hóa bằng trí ( tượng trưng ngài Xá Lợi Phất là bậc đại trí huệ ) cũng chuyển hóa thành Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, tất cả đều được thành chánh giác, nghĩa là bỏ niệm nữ nhơn thấp hèn chuyển thành tâm niệm của bậc đại trượng phu nam tử thì phiền não tức bồ đề, lìa bến mê qua bờ giác.

Nguyện hăm hai chúng sanh quốc độ

Thần túc thông đắc ngộ dong chơi

Bao hàm thế giới nơi nơi

Vượt qua khắp hết mau thời hơn bay.

Nguyện 23, nguyện liên hoa hóa sanh. Khi tánh đã trong sạch không còn ô nhiễm pháp thế gian là tham sân si dù ở trong cuộc đời mà đã gạn lọc các niệm ác trở nên thanh tịnh. Ví như sự tinh khiết, đẹp đẽ của hoa sen dù ở nơi bùn lầy hoa vẫn tỏa hương thơm, đậm sắc màu tươi tốt. Nếu chạy theo vật chất thấy sắc cũng mê, rượu chè cũng mê, danh lợi cũng mê… thì đó là nhiễm trần lao, như sen bị nhiễm bùn. Người sáng suốt dù ở Ta bà mà vẫn có niệm làm lợi ích cho chúng sanh, không mê đắm các pháp thế gian, chạy theo dục vọng ham muốn gọi là Liên Hoa hóa sanh.

Trong kinh Phật dạy, Cửu Phẩm Liên Hoa là có ba đường ác, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nếu đã giác nên sáng suốt giáo hóa các tà niệm dần dần trong sạch gọi là hạ phẩm hạ sanh. Quả Thanh Văn chứng Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-la-hán là ba phẩm trung sanh. Đến hàng Bồ Tát Sơ Địa, Bồ Tát Thập Địa là cửu phẩm Liên Hoa. Tất cả đều từ tâm niệm trong tâm trong sạch dần. Sự trong sạch cũng tùy tâm địa, căn cơ, cũng có cao, có thấp gọi là hạ phẩm hạ sanh, trung phẩm trung sanh, thượng phẩm thượng sanh. 3 lần 9 là 27 nên là 27 phẩm sen vàng. Gọi là Liên Hoa Hóa Sanh, là đã trong sạch các niệm tại tâm mình.

Sự diễn bày của đức Phật dùng tướng để chỉ tánh nơi tự tâm mỗi người, ta phải thật lưu ý để tránh sự lầm lẫn, lầm chấp vào tướng.

Nguyện hăm ba tôi nay thành Phật

Danh hiệu tôi rõ thật mười phương

Phật và đại chúng tán dương

Dân tôi quy phục lại thương tôi hoài

Thiên nhơn với các loài súc vật

Niệm danh tôi cho thật chí thành

Sanh lòng vui vẻ hiền lành

Lâm chung sẽ đặng hóa sanh sen vàng.

Nguyện hai mươi bốn ánh quang minh chiếu

Nơi đầu tôi tuyệt diệu rỡ ràng

Mặt trời cùng ánh mặt trăng

Tuy là sáng tỏ chẳng bằng Phật quang.

Nguyện 25 nguyện 26 nguyện 27

25 nguyện thiên nhơn lễ kính.

26 nguyện nghe danh hiệu được phước.

27 nguyện tu thù thắng hạnh.

Khi con thành Phật, chúng sanh khắp mười phương nghe danh hiệu con đều vui mừng tin tưởng, nhất tâm lễ kính quy mạng”. Khi tâm không còn các niệm phiền não khổ đau thì ta an lạc, hạnh phúc, hoan hỷ, vui mừng. Khi nghe được danh hiệu tự giác (Phật) ( danh hiệu A Di Đà tự tánh ), khi các niệm phiền não ở đâu niệm giác liền theo đó thì các niệm vô minh đều tự lễ bái quy phục, quy mạng lễ ( niệm mê đã tự giác đã quy phục nên sáng suốt gọi là Bồ Tát ). Các niệm sai quấy không còn hoành hành, tự tung tự tác đấu tranh, sân si vẽ vời được nữa. Đã giác ngộ quy phục tánh giác, phải điều phục tất cả niệm chúng sanh bằng tánh giác. Vì không hoan hỷ với tâm mình, không tự tin chính mình nên mãi đi tìm kiếm sự van xin, cầu khẩn, mê tín bên ngoài, cầu xin Thần Thánh phò hộ. Tất cả niệm say mê, lầm lạc đã trở thành Bồ Tát nên gọi là quy mạng. “Đem tâm thanh tịnh tu hạnh Bồ Tát”, thường theo hạnh Bồ Tát, khởi lòng giáo hóa chúng sanh gọi là Bồ tát hạnh, “chư thiên người đời hết lòng cung kính”. Nếu tự chuyển hóa được tâm niệm này thì trời người đều an lạc, hạnh phúc nên trời người đều cung kính ( cung kính tánh giác ). “Nếu nghe được danh con sau sanh vào nhà tôn quý”, nhà tôn quý là nhà Như Lai, là đất Phật “các căn đầy đủ”, sáu căn đều giác sáng suốt, không sa đọa, mê lầm vì tăm tối, đầy đủ trí huệ Phật. Mắt là sự thấy sáng suốt là giác, mắt Phật là Phật nhãn, mũi giác, tai giác, lưỡi giác, thân giác, ý giác, không sử dụng căn phàm nên Phật dạy vô nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ý. Sáu căn đều giác ngộ nên gọi là các căn đầy đủ tánh giác “thường tu thù thắng phạm hạnh”. Tâm ta tự sáng suốt, tâm niệm là trí huệ, không giả dối bên ngoài, tự tâm luôn quyết định, không lệ thuộc đua đòi theo ai cả gọi là phạm hạnh. Gìn giữ mọi hành động đều thanh tịnh là nguyện nghe danh hiệu được phước, nguyện tu thù thắng hạnh vượt bậc, đặc biệt hơn tất cả tuyệt diệu cao siêu nếu không được vậy thề không thành chánh giác. Chúng sanh nào hiểu được tự tánh thì phước đức vô lượng vì không còn niệm vào phiền não, tinh tấn vượt qua là tu thù thắng hạnh. Người giác ngộ tự tâm thường có vô số tâm niệm Bồ Tát giáo hóa chúng sanh ; nghe bằng tánh giác trí huệ, tánh giác đang nghe tự thổn thức, các tâm niệm si mê mà giáo hóa thì được phước vô cùng, vô tận. Thiên nhân lễ kính là trời người lễ kính, chỉ có Phật ( giác ) mới được trời người lể kính ( Thiên Nhơn Chi Đạo Sư ) xứng đáng là Thầy trời người.

Tham sân si là si độn, nếu không xa lìa thì không sanh trí tuệ. Lễ là sự khuất phục, tự tôn kính các điều khuất phục là hạnh nhẫn nhục từ trí tuệ rất lớn vì trời người đều lễ kính sẽ nhận được tất cả phước báu, nếu không sẽ mất tất cả phước báu. Ta phải tự xét lại, nghe lòng ấm áp vì đức từ bi trí tuệ hạnh phúc, lắng nghe được sự hoan hỷ với đức tánh đạo đức của chính mình, vừa khởi niệm sai  phạm thì lập tức thỉnh mời niệm sáng suốt là Bồ Tát tại tâm liền hiện tiền để giáo hóa. Bồ Tát ta phải tự thấy tánh ta đang nóng giận, tâm ta đang bực tức, đừng bào chữa dung túng, bênh vực nó, phải thường dạy dỗ các niệm mê này tức thời niệm mê chuyển thành niệm giác, lúc nào cũng có tánh giác của Bồ Tát kề bên khuyên dạy dỗ, gọi là Bồ tát thường giáo hóa chúng sanh. Nếu giữ năm giới chơn chánh sẽ có 25 vị thần sáng suốt tại tâm nhắc nhở thường xuyên. Nếu nghe được danh hiệu (hiệu giác) thì các niệm Thanh Văn, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền sẽ hộ trì. Ta hãy nhìn vào tự tánh tìm cho gặp đức Quán Thế Âm Bồ Tát nhờ Ngài giáo hóa mỗi khi chợt khởi niệm tội lỗi, độc ác. Trong sự tư duy bằng trí tuệ ta sẽ dùng thiên nhĩ mà nghe Bồ Tát Quán Âm dạy dỗ từng pháp, giáo hóa từng tâm niệm. Bồ Tát tự tâm đến cõi nào thì cõi đó sẽ được sáng suốt, an vui, hạnh húc, nghe được danh hiệu Phật ( giác ) sẽ thành chánh đẳng chánh giác. Khi khởi niệm, sinh ra hành động làm điều gì sai phạm, bất chánh tạo tội lỗi, sẽ thể hiện tướng sợ sệt, run rẩy, lo lắng, bất an, kinh hoàng, hốt hoảng, mặt biến sắc, sáu căn đều động đậy, mắt tai mũi lưỡi đều biến đổi, đó là sự báo động của các cõi, ngầm bảo với nhau nên tìm lối thoát vì biết đã phạm vào pháp giới, nếu bất chợt gặp người chơn chánh thì tâm này cũng cúi mặt, lấm lét, tránh né, lo rầu vì biết đã gây nên tội, vì vậy lúc nào ta cũng phải sống với sự cảnh giác, luôn có tánh giác kề bên các niệm, để không tạo những hành động độc ác, sai phạm, độc hại do thân miệng ý gây nên. Trong tâm có tất cả đầy đủ chư Thiên Thần hộ trì khi tâm niệm ta biết chuyển đổi, khi các Bồ Tát nghe tiếng gọi của lòng, biết sám hối sẽ giáo hóa hết thảy chúng sanh thành chánh giác.

Người tu hạnh lắng nghe sẽ có thiên nhĩ thông, nghe được danh hiệu của chư Thanh Văn, Duyên Giác, chư Bồ Tát tự tâm. Nếu pháp xuất hiện là khổ sở não loạn tùy duyên đến với ta, phải nhớ lại hướng thẳng vào tâm, thỉnh mời tìm Bồ Tát Quán Tự Tại bằng cách miệng niệm, tâm lễ bái, trí nhớ tha thiết đến Bồ Tát Quán Thế Âm, niệm Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ có hào quang sáng suốt của Bồ Tát tự tại hiện ra giáo hóa, khởi lên giáo hóa bằng sự suy nghĩ tại lòng, nhắc nhở niệm sai quấy của ta bằng sự tuyệt diệu của hào quang trí tuệ. Cách buông bỏ, hoan hỷ, sẽ an lạc đó là Bồ Tát Tự Tại sáng suốt ở tâm ta nguyện  tự độ ta. Nếu nghe danh y giáo phụng hành thì sẽ đắc phước tại nơi ta. Nếu không học hạnh từ bi hỷ xả thì nhân bất học bất tri lý, người không học không thể tri tìm được chân lý, không sanh trí huệ. Ta không nên mê muội, biếng nhác. Nếu không lo tu tâm, sửa tánh, mãi mang tư tưởng cầu xin, van lạy sẽ bị ngoại đạo lừa đảo, gạt gẫm đưa ta đến con đường mê tín dị đoan, phải sống trong vọng tưởng điên đảo. Dù van lạy, cầu xin bao nhiêu cũng không sinh trí tuệ, phải tự tu tâm an định, xả bỏ mọi xấu xa, sai lầm, mê muội mới hiển lộ sự sáng suốt thanh tịnh, trí huệ được. Nếu cúng heo gà vịt nầy nọ mà được thì đó là tư tưởng hối lộ có qua có lại. Phật Thánh Tiên không nhận vật thế gian vì các pháp là huyễn, là ô nhiễm. Khi nghe lại trong tâm có những niệm sáng suốt, giải thích theo chân lý sáng suốt, ngưng nghỉ các niệm ác, đó là lời Bồ Tát Quán Âm tầm thinh cứu khổ đang giáo hóa chúng sanh thế gian, gọi là lương tâm tự xét lấy, đó là vô số các Bồ Tát trong tự tánh hằng dạy dỗ giáo hóa chúng sanh.

Nguyện hăm lăm hào quang tôi chói

Khắp cùng nơi chỗ tối khúc quanh

Thiên Nhơn cùng các súc sanh

Thấy liền đặng khởi lòng thành quy y.

Nguyện hăm sáu bất kỳ nhơn thú

Trong thập phương vũ trụ vân vân

Nhờ hào quang chiếu đến thân

Từ hòa tâm tánh hơn dân cõi trời.

Nguyện hăm bảy Tiên người phát ý

Tâm bồ đề trì chí giới trai

Lục ba-la-mật quảng khai

Làm nhiều công đức, chẳng sai một thì

Khi thọ mạng tới kỳ viên mãn

Có tôi và các hạng Tăng lành

Phóng quang tiếp dẫn bàng sanh

Đặng làm Bồ Tát tại thành lạc bang.

Nguyện 28Nguyện nước không có tên bất thiện”. Sự lừa đảo, xảo huyệt, tranh giành tranh đấu, hơn thua tính toán, tư lợi là những niệm nhớ đến tâm bất thiện, không được tin tưởng “nguyện trong nước con” vì ngoài tâm không có cõi nước nào khác cả (nhất thiết do tâm tạo). Nước con là tâm ta, là niệm ta, mà sanh ra cõi nước ( vạn pháp quy tâm ), chỉ một tâm này mà có tất cả, ngoài tâm không có quốc độ nào khác. Thế giới nước  ta chính tại tâm ta, nếu còn niệm đến tam độc là còn nhớ đến ba điều ác thì không gọi là giác được. Ác là tham sân si, ta hãy tự xét lại tâm còn chứa điều này không? Nếu chưa dứt được các niệm ác tại tâm, dù có đổi hình tướng là mặc áo Như Lai mà lòng chưa thanh tịnh, miệng khuyên mọi người tu mà ta chưa tu, đó là âm thanh ngoài miệng, là danh từ bên ngoài, chưa đủ nguyện lực độ chúng sanh, đó là lừa dối chúng sanh, tự ta gạt gẫm ta và mọi người thì không thoát được niệm lừa đảo. Chỉ trong năm giới ta đã phạm vào tội vọng ngôn là giới nói dối, tự dối mình, dối người, không thành chánh giác được. Vì không chánh ngữ, xét tột cùng tâm ta còn tà ma làm sao dạy dỗ giáo hóa tà ma được. Giảng kinh là nói về chánh giác, nếu tâm ta chưa giác thì pháp hành không chơn chánh, vì Phật tại tâm mà tâm không phải là niệm giác thì không là chánh pháp được. Phải xét lại coi tâm còn tham sân si, phiền não, là có tên bất thiện trong nước, mù không dắt người tăm tối được. Nếu nhà ta là địa ngục ( tâm ta ), ngạ quỷ, súc sanh thì không thể có nhà Như Lai để dẫn ai vào được cả. Phật dạy rằng, người nói pháp Như Lai phải mặc y Như Lai, nói pháp Như Lai ngồi tòa Như Lai, vào nhà Như Lai.

Y Như Lai là y tâm, là y theo pháp chơn chánh mà thực hành tại nội tâm ; không chấp vào tướng là sự thanh tịnh ; nhu hòa, nhẫn nhục là pháp hạnh Như Lai, là pháp giải thoát, từ bi hỷ xả. Tòa Như Lai là pháp không còn vướng bận vào cuộc đời, vào các pháp mê đắm thế gian, tâm đã sáng suốt an định. “Chúng sanh nào ở nước con đều được trụ vào chánh định”, tâm ta không còn một niệm điên đảo, không còn niệm ham muốn, đòi hỏi không còn niệm tham sân si, đó là thường ở trong thiền định, sáng suốt vô cùng, là đèn trí huệ thường ở trong giới định huệ. Nếu thường thấy niệm là thường giác, tâm bồ đề phải kiên cố, không sống với thập kiết sử, tâm sẽ thường chánh định. Nếu tâm không còn niệm ác là không sanh vào ba đường ác, không có cõi địa ngục, ngạ quỷ súc sanh, đã trở về hạng Người, Trời Thánh nhân, chư Thiên, tâm đã tự định, khi thấy biết ác niệm sai lầm là trí huệ. Nếu học kinh thuyết giảng mà trong tâm còn thập kiết sử, không kiến tánh, sự việc này là kiến thức thế gian chưa ngộ tánh. Đi vào biển thức mà không thấy pháp tánh, quốc độ tại tâm chưa thanh tịnh, gọi là tu ngoài tâm, là ngoại đạo, là đạo còn ở bên ngoài vì ngoài tâm không có Phật nào khác, chỉ tu cho pháp biểu diễn bên ngoài, rọi vào tâm vẫn còn đầy ấp nghiệp chướng của cuộc đời, gọi là nghiệp kiến đài. Phải dùng nghiệp kiến đài là gương lòng trí huệ thấy được các nghiệp của vọng trần mà tự tu sửa. Khi tâm khởi niệm làm lợi ích chúng sanh, muốn tin chắc điều đó phải dựa vào kinh Phật có đúng niệm của ta không. Vì kinh Phật là tha lực, nếu cứ theo niệm khởi của ta mà không chơn chánh như chơn lý, đem ra giảng giải giáo hóa mọi người, nghe phải theo y tâm mình, ràng buộc trong bảo thủ. Phải y pháp bất y nhân, phải so tâm niệm của ta cùng giáo lý Phật dạy, có đúng không gọi là khế lý khế cơ, xét căn cơ hiểu biết của ta có đúng chơn lý Phật không? Trình độ ta hiểu biết là trình độ của Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, xem kỹ hiểu biết của ta đang ở trình độ, quốc độ nào? Nếu cứ bừa bãi theo ý mình, nào là cúng kiến, coi bói, xin xăm, trị bệnh là giới cấm thủ y chỉ của Phật theo hạnh nguyện tu hành giác ngộ thoát luân hồi sanh tử. Vì theo đường lối sai lầm tự ta bày vẽ không đúng với đường Phật dạy. Nếu tu bên ngoài, theo tự ngã, dù làm nhiều việc bao nhiêu mà tâm niệm còn sai lạc thì càng nhiều kiêu căng, ngã mạn càng thêm lớn vì tự cho rằng ta đã tu nhiều, bên ngoài cho là Phật, mà lòng chứa toàn niệm ma ngoại đạo, đó là luôn niệm sự lợi ích riêng mình.

Nguyện hăm tám Thiên nhơn vũ trụ

Nghe danh tôi sắm đủ bỉ bàng

Hương, đăng, hoa  chúc huy hoàng

Tràng phan, bảo cái cúng dường Như Lai.

Tạo tháp tự, trì trai thanh tịnh

Làm việc lành tâm định tưởng tôi

Tưởng luôn trọn một ngày thôi

Chắc sẽ đặng nước tôi về liền.

Nguyện 29, trụ vào định tu.

Nguyện 30, nguyện vui như Tỳ Kheo sạch hết các lậu.

Nguyện 31, nguyện không tham chấp thân trụ là không tan, ở an trong chánh định; không tan hoại liên kết lại thành khối gọi là định thành khối ; luôn luôn ở trong chánh định, không bị những niệm dục vọng ham muốn, đòi hỏi, đã làm chủ được các pháp gọi là pháp chủ ; không bị vô minh rù quến mà chạy theo gọi là không bị đọa vào, tâm đã là Thế Gian Định Tự Tại Vương Như Lai ; niệm đã tự tại không còn lệ thuộc vào các mê vọng thế gian, định tất cả các pháp không còn phân biệt tham đắm, chấp nhiễm là Định Tự Tại Vương Như Lai, đó là thần lực sáng suốt của đức Thích Ca hóa hiện, dùng tướng, mượn danh từ có tên người để giáo hóa cho vua Vô Tránh Niệm đã sẵn có Đức Tánh Di Đà Thanh Tịnh, cùng tất cả chúng ta hiện nay đều nương theo quay về tánh giác là đức tánh tự có, tự lực, là vua các pháp, dẫn độ ta vào Cực lạc Tây phương. Nếu ta nhất quyết nương trí lực này thì trong khoảnh khắc sẽ trực vãng Tây phương ( chỉ trong giây phút thảy đồng về Tây ). Nói xuất gia là tâm niệm không còn niệm vào các pháp thế gian, không còn vướng bận chi cả. Tuy bên ngoài vẫn đối đãi làm tất cả việc nhưng không dính mắc một niệm đắm nhiễm sa đọa, không tạo sự trói buộc vào tâm. Xuất gia là ra khỏi nhà phiền não, việc gì cũng là tâm, không quan trọng vì các duyên đều là hoàn cảnh vô thường mà sự tu giác ngộ là đại sự nhân duyên, là việc lớn nhất của con người, không thể xao lãng. Tu là chánh giác thành Phật, không vì việc thế gian vướng mắc mà làm gián đoạn được, phải xứng đáng là con người tu hành chơn chánh “không còn nhiệt não, hưởng thọ an lạc, tâm an mát mẽ”.

Nhiệt não là nóng giận, phiền não, tham si nguyện dứt lìa. Dứt không phải là chết, mà có nghĩa vừa khởi niệm tham sân liền theo tánh giác dạy dỗ y giáo phụng hành, tức thời niệm quấy sẽ dứt niệm, không sanh nữa, định tu chơn chánh tự tại bình an. Giống như trẻ con vừa khởi lên đòi hỏi vật lạ, khóc la, nếu có cha mẹ rầy dạy, liền nín khóc nghe theo, đó là y lời dạy, chấp nhận, không ngoan cố dai dẳng, nghe được niệm lành giáo dạy liền bỏ thói hư không tái phạm “tâm được mát mẽ”. Tâm không sân si, đòi hỏi nên nhẹ nhàng thoải mái mát mẽ. Ăn cũng thoải mái, không đòi món ngon vật lạ, mặc cũng bình thường không vì bất như ý mà giận dỗi, buồn phiền. Tất cả niệm vì đòi hỏi mà sanh xúc thọ, mắt thích đẹp xúc thọ sanh ham muốn ; tai nghe êm dịu thích thú hương vị thơm, ngon; thọ vị ăn ngon  ngọt sanh thèm khát. Tu là không bị cảm xúc khống chế, không vì trạng thái thay đổi cho là chứng đắc. Từ bên ngoài đến nội tâm cũng không cầu đắc, gọi là vô sở đắc cố bồ đề tát đỏa, vì vô sở đắc nên nói là vô lượng vô biên. Những tâm định tu cứng chắc như Kim Cang, gọi là Kim Cang bất hoại nên đức Phật Thích Ca phát nguyện “dù thịt nát xương tan nếu không chánh đẳng chánh giác thề không đứng dậy”, tại cây bồ đề lúc thiền định 49 ngày là định kiên cố, không lay động, gọi là Như Lai ( không đến không đi như như bất động ). Không pháp nào quyến rũ được, không đắm đọa vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức “nguyện vui như Tỳ Kheo dứt sạch các lậu”. Lậu là tham lam, hẹp hòi, nhỏ mọn, phiền não, bực bội… nếu không còn các niệm này là dứt sạch các lậu. Hoàn cảnh nào cũng an lạc, bằng lòng, không khổ sở ; nếu mãi đòi hỏi, ham muốn mà không được như ý thì khổ vô cùng ; nếu đã dứt sạch các lậu, tâm đã thanh tịnh sáng suốt, trí huệ mới được mệnh danh là Tỳ Kheo. Nếu tướng là Tỳ Kheo mà tâm còn chứa niệm phiền não, tham, sân, si đố kỵ, tranh giành, chỉ là sự bên ngoài còn vướng trụ, chưa đúng là tâm Tỳ Kheo. Nếu tâm đã sạch các lậu hoặc là chứng được lục thông, không còn phiền não gọi là lậu hoặc. “Hưởng thọ an lạc” mọi hoàn cảnh buồn vui, vừa ý, bất như ý đều an lạc bằng lòng. Nghèo cũng an ổn, giàu cũng an ổn vì biết phước họa do nhân, kết quả các pháp thể hiện trên đời đều do nhân mà thành quả tốt xấu, ở bất cứ nơi nào cũng an lạc, gọi là thọ lạc là thường lạc. “Nếu còn khởi niệm tham đắm, tưởng nhớ thân sau”, là vẫn còn tiếp tục tham thân, cho là thân hiện tại không xứng đáng, quyết lòng làm nhiều phước để hưởng thân sau đẹp đẽ, sang trọng, quyền quý, nên kinh dạy nếu khởi niệm tham đắm thân sau thề không thành chánh giác. Phải tùy duyên, dù thân nào cũng nguyện giáo hóa chúng sanh không thối chuyển, có vô lượng Bồ Tát ở trong tâm thị hiện qua nhiều hình tướng.

