Phẩm 24

 

BA BẬC VÃNG SANH

 

Khi phát tâm tu cần biết rõ giáo lý để tìm đường đi trở về tâm linh, tự chọn pháp tu, hiểu biết pháp môn thật thông thấu. Cần biết pháp môn đã tự chọn, biết sự lợi ích thật chính chắn, vậy pháp môn là gì?

Pháp là phương pháp, môn là cửa, chọn pháp môn là nương phương pháp, dùng trí tuệ soi rọi vào cửa tâm. Ta tu pháp môn Tịnh độ cần biết cách để đi vào cửa tâm, tìm hiểu những gì còn ẩn sâu, đang chứa đựng các pháp thiện lành hay độc ác, tâm đều có đủ. Tu là tìm cách gạn lọc, xả bỏ là dọn dẹp những tâm niệm còn vương vào tà tín, tà kiến, là những điều tin thấy qua nhận thức sai lầm. Thấy niệm đang hiện hành là tâm tham, sân, si, não loạn, thường biến hóa hoành hành cõi lòng ta ; là những chướng nghiệp mà chúng sanh phải chịu luân hồi bởi các pháp sanh diệt, diệt sanh mãi biến theo dòng tâm thức ; là nghiệp dẫn chúng sanh luân hồi, vì mê muội khó chuyển đổi cho đất tâm được an ổn. Vì thường tiếp xúc với tà pháp, nên cõi tâm khó chuyển về thế giới cực lạc. Vì vô biên chúng sanh tại cõi lòng, là vô biên niệm phiền não, chưa vãng sanh, chưa siêu thoát, cứ sanh diệt là còn niệm luân hồi, chết đi sống lại, vô biên tâm niệm mê vọng cứ mãi biến hóa diệt sanh.