Đức Phật qua nhiều kiếp hiện thân khỉ, nai, dã can, chim anh vũ nhưng thân nào cũng giáo hóa chúng sanh. Ta không đòi hỏi thân nào, không chấp vào tướng, chỉ sống với tánh giác. Nếu cần độ nơi nào thì hiện thân nơi đó nên đức Bồ tát Quán Thế Âm thị hiện tướng Quán Âm Đại Sĩ mọi người thường gọi là ông Tiêu chuyên giữ cửa chùa ( cửa tâm ), canh chừng tà ma quấy nhiễu, tượng trưng tại tâm ta có Quán Âm Đại Sĩ hằng canh giữ cửa tâm không để niệm tà ma quấy nhiễu, các niệm mê quyến rũ vào lục đạo. Muốn trưởng giả thị hiện thân trưởng giả, cư sĩ hiện cư sĩ, đồng nam hiện đồng nam, trời rồng, càn thát bà, dạ xoa… thân nào cũng nguyện độ khắp chúng sanh. Vì không tự ngã, ta không là thân nào cả nên gọi là tự tại thế gian. Thành Phật là tự giác, là thành tựu các pháp viên mãn giác ngộ giải thoát. Các pháp đều do nhiều duyên kết hợp mà thành, có danh từ Bồ Tát là kết hợp bởi các pháp giác ngộ, thường giáo hóa làm lợi ích chúng sinh nên được có danh là Bồ Tát thường giáo hóa tâm niệm chính mình. Vừa nghe có niệm nóng giận, sân si, liền giác, giáo hóa trở lại sự bình an, an ổn, từ các niệm tại tâm đó là Bồ Tát tự độ, tự giác giúp người được sáng suốt là giác tha. Ta có thân là do tứ đại hợp thành nên lớn vô cùng vô lượng, không giới hạn cho nên khi niệm vô minh sanh khởi nó cũng trùm khắp, tối tăm, trong tâm toàn sự ngu muội, không được một ánh sáng chơn lý nào chuyển hóa được gọi là cố chấp. Nên ta không chấp thật thân này là của riêng mình, là của đại thể vũ trụ sơn hà rộng lớn vô cùng, trùm khắp ; khi niệm vô minh sanh khởi thì âm u tất cả, lúc thanh tịnh thì trùm khắp quang minh ; chung quanh ta đất nước gió lửa là tứ đại, nhưng cũng có kiến đại, không đại và thức đại lớn vô lượng vô biên, rộng khắp bao trùm pháp giới. Vậy tứ đại không chỉ riêng ai, không của cá nhân nào. Ta phải biết thân đang ở cõi Ta-bà là thân huyễn, không thật là sắc pháp.

Tất cả 48 lời nguyện trong phẩm Vô Lượng Thọ nói về bậc Bồ Tát, chỉ đến người tu kiến tánh thật rõ ràng, một lòng tự tu sửa tâm niệm, không mê đắm các pháp thế gian, không trói buộc vào một tâm niệm sai quấy nào, biết thật thân này do huyễn hóa tạo thành bởi các pháp si mê, ái dục, lầm lạc mà thành. Còn bậc Bồ Tát vẫn có thân nhưng do phát nguyện độ chúng sinh mà thành. Cũng như vua Vô Tránh Niệm, do 48 đại nguyện mà có tánh đức A Di Đà, ta tu theo tánh đức A Di Đà cần phải biết.

Dĩ kiến sắc cầu ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai. Nếu thấy thân là ta, vật chất là ta, ta hay, ta giỏi, tiền bạc, nhà cửa, vợ chồng, con cái của ta, thương ghét, vui buồn là của ta, là người đó hành tà đạo, không thấy được tánh Phật. Các pháp đều do tâm niệm mà thành, người si mê do niệm sai quấy ; người ham tu do niệm sáng suốt mà sinh trí huệ. Có tâm niệm sám hối là biết chuyển hóa sẽ giác ngộ. Tu thì phải thấy ta sẽ niệm gì, nhớ gì, nghĩ gì? Đó là nghi tình, phải thấy thân tứ đại không thật, là bùn đen, ô trược, nhơ bẩn. Trong pháp tứ niệm xứ Phật dạy quán thân, thân là phương tiện, là phân bón cho sen nở ( sen vàng ), nhờ nương vào thân bùn sịn vượt qua các pháp thế gian mà hoa trí huệ được nở. Hiểu biết sáng suốt như vậy tự nhiên tâm thanh tịnh, tâm định sẽ có huệ, biết tứ đại là trùm khắp, nơi nào cũng có không mất đi đâu, không sanh già bệnh chết, các pháp vốn tùy duyên, không đến không đi thì an lạc giải thoát, nguyện nào cũng trọng về phần độ sanh, nếu tu mà không giác là chúng sanh chưa được độ. Những niệm tăm tối là vô minh ở trong ngục thép rất kiên cố ( chỉ đến sở chấp ), không có ánh sáng chơn lý giác ngộ nào lọt vào soi rọi cả ; sở chấp kiên cố này gọi là ngục a-tỳ ở tại niệm ngu muội. Thân là huyễn, thọ thì khổ, nếu có thân mà tâm mê muội thì khổ sở vô cùng, bị các pháp bức ngặt, tâm si mê nên lúc nào cũng đau khổ, não loạn như bị đày đọa, như tội nhân ở trong tù ngục. Khổ vì sanh già bệnh chết, đau đớn, khi tứ đại bất hòa ; khổ đau khi vợ chồng phản bội nhau ; đau buồn vì con cái ngỗ nghịch, chết chóc ; các pháp thế gian đều não loạn, tâm mê ở trong thân ngũ uẩn như tù ngục. Vậy mà khi sắp bỏ thân trả về cho tứ đại, cũng giống như được mãn tù đày, mà lại tỏ ra sợ sệt, than khóc, không chịu thoát cảnh tù tội đã được ân xá, giải thoát, thậm chí còn van lạy, cúng heo, gà, cầu được ở lại ngục tù để chịu đọa đày khổ sở, còn dùng tiền bạc mướn thầy làm phù phép để ở lại ngục tù. Điều này chỉ có bậc giác ngộ nhận biết thân là giả tạm, bị giam hãm nơi tù ngục. Ta không còn chấp vào tứ đại huyễn giả, là nguyện không tham chấp thân, nếu còn tham chấp thân vẫn còn phiền não, không thành chánh giác.

Nguyện hăm chín thiện nhơn mười cõi

Nếu dốc lòng qua khỏi bến mê

Hiệu tôi thập niệm chuyên bề

Lâm chung sẽ đặng sanh về Lạc bang

Trừ những kẻ hung tàn hỗn tạp

Cùng những người Phật pháp dễ khinh

Ai mang tội ấy vào mình

A-tỳ địa ngục thọ hình chung thân.

Nguyện ba mươi thiên nhơn cầm thú

Trong thập phương vũ trụ khôn lường

Trước đà tạo tội thường thường

Sau nghe danh Phật tỏ tường cung khai

Cầu sám hối trì trai giới sát

Nguyện làm lành nước Phật mong sanh

Lâm chung sẽ đặng an lành

Khỏi tam đồ khổ hóa sanh liên đài.

Nguyện băm mốt Tiên Người mười cảnh

Nghe danh tôi đảnh lễ theo về

Vui mà tu hạnh Bồ đề

Người người cung kính một bề tán dương.

Nguyện 32, nguyện 33, nguyện 34Khi con thành Phật, chúng sanh vào nước con được vô lượng căn lành, thân thể vững chắc như kim cang bất hoại, thân tâm đều có hào quang chiếu sáng, thành tựu hết thảy trí huệ biện tài, không cùng tận, rộng nói các pháp bí yếu, giảng kinh thuyết pháp tiếng như chuông vang, nếu không được vậy nguyện không thành chánh giác”.

Nguyện được Na-la-diên thân : Cõi Tiên có vị Tiên tên là Na-la-diên, sức mạnh bằng bảy con voi, tượng trưng người tu có năng lực là sức mạnh như voi. Nói về pháp là nói đến nguyện lực, niệm lực, định lực, huệ lực, tinh tấn lực là sức mạnh của trí tuệ ; nghĩa là khổ khó, gian nan nào cũng có khả năng chịu được, luôn vượt lên mọi khó khăn, khổ đau đó là nội lực của người tu ; sức định niệm rất kiên cố, dù sang trọng, sung sướng, uy quyền danh lợi thế nào cũng không đắm nhiễm là định lực.

Huệ lực là sức mạnh, sự sáng suốt không bị sức hút của bả lợi danh thu hút, làm mê đắm. Nguyện được Na-la-diên thân là nói sức mạnh định lực tu hành kiên cố như bảy con voi, vượt qua tất cả tà pháp, đạp phá mọi thành trì, vượt qua đầm lầy ô nhiễm, cám dỗ dục vọng thế gian, mà vô lượng kiếp vì mê lầm, ta đã từng xây dựng kiên cố nơi tâm. Là những niệm điên đảo loạn cuồng, thói quen của niệm sai lầm do huân tập, nhờ sức mạnh này phá hủy, chấm dứt mọi vô minh phiền não. Nếu xưa nay mãi niệm sống vào thập kiết sử vì ngu si tham đắm, thì sức mạnh Na-la-diên thân sẽ là trí huệ phá tan tất cả xiềng xích, trói buộc bởi vô minh. Nên có hình ảnh trong tranh minh họa đức Phật dùng hai tay đưa tảng đá lớn thẳng cao lên khỏi đầu là nói đến định lực của sức mạnh trí huệ không thể nghĩ bàn này. Dù cho tham sân si, phiền não, ngã mạn, tự cao rắn chắc như thế nào, sức mạnh này cũng đạp phá tan nát, còn như yếu hèn không thể thành chánh giác. Dù cho thân có già nua, yếu đuối nhưng tinh thần vẫn mạnh mẽ, cứng rắn, mạnh dạn sẽ chà đạp được tất cả phiền não, tham sân si, hủy diệt vô minh không còn tái sanh nữa, đó là định lực sức mạnh của trí tuệ sẽ phá tan. Với thân kim cang, trí tuệ biện tài, đầy đủ vô lượng, đã chứng ngộ pháp Phật, không còn sợ điều gì ở cuộc đời. Dù cho lời nói cao thấp, hơn thua, sâu sắc thế nào cũng đều biết đủ, thông hết, biết họ đang niệm vào cõi nào, họ là chủng tử loài nào, nên gọi là đa văn trí tuệ biện tài. Dù việc đời như thế nào cũng đều thông sáng, niệm họ ra sao, họ sẽ về đâu, biết rất tường tận. Với trí biện tài nói rất đúng pháp, không ngăn ngại, không sợ, nói chính xác, không nói sai, không nghĩ sai, không làm sai, đều y chánh pháp gọi là trí tuệ biện tài, là nguyện quang minh trí tuệ biện tài, thành tựu biện tài không cùng tận. .. Hạnh nguyện Phổ Hiền cũng phát đại nguyện như Đức Quán Thế Âm, tuy sanh vào thế giới khác, hằng sa ác thú hoặc thuyết pháp, nghe pháp hay hiện thần túc thông tùy ý, tu tập thảy đều viên mãn, vị ấy ở đâu đều có thể thay Phật diễn nói pháp yếu cũng như Phật, nhưng đó là do lời phát nguyện cũng như hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, hạnh Quán Âm Bồ Tát vì thấy chúng sanh đau khổ nên phát nguyện thay Phật độ chúng sanh, hiện thần túc thông, dùng trí tuệ, giảng nói pháp yếu của chư Phật. Nói pháp quá khứ, hiện tại, vị lai, chỉ tội đời trước quả báo ra sao, nói nhân hiện tại tạo phước ra sao, quả báo thế nào đều biết rõ. Phải biết tâm niệm quá khứ, hiện tại, vị lai theo dõi từng tâm niệm, biết các niệm đều ngưng nghỉ. Không phải nghỉ là hết niệm, mà ngưng nghỉ niệm vào phiền não sân si, độc ác, đấu tranh đã viễn ly, không còn nghĩ đến nữa, vì biết đó là tà niệm. Niệm khởi vì si mê, chạy theo sự tướng gọi là chúng sinh ; niệm khởi giáo hóa chúng sinh gọi là Bồ Tát. Chúng sanh mê khác với Bồ Tát vì thiếu sự giáo hóa, vậy Bồ Tát thường giáo hóa hiện thần túc thông, gần gũi, nhắc nhở chúng sinh hiểu biết sáng suốt từng niệm nên được nhất sanh bổ xứ chánh đẳng chánh giác.

Nguyện băm lăm các hàng Bồ Tát

Muốn cúng dường chư Phật đâu đâu

Hoa hương anh lạc trân châu

Liền đi khắp đủ vừa hầu bữa ăn.

Nguyện 36 nguyện giáo hóa tùy ý, tại sao gọi là tùy ý? Nhờ nhìn vào tánh thấy rõ được tâm niệm chúng sanh. Tùy ý lựa pháp nào ứng cơ, tùy hoàn cảnh, tùy tâm niệm, căn cơ của chúng sanh, tùy sự mê muội mà Bồ Tát chọn lựa pháp để giáo hóa, không vì quyền lực thế gian mà bắt buộc theo ý riêng của ta, sắp đặt đó là ý ỷ lại. Tùy theo sự u tối, thấp hèn của chúng sanh mà dùng pháp mà dạy dỗ. Tham phải dùng pháp nào ; sân si dùng pháp nào ; phiền não, bỏn xẻn… dùng pháp nào gọi là tùy bệnh mà cho thuốc. Như pháp lục độ ba-la-mật là bố thí, dạy ta chuyển hóa niệm tham lam, ích kỷ, nhỏ mọn, đê tiện, tập dần để trở thành tâm cao thượng, vượt lên cao. Vì mê muội thường khởi niệm chúng sinh gọi là niệm vô minh. Nên niệm vô số buồn phiền, giận, ghét, đấu tranh mãi chất chồng, kết chặt, sân si, phiền não, cứng chắc không co giản, phải dùng niệm đến sự bố thí là pháp buông xả, thả lỏng ra không còn trói buộc, nhờ xả bỏ nên tâm được hoan hỷ.

Hạnh nhẫn nhục dạy chúng sanh khi khởi niệm liền nhớ đến tánh nóng nảy, bực dọc, muốn sát hại, chém giết, dạy hạnh nhu hòa lìa niệm ác, lướt qua các chướng nạn, sân si làm bức bách nơi lòng, bỏ tánh khó chịu, phải tự chịu đựng nên tùy ý công đức sự kham nhẫn mà giáo hóa. Nếu giáo hóa không biết tùy ý, cứ tùy vào sự ngã mạn, tự cao, hách dịch, ỷ lại, bảo thủ theo ý xằng bậy, ích kỷ của tâm niệm mình là đi ngược chân lý Phật, là không tùy thuận chúng sanh, khi đã thông suốt toàn vẹn gọi là bậc chánh giác.

Tự tánh chứa muôn pháp, tự tánh làm được tất cả, sự diệu dụng rất linh hoạt, có khả năng biến hóa vô lượng, không pháp nào là không thọ, nên gọi là tha thọ dụng. Hiếu thảo có nhân nghĩa, bất hiếu vô nhân, thương, ghét, vui, buồn v.v… đều từ tự tánh. Trong chuyện thời đức Phật Thích Ca nói về tiền thân Ngài, có một kiếp là Chim Anh Vũ, vì hiếu thảo nên hằng ngày thường tha mồi về nuôi mẹ mù đui. Chim tượng trưng cho loài bay cao, tự do bay nhảy, là chỉ trong tự tánh ta cũng có những niệm cao thượng, tự do. Anh là sự sáng suốt tinh anh, giác ngộ. chỉ đến gió bão giữa cuộc đời, dù nơi biển khổ Ta bà, cõi dục trần đầy dẫy khổ đau, cuồng loạn nhưng trí tuệ là hào quang tinh anh vẫn hằng soi rọi gọi là tánh giác. Mẹ là tự tánh thường sanh muôn pháp, vì sanh niệm mê lầm gọi là mù đui. Chạy theo pháp thế gian đấu tranh giành giựt, tạo nghiệp không ngừng, mãi gieo nhân đau khổ vào tâm địa, bị đọa đày trong tam ác đạo.

Các pháp thiện lành do đã tự giác gọi là pháp bảo. Hằng ngày ta tu tập như Tứ Niệm Xứ, Từ Bi Hỷ Xả, 37 Phẩm Trợ Đạo, Bát Chánh Đạo Phần, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thiên, niệm Thí, niệm Giới, niệm Xả là Thất Bồ Đề Phần, đó là mồi mà niệm tự giác ( chim anh vũ ) tha từng phần đem về nuôi mẹ, là tự tánh mù đuôi được giác ngộ trong sạch, sáng suốt. Nói đến tiền thân nghĩa là đức Phật muốn dạy ta về túc mạng minh, nhớ lại những niệm sáng suốt, tốt đẹp đã từng tu tập, đã từng hiếu thảo.Tự tánh từng được nuôi dưỡng bằng niệm tự giác là giác từng phần, vì phá một phần vô minh chứng một phần pháp thân. Vậy ta là người tu Tịnh độ hãy dùng pháp cao thượng như Chim Anh Vũ tha mồi về nuôi mẹ, là tự tánh ta hằng ngày, là sự công phu, tu tập không gián đoạn. Ta thường săn sóc tự tánh bằng tín nguyện hạnh, giới định huệ là pháp an lành giúp no đủ trí huệ, càng ngày tánh ta càng trong sáng, tự nhiên, không còn vướng mắc, không niệm vào các pháp thế gian là đã sống được với chơn tâm. Vì không còn niệm phân biệt, khi đối cảnh không duyên theo các pháp của cuộc đời, tâm tự thanh tịnh, là nhất tâm không loạn cuồng, điên đảo bởi vọng niệm, tà niệm nữa, gọi là TỰ TÁNH DI ĐÀ VÔ BIỆT NIỆM BẤT LAO ĐÀN TRỰC VÃNG TÂY PHƯƠNG. Tổ dạy ta, trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật, nghĩa là ta phải quay vào trực nhận ngay tâm, tu tại tâm (nhân tâm là tâm người), thấy được tâm, lìa các niệm mê thành giác, vì Phật là tự giác gọi là thành Phật.

Bồ tát phải dùng niệm sáng suốt tự mình mà giáo hóa các niệm sai lầm của chúng sanh tại tâm mình đến khi giác ngộ giải thoát. Phải xa lìa ác niệm và tà niệm.

 

 

Vậy ác niệm là gì? Tà niệm là gì?

Tà là đạo ngoài, là ngoại đạo, là các niệm cứ quanh quẩn theo hoàn cảnh cuộc đời. Nếu còn niệm quẩn quanh, dù đọc hết kinh cũng không ích lợi. Niệm là nghĩ nhớ chấp chặt vào việc đời như chuyện chồng vợ, nhà cửa, của cải, giàu ngèo, hơn thua, phải quấy, nên hư, tốt xấu, mãi quanh quẩn trong suy nghĩ, tính toán trong đầu là ác niệm. Còn tà niệm không thể niệm chánh được. Nếu thấy niệm khởi còn nhớ đến thế gian là còn trụ pháp ác vào tự tánh.

Tự tánh là gì? Tự là sẵn, tự có của mình, có tự nhiên trong lòng. Tánh là gì? Là tánh chơn như có sẵn. Tánh điên đảo là tánh tham sân si, tánh đòi hỏi, tánh của thói quen huân tập nhiều đời nhiều kiếp, không bỏ được gọi là tánh thế gian là tà tánh, không gọi là chơn tánh, tánh Phật gọi là chánh giác. Người tu học phải tự soi vào tự tánh, tự quán xét coi còn tà tánh hay không, nếu thấy đang sống với tà tánh thì nên theo lời Phật dạy buông bỏ tánh thế gian mới thành chánh giác. Tà tánh gọi là tà niệm, nếu mãi xoay vòng tà niệm không thể nào trở về chánh niệm được. Nếu muốn tu cho tâm được thanh tịnh mà cứ nhớ nghĩ về thế gian thì không chánh giác. Ta tu tịnh độ mà không quyết lòng bỏ tà niệm thì tâm không tịnh được. Phải có tam tư lương giống như người chuẩn bị đi xa phải lo lương thực, tiền gạo, quần áo trước khi đi. Nếu không đủ hành trang không thể đi được. Tam tư lương là chuẩn bị con đường về Cực lạc. Nếu không dùng pháp này người ra đi học đạo là dại khờ vì chưa có tam tư lương. Đó là lương thực, dụng cụ cần thiết cho người tu tịnh độ, nếu không được điều này thì đi vô ích.

Tam tư lương là tín nguyện hạnh.

Tín là lòng tin kiên cố, nguyện là lòng kiên quyết nhất định thề không dời đổi gọi là nguyện tha thiết. Hạnh là tất cả hành động đều tập trung về tâm niệm chính mình.

Sự tin có tà tín và chánh tín, tà tín là mê tín, tin chuyện linh ứng bên ngoài như vật linh cho là có hào quang ngũ sắc, có sao xẹt, các việc biến hóa của thế gian là tà tín ; lạy Phật cầu xin ban phước cho bình an, cho tiền bạc… là tà tín ; tụng kinh được giàu sang là tà tín. Chánh tín là tự tin chính mình, đức Phật đã dạy các ông hãy tự đi bằng đôi chân chính mình, các ông hãy lập cho mình hòn đảo riêng tư, nương tựa vào chính khả năng chính mình là chánh tín, không nương dựa vào ai. Phật nói người thế gian nương vào cha mẹ, nương vào của cải tài sản, nương vào uy quyền chức tước, nương vào vợ chồng, các pháp đó đều không bền, không chắc. Của cải sẽ mất, uy quyền sẽ bị tước đoạt, cha mẹ anh em vợ con bị tai nạn bệnh chết, rốt cuộc ngày đi của ta là bỏ thân xác, sẽ không ai theo cùng, chỉ có nghiệp do niệm khởi thiện ác theo ta như hình với bóng, ta hãy tin vào khả năng chính mình không nương dựa vào người khác. Phật dạy dù ta có nương vào lời dạy của Phật, là nương vào chân lý để tự tu học, trở lại nương chính mình là nương vào tánh giác, trí huệ sáng suốt, tự sửa chữa những niệm sai lầm đó mới là khả năng trí huệ chơn như của tự chính ta, là đạo tự giác ngộ lý chơn. Ta có đủ khả năng đọc tụng, sao chép, ghi lại tam tạng kinh điển theo lời Phật dạy ; nếu không diệu dụng được khả năng này dù có đến với đạo tràng, đến với kinh điển, khóa niệm Phật, tu thiền mà không thấy các niệm xấu ác sinh khởi, kịp thời tự giác sửa chữa cho tâm trong sạch, mà làm bất cứ việc gì ở thế gian cũng là vô ích. Lục Tổ dạy “không ngờ trong tâm có tất cả”, trong tâm có khả năng thành Phật, thành Tiên, thành Thánh, thành Thần, thành A-tu-la, ác quỷ đều thành được. “Không ngờ trong tâm chứa muôn pháp”, pháp thế gian làm được, pháp xuất thế gian làm được. Vậy mà ta cứ mãi tin bên ngoài nên không có khả năng thành chánh giác. Thời nay kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác được nhiều người biết đến và tâm đắc, những ý chỉ Phật đã dạy trong kinh ta chưa thực hiện được. Nếu ta không thực hành được, không thấy tự tâm, không chứng ngộ, không kiên trì, không quyết lòng tu học, không đem hết lòng tin là ta có khả năng, nếu không tu tập, không làm được thề không thành chánh giác. Đây cũng là lời tuyên thệ của  ta, của người tu nhân học Phật. Tự ta phải làm được, thực hành được như nguyện là y pháp. Ta phải đặt đức tin ngay trong tâm, phải tự hỏi lại lòng có thật sự tin nơi mình, một niềm tin chơn chính, không nương dựa vào nhà cửa,  tài sản, vào người thân mà hãy tự nương tựa vào trí giác ngộ tự chính mình, buông bỏ tất cả vọng trần ra khỏi tấm lòng không hối tiếc. Nên khi ngồi dưới cội bồ đề Phật nguyện rằng “Dù cho thịt có nát, xương có tan, nếu đạo không thành ta thề không đứng dậy” đó là lời phát nguyện, tuyên thệ của Đức Phật và cũng là phương tiện gương mẫu để lại cho chúng ta ngày nay, nương theo hạnh nguyện, là tha lực cho ta tinh tấn tiến vào chánh quả.

Ta tự dò xét tại lòng sẽ tìm thấy được cách tu của ta như thế nào. Nếu đến với sự tu hành phải thật tu, thật học, không tán thán sự nghèo giàu, phải nói đến sự phát huy trí tuệ, quyết lìa bỏ chuyện phàm phu tục tử thế gian tạm bợ, đi trên đường chánh đẳng chánh giác, tâm lực phải dũng mãnh kiên cường, quyết định can đảm, không sống với tâm yếu hèn, nhu nhược, vì Phật dạy người tu phải đại hùng, đại lực, đại từ bi. Tâm yếu ớt sẽ vì tham lợi cuộc đời, tham sự sung sướng, không thể vượt qua mọi đam mê, cám dỗ của pháp trần.

Nói về tín, ta tự hỏi lại ta, phải tự tin tưởng chính đức độ của ta. Tu tại tánh, tại tâm nên coi lại tâm tánh là có yếu hèn, nhu nhược, bảo thủ, keo kiết hay từ bi hỷ xả, cao thượng, rộng lớn, nên xét kỹ coi tánh ta là tánh gì? Nếu không thấy tánh thì tu không lợi ích gì  cả. Tu phải chơn chánh để không uổng phí đời tu ; không sợ khó khăn, dù nghèo đói lòng vẫn cương quyết vượt lên, không nản chí thối lui, đó là đức tánh tự tin tam tư lương. Phật đã dạy, phải triệt để tin ở tự tánh ta, nếu có tự tin mới phát nguyện, tự nguyện thành chánh giác. Giác là sáng suốt không bợn nhơ, dù chưa thành nhưng phải có chí cương quyết là nguyện thiết, nếu không thiết tha thì không thành được, “đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Nếu không đức tin cho là khó thì Phật không thành, Tổ không thành, không chuyển hóa được niệm sân si, phiền não thành niệm sáng suốt của niệm Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát được. Nếu khó thì không tu học được vì Phật thành được chúng sanh thành được, Thánh với Phàm chỉ một bổn lai, khác nhau kẻ tỉnh người mê, chớ ai thì cũng như ai đủ hình. Nếu tu học kinh mà còn chấp ngã, chấp tướng ý kinh sẽ tăm tối, chấp ngã tướng là tham sân si, tham tướng của vật chất, là ngã của ta, có nhà cao cửa rộng, có sự ăn ngon mặc đẹp cho là sung sướng vì có người phục vụ, nghĩ nhớ các pháp ô nhiễm, đem vào  tâm khởi niệm vô minh, u tối. Kinh dạy lìa tất cả các tướng vì tu không còn ham vật chất thế gian, hưởng thụ sung sướng hạnh phúc cuộc đời. Phật dạy tu là để giác ngộ giải thoát, buông xả vật chất thế gian, biết các pháp là vô thường, tạm bợ. Sáng suốt như thế, lòng thiết tha sự giác ngộ, biết đó là quan trọng.

Giác ngộ là gì? Là trí hiểu biết thông tất cả tam thiên đại thiên mười phương thế giới, đều biết tất cả đau khổ của chúng sanh tại tâm do đâu mà có. Tâm được trí huệ sáng suốt chiếu soi, tu hành mới ra khỏi biển khổ, sông mê, nếu lòng còn ngăn ngại không can đảm phát nguyện, Phật nói dù được làm người mà không có phần, vì không lìa bỏ được đòi hỏi của cuộc đời. Trong Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh, ta tự quán xét rọi vào tự tánh sẽ rõ được điều này, nguyện phải cương quyết gắn chặt vào lòng nhất định làm được, không nguyện suông rồi bỏ qua, đó là tự dối lòng, còn dối chính Phật tâm, điều này không phải là chánh niệm.

Hạnh là hành động, hành động luôn luôn đi cùng trí tuệ, thường theo dõi những hành động tư tưởng của ta, trí huệ luôn dò xét thấy hành động có sai trái nhiễm ô không? Chữ niệm Phật là vô lượng nghĩa chớ không chỉ có tên A Di Đà Phật khô khan ngắn ngủi theo sự hiểu của trí phàm phu gọi là đủ. Phật hiệu A Di Đà cho  ta niệm nương vào mà nhớ về tánh giác, lúc nào cũng niệm A Di Đà Phật nghĩa là lúc nào cũng giác. Khi đối diện, va chạm thế gian nếu bị nặng nhẹ, chửi mắng, hơn thua, giành giựt phải thấy liền tánh giác, sáng suốt liền niệm nhớ đến pháp nhẫn nhục nhờ giác ngộ, nên có niệm thương yêu, tha thứ, từ bi hỷ xả đó là chơn chánh niệm Phật. Còn như thường lần chuỗi niệm Phật mà khi đối với cảnh thế gian lòng còn bức xúc, buồn phiền, còn đòi hỏi dục lạc của thế gian, muốn được như ý mình cho thỏa thích thì tánh giác sẽ lặng yên, gọi là Phật tánh đã tịch diệt. Mặc cho tà niệm quấy nhiễu, rối bời, hành động lần chuỗi niệm Phật mà không có tâm thành, tâm rảnh rang, không giác, đã chạy vào ác đạo. Nếu tất cả hành động của ta có tánh giác gọi là hành trong chánh niệm. Trong các việc làm, suy nghĩ, tính toán đều phải sáng suốt là hành theo tánh giác. Nếu không giác được mọi hành động, không kiểm soát được tâm niệm, dù hành động là lạy Phật, niệm Phật, tâm vẫn hành trong mê muội, dục lạc, mê đắm. Phải giác ngộ từng hành động, từng niệm thế gian sang hành động của niệm trí huệ là đã đủ tam tư lương, sẽ y pháp toàn vẹn trong 48 lời nguyện. Vì đã lìa được tứ tướng, ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, không còn gì là ta, thân là của ngũ uẩn tạm bợ ( ngũ uẩn giai không ) chỉ là tứ đại.

Tứ đại không là ta, vậy là ai? Ta thắc mắc ai niệm Phật? Đã biết tứ đại không là ai, tứ đại là chung vạn vật, đất nước gió lửa không phải là ta. Chỉ có niệm do duyên hợp mà thành mà có tướng thôi. Nếu hỏi ai niệm Phật, vô ngã tức Niết Bàn, không ai niệm cả, chỉ có sự sáng suốt thường soi sáng tất cả các niệm gọi là Phật niệm (niệm giác). Nếu giác biết được các pháp là sáng suốt, bình đẳng trang nghiêm thanh tịnh không còn phân biệt gọi là vô biệt niệm ( tự tánh Di Đà vô biệt niệm ), các niệm đã trang nghiêm bình đẳng giác. Nếu niệm khởi còn tâm giận hờn, buồn khổ, trách phiền, thương yêu, thù oán mãi, niệm niệm tất cả đều niệm vào pháp phàm tục thì không đúng sở hành của Tịnh độ. Nếu tướng chấp tay, miệng niệm theo âm thanh A Di Đà Phật, phải hiểu danh từ này là vô lượng nghĩa, vô lượng công đức nên áp dụng thực hành bằng tánh giác, bằng trí tuệ, vì Phật mượn tướng để chỉ tánh cho chúng sanh, dùng hành động để thấy được tánh hạnh, thấy được các niệm trong tâm, niệm sáng suốt xuất thế gian hay còn niệm thế gian phiền não, sân si, tranh chấp. Pháp niệm Phật là tạng bí yếu, rất sâu kín, mầu nhiệm, không thể niệm ngoài miệng mà giác được. Lúc miệng niệm phải có hạnh Quán Âm ( quán vào các âm thanh nghe lại trong tâm ), năng lực Đại Thế Chí ( chí lớn vượt qua các pháp mê muội thế gian ). Nếu như mãi niệm ngoài miệng mà giác được dễ dàng thì đức Thích Ca đâu phải nhọc công giáo hóa dạy dỗ chúng sanh. Ngài đã dùng mọi phương cách, tạo phương tiện thuyết pháp trong 49 năm ròng rã, Ngài nói đến thế gian chỉ vì đại sự nhân duyên, chỉ cho chúng sanh thấy được tánh Phật. Vậy niệm Phật là phải thấy tánh Phật đang ngự trị tại tâm ta, phải nguyện giải Như Lai mới là chơn thật nghĩa.

Phật lìa bỏ các tướng thế gian là cung vàng điện ngọc, lìa bỏ tướng vợ con vật chất, lìa tướng hưởng thụ thương yêu, lìa tướng tham sân si, phiền não… vì biết đó là giả tướng, còn chơn thật tướng là chánh đẳng chánh giác. Tu thấy tánh thì không bày vẽ, phô trương danh tướng bên ngoài, mà chỉ cần đầy đủ tam tư lương tín nguyện hạnh, sẽ thành công bất cứ ở nơi đâu, làm việc gì tâm niệm vẫn sáng suốt, trí huệ nơi đâu cũng có đạo tràng tại tâm. Đức Phật Bổn Sư đã thành công giữa rừng, nơi gốc Bồ đề mà thành đạo. Ta không khởi tâm đòi hỏi bất cứ gì ở thế gian cả, nói đến pháp đã thiền thất là đã phá đạp đỗ sự vô minh bày biện, đã gây phiền não thêm nhiều niệm thế gian. Ta tu tại tâm với lòng thanh tịnh, không còn khởi niệm phân biệt vào các pháp thế gian mới gọi là thật tướng niệm Phật, phải giác nhớ trí huệ sáng suốt thường còn. Khi thành đạo, Đức Phật không bày biện, phô trương một hình thức nghi lễ nào, Ngài chỉ nhập định, thấy từng tâm niệm mà chuyển hóa tại tâm Ngài sáng suốt thành chánh giác.

Kinh dạy, tự tánh là quốc độ, tự tánh là cõi nước, tự tánh là bồ đề, ngoài tự tánh không quốc độ, không cõi nước, không thế giới, không bồ đề nào khác. Kinh nói “chúng sanh vào nước con”, nước con chính là trí huệ, là tự tánh sáng suốt của chính ta. Cõi nước, quốc độ có tự tánh là không nói thế giới quốc độ nào cả. Người tu thiền cho là không còn phân biệt, không còn biết gì gọi là vô trí, là hôn trầm. Tu phải hiểu biết sáng suốt, trí huệ thường chiếu, biết tất cả pháp mà không vướng trụ pháp nào cả. Khi niệm khởi lên, suy nghĩ, tìm hiểu tư tưởng là trong lòng đang nói lên dự tính điều gì, hay có âm thanh rầm rì trong tâm không duyên theo cho là có người nhập, người dạy đó là các niệm khởi. Nó vô cùng vô tận, nếu không biết cứ tưởng là có người dạy, nhưng do niệm vô minh xúi dục ta đọa vào những hành động sai lầm. Phải nghe bằng trí, xác định tư tưởng, niệm chính xác có còn mê lầm hay đã giác ngộ, ta phải dùng trí tuệ làm chủ các pháp. “Khi chúng sanh vào nước con, nếu muốn ăn uống” không phải thức ăn thế gian, mà là thiền duyệt thực, vì món ăn nuôi dưỡng trí tuệ, như khi nghe thuyết pháp xem kinh được sáng tâm là món ăn dùng nuôi dưỡng trí tuệ, không ăn bằng vật chất đòi hỏi của thế gian. Muốn uống là uống cam lộ vương, uống những chất ngọt tinh ba của pháp bảo mát lành trí tuệ, ăn bằng đức độ, ăn đạo mầu chơn lý mà xưa nay ta đã bỏ quên, giờ đã giác biết được nên ăn vào tinh thần cho được thắm đượm, ăn trong mầu nhiệm sáng suốt, không ăn theo thế gian là đòi hỏi ham muốn vì dục lạc thèm khát. Y phục là quần áo, không phải là vải vóc thế gian, the lụa mà là y báo. Tâm thiện lành sẽ được y báo, làm thiện là chánh báo, sẽ có y báo trang nghiêm của đức độ thiện lành. Nếu hành động là việc ác chánh báo là nhân, quả là y báo là họa.

Kinh dạy nếu chánh báo của hạnh Thinh Văn thì có y áo của Thinh Văn, nếu y hạnh Duyên Giác sẽ có y áo của Duyên Giác, y hạnh Bồ Tát sẽ y áo của Bồ Tát. Viên mãn chánh báo Như Lai sẽ mặc y Như Lai, thuyết pháp Như Lai, ăn cơm Như Lai, ngồi tòa Như Lai. Cơm Như Lai là cơm Hương Tích, cơm từng phần do chánh báo mà có y báo. Ta thực hiện ngũ căn là ăn cơm ngũ căn, ngũ lực là ăn phần cơm ngũ lực, cơm phần thất bảo là thất bồ đề phần, bát chánh đạo phần là phần cơm bát chánh là con đường dẫn ta về chánh đạo. Tất cả là cơm Hương Tích, niệm nhớ đến cơm phần nào, tu hạnh nào là xây dựng chánh báo sẽ y pháp tu mà có, muốn mặc áo nào tùy ý, khỏi may khỏi sắm. Ta ăn vào tinh thần nuôi dưỡng thánh tâm bằng cách niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm Thiên, niệm Giới, những phần cơm này trong kinh Pháp Hoa phẩm cúng dường cơm Hương Tích, Phật dạy rằng nếu người giác ngộ ăn cơm vào sẽ tự tiêu liền ( nghe được pháp nhanh chóng thông đạt ), có người căn trí chậm chạp, chậm hiểu biết nói là ăn cơm vào từ một hoặc hai ngày mới tiêu, có người mười ngày, có người một tháng, có người một năm hoặc hai năm, có nhiều người ăn suốt đời vẫn không tiêu, nghĩa là người căn tánh lẹ làng, nhạy bén khi nghe được lời nhắc nhở, dạy dỗ của thiện tri thức hay bậc Thầy, nghe qua liền tỏ ngộ, cũng như khi niệm khởi sai lầm nhớ đến các pháp Phật dạy liền giác, không chạy theo niệm mê vọng là được tiêu nghiệp. Người căn trí chậm chạp phải dùng cách dẫn giải nhiều lần, cứ mãi chấp chặt vào tướng thế gian, nuôi dưỡng sự mê muội, u tối nên suốt đời vẫn vô minh không giác được nên nói là ăn được cơm Hương Tích nhưng không tiêu. Khi gặp được chánh pháp không nên lơ là, xao lãng thì uổng phí cho đời tu học của kiếp người, Phật dạy có được thân người rất khó.

Các đồ dùng tùy ý liền đến” nghĩa là người ngộ được Phật trí thì đa phương tiện, thấy chúng sanh đau khổ biết dùng pháp để giáo hóa nhanh lẹ, uyển chuyển, tùy duyên hóa độ. Nếu căn Thanh Văn phải dùng phép gì, Duyên Giác dùng pháp gì, gọi là đa phương tiện. Muốn sử dụng pháp gì thì tùy ý nơi trí tuệ tùy có mà giảng nói, nên Phật tùy bệnh mà cho thuốc. Kinh Pháp Hoa nói đến xe hươu, xe trâu tất cả đều là phương tiện được tha thọ dụng, y dụng, đều theo sở cầu, sở muốn của người cần sử dụng không khó. Ta phải hiểu thật sâu vào chơn tánh, không thấy việc thế gian là tướng mà tu học mong được trí huệ, không nghe việc đời, mà phải lắng nghe tận đáy lòng gọi là hạnh lắng nghe, tầm thinh cứu khổ, sẽ có muôn ngàn pháp bảo hiện ra trong cõi Cực lạc tại tâm : có đền đài, cung điện, ao thất bảo, thất bồ đề phần, bát chánh đạo phần, có cây ngọc, lưới vàng, tiếng khua vi diệu muôn ngàn nhạc âm, bằng âm thanh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thiên, niệm Thí, niệm Giới, nếu cứ niệm pháp thế gian vô minh sẽ chướng ngại Cực lạc tại tâm. Thấy cõi Cực lạc phải bằng ngũ nhãn, phải có Phật nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn, không nhìn bằng tục nhãn mà thấy được. 

Muốn khởi niệm cúng dường mười phương chư Phật”. Người đã giác ngộ cúng dường bằng gì? Cúng dường là nuôi dưỡng Phật, tức là nuôi dưỡng tánh giác, nuôi dưỡng trí tuệ, không nuôi dưỡng các niệm độc ác, không nuôi dưỡng tham sân si, phải nuôi dưỡng đức hạnh từ bi, nuôi dưỡng hạnh đức bằng trí huệ, thấy chúng sanh đau khổ phát lòng đại bi, đại ái mà sang sẽ gọi là cúng dường chư Phật. Đốt thân là nói đến người hành đạo Bồ Tát giác hữu tình, không vì lợi ích riêng tư mến giàu, khinh nghèo, đó là tâm ích kỷ vì tư lợi. Ngày xưa thời đức Phật, Ngài A-nan gặp chuyện không vừa ý bèn thỉnh Phật đi nơi khác. Phật trả lời, cõi thế gian không tấc đất nào an ổn cả, nơi nào cũng đầy đau khổ, tội lỗi, vì lương tâm bậc y vương (thầy thuốc) nguyện trị bệnh chúng sanh thì không nên sợ khổ cho bản thân. Vì lòng đại bi không tiếc thân mạng, nguyện đốt thân là bản ngã ( đốt thân là đốt bản ngã ), đốt luôn niệm tư lợi riêng tư chỉ nhớ đến chúng sanh là vô ngã, một lòng cứu khổ, ban vui cho mọi người, là đốt thân cúng dường chư Phật. Nếu bố thí mà còn niệm tham thân là còn bản ngã. Nhìn tất cả vạn pháp không khởi niệm tham, không cảm thọ pháp, nên pháp không vướng mắc, là tâm kim cang bát nhã ; không nhiễm ưa thích, ghét thương, buồn giận, khen chê đó là nhìn bằng pháp nhãn.

Niệm Phật bằng trí tuệ là dụng công kiểm soát được tâm, là Bồ Tát, là thường niệm nhớ đến sự tỉnh thức của tự tâm.

Niệm pháp là nhớ lời Phật thuyết đưa ta đến điều gì gọi là niệm. Tâm nương vào thân làm sự tướng nơi thế gian, Ta bà là ngũ trược ác thế, thân nương cảnh vô thường niệm vào cảnh trược nên tâm mê muội trược theo gọi là ô nhiễm. Thân trược, tâm trược gọi là phiền não trược, nên mạng cũng trược, tất cả đều trược nhiễm bởi ô uế nên không thuận với đường giác ngộ giải thoát.

Nếu tu thiền, tu mật, tu định mà không nhiếp tâm vào thiền định, không dùng hào quang trí huệ chiếu soi, biết rõ được các niệm sáng suốt nhập vào danh hiệu Thích Ca Mâu Ni là chỉ đến pháp thiền định vì Thích Ca Mâu Ni mật nghĩa là năng nhân tịch mặc. Năng là năng lực, khả năng con người đến với từ bi trí tuệ. Tịch mặc là sự vắng lặng, sáng suốt trí tuệ của thiền định. Tâm niệm ta không tịch lặng, thanh tịnh được vì mê muội cảnh thế gian nên vướng bận làm ô nhiễm, khó vào chánh định. Tứ quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, bốn quả này đưa ta trên đường bát hánh đạo, là đường vào tứ thánh sống hạnh Thánh Nhân. Ta phải biết rằng học Phật là dùng sự diễn lý, phải dùng hạnh đốt thân cúng dường chư Phật. Kinh Pháp Hoa đức Phật tạm mượn sự tướng Gã Cùng Tử, mượn sự diễn lý, mượn hình ảnh Gã Cùng Tử diệu dụng chỉ đến tự tánh, trí huệ của mỗi con người. Sự đốt thân là chỉ đến cách hành đạo Bồ Tát, là bồ đề tát đỏa giác chúng hữu tình, đem sự tu tại tâm niệm ta, sáng suốt giáo hóa cho tất cả chúng sanh tự tâm ta. Nếu giáo hóa chúng sanh bằng sự tướng, còn nghĩ đến lợi ích riêng, tâm sẽ đọa vào đường ác, nếu còn các điều ác tại tâm là còn niệm nhớ đến lục đạo. Bỏ mình nguyện làm lợi ích cho mọi người, là pháp diệt trừ bản ngã. Phải tự thu dọn những niệm tham muốn sanh diệt tại tâm, luôn tìm cách đem lợi ích chung cho người là Bồ Tát đốt thân cúng dường chư Phật. Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm Thiên, niệm Giới là thường nghĩ nhớ, soi rọi các vọng niệm ; là nhớ đến sáu pháp nơi lòng, phải hằng tư duy, lắng nghe đọc tụng giúp lợi ích cho tự tâm ta, chia sẻ, sáng suốt cho mọi người đều biết cách niệm Phật.

Niệm Phật có hai phần, là tưởng nhớ Phật và niệm tự tánh Phật. Tưởng nhớ Phật là tưởng nhớ đến bậc tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Tưởng nhớ đến công đức Phật là hạnh xả bỏ đã rời hoàng cung, ngai vàng, điện ngọc, công đức này người thế gian không làm được mà Thái Tử Sĩ Đạt Ta đã làm, đó là chơn lý là chí nguyện thiết tha, chọn đường tu. Tu không chỉ thừa hưởng an vui cho riêng mình mà Ngài muốn chọn con đường cứu khổ cho chúng sanh, giải thoát mọi mê lầm, tăm tối, đem sáng suốt cho mọi người, chớ không riêng mình. Như sự bắt cầu vì muốn tạo dễ dàng đi lại của nhiều người, chớ không chỉ cho riêng mình đó là niệm nhớ đến công đức Phật. Ta hằng nhớ đến, tự giác, chớ không ai bắt buộc ta cả. Tự nơi sự sáng suốt chính ta tự chọn lấy, phát tâm tu là muốn thấy sự thật của cuộc đời, không ai ép cả. Nếu nhìn được sự thật của cuộc đời là đã tự giác, gọi là bậc giác ngộ. Nếu nhận các việc bên ngoài đến thế giới các cõi trong tự tâm là ta đã thấy được Phật pháp bằng huệ nhãn, nên nói rằng vạn pháp đều là Phật pháp. Mắt phàm phu mê muội chỉ thấy thế gian pháp vì không thấy rõ sự thật của cuộc đời. Nhìn bằng nhục nhãn phân biệt con người cho là đẹp xấu, sang hèn đó là sự thấy của thế gian pháp, bị mắt phàm phu đánh lừa. Do thức biến lầm nhận là thật, sanh tâm phân biệt bởi vọng tình. Tướng thật của nó là vô thường, do ta thọ nhận buồn vui, đau khổ, ghét ưa. Người ăn nói vô duyên thô thiển làm ta bực bội nên thọ khổ ; lời ngọt ngào êm dịu làm ta thọ lạc ; cảnh tâm ưa thích thường biến, nên bị cảnh làm động tâm, đó là không thấy bằng trí. Nếu thấy sự thật của vạn pháp luôn sanh diệt, đó là thấy bằng trí.  Có phân biệt là do suy nghĩ của con người, nên có tâm sanh diệt đó là trạng thái của tâm đang phiền não, nếu mãi suy nghĩ thì niệm niệm liên tục không dừng đó là niệm pháp sanh diệt. Sự biết mỗi người khác nhau, người biết khác, vật biết khác, chư Thiên biết  khác, không thật gọi là tâm sanh diệt. Thức sanh diệt, Phật nói phiền não luôn làm chướng ngại đường tu. Nóng giận, hờn buồn là tâm bất thiện, đưa người đến ưu bi, khổ não, đó là còn niệm tướng. Phật là giác ngộ tất cả vạn pháp, sự giác ngộ đó được dạy trong Kinh Bát Nhã xuất phát từ kinh Kim Cang, chỉ đến pháp niệm Phật là sáng suốt, thấy thực tướng vạn pháp. Nếu chạy theo tướng thế gian là còn chạy theo hư ảo cuộc đời. Khi thấy được sự bất tịnh bằng huệ nhãn sẽ không còn tâm ưa thích nữa, thấy thật tướng vạn pháp thì tâm không còn rối bời, không thương ghét, vui buồn là  tâm kim cang bát nhã, lúc nào cũng phát sáng không lay động. Niệm Phật là niệm đến tâm kim cang cư trần bất nhiễm, sống cõi tục không mê pháp tục, thật tướng vạn pháp đều do các duyên đất nước gió lửa mà thành; con người không đẹp xấu, đều do tứ đại hợp thành ; tứ đại đất nước gió lửa không có đại nào đẹp xấu thương yêu đau khổ, vốn nó là tùy duyên mà có, tự đến tự đi, tùy duyên biến hiện, thay đổi vô thường, ta thọ nhận do niệm sanh tâm mà có. Tâm si mê thương ghét, vui buồn là vô thường thay đổi, sanh diệt thì không có tâm nào là tôi cả, tứ đại sẽ về tứ đại không có đại nào là tôi cả, không có gì là tôi, luôn thay đổi qua nhiều trạng thái. Ngũ uẩn vốn không, vậy uẩn nào là tôi? Tất cả đều là duyên gá hợp, sự khổ vui, tốt xấu, không có gì là ta cả. Biết được điều này là ta đã sống với tuệ giác, thức tỉnh giác ngộ, đó là thực tướng niệm Phật. Ta thường niệm tự ái, niệm sân si, niệm danh lợi, niệm hơn thua, niệm thù oán, niệm những gì phục vụ cho bản ngã, không như ý, thường sanh tâm đau khổ, bực bội, bức rứt, bất an. Phật dạy ta phải thường niệm Phật tại tâm, sáng suốt niệm hồng danh A Di Đà Phật, phải thường kiểm soát tâm, đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm, lúc nào cũng xét tâm coi có còn nghĩ nhớ đến điều ham muốn, còn vướng mắc điều gì, lúc nào cũng kiểm soát tâm, là tu tứ oai nghi. Kiểm soát thân, là giữ các niệm lăng xăng trong ác đạo đó là giữ được giới của Bồ Tát. Từ tự tánh có giới đó là sống được với sự tỉnh thức, là chơn chánh niệm Phật. Còn miệng cứ niệm A Di Đà Phật, là niệm hồng danh Phật mà tâm chưa tỉnh thức, giác ngộ tự tâm, là chưa thật sự nói về đức Phật. Niệm Phật là hướng về sự tỉnh thức, sáng suốt của nội tâm. Niệm sự sáng suốt, biết vạn pháp không vướng bận sự suy nghĩ về thế gian, là chân niệm Phật, là nhớ chơn tâm hằng chiếu. Niệm pháp là nhớ lời Phật thuyết, là con thuyền đưa ta từ bờ mê sang bến giác. Pháp Phật thuyết tứ đế khổ, tập, diệt, đạo, có 37 phẩm trợ đạo, tứ chánh cần, tứ niệm xứ, tứ vô lượng tâm, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát chánh đạo phần, là đang niệm đến pháp trợ lực gọi là trợ đạo giúp ta thấy được sự vật của vạn pháp tất cả đều vô thường, đó là nhìn bằng pháp nhãn. Thân thể con người dù đẹp đẽ đến đâu cũng hôi hám, đến ngày hết duyên cũng tan hoại, mục rữa. Muôn sự vật có tướng hình đều tan hoại. Tâm người cũng biến đổi vô thường, không nhất định chắc chắn ở trạng thái nào cả. Sự khổ có đến ta biết đó là pháp, thì ta đã vượt qua pháp đó. Tâm dẫn đầu các pháp nên khi niệm khổ, phiền não, oán than, sẽ bao trùm bởi u mê, đen tối. Nói về thế giới Cực lạc là sự an lạc, trạng thái an vui của tâm nên gọi là an lạc. Sự chứng ngộ tại tâm, vui của thân là có giới hạn, có sanh diệt, có buồn vui nên hoàn cảnh nào ta cũng phải an ổn, gọi là tâm định. Lúc nào cũng nhớ lời Phật dạy, nếu thấy tánh đang khổ là đã thọ khổ ; tánh đang gặp cảnh mà vui là thọ lạc ; nên Phật dạy tứ niệm xứ là quán thân, thọ, tâm, pháp, đối với các pháp ta phải nhận rõ bằng trí tuệ không vướng trụ tham sân si là đang niệm pháp biết thực chất của thế gian.

Nói đến Tịnh thổ là chỉ vào tâm địa an tịnh của con người, nơi đó chỉ có người trí tuệ sáng suốt được vào. “Liền được cúng dường” người giác ngộ hiểu biết đầy đủ vì tự tánh chứa muôn pháp, nếu theo chơn lý thì Tịnh độ tại tâm, nhưng xét vào tâm, thấy còn ham muốn, đòi hỏi, là còn xa cách mười muôn ức cõi Phật. “Khi con thành Phật” là đã đẹp hết điều tham đắm tục lụy thế gian, là những chướng ngại trong gia đình, là chồng vợ, anh em, tiền của, không đắm nhiễm trụ vào tâm lúc đó gọi rằng “khi con thành Phật”. Chúng sanh trong tâm đã đầy đủ, sáng suốt do tánh giác giáo hóa gọi là được tha thọ dụng. Dụng cụ, phương tiện nào đem đến, đều làm lợi ích chúng sanh, được khai thông trí tuệ, giác ngộ thành Phật là cúng dường chư Phật. Tự cúng dường bằng các pháp thiện lành, cúng dường bằng lòng từ bi hỷ xả, cúng dường bằng pháp thế gian, chỉ là phước giới hạn. Ta phải tin sâu bằng năng lực trong tự tánh, nếu không tin sâu, cứ mãi tư tưởng vào mê tín dị đoan là ngoại đạo, không phải là chánh đạo. Phải theo dõi các niệm, cán xc hành động hằng ngày bằng trí tuệ gọi là bậc thường giác. Lúc nào cũng bừng sáng trí huệ, chiếu soi muôn vạn niệm, làm sáng tỏ được vô minh, đó là hành, sẽ sống được với niệm giác.

Kinh dạy đới nghiệp vãng sanh, vậy đới nghiệp vãng sanh là gì? Là người vẫn tin sâu, cũng nguyện thiết, cũng dùng trí huệ theo dõi các hành động, nhưng còn nghiệp câu sanh… Nghiệp câu sanh là gì? Do nhiều đời nặng vì nghiệp ái, là tư hoặc, đó là những tư tưởng nhớ đến sự nhớ thương, luyến ái, do suy nghĩ, thỉnh thoảng còn gợn lại trong tâm, cũng cố gắng hết lòng nhưng còn tư hoặc, còn vô minh hoặc, vẫn được ánh sáng trí huệ chiếu soi, thấy tâm còn vương vấn các phần tử đam mê, chưa hoàn toàn sạch nghiệp, vẫn giữ chí cương quyết tu hành, đều được đới nghiệp vãng sanh. Vì đã có lòng cương quyết thù thắng không thối chuyển, dù đời này không thành chánh giác nhưng đời sau sẽ thành vì hiện đã bước vào dòng Thánh, đã có chỗ nương tựa vào tánh giác, dù đường xa nhưng với tâm cương quyết sẽ đến mục đích của người phát tâm nguyện, gọi là đức tinh tấn. Điều này đòi hỏi sự hết lòng quyết tâm, tuy tâm còn tư hoặc khởi lên, nhưng tánh giác giáo hóa kịp thời. Tổ nói “mê không sợ chỉ sợ giác chậm”, tánh mê phải nhờ tánh giác kề bên tiếp độ.

Nguyện băm sáu muôn ngàn báu vật

Muốn cúng dường chư Phật Thánh hiền

Ước ra thì có đủ liền

Cúng dâng khắp cả, về miền chưa trưa.

Nguyện băm bảy ai vừa đọc tụng

Hoặc thọ trì phụng cúng chơn kinh

Đặng tài biện luận thông minh

Lại thêm Bát Nhã trí lành cao siêu.

Nguyện băm tám giảng điều pháp lý

Đủ viên thông đầy trí huệ tâm

Những lời bày giải nguyên âm

Nghĩa kinh vi diệu cao thâm vô cùng.

Nguyện 39,Nguyện trang nghiêm vô tận”. Ta phải nhận định Phật A Di Đà, Cực lạc có thật không? Có như thế nào? Nếu ta dự định xây cất tòa lâu đài to lớn mà có sẵn đất, sẵn tiền bạc, sẵn vật liệu, nhân lực, công thợ thì sẽ có tòa lâu đài. Pháp A Di Đà đã có sẵn, được thành tựu do 48 đại nguyện, khi thành tựu pháp là thành tựu Đức Tánh A Di Đà. Nhân lực, công nhân, thợ là con người phải quyết tâm xây dựng thế giới Cực lạc tại tâm, mới có thể thành tựu lâu đài. Ở thế gian muốn có được phải dùng vật liệu thế gian, con người thế gian, tài sản thế gian, mới thành tựu được đó là sự tướng thế gian. Nói về lâu đài cõi Cực lạ phải xây dựng bằng tâm, xây dựng không bằng tự tướng thế gian được, vì lìa các tướng mới là chơn thật tướng. Đất xây dựng lâu đài Cực lạc phải là Tịnh Thổ, là đất tâm trong sạch của con người đã gạn lọc thanh tịnh, đất tâm mọi người đều có sẵn gọi là tâm địa. Thợ, công nhân xây dựng Cực lạc là người đầy đủ kinh nghiệm tu hành, phải tin tưởng sẽ xây được Cực lạc là đức tin ( tín ), dùng năng lực chính mình, trí huệ sáng suốt để kiến thiết cho tốt đẹp. Cực lạc nền móng phải xây bằng tâm vàng, chất liệu bằng kim cang vững chắc, phải có tài sản của Phật là những pháp bảo, làm nguyện liệu đủ năng lực là ngũ căn, ngũ lực, là sức mạnh vượt mọi cám dỗ thế gian, tứ diệu đế sáng suốt hiểu rành là nền tảng xây tòa cực lạc, 37 phẩm trợ đạo là công nhân trợ lực cho ta xây dựng. Tứ chánh cần là chuyên cần, sống bằng pháp chánh đáng, viễn ly các pháp ác. Tứ niệm xứ, bốn phương pháp quán sự thật của cuộc đời là vô thường, vô lạc, vô ngã, bất tịnh, là bốn cách tu tập để nên đạo bồ đề. Tứ vô lượng tâm là bốn đức tánh vô lượng, là từ bi hỷ xả của bậc giác ngộ, thực hành đem lợi ích cho mọi người, tự độ cho chính mình, thường thực hành tâm bình đẳng. Tứ như ý túc, phải thông suốt tất cả pháp bằng thần thông chính mình, là bốn pháp thông : thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông. Thất bồ đề phần là niệm giác phần, phải biết từng niệm mà tự giác. Trạch pháp giác phần là chọn lựa pháp nào là tà pháp, việc nào là chơn chánh mà sử dụng. Tinh tấn giác phần là định lực cương quyết vượt lên khỏi dục vọng cuộc đời. Hỷ giác phần, quán tưởng các pháp chứng lý như thật, tự hoan hỷ tâm mình. Trừ giác phần là định từng niệm kiên cố, trực dần các tà niệm tâm được nhẹ nhàng, an lạc. Định giác phần, các niệm mê lầm thật sự chuyển hóa thành chánh định. Xả giác phần từng niệm sai quấy đã sáng suốt, buông xả nên các niệm đều hoàn toàn bình đẳng không hơn thiệt, tự giác hòa nhập tự tánh chơn như. Bát chánh đạo phần là tám con đường chánh giúp ta tu tập trở về chánh đạo.

1. Chánh kiến : là sự thấy các pháp không lầm lẫn đâu là chánh pháp, đâu là tà pháp.

2. Chánh tư duy : suy nghĩ chơn chánh, nghiên cứu về Phật pháp tìm học chơn lý.

3. Chánh ngữ : nói lời chân thật, lời ái ngữ không nói gian, nói dối, nói làm cho người nghe đau khổ.

 4. Chánh nghiệp : niệm khởi biết chọn chánh niệm mà phát sinh hành động, tạo sự sống bằng việc thiện lành, không vì lợi mình làm hại người khác.

5. Chánh mạng : coi mạng sống của người hay vật cũng như mạng chính mình, nương vào chơn lý luôn tỉnh giác, là mạng mạch cho mình nuôi dưỡng tự tánh, làm sinh mạng lúc nào cũng sáng suốt.

6. Chánh tinh tấn : luôn vượt lên mọi khó khăn ở đời, vượt lên mọi cám dỗ thấp hèn, tham muốn của thế gian.

7. Chánh niệm : không khởi niệm tham sân si, độc ác, thường tự giác mà khởi niệm làm lợi ích muôn loài.

8. Chánh định : dù trong hoàn cảnh nào tâm vẫn tự tại, an ổn, không duyên theo mê nhiễm các pháp thế gian.

Cõi Tây phương có Tịnh Thổ tại tâm địa mỗi con người, ta có quyền xây dựng lâu đài Cực lạc vì đất tâm vốn sẵn của ta, tài sản là pháp bảo đầy đủ chư Phật đã giao, ta là người có sẵn trí huệ, có khả năng xây dựng Cực lạc tại tâm vì Niết Bàn do tâm tạo. Vậy Cực lạc phải do chính ta xây dựng bằng sự tu tập, thực hành, sửa sang, bằng các pháp có từ kinh nghiệm của đức Phật là  tam tạng kinh điển.

Ta không lầm lẫn ông A Di Đà với đức tánh A Di Đà được thành tựu bởi 48 pháp theo đại nguyện. Không chỉ có một A Di Đà mà có vô lượng đức tánh A Di Đà thành tựu bởi 48 đại nguyện được gọi là vô lượng quang, vô lượng thọ, vô lượng công đức. 48 đại nguyện đều cho tất cả chúng sanh, chớ không riêng vua Vô Tránh Niệm là Pháp Tạng Tỳ Kheo được sử dụng. Tất cả chúng ta đều có quyền xây tòa Cực lạc, nhưng phải dùng pháp mới xây dựng được. Nếu ta biết sử dụng pháp Di Đà sẽ là Phật Di Đà tại  tâm. Vậy Di Đà có thật, nếu người nào tu thực hành đúng như pháp thì đức tánh Di Đà sẽ thành tựu, là tự tánh chính người đã có công xây dựng và kiến lập nên, thường nói hằng hà sa số vô lượng chư Phật. Tiền thân đức A Di Đà cũng là con người như chúng ta mà đức Phật đã hóa hiện là vua Vô Tránh Niệm vì giữ giới tránh tất cả các niệm ác nên pháp danh là Bảo Tạng Tỳ Kheo. Bảo Tạng là chứa nhiều pháp bảo, pháp bảo dùng xây dựng nên đức tánh A Di Đà. Pháp bảo là 48 lời nguyện, ta muốn thành tựu phải áp dụng sẽ ngộ được tự tánh A Di Đà, đó là sự khẳng định minh xác. Như vậy bao nhiêu hình tướng A Di Đà và lâu đài Cực lạc bằng sự tướng thế gian, dùng làm hình tượng biểu trưng công trình của các đức Phật, nhờ nơi công đức của Phật Thích Ca mà thành tựu được đức A Di Đà Phật. Vậy pháp môn Tịnh độ A Di Đà do đức Phật Thích Ca thành tựu, nếu tất cả chúng sanh theo nguyện lực mà thành tựu là đã được đức Phật Thích Ca xoa đầu thọ ký. Nếu mê lầm mãi chờ A Di Đà cõi Tây phương đến rước là vọng tưởng không thành tựu được. Tự tánh mỗi con người phải hội nhập 48 lời nguyện, mới gọi là tự tánh Di Đà vô biệt niệm, được trang nghiêm thanh tịnh giác ngộ. Nhờ 48 đại nguyện là Bảo Tạng Như Lai chánh đẳng chánh giác, nếu thành tựu pháp Di Đà được từng phần là đới nghiệp vãng sanh, đời sau tinh tấn thành tựu sẽ chánh giác, đây là lẽ thật của Như Lai vì miệng Như Lai là tướng, lưỡi rộng dài trùm khắp vô lượng không sai trái.

Người Đạo Sư khuyên người niệm Phật không thể nói rằng pháp niệm Phật dùng niệm cho hết bệnh, hạnh phúc, được giàu có, vì pháp Phật để dạy cho chúng sanh tự giác giải thoát luân hồi sanh tử, lìa hết mọi tướng thế gian. Nếu ta còn có ý niệm sanh vào tam cõi là tà kiến, phải sống bằng trí tuệ viên mãn của tự tánh Di Đà. “Khi con thành Phật vạn vật trong cõi nước con đều trang nghiêm thanh tịnh sáng chói” nghĩa là thấy tại lòng ta, tự tánh ta nếu còn tánh độc ác, ích kỷ, hẹp hòi còn tham lam, bỏn xẻn không? Còn tánh chúng sanh nhơ tệ như xưa không? Còn chất chứa sự đê hèn tội lỗi không? Nếu xét thấy còn những niệm này thì không thể nói là trang nghiêm, mọi khía cảnh thuộc về đòi hỏi trong lòng ta, nhất định phải trong sạch, sáng suốt, trí tuệ đó gọi là trang nghiêm. “Khi con thành Phật tất cả vạn vật”, vạn vật có đều do từ niệm sinh khởi mà thành nên tất cả các niệm khởi lên phải thường có tánh giác theo dõi, trí tuệ đạo đức hào quang theo dõi chiếu soi vào, tự nói năng suy nghĩ có đạo đức, nhân nghĩa không? Phải chú tâm hướng đến các pháp thiện lành, lắng nghe từng tâm niệm mà giáo hóa là trang nghiêm quốc độ. Vạn vật chỉ đến các niệm tại lòng ta được thanh tịnh, trang nghiêm, trí huệ viên mãn, đó là các thiện pháp đang thành tựu thực tướng Như Lai, thực tướng chân lý là chánh đắc A-nậu-đa-la tam miệu tam bồ đề.

Thanh tịnh là trong nội tâm không còn khởi lên niệm ác, thường sống với trí giác ngộ, trí bồ đề. Cõi Cực lạc có ao Thất bảo, thất trùng, hàng thọ, xa cừ, mã não, san hô, lưu ly, hổ phách nếu giác ngộ thì nhận ngay cõi đó, có sẵn tự tâm dành cho tâm nào đã thành tựu pháp Di Đà sẽ được rước vào nơi đó, pháp có sẵn tự nhiên không cầu xin mà vẫn có, không vào được cõi này vì sự sáng suốt tự tâm không chấp nhận, vì vẫn còn tham dục, tăm tối không thể rước ( nhập ) vào sự thanh tịnh trong sáng được, sáng suốt trí tuệ vốn chân thật, không dung vị những gì sai trái, nó tự xử, tự cắn rức, dằn vặt, khổ đau, ta sẽ tự xử lấy ta gọi là tòa án lương tâm.

Mình sắc thù thắng vi diệu, không thể tả xiết”, ở thế gian không có gì vi diệu bằng tự tánh Bồ đề, sự vẩn đục của tâm chỉ cần rớt vào Phật hiệu A Di Đà Phật sẽ thanh lọc được trong trẻo, giống như hạt minh châu bỏ vào thau nước đục sẽ chiếu sáng thành trong, nên tâm bồ đề sáng suốt dù có phiền não bao nhiêu, nghiệp chướng vô lượng, mà ta dùng tánh giác ngộ trí huệ chiếu soi sẽ phá tan phiền não gọi là sự vi diệu của chơn tâm, không trí huệ nào sáng suốt bằng trí huệ bồ đề, nếu không có sự vi diệu này thì không cứu độ được chúng sanh. Nếu cõi Ta bà không có Phật ra đời thì chúng sinh rất khổ sở. Tánh Phật, trí Phật vi diệu vô cùng, phá tan được mê lầm phiền não nhiều đời nhiều kiếp, đó là địa ngục tại tâm, chỉ có gậy vàng, tích trượng hạt minh châu, sáng suốt, trí huệ sẽ phá tan địa ngục tại tâm rất chắc chắn, từ vô lượng kiếp vì mê lầm tự ta đã xây dựng ; hào quang trí huệ là Kim Cang bất hoại, sẽ soi thủng và phá tan địa ngục vô minh, nên kinh nói vi diệu không tả xiết. Vì không hình tướng, không sắc tài, danh lợi nên không tả được, không suy nghĩ bàn luận được, nhưng khả năng rất thù thắng phá tan được phiền não vô minh của trời, người, dù có thiên nhãn cũng không tả được hình sắc và vẻ đẹp các chư Phật, chư Tổ đều chứng đắc thiên nhãn thông. Nhưng dùng thiên nhãn thông cũng không đếm được các hình sắc, vì có niệm nên niệm niệm vô lượng, vô biên, không thể tính đếm được, dù đã có thiên nhãn đó là cách diễn tả lên vẻ đẹp mà không có gì sánh bằng. Nếu nói về tướng đẹp con người, vì tài, vì sắc cũng không bằng đẹp đức hạnh nết na. Muốn chỉ cái đẹp của đức hạnh, nết na vẫn biết là có, nhưng ta kông thể thấy được đẹp như thế nào cũng không bằng đức hạnh ở tâm, nên là con người rất quý trọng đạo hạnh tại tâm. Đạo đức là đẹp nhất trong các cõi, nên nói rằng tánh Phật là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, ai cũng tôn kính lễ lạy đức độ của tánh đẹp này, nên phải mượn hình tượng Phật làm sự tướng trang điểm bên ngoài cho mọi người chiêm bái, lễ lạy tôn thờ hằng tín ngưỡng.

Tướng lộng lẫy và vô lượng chúng sanh nơi đó, nếu không được như vậy thệ không thành chánh giác”, từ khi giác ngộ trong tâm ta có vô lượng niệm tốt đẹp do hằng ngày đã được trang nghiêm, tánh đẹp này không thể tả được nên các chư Tổ thấy được đức tánh Phật quá tuyệt vời không thể diễn đạt được chỉ biết dùng cách đi nhiễu quanh Phật ba vòng để lễ lạy cúng dường, tự chiêm nghiệm, tôn kính thật tướng vẻ đẹp trang nghiêm, đức độ bình đẳng của Như Lai. Đẹp vô cùng, chỉ biết tôn kính qua hành động lạy, tự mà chiêm nghiệm, nguyện bằng niệm tôn quý không thể nói mà hiểu được. Nếu ta không thành tựu biết và thực hành như vậy thì không chánh giác, không được phân thân của đức A Di Đà, được đức Phật Thích Ca và chư Phật xoa đỉnh đầu mà thọ ký, đem hết tâm niệm hộ trì được chư Thiên, trời, người đảnh lễ cúng dường đó là nguyện trang nghiêm vô tận. 

Nguyện băm chín quốc trung Bồ Tát

Thảy thảy đồng dõng dạc kiên cần

Mỗi người đều đặng kim thân

Băm hai tướng tốt đều phân sắc mầu

Thuyết các pháp gồm thâu đạo Phật

Cũng in như chư Phật đương thời.

Nguyện 40 và 41, nguyện trang nghiêm vô tận. “Khi con thành Phật vô lượng cây cảnh trong cõi nước con cao trăm ngàn do tuần”. Vậy cây gì? Cảnh gì?

Là cảnh Phật, cây Bồ đề phải thường xét trí tuệ, đức độ trang nghiêm sáng suốt có hiện tiền nơi tâm ta không? Tâm có an lạc và vô lượng an lạc không? Không còn sót một niệm phiền não sân si nào, mà thấy lòng từ bi hỷ xả đức độ vô cùng. “Cây cảnh trong cõi nước con cao trăm ngàn do tuần”, ý nói đến tâm niệm từ bi hỷ xả không gián đoạn, cao vòi vọi trăm ngàn do tuần, không thể đo lường, ước lượng được. “Cây làm đạo tràng cao 400 vạn dặm” đạo tràng là sự tập tu học, sự kiên cố thiền định là đạo tràng trí tuệ, là đạo tràng thường tu thường học, kinh điển là đạo tràng. Ta đã có sẵn đạo tràng trong tâm ta ( trực tâm là đạo tràng ) hằng ngày đọc tụng, nghiên cứu kinh điển là đạo tràng, thường thiền định tinh tấn trí huệ là đạo tràng, tâm niệm luôn trong sạch là đạo tràng, đạo tràng tại tâm không có niệm thấp bé nhỏ hẹp, bỏn xẻn, ích kỷ, hẹp hòi mà tâm niệm luôn cao thượng vô lượng. Tu vô lượng trí huệ, tâm độ chúng sanh vô lượng. “Các bậc Bồ tát trung phẩm cũng biết ”, các bậc Bồ Tát không xa lạ, không từ đâu đến hay từ trong hư không hiện ra mà chính là các niệm chơn chánh, trí huệ, là niệm giác ngộ thường giáo hóa những niệm mê lầm, lìa bỏ sai lầm, là tâm niệm của Bồ Tát thường giáo hóa các niệm khác, dạy dỗ sự độc ác, si mê trở về với niệm sáng suốt trí huệ “nên các bồ tát trung phẩm cũng có thể biết rõ”. Người tự giác biết tu học, gìn giữ tâm niệm trong thời gian ngắn gọi là trung phẩm. “Nếu muốn thấy các cõi trang nghiêm thanh tịnh của chư Phật tuy ở cây báu vẫn thấy được vạn tượng như xem trong gương, muốn thấy các cõi thanh tịnh trang nghiêm của chư Phật”, cõi trang nghiêm là niệm bồ đề, là tánh giác, ta dùng tánh giác sẽ thấy được các cõi trang nghiêm. Nếu sống bằng tánh giác, trụ tâm bằng tánh giác, thường chiêm ngưỡng tánh giác, sẽ thấy tất cả các cõi trang nghiêm của chư Phật, sẽ hiểu biết được tất cả. Nếu không sử dụng được tánh giác mà làm tất cả việc thế gian cũng không giác ngộ được, nếu thường kiểm tâm tu tập, thường sống bằng tánh giác là chỉ đến bậc kiến tánh.

Tất cả các kinh đều nói về kiến tánh thành Phật, kiến tánh là thấy hiện tại đang sử dụng tánh gì, là những thói quen do huân tập thường sinh khởi niệm vui, buồn, nóng, giận tánh đang còn tham, phải thấy rõ để tu tập trở lại chính mình. Phải bỏ tánh phàm phu, đó là giống ác, ta không ươm trồng nuôi dưỡng giống ác nữa thì giống bồ đề sẽ tươi tốt. Một lòng ra công chăm sóc sẽ giác, đó là tánh Phật. Bỏ giống xấu, gieo trồng giống tốt bồ đề cũng là cách sám hối tự tánh.

Giáo lý Tịnh độ có tam tư lương, là pháp môn đi thẳng, là pháp đốn giáo, pháp tu thiền. Tu thiền có ngoại đạo thiền đến sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền đến phi phi tưởng cũng còn là ngoại đạo. Vào Thanh Văn thiền, Duyên Giác thiền, Bồ Tát thiền, Phật thiền là đoạn đường rất dài. Hiện nay người tu còn lạc ngoại đạo rất nhiều, mọi người thời nay rất ham tu, vì tập nhiễm các thói quen của nhân gian nên có đủ pháp trong tâm như Bà Chúa Sứ, Ngũ Hành, các bà mẹ sanh mẹ độ đó là do phong tục của nhân gian, không phải là Phật giáo vì trong tam tạng kinh không hề nói đến, khó mà biết được. Nếu không có pháp môn Tịnh độ, cứ tu theo pháp đi vòng, thì đi mãi đến vô lượng kiếp. Tịnh độ là duyên rất thù thắng gọi là đại sự nhân duyên. Đến với pháp môn niệm Phật tâm phải thiết tha, nếu không tin sâu thì không thâm nhập vào nội tâm được. Niệm Phật không phải cầu phước, nếu tu theo chơn lý Phật, thì phải lìa tướng, không tư tưởng vào sắc tướng là giàu, nghèo, sang hèn, nên xét vào tự tánh. Nếu giàu thì dua nịnh, nghèo thì khinh dễ nên có tâm chênh lệch vì phân biệt. Nếu không tu vào tánh thì không rõ chơn lý, nhìn theo bên ngoài hình tướng chấp thật thì sanh tâm điên đảo. Quy y là pháp đầu tiên, nếu giác ngộ được chữ quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng là đã giác ngộ chơn lý. Giáo pháp rất sâu kín nên Phật nói pháp của ta, tà ma ngoại đạo không đắc được. Nếu tâm còn dính mắc dù một niệm tà mị cũng không thể chứng đắc. Lòng phải chơn chánh, tâm địa từ bi hỷ xả, tu giác ngộ để tự cứu ta và cứu người được giác ngộ. Nếu tu tâm còn lợi danh, ích kỷ, tham lam, hẹp hòi không thể vào được chơn lý Phật. Phật nói chơn lý ta, tà ma không phá được, chỉ có người theo ta mà còn chấp tướng, chấp hình thì sẽ bị chúng ma dẫn dắt. Phải nghiền ngẫm chơn lý cho kỹ, trở về nội chiếu tâm ta coi là tâm ngoại đạo hay chơn chánh, nếu tu mà tâm không chơn chánh thì chỉ học đối đãi, giải trí bên ngoài thôi, không lợi ích gì cho tâm cả. Nếu tâm chánh, dù có học pháp tà, thì pháp tà cũng biến thành pháp chánh. Tâm chánh rất quan trọng, nếu tâm tà mà học pháp chánh thì pháp chánh cũng biến thành pháp tà. Sự chơn chánh tại tâm là điều cần thiết, nếu tâm còn các lậu hoặc là còn rỉ chảy, là còn phiền não, vướng bận, phải quyết chí vượt qua, vì quen lăn lộn ở thế gian nhiều đời, nhiều kiếp mà muốn xuất thế gian là điều rất khó. Chỉ nhờ vào tin sâu, nguyện thiết, nhờ hành thâm, phải phát tâm rộng lớn tu vì đại chúng chớ không phải riêng ta. Khi đức Phật xin vua cha xuất gia, Ngài nói với vua cha con ra đi là muốn cứu tất cả chúng sanh, trong đó có cha, dòng họ quyến thuộc, có Da-du-đà-la, La-hầu-la và mọi người chung quanh vì một người đắc đạo Cửu Huyền siêu thăng. Nếu không tu giác ngộ giải thoát sẽ cùng nhau ở địa ngục mãi mãi vì chưa có ai thoát ra để tìm cách cứu thoát cho ai cả. Địa ngục ở tại trần gian vì sự khổ không bao giờ ra khỏi tâm ta khi chưa hoàn toàn giác ngộ. Trong quốc độ ta lúc nào cũng có tiếng khóc than, thổn thức, đau khổ, chửi, trách, mắng nhiếc, trù rủa, hận thù đó là địa ngục, biết bao giờ ra khỏi, đời đời kiếp kiếp mãi là như vậy, không gián đoạn, mà trong đó có thân bằng quyến thuộc, dòng họ của ta. Nếu ta không tự giác ra khỏi được thì không nói là thương cha mẹ, thương Cửu Huyền Thất Tổ, ta cũng cùng nghiệp chướng như họ, không thoát ra khỏi được thì làm cách nào phá được nghiệp chướng của họ. Người học kinh sẽ thuộc được tam tạng kinh điển hay sẽ nhớ được tam tạng kinh, luật, luận nhưng tìm vị kiến tánh thật khó vô cùng. Thời đức Phật có rất nhiều đệ tử mà chỉ có ngài Ma-ha-ca-diếp được kiến tánh. Ta phải tu bằng pháp nội chiếu, muốn kiến tánh phải tự quán vào tự tánh, vì chưa rõ tự tánh như thế nào nên phải thấy tánh nóng, tánh giận, tánh ghét, tánh khổ có đang hiện diện không? Phải thấy được, nhưng có khi thấy vẫn bỏ qua phớt lờ. Kinh nói là phủ tàng, là che dấu, nên càng ngày chồi nhánh thêm to lớn càng thêm đau khổ. Pháp tự giác là tự biết, nó chính là nguyên nhân làm cho ta và mọi người đau khổ. Ta phải sáng suốt, tự hiện thân Bồ Tát tại tâm, nghĩa là tự khởi niệm, vì muốn cứu độ chúng sinh nên niệm khởi là Bồ Tát ở tự  tâm tự độ. Phật nói rằng trong tâm có Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đầy đủ cả. Nếu niệm khởi vì ham học, ham tu, thích nghe giáo pháp, chơn lý, muốn tìm nghe là do niệm khởi từ trong tâm ta, đó là niệm của bậc Thinh Văn. Thường chiêm nghiệm xét thấy nhân quả do tâm niệm con người khởi lên, gọi là Phật độc giác hay là Bích Chi Phật niệm ở tại tâm ta. Tất cả đều mượn hình tướng, tạm qua danh từ để hiển bày mà hoàn toàn từ niệm khởi. Cũng như ta tạm mượn hình tướng có thân là huyễn giả, nhưng trong thân huyễn có vô số niệm vì vậy trong tâm có tất cả, có Địa Tạng Vương Bồ Tát thường giáo hóa tâm ta, có Diêm Chúa là niệm sáng suốt thường tự xét tội ta, nên khi hành động sai quấy tự nơi ta biết rất rõ ràng. Nếu làm việc bên ngoài, gọi là đáp đền ơn Phật không đúng như vậy. Chư Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn được giáo hóa thuần thục rồi, thì người đó mới thật có tâm cúng dường chư Phật, báo đền công đức Phật. Trong kinh Địa Tạng có Bồ Tát Quang Mục cứu mẹ, không phải là mẹ thế gian mà mẹ ta là tánh giác đã bị trùm khắp. Chúng mê muội là mẹ ta đau khổ, mẹ là tự tánh thường sanh ra muôn pháp, vì sanh toàn niệm mê muội nên mẹ khổ đau. Ta không biết mà cứu mẹ nên nhờ đức Thế Gian Định Tự Tại Vương Như Lai chỉ cho pháp cứu mẹ, muốn cứu mẹ, cứu quyến thuộc của ta là Cửu Huyền Thất Tổ, quyến thuộc ta là dòng họ giác, nhưng bị chúng ma mê hoặc, làm điên đảo, khổ đau. Mẹ ta là tự tánh, Cửu Huyền Thất Tổ ta đang đau khổ vì những niệm xưa cũ, mê muội, đã quên mất bản tánh chính mình. Dòng họ giác tại tâm ta linh thiêng vô cùng vì đã giác nên làm được tất cả, có đủ năng lực đi khắp quốc độ vào các cõi thế giới mười phương xây dựng được lâu đài Cực Lạc, trang nghiêm tráng lệ được hạnh phúc, an vui, đầy đủ xa cừ, mã não, san hô, lưu ly, hổ phách vô lượng vô biên, điều này chỉ có người giác ngộ mới xây dựng được, nên Cực lạc toàn là pháp bảo hợp lại mà thành, gọi là Bảo Tạng ; đầy đủ, hà sa pháp báu nên gọi là linh. Thật rõ ràng kinh Phật nói linh bất linh tại ngã. Ngã là đại ngã đại giác, là thường ngã trong thường lạc ; ngã tịnh là chơn ngã, là giác ngộ tánh giác rất linh thiêng. Ta vì mê muội tham cầu, mãi chạy tìm sự linh bên ngoài mà quên bỏ sự linh thiêng có sẵn tự tâm ta,  nhờ tánh giác sáng suốt mà con người lên tới cung trăng, sao hỏa, chế tạo những điều cần thiết cho con người sử dụng, bào chế thuốc để khắc phục bệnh nan y đó là nhờ sự linh thiêng sáng suốt của tự tánh. Tánh giác làm được tất cả những sự linh bên ngoài mờ mờ ảo ảo do sự đồn đãi bâng quơ là linh trong hoang tưởng, là vọng tưởng, điên đảo, không thực tế nên đạo Phật là đạo chơn, đạo giác ngộ, sáng suốt. Minh là sáng, chữ sáng theo Phật giáo là huệ. Huệ có ở tại tâm, là sự sáng suốt được khởi lên. Nếu biết nhận định niệm khởi là tà niệm hay chánh niệm, nên hư, biết niệm khởi là niệm tội hay niệm phước đó là niệm của trí huệ. Còn khi khởi lên vì dục vọng hoặc theo sự thấy của thế gian, không sáng suốt hành động theo sự ham muốn, dục lạc của ta, gọi là muội hay là mê. Nên biết rõ các niệm đó là huệ, vì mê nên có tánh minh mà ta không biết sử dụng trí huệ.

Hễ nghe khua động đồng tiền

Sửa ngay thành dại chẳng kiên chút nào.

Vì quyền lợi nên sửa cái sáng thành cái tối, không còn nhận định rõ sự việc, mà chỉ nghe thấy, chạy theo hành động phàm phu tục tử. Tự tánh sáng suốt sẵn có nơi mỗi người, nên vừa khởi niệm tự biết liền, vì mắt thấy, tai nghe, tiếng nói, lợi dưỡng bên ngoài không kềm chế được mà bỏ quên minh tánh nên gọi là sáng hay tối, khi thấy điều chơn chánh  ta không hưởng ứng tự rút lui đó là huệ. Muốn nhớ đến trí huệ phải nhờ thiện tri thức hướng dẫn vì người sáng mới dẫn ta sáng được. Khi đức Phật bỏ thế gian, Ngài nói rằng “Này các ngươi, ta ra đi mà không bao giờ quên các ngươi, ta vẫn để giáo lý là những điều dạy dỗ, các ngươi nên y theo đó mà thực hành thì các ngươi cũng giống như ta, sẽ được sáng suốt trí huệ, còn các ngươi không thực hành, gạt bỏ những kinh nghiệm của ta mà chạy theo tà mị, khi giáo lý ta mất rồi các ngươi sẽ ở mãi trong tăm tối, đau khổ”. Minh là có sẵn vì bỏ qua nên ta mãi chịu u tối. Minh ai cũng có sẵn, chỉ chờ ta sử dụng, không ở đâu xa mà ta cứ mãi cầu xin, van cầu, khấn nguyện hoặc ai cho mà có được. Chỉ cần nhận định nghe lời Phật dạy ta liền có tánh minh, vì mãi chạy theo sự huyễn hoặc bên ngoài nên lần hồi tánh minh bị che khuất tâm ta. Khi cha mẹ mới sinh ra rất nhẹ nhàng trong sạch, không nặng nề, ưu tư phiền não, vì càng lớn càng huân tập thói quen của thế gian, học pháp thế gian, càng lớn càng chứa nhiều tập nhiễm của cuộc đời, chứa vào tâm đầy chật, tràn ngập u mê, phiền não, tội lỗi, ham muốn nên mất dần tánh ngây thơ, vô tư lúc ban đầu, chỉ biết sống theo tánh đua đòi của các pháp ô nhiễm. Người tu giác ngộ phải thường niệm Phật để bỏ dần các niệm tội lỗi do huân tập thành quen nên u tối. Không khởi niệm vào sự loạn cuồng của các pháp, buông xả các tà niệm dần dần gọi là xả niệm, nương vào câu Phật hiệu, tạm mượn để quen dần phương pháp xả niệm cho được thuần thục, tâm trở nên thanh tịnh trong sạch, không còn vướng bận, niệm trụ vào thế gian, nên tâm được rỗng rang, trong sạch, thì ánh sáng quang minh chiếu soi trùm khắp, là đã giải phóng được các loại giặc phiền não, sân si, tham đắm ra khỏi tâm, tâm đã tự do không còn ràng buộc gọi là giải thoát. Việc gì ở thế gian ta trả lại không còn niệm luyến tiếc, ái nhiễm, chỉ giữ lại lòng từ bi bác ái thì được rỗng rang vì.

Sắc tài danh lợi của ai đây?

Sắc tài danh lợi chẳng riêng đây

Sắc lợi danh tài ở đâu mà có

Ham mê quyền lực khổ đau nhiều.

Buông một phần si mê chứng một phần giác ngộ, được một tướng tốt, phải dùng trí quang chiếu vào danh lợi, nếu nuôi dưỡng danh lợi sẽ sanh tâm cống cao ngã mạn, danh lợi, tạo lục đạo luân hồi. Vì ta tham mà đắm nhiễm, chớ sắc tài danh lợi chỉ là pháp huyễn, chẳng là của ai cả.

Sắc tài danh lợi của ta đâu?

Càng tham càng muốn chỉ thêm sầu

Cuộc trần thế được thua thua được

Trả rồi vay nhân quả luân hồi.

Đó là các duyên của nhân quả, tự tánh vốn rỗng rang vô ngại, không bị che lấp, không hề khổ đau nhưng vì mê muội, thiếu sáng suốt, nhận định sai lầm nên tự đặt hằng vạn khổ đau, phiền não trần lao vào đó. Ta đã có sẵn bản tánh nhẹ nhàng, tự tại, rỗng rang gọi là giải thoát, vốn sẵn sàng nên hãy trả những gì của cuộc đời vào quên lãng, không niệm nhớ lại nữa các pháp thế gian về với cuộc đời sẽ tự nhiên giác ngộ giải thoát.

Chuyện nhà Phật có nhà sư tìm đến vị Thiền sư xin pháp giải thoát, Thiền sư hỏi “Ai trói buộc con mà xin giải thoát?”, vị sư trả lời “Dạ không ai trói buộc con”, thiền sư nói “Không ai trói thì con đã giải thoát chớ cầu gì?”. Còn ta cũng không ai ràng buộc cột trói vậy thì cầu ai? Ở đâu? Phải thông thấu điều này, tự ta cứu lấy ta, tự độ ta thanh tịnh. Sự thanh tịnh trí huệ có khả năng biết được các cõi địa ngục đầy khổ đau, đến cõi trời cao hữu đảnh và cõi cực lạc đều thông thấu vì các cõi hoàn toàn do tự nơi tâm tạo, do từ niệm khởi mà thọ sanh địa ngục tại tâm, nên sự đau khổ ta cũng khổ ở tâm chớ không khổ chỗ nào khác cả ; sự dày vò, bức ngặt, phiền não, gào thét, đau đớn cũng ở tại tâm ta chớ không khổ chỗ nào khác cả. Nếu giải thoát là giải thoát tại tâm chớ không đào xuống đất tìm địa ngục mà giải thoát, vì dưới đất không có địa ngục. Cõi trời là thọ phước, có tiền của hưởng thụ nên sanh tâm sung sướng, vui mừng. Các trạng thái này cũng ở tại tâm, chớ thân là dụng cụ vô tư, không có sự vui mừng hoàn toàn do từ tâm ý, mà có vui mừng an lạc, sung sướng hay đau khổ vì vạn pháp đều từ tâm tạo nên cõi trời cũng ở tại tâm.

Cõi Cực lạc cũng ở tại tâm vì tâm không còn vướng bận thế gian nên tâm được tự do, an lạc, thảnh thơi, nhàn nhã. Trạng thái tự tại cũng ở tại tâm nên niệm Phật cũng niệm tại tâm, xả các tà niệm cũng tự nơi tâm, tu hành cũng tại tâm nên các cõi Thiên đàng, Địa ngục, cõi Trời, Cực lạc chỉ ở tại tâm mà ra cả. Tổ dạy Niết Bàn do tâm tạo, địa ngục do tâm sanh. Tâm làm ra địa ngục, tâm tạo được Cực lạc, vạn pháp đều do tâm tạo, ngoài tâm không có gì cả nên chắc chắn nói rằng Phật tức tâm, tâm tức Phật. Ta không sống mơ màng theo pháp thế gian nữa, theo pháp Phật là theo giáo lý phải cương quyết mới gọi là giác ngộ. Tu cũng giống như người đào giếng, đầu tiên thấy đất ẩm phải cương quyết ra sức đào tiếp, càng sâu mới thấy nước, nếu không chịu đào mà cứ ngồi thừ ra mà van lạy, cầu khẩn, mong chờ, không thể có được nước. Muốn thông thấu, tâm thông thấu giáo lý, phải tự tìm hiểu vì ai cũng có khả năng. Có người khi cầm kinh lên thì buồn ngủ vì chúng sinh trong tâm là các niệm mê muội nên không sáng được lý kinh. Phải cố gắng kiên trì, tự chuyển hóa sự sáng suốt vì vạn sự khởi đầu nan. Học Phật giai đoạn đầu rất cực, phải biết nhân quả, tam quy, ngũ giới, nhơn thừa, Phật thừa, phải cương quyết mới hiểu được để vượt lên. Mọi người đều có khả năng thông thấu tất cả, chỉ vì nhút nhát, không chịu rèn luyện nên bỏ qua, mãi vô minh, tham đắm cuộc đời bụi trần lao càng che phủ thì vô minh càng dầy, càng nặng. Bụi trần sẽ bay vào mắt trí huệ, che mờ làm mù đui, tăm tối, chịu sống đọa đày trong cõi âm u, mù mịt đó là sắc, tài, danh, thực, thùy, là pháp thế gian, là chướng nạn luôn cám dỗ mê hoặc làm tâm ta mang đầy tội lỗi u mê. Sắc là hình tướng vật chất xác thân ; tài là tiền bạc ; danh là lợi dưỡng, danh vị uy quyền, thế lực ; thực là tham ăn muốn món ngon vật lạ ; thùy là mê ngủ nên có câu tham ăn mê ngủ nói liều chẳng kiên.

Tâm phải trong trẻo nhìn vào thấu suốt gọi là tâm người trong sạch, không bợn nhơ, lừa đảo, hẹp hòi. Căn bổn của tâm là trong sạch vì mê nhiễm pháp trần làm tâm bị nhơ bợn. Lục Tổ nói “bổn tánh tự nhiên trong sạch sẵn có, không phải do tu mà có”, chỉ vì ta không sử dụng sự trong sạch mà chạy theo sự nhơ bẩn, tà mị bên ngoài lấp vào che mờ sự trong sạch thường hằng, phải tìm cách dọn dẹp, lau chùi là tu sửa lại cho trong sạch tâm, khi tâm trong sạch là trí huệ bừng sáng. Gương sạch thì thấy rõ, nếu dính bụi bẩn thì mờ lu. Căn bổn tự tánh vốn trong sạch gọi là trạm nhiên. Khi niệm Phật trí giác giữ gìn giáo hóa tâm, gạn lọc từng niệm để các niệm sai quấy, mê vọng quá vãng, không luyến ái vãng lai niệm nhớ lại, tâm thật sự an ổn gọi là vô sanh ( niệm không còn sanh khởi lại ). Nếu không niệm vào trần lao là dứt khổ, sẽ được vào dòng Thánh, chứng quả Thanh Văn. Dù ở đâu, đi đứng nằm ngồi đều rà sát bản tâm là niệm Phật trong tứ oai nghi không gián đoạn. Tâm nhớ quá khứ gọi là vọng niệm, tâm hiện tiền cần quán xét để không phạm vào niệm, vọng tâm và niệm vọng tưởng. Quán tâm hiện tiền phải biết ta đang nghĩ gì, đang lo gì, đang muốn gì, niệm đó phải hay quấy, phước hay tội, tốt hay xấu đến cho ta và mọi người, đó là niệm có trí tuệ hay tánh giác theo kèm. Quá khứ đã qua chỉ là vọng tâm ta không cần niệm nhớ lại. Tịch là vắng lặng, ta không tìm chỗ vắng vẻ, đó chỉ là cảnh lặng không phải tâm lặng. Tổ dạy “đối cảnh bất sanh tâm”, trước cám dỗ thế gian tâm không tranh đua, đòi hỏi là tâm TỊCH tự nhiên. Nếu gặp cảnh vắng vẻ, yên lặng tâm liền khởi niệm tu là chỉ tu theo cảnh không thấy được tâm.

Cảnh nào cảnh có đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

Dù ở trước cảnh thanh tịnh mà tâm ta phiền não, khổ sở thì cảnh là yên lặng, thanh tịnh mà tâm ta vẫn bất an, ta không tu theo cảch, theo cảnh bỏ tâm. Người tâm đã thanh tịnh TỊCH NHIÊN thì ở đâu tâm vẫn vắng lặng, ở đâu cũng là đạo tràng tại tâm, không bận lòng tìm đâu cả. Dù cảnh có ồn ào, náo nhiệt tâm vẫn vắng lặng. Sự vắng lặng là không theo cảnh, dù đang ở trong cảnh ồn ào, sự ồn ào đã vắng lặng tại tâm, không đua đòi theo cảnh, tâm không nhiễm cảnh, gọi là tâm vắng lặng, chẳng tìm cầu ở đâu, tất cả đều ở trong tâm niệm. Những pháp có sanh, có diệt, vốn là vô thường, vì hữu sanh hữu diệt không thường còn là thành trụ hoại không, tất cả những gì có rồi đều mất cả, chỉ có tự tánh là thường còn, dù bỏ xác thân vào thế giới nào đi nữa tự tánh vẫn còn. Vào địa ngục tự tánh vẫn còn, ở Cực lạc tự tánh vẫn hiện diện. Vốn tự tánh không già không chết chỉ vì mê chạy theo loạn trần, giác ngộ thì sáng suốt. Phật nói tự tánh giống như hư không, khi bỏ xác thân tất cả trả về cho tứ đại đồng như hư không, nếu còn niệm sự nhỏ mọn, hẹp hòi, ích kỷ, xấu xa, bòn rúc, ti tiện là niệm tạo thành nghiệp, sẽ cảm thọ mang tướng của nghiệp. Ta đang niệm dẫn vào đường luân hồi theo nghiệp đã niệm nhớ, là tướng nhỏ hẹp của loại côn trùng là kiến, muỗi, ruồi, lằn, trùng, dế, vi trùng phải mang thân nhỏ hẹp sống chui rúc vào máu thịt con người, ăn uống dơ bẩn, tất cả đều do nhân từ niệm khởi trụ vào mà thành quả tạo nên tướng của nghiệp, phải biết chỗ này mà lìa niệm. Nên pháp niệm Phật nương vào Phật hiệu để tâm không còn vướng trụ bởi niệm mà sanh nghiệp dẫn ta luân hồi, vào lục đạo. Phật dạy “ưng vô sở trụ”, nếu trụ niệm vào đâu thì mang nghiệp của sắc tướng đó không sai. Các Bồ Tát, chư Phật đều từ tận hư không hiện ra nhưng chư Phật, chư Bồ Tát vì nguyện độ chúng sanh mà khởi niệm đại bi, vì thương xót muôn loài mà thị hiện. Còn ta vì tham đắm thế gian mà khởi niệm, nếu niệm gì thì theo nghiệp đó. Nên trong kinh có nguyện “Chí tâm đảnh lễ nam mô tận hư không biến pháp giới quá hiện vị lai, thập phương chư Phật, tôn pháp hiền Thánh Tăng thường trụ tam bảo”, tất cả đều từ niệm vô hình mà sinh khởi có tướng ở cuộc đời, cũng từ tâm niệm mà thành. Những gì không thấy biết được là hư không, nên nói là trở về với hư không. Nếu hư không thì không ai phá hoại được nên gọi là thường còn. Vậy trí huệ thường còn giống như hư không, nên Phật nói đồng giống như hư không. Hư không chứa được tất cả muôn loài vạn vật, tự tánh trí huệ cũng sáng suốt, tự chiếu soi tất cả vạn vật đồng với hư không. Tự tánh từ vô thủy đến vô chung kinh gọi là Nhiên đăng cổ Phật, là hào quang, là đèn trí huệ, vốn tự nhiên có sẵn sự thanh tịnh sáng suốt trí huệ, có từ vô lượng kiếp, bất sanh bất diệt, thường hằng gọi là cổ Phật. Không tính đếm thời gian, không gian nên nói là không đầu, không đuôi, không lớn, không nhỏ, không màu sắc. Ta không tìm kiếm xin ai mà được cả, vốn tự nhiên, không chấm dứt, không mất. Trong kinh Bát Nhã nói “hết già hết chết giả không có gì, đảo điên mộng tưởng xa lìa, Niết Bàn mới đến bên kia bến bờ” tự tánh vốn hằng hữu, sống với tự tánh là không già không chết có đâu luân hồi. Sự già chết của sắc thân chỉ là sắc tướng huyễn, tạm mượn thân tứ đại xuất hiện ở cuộc đời do từ niệm khởi, rồi cũng trở về tứ đại bởi sự tan hợp của các duyên vốn không thường hằng. Tự tánh là mãi mãi ta hãy trở về với tự tánh mà an dưỡng trí huệ, phải thu dọn những tập tục thế gian là niệm xả. Tự tánh không dơ, không sạch nên chẳng trược, chẳng thanh, vì lầm nhận thế gian gọi là ô nhiễm ; cứ tưởng hờn giận, vui buồn là của ta nên đau khổ,  tự xây địa ngục vào tâm, đó là nhận giặc làm con, mãi nuôi giặc trong tâm, vì lầm nhận là con của mình. Chẳng phải thanh vì ôm ấp danh lợi nên tự mãn, hách dịch nên gọi trược thanh, tự tánh vốn là chơn như, tự tánh là đa thọ dụng, gọi là chứa được vô lượng pháp vì vô lượng thọ dụng. Khi vừa chào đời từ lúc thọ sanh ta chưa có tên gì, cha mẹ muốn đặt sao cũng được, tên gì cũng được. Tất cả pháp đều thọ dụng, pháp tham cũng thọ ; sân si, gian xảo, ganh tỵ, hẹp hòi danh lợi v.v… đều thọ dụng, đó là các pháp thế gian. Khi đủ duyên lành tự giác tu học kinh điển, học hạnh từ bi hỷ xả, học tha thứ, học làm lành, học buông bỏ, làm phước, hóa độ chúng sanh, tất cả pháp đều thọ dụng được nên nói tự tánh đều thọ dụng được, nên nói tự tánh Di Đà là vô lượng thọ, có công năng chiếu soi tất cả pháp nên tự tánh là vô lượng quang, tự tánh có năng lực làm tất cả pháp, điều khiển tất cả pháp, có đủ lực chuyển hóa các niệm nên gọi là vô lượng công đức. Tự tánh trùm khắp pháp giới các cõi mười phương Quốc độ, vô lượng vô biên, bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn. Tự tánh có thể làm người ngu, làm người trí đều thọ dụng được, rất đa dạng, không nhận định riêng biệt mà có pháp nào cả, mà tự tánh là đại thừa vô lượng thọ bình đẳng, là tịnh trí, là vô lượng không chỉ một tên là A, B, C hay bất cứ danh từ nào đặt để của việc thế gian cho là ta cả. Sự xấu đẹp, giàu nghèo, khôn dại, do sức thọ dụng của tự tánh là huyễn tạm sự có không, ta phải hiểu điều này gọi là thông triệt được tinh thần vô ngã. Nếu sáng suốt chọn lựa sự thọ dụng bằng trí tuệ ( trạch pháp ) thì không phạm mê lầm, không làm tâm ô nhiễm, tự tánh có sẵn vô lượng trí huệ, không lui, không tới, tự đến tự đi, đối trước các pháp mãi mãi sừng sững không dời đổi, sẵn sàng nên gọi là bất khứ bất lai, rất tự tại vì Như Lai là tùy duyên bất biến không là gì cả, đó là tâm thể vô biên không đo lường được gọi là “vô biên quang Như Lai”, vô cùng vô tận. “Chơn thể không nghĩ bàn, có chăng tự tánh mới có được”, sự thù thắng của thế gian là tài sản, vật chất đối với con người, nên Phật nói rằng, nếu có người đem hết của báu ở thế gian, đem chất đầy bằng tam thiên đại thiên thế giới, đem cúng dường chư Phật, Phật hỏi như vậy có lớn không? Ngài Tu Bồ Đề nói, bạch thế tôn thậm đa, thậm đa có nghĩa là rất lớn, rất lớn, nhưng Phật nói cũng không lớn bằng chơn tâm tự tánh, nếu ta biết trở về chơn tâm tự tánh thì phước lớn vô lượng, vô biên, không thể đo lường được, hơn phước cúng dường của thế gian rất nhiều. Tự tánh là tứ cú kệ, là minh tâm kiến tánh, là từ bi hỷ xả. Nếu tự tánh nhỏ thì đức Bổn Sư Thích Ca, Tổ Đạt Ma, vua Trần Nhân Tôn không bỏ ngai vàng mà sống với tự tánh. Vì mê muội không biết nên ta mãi chạy theo cái nhỏ mà bỏ việc lớn đại sự, là bỏ tự tánh trí huệ hằng có, hằng sống lâu vô lượng mà ta quên bỏ. Nếu tu theo cách tụng kinh gỏ mõ, ngồi thiền, trì chú, niệm Phật hay tu bất cứ pháp nào cũng phải quay vào tự tánh mà xem xét các tâm niệm, thường dò xét tự tánh nếu không sẽ lạc vào tà niệm, không thể kiến tánh. Nếu người kiến tánh thường sống với tự tánh, người đó là chơn lý, là ánh áng đại bi biến khắp pháp giới. Tự tánh trùm khắp thường hằng vô lượng, nên các chư Tổ dùng tự tánh làm Phật tông hay Phật tánh, tất cả chư Phật từ vô lượng kiếp đều phải niệm Phật, phải trở về tự tánh vì tự tánh chính là Phật ( là giác ).

Bốn mươi nguyện nước của tôi

Thiệt là tinh sạch chiếu soi khắp hầu

Chư Bồ Tát ví dầu muốn thấy

Cõi Phật nào nghiêm bấy như hà

Dòm trong bửu thọ hiện ra

Cảnh nào Phật ấy như là soi gương.

Nguyện bốn mốt mọi đường công đức

Bồ Tát nào chưa được hoàn toàn

Đặng nghe đặng thấy đạo tràng

Bề cao cho đến bốn ngàn na do.

Nguyện 42, cõi nước rộng rãi nghiêm tịnh. Vì đã kiến tánh biết được các cõi, thấy cõi nước nghiêm tịnh là tự tánh trống trải, vì đầy đủ thần thông tự minh định thấy tại tâm được ngần nào sáng suốt, thấy cõi nước tự lòng ta rộng rãi, nghiêm tịnh vô cùng, không còn vướng bận phiền não, khổ sở, lăng xăng. Nhờ thông hiểu được pháp Phật, thường được giáo hóa nhắc nhở, được thiện tri thức giảng giải, thanh lọc sự ô nhiễm của các niệm thế tục, cương quyết xa lìa, nên sống được với tánh giác, cõi nước tại tâm rộng rãi, không còn nhỏ hẹp. Tâm chật hẹp là muốn tất cả lợi dưỡng, hưởng thụ của thế gian chỉ dành cho riêng mình, không nghĩ đến ai là tâm chật hẹp, niệm của cõi tù ngục. Tâm thênh thang là từ bi hỷ xả, lòng ta là lòng của đại chúng, tâm hòa tâm nên nói là bao la không ngăn ngại ; lòng ta là của mọi người, cứu giúp chúng sanh muôn loài không phân biệt, đem đến sáng suốt, ích lợi chung, không nghĩ cho riêng mình. Nghiêm tịnh là sắc trang nghiêm, tâm an tịnh là định tâm. Sắc mặt trang nghiêm đẹp đẽ, thường sống bằng tánh không tham, không sân, không si, nên gương mặt rất trang nghiêm. Người tánh đầy sân si thì mặt tái mét, quạu quọ, hằng hộc, cau có. Tâm tịnh là không niệm theo quyền lợi, sắc đẹp, không tham dục gọi là tâm tịnh.

Cõi nước con rộng rãi, trang nghiêm và thanh tịnh, sáng chói như gương”, là gương lòng nơi tâm, chiếu sáng giúp ta  hiểu rõ các pháp, phải nhờ gương lòng là minh châu chiếu sáng, soi rọi, kiểm tra ta còn bao nhiêu phiền não, sân si, chấp ngã, tự soi rọi giáo hóa, tự sửa sang cho tâm hoàn thiện.

Chiếu khắp bất khả tư nghì vô lượng chư Phật khắp mười phương”, gương sáng không chỉ chiếu soi một hình ảnh nhỏ hẹp mà chiếu khắp cả mười phương đều thông thấu tất cả. Thông thấu là nhớ lại cuộc đời từ quá khứ, nhớ tất cả những niệm của ta có thể làm được, hiểu biết được, đó là tâm lượng vô cùng, vô tận của tự tánh. Có Thanh Văn, Duyên Giác, có vô số Bồ Tát nhớ đến những điều tốt đẹp đã từng làm, cũng nhớ hết những hành động tội lỗi ta đã gây ra, đó là khả năng của tự tánh chiếu khắp mười phương. “Chúng sanh thấy rồi sanh tâm hy hữu”, nếu người có dụng công tu tập bất chợt thấy được tánh tham, tánh sân si, phiền não đó là nhờ thường sống trong sự nghiên cứu kinh điển, nghiên cứu tâm, thực tập hằng ngày. Bất chợt thấy được sự an lạc của tâm thanh tịnh vô cùng trang nghiêm, vô lượng hoan hỷ chưa từng thấy, đó là hình ảnh của Như Lai. Hình ảnh Như Lai không phải là tướng, là sắc, là âm thanh lớn nhỏ mà Như Lai là thế giới thanh tịnh tại lòng, do trí huệ chiếu sáng, do nơi huệ mà biết được, chớ không phải là sự thấy của mắt phàm phu. Khi trí tuệ bừng sáng do pháp buông xả được vạn duyên nên nhận rõ được chơn tánh. Sự thanh tịnh chưa từng thấy đó là đã hoàn thành trách nhiệm lớn lao, đi từ tập đế, khổ đế … đến chơn như biển giác điều này người thế gian không thể làm được. Phật ngày xưa như vậy, Bồ Tát là như vậy, chư Tổ cũng là như vậy, ngày nay ta cũng phải như vậy gọi là tâm truyền tâm, đăng truyền đăng. Chỗ này từ Phật truyền xuống, mà ngày nay ta giác ngộ như Lục Tổ Huệ Năng. “Chúng sanh thấy rồi sanh tâm hy hữu”, ta thấy rằng chư Phật, chư Bồ Tát, chư Tổ phải nhọc công vì thương tất cả chúng sanh đã có sẵn biển giác, có trí tuệ có đầy đủ công đức mà không biết sử dụng, mãi tìm kiếm sự u mê, lầm lạc, sai trái, mê tín, cứ chạy theo nên suốt đời tu cứ chịu đau khổ, người kiến tánh thông hiểu được, sanh tâm hy hữu. Hy hữu là việc ích có, chưa từng có, nên Phật Tổ chỉ dạy cần kiến tánh, chẳng cần tụng kinh, vì tụng kinh để thâm nhập lời Phật dạy trong kinh để kiến tánh. Tụng kinh là dùng tướng, nương vào lời kinh, dạy ta thâm nhập lý kinh để thấy tánh ; không cần tạo lập điều gì vì kiến tánh đã là vô lượng công đức. “Nếu không được như vậy thề không thành chánh giác”. Chư Phật, chư Tổ đều tán dương công đức của người kiến tánh, lưỡi rộng dài nói pháp cho tất cả cõi nước khắp mười phương. Ta không vì vô minh, phiền não mà bỏ đi tánh giác. Vô minh phiền não không là gì cả chỉ do tự tánh mê muội, bị pháp thế gian trùm khắp, vì tập tục thế gian nhiều đời nhiều kiếp nên không quy y cha mẹ, ông bà, không quy y người thế gian, không quy y tập tục vì qua nhiều đời nhiều kiếp đã làm ta xa lìa tánh giác, mãi sống với thói quen của cuộc đời. Phật dạy mọi người chỉ có quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, Tam Quy này giúp ta trở về tánh giác vì Phật là giác ; Pháp đưa ta trở về sự giác ngộ ; Tăng là người hành theo tánh giác. Tất cả đều tự trở về tánh giác, nếu bỏ tánh giác thì không thể trở thành bậc chánh giác.

Nguyện bốn hai các đồ nhựt dụng

Quốc độ tôi thật dụng tịnh minh

Chói ngời hình sắc đẹp xinh

Dầu có thiên nhãn chẳng nhìn đặng đâu.

Nguyện 43,Khi con thành Phật cùng tột dưới đất, trên đến hư không, tất cả vạn vật cung điện, lầu các, ao nước, hoa cây v.v… trong nước đều do vô lượng bảo hương hiệp thành”. Ở cuộc đời con người thường chọn danh thơm tiếng tốt, nếu người thật tu phải gìn giữ các pháp thế tục, không để che lấp được tánh giác, phải triệt để giữ gìn thanh tịnh gọi là giới hương. Nếu tu mà vật chất tiền bạc, xe cộ, nhà cửa che lấp là đã phạm giới, đã phạm vào pháp đời nên mất mùi hương, là mất giới hương. Ta phải tu cho bừng sáng trí huệ, tâm thiện là không còn bị các pháp thế gian che lấp, làm chướng ngại sự trong sáng, bị che bởi tiền tài, danh lợi, của cải, tranh giành, oán thù, yêu ghét. Chưa chánh định trí huệ sẽ không bừng sáng, phải dẹp được, chuyển hóa được tham sân si, phiền não, nếu không còn các tà pháp che lấp thì mùi hương của giới pháp thanh tịnh bừng sáng, tỏa ngát hương thơm, tâm ta an ổn vô cùng. Mùi hương bay khắp mười phương nhờ tâm an định, gọi là định hương nên giới giới đều thanh tịnh, định định đều sáng suốt, giới định sáng suốt sẽ tỏa huệ hương. Giới năng sanh định, định năng sanh huệ, vậy giới định đều sáng suốt, trí huệ thường hằng thanh tịnh chiếu tỏa khắp mười phương. “Trong nước đều do vô lượng bảo hương mà thành”, người có bảo hương ví như lầu đài, giống như cõi đất trang nghiêm, thanh tịnh y như cõi Cực lạc. Cõi này tất cả điện, cây cối, thất bảo đều do hương này mà thành cả, nếu không có giới định hương thì không thành tựu được công đức. “Hương thơm xông khắp mười phương thế giới chúng sanh ngửi được đều tu mật hạnh”. Người kiến tánh vì đã lìa tham vọng, những pháp sai quấy không còn niệm sự nhơ bợn cuộc đời nên đi đến đâu hương lòng bay khắp. Hương giới, hương định, hương huệ bay khắp làm cho người chung quanh nghe ấm áp, thơm tho, gần được tâm người an lạc, gần được tâm người đang hạnh phúc hoan hỷ. Nếu chuyên cần tu tập sẽ sáng suốt trí huệ, người ngửi được hương này sẽ ham thích tinh tấn tu theo Phật hạnh.

Phật hạnh là gì? Là trí huệ giác ngộ, là chơn giác. Hạnh là hành động, tư tưởng của những việc làm thanh tịnh. Ta phải kết hợp tư tưởng lời nói, việc làm có trong tánh giác hay không, đó là Phật hạnh. Nếu thấy tánh thô tục, hư xấu liền bỏ, không hành động sai quấy nữa đó là thường hành Phật hạnh. Nếu xét hành động từ quá khứ đến hiện tại, thấy được niệm sanh hành động sai quấy, tự sửa chữa là tu Phật hạnh ; nếu không làm được những điều này dù có đi hành hương, đi lạy Phật, cúng dường bố thí… mà cầu được chánh giác là việc phi lý không thể có. Tổ dạy “Bổn lai vô nhứt vật, hà xứ nhạ trần ai”.

Nguyện bốn ba ai ai trong nước

Chỉ mong cầu nghe được pháp kinh

Tự nhiên sở nguyện đắc thành

Không chờ mời thỉnh thường tình thế gian.

Nguyện 44 phổ đẳng tam muội.

Nguyện 45 nguyện cúng dường chư Phật.

Nguyện 46 nguyện được Tổng Trì đà-la-ni

Nguyện 47 nguyện nghe danh được pháp
                                                                   nhẫn.

Nguyện 48 nguyện chứng quả bất thối
                                                               chuyển.

Các pháp được thành tựu nên một danh từ như Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa, Bồ Tát Thừa, La Hán Thừa, Phật Thừa là pháp Phật vô lượng.

Khi con thành Phật” muốn nói là pháp thành tựu các vị Bồ Tát trong mười phương cõi Phật, ta phải hiểu rõ rằng Bồ Tát chỉ ngay niệm sáng suốt của mình nên trong kinh Bát Nhã dạy Quán Tự Tại Bồ Tát đó là hạt giống, là có chủng tử giác ngộ có sẵn trong tâm nhiều đời nhiều kiếp, đã từng hóa độ chúng sinh.

Có hại loại chúng sanh :

Chúng sinh hữu tình và các chúng sanh có tướng bên ngoài. Nếu ta còn những niệm phiền não, tham sân si, độc ác, tự cao, ngã mạn, nghi ngại, tà kiến… những niệm đó gọi chung là chúng sanh trong tâm, phải nhờ những niệm giác là Bồ Tát trong tâm, tự giáo hóa chính ta gọi là độ chúng sanh ( chúng sinh khổ con nguyền tự độ ) nên niệm này gọi là Bồ Tát niệm. Ta phải nhớ lời Tổ rằng “Trong kinh không có Phật, không có Bồ Tát” mà trong trí tuệ hiểu biết, nơi hào quang sáng suốt cùng hạnh nguyện có vô số Bồ Tát, có chư Phật. Khi ta phát ra nguyện lành quyết lòng tu học cho được sáng suốt là đã sử dụng niệm về Đại Thế Chí, là chí nguyện lớn tự nơi ta vì Bồ Tát Đại Thế Chí kề bên, sẵn sàng thị hiện, cứu giúp ta được tròn sở nguyện. Hiểu biết, sáng suốt, trí tuệ là tự độ các niệm mê lầm, khi vừa khởi niệm sai liền có niệm vi tế của Bồ Tát tại tâm giáo hóa nhắc nhở, chuyển hóa niệm sai lầm liền tự giác, lập tức buông bỏ, không còn niệm nhớ tính toán các niệm sai lầm là tà niệm, là niệm ma, nên nói rằng có Bồ Tát hiện ma liền biến mất. Bồ Tát là những niệm cao thượng, thường giáo hóa, dạy dỗ những chúng sanh thấp hèn trong tâm, ta phải trực chỉ nhận tâm là tu ngay tại tâm mình mới được lợi ích sáng suốt. Vậy Bồ Tát mười muôn ức cõi đều không xa rời tâm niệm chính ta, nếu không khởi niệm nào thì không có mười muôn ức cõi, vì có niệm khởi tại tâm nên mới có phương hướng, có cõi, có thế giới do tự tâm tạo. Có Bồ tát mười phương cũng do niệm khởi, nên có niệm Bồ Tát sáng suốt khởi lên mà làm việc giáo hóa. Ta phải biết rõ mười phương nơi tự tánh mới tạo ra mười phương bên ngoài, các pháp có mặt đều do tâm tạo vì trong tâm vốn đầy đủ, trong tâm chứa muôn pháp. Có cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là chỉ đến các chúng sanh vì niệm mê muội nên sanh tánh mê muội tạo thành. Còn có mười phương quốc độ do các niệm giác tạo thành là tự tánh Phật, vô lượng trùm khắp gọi là thường không bao giờ mất. Ta không lầm nghĩ chỉ có một kiếp này mà không phát nguyện tu học, để đời đời chịu dốt nát, đọa lạc, luân trầm, không đủ duyên gặp Phật nên ta phải tinh tấn tu học. “Nghe danh con rồi đều được thanh tịnh, giải thoát”, ta phải nghe bằng trí tuệ, không nghe bằng sự huyễn giả không thật bên ngoài. Ta phải nghe vào tự tánh gọi là hạnh lắng nghe, nghe vào tánh chơn thường, nghe bằng trí tuệ sáng suốt, nghe chơn định, chơn giải thoát đó là nghe danh chính nơi ta, phải nghe danh giải thoát, nghe danh định tự tại, danh của tự tánh, tất cả đều an lạc giác ngộ. Danh ta là Bồ Tát Quán Vô Trụ, Bồ Tát Hiền Hộ, Bồ Tát Thiện Tư Duy, Bồ Tát Huệ Biện Tài, Bồ Tát Thần Thông Hoa, Bồ Tát Quang Anh, Bồ Tát Bảo Tràng, Bồ Tát Trí Thượng, Bồ Tát Tịch Căn, Bồ Tát Tín Huệ, Bồ Tát Nguyện Huệ, Bồ Tát Hương Tượng, Bồ Tát Bảo Anh, Bồ Tát Trung Trụ, Bồ Tát Chế Hạnh, Bồ Tát Giải Thoát đều là thượng thủ, tất cả là Bồ Tát đã tự giác, phải nghe lại tiếng lòng đang thổn thức mà dỗ dành, giáo hóa cho được sáng suốt. Ta không nghe danh từ, văn tự bên ngoài, bày vẻ mọi hình tướng, suốt đời sẽ là nô lệ cho thế gian, không giải thoát được, mãi mãi ở trong buồn phiền, khổ não, luân hồi, bức ngặt. Nếu miệng vẫn đọc kinh, nói kinh mà tâm vẫn còn niệm nhớ việc thế gian, hành động là của pháp thế gian, vẫn còn là tâm của chúng sanh, không phải tâm đức Phật vì chưa xa lìa được thế gian ; vẫn còn tham muốn, đòi hỏi, sân si, tranh đấu, không gọi là xuất thế gian được, vì tự tánh là vô lượng thọ, có công năng thọ dụng tất cả mà thế gian không thể biết được, nên gọi là vô lượng. Sự thọ dụng thế gian chỉ có giới hạn, dù giàu có thế nào, sang trọng thế nào cũng sẽ thay đổi, có người khác sẽ hơn nên không nói là vô lượng, mà chỉ có hạn lượng. Sự thọ dụng trí tuệ vô cùng, vô tận, vô biên gọi là kinh vô lượng thọ. Sự thọ dụng không thể nói hết được “thì được thanh tịnh giải thoát và phổ đẳng tam muội”. Phổ đẳng là rộng khắp, bình đẳng, người người không giới hạn riêng ai, khi đã thành tựu được pháp tự giác tam muội, là giải thoát không còn bị ngăn ngại, giới hạn. Trí huệ tam muội dành cho tất cả mọi người không chỉ riêng ai, rất bình đẳng trùm khắp, nếu ta quyết lòng tu sẽ được chứng đắc tam muội, các pháp đều bình đẳng, gọi là phổ đẳng tam muội, vì ai cũng được thành Phật quả. “Các môn tổng trì vào tam ma địa”, do một niệm sanh khởi mà có tất cả gọi là tổng trì, vì chỉ một niệm vô minh khởi sẽ có tham, sân, si phiền não, ham muốn, chỉ từ một niệm mà có tất cả niệm nên Phật dạy “pháp pháp hà tằng pháp”, chỉ một niệm sẽ sanh ra nhiều niệm liên tục nên người tu phải gìn giữ niệm khởi bằng cách niệm Phật. Nếu ý phát sinh mà không có tánh giác giáo hóa, liền rớt vào niệm địa ngục tức thì, vì niệm tổng trì từ địa ngục lên tới trời hữu đảnh, giống như một vị vua lớn coi tất cả các vua nhỏ là một niệm tổng trì. Khi khởi niệm mà không biết cai quản, giữ gìn, bảo vệ thì phải sa vào địa ngục, phải hằng giữ niệm giác chính mình như tự giữ tròng con mắt không cho bụi dính vào như vậy mới giữ niệm Phật (giác) được chơn chánh. Phải giữ ngay niệm chính mình A Di Đà thành tựu pháp gọi là Tịnh Đức A Di Đà, ta niệm Tịnh đức A Di Đà là muốn thành tựu pháp gọi là đức Di Đà. Ta niệm A Di Đà là nhớ đến Tịnh Đức là muốn thành tựu pháp A Di Đà tại tâm niệm chính ta cho được sáng suốt, trí tuệ giống như Đức A Di Đà, niệm không còn nghĩ nhớ vào thế gian nữa, các niệm của tà pháp chuyển hóa thành Tịnh Đức A Di Đà tại tâm ta, ta đã thành tựu được đức tánh A Di Đà, hiện giờ tâm niệm ta đã thật sự trở về TỰ TÁNH DI ĐÀ VÔ BIỆT NIỆM, không còn niệm phân biệt pháp thế gian nữa, phải tự ăn mới no, tự tắm mới mát, tu mới chứng, phải tu ngay niệm của ta thành Phật ( giác ) tại niệm của ta, phải giữ gìn niệm A Di Đà Phật của ta là niệm tổng trì. Hằng ngày ta cứ mãi niệm niệm, không gìn giữ, chăm nom nên niệm niệm đi hoang khắp cùng tam giới, sa đọa, luân trầm, không có được niệm nào sáng suốt để giáo hóa, nên mãi lầm lạc vào sự luân hồi trong tứ sanh lục đạo ( thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh ) ( Thiên, nhơn, a-tu-la,, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ). Tổng là gom, trì là kéo lại, giữ lại ; phải cai quản tất cả các niệm của ta, chỉ cần một niệm khởi mà sanh sanh, hóa hóa vô lượng, vô biên, niệm niệm sai lầm ta phải tự quyết định gọi là một niệm tổng trì. “Vào tam ma địa” nghĩa là tu chỉ, tu định, tu quán. Ta phải quán xét thấy các niệm hiện tại có bị lôi cuống, sa đọa, rớt vào sông mê, biển khổ là vào chỗ tham sân si, phiền não ; sa là rớt vào nơi tăm tối ; đọa là ở mãi, không sáng suốt ra được, gọi là sa đọa ; lôi cuống như dòng nước, theo dòng danh lợi tình ái, giàu sang, cứ mãi chạy theo dòng đời, phải dùng định lực giữ lại gọi là định. Xa-ma-tha hay định tam-ma-địa, tu phải có định mới sanh huệ. Nếu niệm niệm mãi lang thang cùng khắp lục đạo thì không có huệ. Phật dạy tứ oai nghi đi đứng nằm ngồi, đều dò xét từng niệm, nói năng, người tu phải giữ từng lời nói (chánh ngữ) mới vào được tam-ma-địa. Nói năng, đi đứng nằm ngồi đều chỉ quán vào định niệm gọi là tam-ma-địa. Quán tam-ma-địa là quán từng niệm khởi, phải dò xét kỹ vào các pháp tương ưng như thế nào, nghĩa là đang niệm gì, niệm hiện khởi có tương đồng với pháp Phật không? Có tương ưng đồng với Tam Bảo không? Hay tương ưng với phàm phu, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đó là tu quán tam-ma-địa, chỉ tam-ma-địa. Chỉ là trực chỉ, không cho niệm nào xen lẫn vào niệm chánh giác ( chánh niệm ), phải kiên cố, nếu thấy niệm khởi mà không tương ưng với chánh giác, phải lập tức phá vỡ vì giác biết sắp niệm vào vô minh ; phải chà đạp, dẹp bỏ không cho tà niệm khởi lên, tạo ra những tạp niệm ; phải tự phá bỏ vì biết niệm đó là mê vọng, kiên quyết không theo, phải chú ý vào niệm thật vững chắc đi sâu vào chơn tánh. Ta đã thấy rõ ràng tánh giác gọi là chỉ, nên nguyện này dạy cho ta tu chỉ quán và định, do ba pháp hợp lại gọi là TAM MA ĐỀ. Pháp tu này phải nhận rõ rằng tự tánh vẫn đầy ấp tạp niệm điên đảo của các cõi tứ sanh lục đạo, bởi các niệm lăng xăng, phiền não, niệm cố chấp nên không được chỉ định quán, không được chứng tam-ma-địa vì đó chỉ là hình thức niệm Phật. Không được niệm tổng trì là nói về một niệm sáng suốt, niệm này sẽ là chủ các niệm giáo hóa các tạp niệm thành thanh tịnh sáng suốt; dò xét, biết được tất cả các tà niệm đang tính toán rơi vào các pháp điên đảo, không để các loạn niệm bị rớt rơi, không bị sa đọa vào trong phiền não, ham muốn theo tâm của chúng sanh, không đua đòi theo cuộc đời, không nghe theo sự bày vẽ của âm thanh, sắc tướng bên ngoài. Phải tu quán, tu định, tu chỉ, tất cả các niệm phải được giáo hóa vì các niệm gọi là chúng sinh nơi tự tâm cũng là Bồ đề quyến thuộc của ta, chỉ vì mê lầm nên sa đọa, ta phải tự cứu vớt họ, tức là tự cứu lấy ta, các niệm đều trở lại chính Tịnh Tánh A Di Đà đầy đủ trí huệ, là hào quang sáng suốt, đó gọi là “chư Phật hiện toàn thân”. Ta phải nhất quyết khẳng định tu theo giới định huệ, không theo niệm chúng sinh, theo niệm chúng sinh là lạc vào rừng mê. Giới định huệ là căn bản có sẵn ở mỗi con người, ta cần tự phát huy lấy. “Vào tam ma địa cho đến thành Phật” nếu trong chỉ mà thấy được các niệm là trực chỉ, không còn bị các niệm lôi cuống là chỉ thành tựu. Khi định không còn niệm điên đảo nữa là định thành tựu, quán sát tất cả các pháp không còn vướng trụ ô nhiễm trong tâm là quán thành tựu. Nếu chỉ thành tựu, định thành tựu, quán thành tựu là thành Phật, đã giác ngộ là thành tựu tổng trì vào tam-ma-địa là thành Phật.

Vậy thành Phật là ai? Là do pháp thành tựu. Phật là nhân, pháp tu là quả là thành tựu Phật quả. Nên có nhiều pháp thành tựu được nhiều Phật gọi là hằng hà sa số đức Phật, vô lượng chư Phật ở khắp Đông, Tây, Nam, Bắc nói rằng chư Phật ở khắp mười phương đều thành tựu như pháp. Các pháp đều như vậy, nếu pháp không thành tựu mà cho là chứng quả Phật là dối gạt chúng sinh, là lừa đảo Phật pháp, phá hoại Phật pháp, vì không đầy đủ pháp, tự ta dối gạt lừa đảo làm hư nát tự tánh ta ; không đầy đủ pháp vì không có đủ nguyện lực, không có đủ đạo đức để thành Đức Phật. Pháp này rất sâu mầu, vốn tự nhiên, vốn không gạt được ai, vì có nhân tu Phật sẽ có quả Phật, người tầm thường không thể biết được vì đây là Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nên phải thường đọc tụng nghiên cứu bằng trí huệ, bằng sự chơn thật tu. “Thường trong định, thường cúng dường vô lượng vô biên chư Phật vẫn không mất định ý”, người đã thành tựu pháp không còn nhớ đến thân tướng vì lìa các tướng mới là chơn thật tướng, tuy ở trong định vẫn thường cúng dường chư Phật. Người ở trong định đã trở về tự tánh trí huệ nên được vô lượng chư Phật cúng dường. Tất cả các niệm phiền não, sân si đã được giáo hóa thành vô lượng đức Phật nên tự tánh có vô lượng niệm giác, vô lượng đức Phật cúng dường nhập vào sự sáng suốt, tất cả các niệm giác đều cung kính nuôi dưỡng tánh giác. Người thường ở trong định kiên cố là đã cúng dường khắp chư Phật. Tất cả các niệm đã đem sự sáng suốt, thơm tho cúng dường cho tự tánh Phật bằng hương giải thoát giác ngộ. Người tu giới định huệ hay chỉ định quán mà thành tựu viên mãn pháp là đã đền ơn ba đời chư Phật. Vô số chư Phật, cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp, Cửu Huyền Thất Tổ vì pháp tổng trì thanh tịnh đà-la-ni là mẹ đẻ sinh ra chư Phật, cải tạo nên niệm chơn chánh của con người. Ta phải cung kính nuôi dưỡng pháp là đền ơn phụ mẫu. Chư Phật cũng là mẹ ba đời của tất cả chúng sinh, nếu nuôi dưỡng pháp, nuôi dưỡng tự tánh Phật là đền ơn phụ mẫu. Đức Thích Ca là Từ Phụ, là tự tánh thanh tịnh, là trí huệ đại quang minh. Cha mẹ sinh thân cũng là ơn, nhưng là ơn trực tiếp vào thân xác, còn ơn chư Phật là vô lượng vô biên, ơn Tam Bảo không bao giờ xa lìa cả, ơn này đời đời kiếp kiếp gọi là vô lượng kiếp ta không thể quên được. Vì định kiên cố nên thường cúng dường các đức Phật. Người thường ở trong định kiên cố là đã cúng dường các đức Phật. Nếu mất định sẽ không nuôi được tự tánh là đã bỏ quên Phật, tâm đã loạn, niệm niệm mê muội, điên đảo, làm khổ tất cả mọi người, làm khổ chính ta. Tâm không định nên có phiền não, sân giận, không phải là chỉ định quán, đã bỏ Phật tánh chạy theo các niệm tà ma, ngoại đạo, nếu không thành tựu được pháp này cho là thành Phật hay một cá nhân nào gọi là Phật, là niệm sự mê muội, còn chấp trụ vào sự tướng. Phật dạy rằng sau này dù có ai đứng giữa lưng trời, có hào quang mà giảng pháp, dù các ông nghe, mà không nên đảnh lễ, phải quan xét coi tâm niệm họ có thành tựu Phật quả không? Nếu thành Phật quả hãy cung kính, nếu không được vậy chạy theo là bị chúng ma lừa đảo.

Khi con thành tựu pháp A Di Đà thì sự thành tựu pháp Di Đà chính con là A Di Đà, ba đời chư Phật đều thành tựu như vậy. Muốn thành Phật phải y pháp Phật, cũng như cất nhà phải có pháp thành tựu hợp lại là : thợ xây, nguyên liệu, cát, đá, xi-măng, tiền bạc v.v… mới thành tựu được tòa nhà. Vậy có nhà cũng do pháp mà thành tựu, thành Phật cũng do pháp mà thành tựu, có đức A Di Đà cũng do các pháp A Di Đà, là 48 pháp từ nguyện lực mà thành Tịnh Đức A Di Đà. Nên vua Vô Tránh Niệm nhờ 48 đại nguyện mà thành tựu Tịnh Đức A Di Đà. Nếu tất cả chúng ta thực hành đúng pháp là 48 đại nguyện, cũng đều được thành tựu Đức Tánh A Di Đà cả. “Các bậc Bồ Tát ở thế giới khác nghe danh con rồi chứng ly sanh pháp”. Vậy các vị Bồ Tát ở đâu? Đều ở trong mười phương ngay tự tánh của chúng ta, có chứa tất cả mười muôn ức cõi Phật, nếu không có tự tánh thì không nói đến cõi nào, phương nào cả, nếu không có ta thì chẳng có pháp nào. Ngày xưa thời đức Phật muốn thành tựu pháp phải có đủ duyên là lục chủng thành tựu :


1. Pháp thành tựu.

2. Thời thành tựu.

3. Xứ thành tựu.

4. Nhân thành tựu.

5. Chủ thành tựu.

6. Chúng thành tựu.


Mười muôn ức cõi nếu không được pháp thành tựu thì không có mười phương, nên Bồ Tát trong các cõi mười phương là những tâm niệm sáng suốt, trí huệ, làm lợi ích cho chúng sinh mới gọi là Bồ Tát. “Bồ Tát cùng tất cả chúng sinh mười phương cõi khác nghe danh con liền chứng ly sanh pháp”, nếu chứng ngộ được tất cả pháp của đức Phật là lời dạy trong 48 nguyện, hay thường thấy niệm của chính mình, tu được ba pháp QUÁN ĐỊNH CHỈ tam-ma-địa thì đã xa lìa phiền não, không còn  niệm cố chấp, không niệm đố kỵ, không sanh niệm tham sân si vì si là dốt nát, mê muội. Nguồn gốc của si là lòng tham mê, dốt nát vô tận, chỉ nhớ đến niệm ham muốn, đòi hỏi riêng cho cá nhân mình, nếu không như ý thì sân đó là chấp nhân, chấp tướng nên sa đọa. Tự tánh vốn lìa tứ tướng, chẳng trụ vào tướng nào, không riêng vào cá nhân nào là niệm vô phân biệt gọi là vô biệt niệm. Không còn niệm nào riêng tư quyền lợi cho ai cả, đó là ly sanh pháp nhẫn. Tự tánh đại bi có sức gánh chịu tất cả gian lao, khổ sở của cuộc đời mà tâm vẫn an ổn, thanh tịnh, không sanh động niệm, không vướng trụ, bận rộn thế gian, đã sáng suốt xa lìa mọi ham muốn, chịu đựng hết phiền trược thế gian, mà không than oán, biết rõ Ta bà là ngũ trược, ác thế, gọi là ly sanh nhẫn, được đà-la-ni là giải thoát, cũng gọi là pháp tổng trì một niệm, kham nhẫn được, chuyển hóa được các niệm phàm phu khác trở thành thanh tịnh hoan hỷ. Thanh tịnh là đối trước vô lượng pháp đều không nhiễm một pháp nào, gọi là có pháp, mà không chấp, vô nhiễm không pháp nào là của ta.

Vậy 48 lời nguyện A Di Đà là của ai? Đó là pháp chung của muôn loài, không chỉ riêng vua Vô Tránh Niệm, các pháp không là của ai, nếu ai có khả năng hành động, sử dụng pháp Thích Ca thì đã thành tựu hạnh Thích Ca, cũng là Thích Ca thứ hai vậy. Nên trong Kinh Vạn Phật nói có vô số danh tự Thích Ca giống như ta, có ngàn muôn Đức Thích Ca, ngàn muôn đức A Di Đà, ngàn muôn đức Quán Thế Âm, ngàn muôn đức Đại Thế Chí, không chỉ một danh tự Phật riêng của ta, nếu chỉ riêng có một người được thành Phật thì ta tu để làm gì? Thành gì? Mục đích tu học Phật là giác ngộ, giải thoát giống như Phật, chớ không tu vì được giàu sang, được danh vị, được chùa to, Phật lớn mà tu vì theo chơn lý Phật buông bỏ, lìa hết các niệm thế gian đầy ham muốn, ra khỏi tâm mê điên đảo. Ai cũng có thể thành tựu được pháp Thích Ca, Di Đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, ai ai cũng sử dụng được pháp, sử dụng hạnh nguyện Phổ Hiền. Sự thanh tịnh hoan hỷ là vui vẻ, hân hoan, sáng suốt, trí huệ nơi tâm vì người sáng suốt mới có tâm hoan hỷ ; người mê muội dốt nát thường sân si, tâm bực bội không có sự an ổn, tâm luôn rối loạn. Người tâm hoan hỷ là minh tâm kiến tánh, an trụ trong thể tướng bình an, bình đẳng. Mọi người đều có khả năng an trụ trong sáng suốt, trong thể tánh vô niệm, không còn tâm phân biệt, chấp riêng của ta, phải an trụ vào sự bình đẳng, không có tướng biệt lập gọi là bất tùy phân biệt, lúc nào cũng ở trong tánh giác, tất cả các niệm phải thường được giáo hóa, không tự cao, tự đắc, dù đã an định nhưng cũng phải thường theo dõi các niệm nên gọi là Bồ Tát thường giáo hóa chúng sanh.

Đầy đủ trí đức mà không chứng được ba nhẫn nơi Phật, không chứng được bất thối chuyển thề không thành chánh giác”. Nếu trí huệ không được tổng trì, không có ba nhẫn là thiện, ác và vô ký hay tham sân si, hoặc thân khẩu ý vì pháp Phật là vô lượng nghĩa, tự tánh có khả năng chịu đựng, đều kham nhẫn vượt qua được cả, nơi Phật pháp mà không chứng được bất thối chuyển. Nếu dùng đủ năng lực thì không ngại thế gian, không ngại nghiệp chướng nên đã định, an trụ, sống với tâm hoan hỷ, với sự minh tâm kiến tánh. Ta tu phải thệ nguyện trở về với tự tánh sáng suốt, trí huệ, bình đẳng nếu không được như vậy thệ không thành chánh giác. Thành chánh giác là tất cả pháp tổng trì đều được chánh giác, nghĩa là các pháp đều thành tựu, ta đã hoàn toàn làm chủ được các niệm. Nghe đặng danh là nghe được tự tánh sáng suốt trí huệ.

Nguyện hiện chứng quả bất thối chuyển”. Khi nghe và tu học được các pháp thường chiêm nghiệm, cần phải phát nguyện dù cho bao nhiêu khổ cực, đắng cay cũng phải vượt qua. Khi xưa dưới cây bồ đề, Phật đã phát nguyện “dù cho thịt nát, xương tan, nếu không thành chánh giác thề hhông hế đứng dậy” nên ta cũng cần phát nguyện dũng mãnh dù cho hoàn cảnh nào cám dỗ nguyện không thối chuyển.

Tất cả chư Tôn Bồ Tát ở khắp mười phương thế giới các cõi khi nghe danh hiệu A Di Đà có nghĩa là người kiến tánh thấy được tự tánh A Di Đà chính tâm mình, đó chính là danh hiệu, là bổn lai diện mục, là ngọc minh châu, là Tịnh Đức A Di Đà tự tánh của chính ta. Các niệm đã sáng suốt, nhân danh là Bồ Tát được tinh tấn luôn ở trong thiền định tánh giác, bình đẳng, không rời nên đắc vô sanh nhẫn được phát huy trí huệ nên chánh giác. Các niệm Bồ Tát đều như như gọi là Như Lai, với nguyện lực kiên quyết bất thối nên không còn niệm lầm mê, đã vào tam ma địa ; tự quy y, tự tánh giác ngộ gọi là đắc kỳ sở nguyện đều an trụ đà-la-ni tam muội chánh đẳng chánh giác. Khi Ngài Pháp Tạng đại diện cho tất cả chúng sanh đã tròn công hạnh 48 đại nguyện, khi ấy các cõi trong tâm từ mười phương quốc độ tam thiên đại thiên thế giới đều chấn động sáu cách, nghĩa là sáu căn đều tịch tịnh, mắt tai mũi lưỡi thân ý đều rung rinh, chuyển động, khi ấy màn vô minh, tăm tối, đã phá vỡ, ánh sáng chơn lý đã lọt vào tự tánh hiển bày chiếu sáng, không còn đắm lụy, chỉ còn hoa trí huệ, hoa bồ đề, hoa mạn đà la, họa mạn thù sa, ma ha mạn đà la, ma ha mạn thù sa, mừng vui chào đón bậc toàn giác giữa hư không tán dương công đức, các Bồ Tát khắp mười phương đều khấu đầu đảnh lễ, các tâm niệm xưa nay trôi dạt tha phương khi tự giác đều quy về đảnh lễ TỊNH ĐỨC A DI ĐÀ PHẬT, là cổ Phật nhiên đặng bất sanh bất diệt.

Nguyện bốn bốn Thanh Văn, Duyên Giác

Trong nước tôi đều đắc oai thần

Hào quang tỏ rạng vô ngần

Biện tài thuyết pháp ngang phần Pháp Vương.

Nguyện bốn lăm tha phương Bồ Tát

Nghe danh tôi tấn phát phụng hành

Thảy đều đặng pháp tịnh thanh

Định thần giải thoát phước lành thưởng ban

Như ai muốn cúng dường Phật pháp

Trong một giờ đi khắp hà sa

Tuy là đường sá rất xa

Định thần không lạc, thiền na chẳng lìa.

Nguyện bốn sáu chư Tôn Bồ Tát

Ở tha phương nghe đặng danh tôi

Quy y tinh tấn vừa rồi

Định thiền bình đẳng, ban hồi chẳng ly

Đắc pháp nhẫn đến khi chánh giác

Đặng thấy thường các bậc Như Lai.

Lời nguyện bốn bảy như vầy

Tha phương Bồ Tát về đầy nước tôi

Tâm chí nguyện đắc hồi bất nhị

Chẳng thối lui địa vị cao sâu.

Lời nguyện bốn tám báu mầu

Tha phương Bồ Tát khấu đầu quy y

Chư vị ấy đắc kỳ sở nguyện

Nhứt, nhị, tam nhẫn thiện pháp vương

Pháp môn của Phật không lường 

Bao giờ cũng trụ thế thường chẳng thôi

Khi Pháp Tạng nguyện con đã trọn

Cõi tam thiên sáu món rung rinh

Hương hoa đổ xuống đầy cành

Hư không phát tiếng chắc thành Như Lai.

Đến đây đã hoàn tất 48 lời nguyện là Bảo Tạng là pháp báu thành tựu tịnh đức A Di Đà Phật.

Nguyện trên chư Phật, chư Bồ Tát, chư Duyên Giác, chư Thánh Hiền, Thanh Văn, Thiên Long Bát Bộ oai lực Tam Bảo gia trì được thành tựu 48 lời nguyện chứng đắc chánh đẳng chánh giác.

 

Nam Mô A Di Đà Phật.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỜI NGƯỜI SOẠN

 

Kính thưa quý đọc giả !

Chúng ta là duyên của pháp tu Tịnh Độ, là chúng của Tịnh Độ Tông, chuyên trì danh niệm Phật nên khi đọc tụng phải nhớ ngay đến Tịnh Đức A Di Đà, là Giáo chủ cõi Tây phương Cực lạc. Cõi này ở tại tâm con người, với lòng tôn kính sùng bái, sự lợi ích cho chính ta và mọi người, ta cần tìm hiểu nguồn gốc mà đức Thích Ca Mâu Ni đã tuyên dạy, diễn thuyết cùng chư Phật, chư Bồ Tát, chư Duyên Giác, Thanh Văn, Trời, Người, chư Thiên Long Bát Bộ, muôn loài, cùng tất cả chúng sanh. Phật thuyết A Di Đà kinh, Phật là đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, kinh A Di Đà là do đức Thích Ca thuyết, vì chúng sanh không biết rằng mỗi người đều có tự tánh A Di Đà sáng suốt, nếu nguyện nhiếp thọ tất cả niệm chúng sanh, được chuyển hóa sáng suốt, thanh tịnh, hội nhập tự tánh Phật chính mình, sẽ là tự tánh vô lượng quang, vô lượng thọ, vô lượng công đức. Phẩm kinh này do chính kim khẩu đức Thích Ca nói ra mà không có sự thưa thỉnh tự đức Phật nói ( vô vấn tự thuyết ) nên có kinh Phật thuyết kinh A Di Đà. Những phẩm đầu nói về duyên khởi từ đâu mà có 48 lời nguyện, có tứ đức Thích Ca Mâu Ni tuyên thuyết để dạy cho vua Vô Tránh Niệm, muốn thành Phật phải phát nguyện thực hành theo lời dạy của Ngài, đó là pháp từ nguyện lực hợp thành để thành tựu đức A Di Đà Phật. Thời thành tựu nên có kinh A Di Đà, có pháp môn niệm Phật, 48 đại nguyện là bí yếu của A Di Đà kinh. Di Đà ta thường đọc là tiểu bổn mà 48 đại nguyện là đại bổn nên gọi là đại nguyện. Ta phải hiểu rõ, tu cho đúng pháp môn. Vua Vô Tránh Niệm phát 48 đại nguyện là phát chính cho Ngài, do đức Thích Ca tuyên dạy. 48 đại nguyện không phải nói đến một đức Di Đà mà đó là lời vua Vô Tránh Niệm phát nguyện với Thế Gian Định Tự Tại Vương Như Lai, lời đức Phật Thích Ca thuyết ra bằng cách dùng thần thông từ trí huệ hóa hiện ra các sự tướng để chỉ tánh của chúng sanh. Ngài dàn dựng ra hiện tướng biến hóa có vua Vô Tránh Niệm, có tướng Thế Gian Định Tự Tại Vương Như Lai để nói lên sở thuyết, là chỉ đến sự chứng ngộ tại tâm Ngài. Vì chỗ sâu kín, khó nghĩ, khó nói, khó giảng nên Phật phải diệu dụng phương tiện giảng giải, bằng cách mượn sự biến hóa có hình tướng con người mà diễn nói, có vấn, có đáp cho mọi người thông hiểu, đó là sự vi diệu của trí tuệ Phật. Ý kinh rất thâm diệu, người học kinh phải cẩn thận, nếu không dè dặt sẽ trụ vào hình tướng, chấp chặt vào tư tưởng trừu tượng, hoang tưởng thì không thể thấy tánh được. Ta không nên phó thác 48 lời nguyện cho vua Vô Tránh Niệm mà tự quên mình cũng có phần thọ nhận và phát huy sự tu học vì đó là lời dạy của đức Phật Thích Ca dạy chung cho tất cả mọi người, nếu ai phát tâm tu hành, đều phải thọ trì, áp dụng vào tâm. Nếu cứ mãi chăm chú chấp vào cách dùng miệng niệm Phật mà không sử dụng sự hiểu biết, không thấy việc mình phải thực hành để tu chứng ngộ tự tâm, thì 48 lời nguyện này dù ta có đọc tụng cũng không ích lợi gì cả, vì Phật dạy Phật tức tâm, tâm tức Phật. Nếu tu đúng 48 lời nguyện là tu pháp A Di Đà tâm ta sẽ chuyển thành Tịnh Đức A Di Đà tự tánh. Nếu tu theo 12 lời nguyện là Tịnh Đức Quán Thế Âm, chí lớn nguyện tu thành Phật quả là Đại Thế Chí, chí lớn nên sự kiên trì bất thối. Tu 10 hạnh Phổ Hiền là pháp Phổ Hiền thì tâm ta là tâm hạnh Phổ Hiền. Nói về hạnh, không chấp tướng nhơn là tướng người. Ta phải nhận biết nếu tướng ta là con người, muốn làm nên điều gì mà không có phương pháp thì con người không pháp đó không thể thành tựu được công việc. Nói có đức Di Đà phải thành tựu pháp của 48 lời nguyện, dù có hình tướng A Di Đà ta hằng chiêm bái lễ lạy, đó là vỏ bên ngoài, còn phần ruột tạo thành một Tịnh Đức Tánh A Di Đà, phải dùng pháp là 48 đại nguyện. Học phật phải có trình độ thực hiện bằng kinh nghiệm của đức Phật mới có thể thành tựu phẩm vị đạo đức Phật được ; phải hiểu biết thật sâu, không mù quáng, bằng những tư tưởng qua cách hướng dẫn của ngoại đạo mà lầm lạc, cứ chạy theo người, theo vật bỏ quên Phật tánh của ta là Thường Tịch Quang vô cùng linh diệu. Tự tánh là nguồn sống vô cùng vô tận, không già không chết, không sanh tử luân hồi vì một niệm sanh khởi bất giác nên liền nhập vào tứ sanh lục đạo theo tập nhiễm của thế gian. Các niệm vô minh sanh khởi không dừng, càng chồng chất dẫy đầy nghiệp tham sân si ái, niệm niệm sanh khởi bất tận nên vô minh vô tận, vô lượng vô biên. Vì lòng bi mẫn thương xót chúng sanh đức Thích Ca mới dạy về pháp niệm Phật, nhờ hồng sanh A Di Đà làm Phật hiệu để ngăn chừa vọng niệm, thanh lọc tự tâm bằng sự nhiếp tâm niệm Phật, nhớ lại tự tánh chính mình, không theo vọng niệm, cùng 48 đại nguyện là chánh nhân để thành tựu quả vị là chánh quả. 48 đại nguyện đức Thích Ca dạy cho tất cả chúng sanh biết cách ngộ nhập Phật tri kiến, là kiến tánh khởi tu, tự chuyển hóa các tâm niệm mê lầm bằng cách dụng danh từ các Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác nương vào mỗi danh hiệu mục đích là chỉ từng niệm sáng suốt tại tâm người, trở lại sự giác ngộ giải thoát, hết các tà niệm, vọng tưởng còn vướng trụ nơi tâm. Ngài mượn cảnh Tây phương Cực lạc để chỉ rõ vào tâm niệm con người khi được thanh tịnh sẽ cùng cực an lạc, trong sạch, quý báu như tâm có lầu các, pha lê, xa cừ, mã não, san hô, lưu ly, hổ phách. Các món ăn bằng pháp bảo là cách hiểu biết ăn vào tinh thần ta để nuôi dưỡng tự tánh hằng ngày bằng cơm Hương Tích, là Ngũ phần tâm hương ( hương lòng ), là giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát, giải thoát tri kiến hương. Những món ăn báu là pháp như Thất Bồ đề Phần, Bát Chánh Đạo Phần, là cơm phần từ bi hỷ xả. Ngũ căn, ngũ lực là sức mạnh tinh tấn, đại hùng đại lực, sức mạnh của người tu. Ngài dạy niệm Phật, tu thiền định, chỉ quán, xa-ma-tha, vào tam-ma-địa. Trong 48 đại nguyện có đầy đủ phương pháp trở về tự tánh, xả ly các kiết sử tham, sân, si, tự cao, ngã mạn, ác kiến, thân kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, là ung nhọt sẽ làm bệnh hoạn, băng hoại, thối nát tâm vì niệm mê muội chấp lầm. Tự tánh Di Đà của mỗi chúng ta là Thường Tịch Quang, là sáng suốt thanh tịnh. Các pháp thế gian đều tịch lặng chơn như, thường chiếu soi vạn pháp mà không ô nhiễm. Vậy tất cả chúng ta hôm nay đã có đủ duyên lành học Phật, hãy dũng mãnh quyết định trở về tự tánh sáng suốt trí huệ chính ta để không còn lạc loài nơi chốn rừng mê đầy phiền não vô minh đau khổ.

Kính thưa chư Tôn Đức Tăng Ni cùng quý thiện hữu tu học gần xa !

Đây là những lời giảng của Sư phụ Thượng Minh Hạ Đức, vì lòng từ bi thướng tất cả chúng sanh, đây là việc khó làm nhưng Sư phụ đã hoàn thành giảng giải những điều thâm mật của 48 đại nguyện, làm sáng tỏ soi rọi lộ trình tu nhân học Phật, phục vụ cho những ai đủ duyên lành cùng sớm giác ngộ tu hành thành chánh giác.

 

Kính thưa quý Ngài !

Người biên soạn vì sức tu còn hạn hẹp, học vị đơn giản nên lời văn bình dị chỉ diễn bày những điều tự lòng mình, mà lời giảng từ trí tuệ thật sâu rộng, Phật pháp sâu kín nên sự kết soạn còn nhiều khiếm khuyết, chỉ đáp ứng tùy thuộc vào trình độ người viết, không nói hết sự diễn bày ý chỉ của chư Phật Tổ và lời giảng của Sư Phụ. Nhưng nhận thấy đây là phương tiện quý báu, cần thiết cho người tu học Phật, nguyện đem trí lực nhỏ hẹp này, cố gắng đóng góp vào biển pháp bao la, nguyện đem hết tấm lòng phục vụ vào Phật pháp cho những duyên lành học Phật được trở về tự tánh A Di Đà mà Đức Từ Phụ Thích Ca đã tuyên dạy. Người biên soạn xin nhận mọi sự đóng góp ý kiến xây dựng cho quyển sách thêm phần sáng tỏ.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Xin chân thành kính bút

 

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp

Bá niên vạn kiếp nan tao ngộ

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì

Nguyện giải Như Lai chơn thật nghĩa.

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Xét xem tánh hạnh tự lòng

Xuất gia đầu Phật nguyện lìa biển mê

Quyết gieo hạt giống Bồ đề

Nguyện về Tịnh độ nước nhà Lạc bang

Di Đà phát nguyện lời vàng

Kim ngôn, ngọc ngữ vô vàng bảo châu

Khắp cùng cõi nước đâu đâu

Mười phương quốc độ tiếp thâu nguyện lành

Hoa khai trí huệ sẵn dành

Con dâng cúng Phật thực hành đạo tâm

Thành lòng nhớ đức Quán Âm

Xét xem tánh hạnh thâm thâm diệu huyền

Nguyện cùng Bồ Tát kết duyên

Rước đưa bạn lữ thoát miền khổ đau

Cần chuyên sáng suốt dồi trau

Hoa lòng rực sáng dạt dào từ bi

Niệm cùng tâm nguyện khắc ghi

Nhớ nơi tánh Phật vô vi giáo truyền

Soi tâm thức tỉnh là duyên

Dắt dìu sanh chúng đảo điên tại lòng

Tâm tự độ niệm thanh trong

Không còn vương vấn long bong cõi trần

Hãy nên vén bức màn lòng

Thấy trong sanh chúng mắc vòng đảo điên

Từ tâm nguyện độ cần chuyên

Dùng vào trí tuệ làm thuyền rước đưa

Bỏ dần thói cũ tật xưa

Mê lầm chấp thật dày bừa khổ đau

Biết rồi tường tận mau mau

Sống đời giác ngộ thấp cao chẳng màng

Quán tâm thấy ánh đạo vàng

Quay vào tự tánh ngỡ ngàng xiết bao

Đạo đời dù thấp hay cao

Hoa khai kiến Phật còn ao ước gì?

Bốn mươi tám nguyện khắc ghi

Con đường giác ngộ liễu tri Niết Bàn

Bồ đề minh tánh là vàng

Thanh trong ô nhiễm đạo tràng tự tâm

Giáo điều Phật dạy tri tâm

Nhân lành quả thiện tinh anh tự lòng

Vô ưu vói hái một lần

Vạn ngàn năm mới một thời tỏa hương

Xưa nay mỏi mệt lầm đường

Duyên lành đã ngộ con đường tử sanh

Nay nguyền phát nguyện chí thành

Nguyện hành Bồ Tát vô sanh, vô phiền

Dắt dìu sanh chúng thiện duyên

Độ trong pháp lữ mười phương tại lòng

Sớm hôm tỏ ngộ đục trong

Trí thông sáng suốt khắp xông đạo tràng

Xa lìa thế giới bất an

Quy y tánh Phật còn tham lụy gì?

Nhập vào quốc độ từ bi

Hái hoa cúng Phật tâm y tợ vàng

Đưa tay hái quả bình an

Bồ đề quyến thuộc an nhàn hòa tâm

Đê đầu lạy đức Quán Âm

Đại từ Thế Chí ân thâm hộ trì

Di Đà đại nguyện hành y

Độ trong sanh chúng thoát ly nạn sầu

Con nương giới luật thậm sâu

Cha lành từ phụ Thích Ca độ người

Từ đây hạnh nguyện cứu đời

Nguyện hành Bồ Tát giáo truyền độ tâm

Thoát trần giả tạm mê lầm

Quang minh vô lượng chẳng tầm đâu xa

Nguyện tu giáo pháp Thích Ca

Hào quang rực sáng nơi ta tuyệt vời

Nguyện lòng chẳng dám buông lơi

Sống cùng đạo pháp khắp nơi an hòa

Thuyền từ nhẹ lướt thăng hoa

Ta là Bồ Tát độ ta thoát trần./.

 

Nam Mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Long An, ngày 25 tháng 02 năm 2011

                   

 

48 ĐẠI NGUYỆN A DI ĐÀ

THÂM MẬT NGHĨA

Trích trong ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC KINH

 

Lời giảng : Tỳ Kheo Thích Minh Đức.

Biên soạn : Cư sĩ Phật tử Như Thánh.

 

TỔ IN ẤN VÀ PHÁT HÀNH KINH SÁCH THỰC HIỆN

Địa chỉ : PHOTOCOPY SĨ PHÚ, Tổ 3, Khu 1, Thôn Phước Thành, Xã Tân Hòa, Huyện Tân Thành, Tỉnh BR-VT.

ĐT : 0972. 008727 – 0168. 7747168

Chịu trách nhiệm xuất bản :

TK. THÍCH MINH ĐỨC

Biên tập :    CƯ SĨ PHẬT TỬ NHƯ THÁNH.

Sửa bản in : CHƠN MINH.

Trình bày :  CHƠN MINH.

Bìa :              TÂM PHÚC.

 

THÔN PHƯỚC THÀNH-XÃ TÂN HOÀ-HUYỆN TÂN THÀNH-BÀ RỊA VŨNG TÀU