Vãng sanh có 3 bậc là: Thượng, Trung, Hạ. Kinh Phật gọi A-Nan là diệu hỷ. Phật dùng thần thông hóa hiện, dạy chúng sanh bằng bản tánh diệu hỷ. Diệu là sự vi diệu, vô vi. Nếu dùng mắt thường bằng nhục nhãn, hay dùng trí phàm phu không thể thấy biết được. Hỷ là vui vẻ, nên tất cả kinh điển là kinh nghiệm giác ngộ Phật để lại thế gian, đều có mục đích dẫn tâm chúng sanh vào bản thể diệu hỷ. Ta tu là nguyện sửa lại tâm tánh cho cõi lòng lúc nào cũng là diệu hỷ, huyền diệu vô vi. Tu mà quán vào tâm thấy còn chất chứa đau khổ, phiền não, độc ác, còn tranh giành là đi sai đường Phật dạy. Hàng chư Thiên cũng là phước sanh nhưng vẫn còn đau khổ. Con người dù có giàu sang là được phước cõi Thiên, được sống bằng uy quyền tột bậc cũng vẫn khổ, vẫn chịu già bệnh, chết, khổ. Nên khắp mười phương chư Thiên và chúng sanh đều hướng nguyện được sanh về Tây Phương Cực Lạc. Cõi này sẽ hiển hiện thực tại nơi lòng người, đang có niềm vui an lạc, an ổn, không lúc nào bất an cả, giờ phút nào cũng an vui, lòng vắng lặng mọi não loạn. Muốn thường sống được với cõi này phải có thời gian tu luyện khá dài. Bậc thượng phẩm thượng sanh là chỉ vào tâm con người đã xuất ra khỏi tam giới, đã lìa hết mọi tham dục, đã thật sự phát tâm Bồ đề. Thái tử Sĩ-Đạt-Ta thời xưa cũng đến cuộc đời, thọ nhận đầy đủ hưởng thụ các thú vui, vợ đẹp, con xinh, oai danh, chức phẩm, địa vị, uy quyền sang cả tột cùng, nhưng Ngài giác ngộ biết thế gian đầy đau khổ, nên quyết định tìm phương ra đi cứu độ chúng sanh, phát khởi lòng từ bi, bỏ tất cả thú vui của cuộc đời ra đi tìm đạo chơn chánh, bỏ mọi sự hưởng thụ thế gian là vàng, bạc, gấm, lụa, kẻ hầu, người hạ, cha mẹ uy quyền chức tước, đó chính là bậc cao thượng đã xuất thế tục gia. Đầu tiên đoạn lìa mọi ham muốn cám dỗ, ái nhiễm phàm tục, nên các tỳ vọng đã vãng sanh, lòng Ngài không còn vướng bận, ra khỏi thế tục một cách đại hùng, nhờ Ngài đủ đại lực, xuất phát từ tấm lòng đại bi, đại ái. Ngài quyết lòng vào rừng tu  khổ hạnh để xuất khỏi phiền não gia. Trong cõi tâm con người thường chứa rất nhiều phiền não, nếu có hoàn cảnh đến thì lập tức chướng tai, gai mắt. Tai mắt chướng ngại vì lục căn không an vững, không thanh tịnh, bởi duyên theo pháp nên bất như ý sanh tâm bất mãn, bất bình làm nô lệ cho phiền não là thói quen, bởi tập đế sâu dày, mê muội vì chấp ngã, chấp pháp. Ngã là chấp sự thật có ta, chấp pháp cho là mọi sự xúc cảm buồn vui mọi vật là thật. Nếu giác ngộ biết thế gian là tạm gá, duyên hợp tan, thì mọi phiền muộn, não loạn sẽ chấm dứt, không còn lưu trú làm cõi tâm điên đảo. Xuất tam giới gia là không còn niệm nhớ luân hồi, không niệm vào các cảnh khổ nữa. Nếu có đến thế gian vì chúng sanh mà hội nhập Ta bà là đản sanh hay tái sanh, đến bằng Bồ đề tâm nguyện, đến để cứu khổ chúng sanh. Khi bản tâm đã thanh tịnh, không còn lưu giữ một tâm nào gọi là vô tâm, thì cõi lòng hoàn toàn trong sạch, là thế giới bản thể của cõi cực lạc như nhau không hơn, không kém. Trí giác là Phật trí vô phân biệt, nhưng tại sao Phật dạy vãng sanh lại có ba bậc, muốn biết ba bậc vãng sanh thì ta phải biết vãng sanh là gì? Khi Bồ Tát Hộ Minh đến thế gian để giáo hóa chúng sanh, gọi là Phật đản sanh. Ngài cũng ra ở thế gian giống như ta, nhưng Ngài đến cuộc đời vì muốn đem lợi ích cho muôn loài, cho nhân loại. Ngài thấy tất cả chúng sanh chìm ngập trong vô minh, mãi sống trong đau khổ, nên Ngài phát nguyện đem chơn lý đến từ quang minh trí tuệ gọi là Bồ tát Hộ Minh. Hộ là bảo vệ giúp đỡ, minh là sáng, chỉ vào hào quang an vui trí tuệ của bậc cao thượng gọi là Bồ tát Hộ Minh. Từ cung trời Đâu Suất, cõi này là danh từ chỉ vào con người đã hoàn toàn thật sự sống bằng bản tâm an lạc, dù hoàn cảnh đến là khó khăn khổ cực, bản tâm vẫn là tạng hoan hỷ, là tạng tánh của Bồ tát, lòng không còn chất chứa một niệm thù oán, giận hờn, ganh ghét, ích kỷ, miệng lúc nào cũng sẵn nở nụ cười hoan hỷ, bằng niềm vui an lạc tận đáy lòng, xuất phát từ bản tánh chơn như quảng đại. Cõi lòng hoan hỷ là cõi Đâu suất của đức Di Lặc. Người cõi thế sống bằng tâm này thì lòng hiện là cõi Đâu suất. Cõi này lúc nào sáu căn cũng hoàn toàn thanh tịnh, dù sống trong đời thường là phiền não trần sa, biểu hiện sáu trần không thanh tịnh là sáu đứa trẻ thường theo đùa nghịch quấy rối, trêu chọc sáu căn mà người giữ lòng hoan hỷ như Bồ Tát Di Lặc vẫn vui cười, lòng thanh thản, miệng nở trọn vẹn nụ cười hoan hỷ, dù đối nghịch với các pháp nghịch ngợm trần gian, mà lòng chẳng gợn một chút sân hận, oán ghét bởi chướng tai, gai mắt. Bồ tát Hộ Minh đến thế giới Ta bà bằng lòng hoan hỷ, sống bình an cùng chúng sanh. Chúng sanh thì mắt thường rơi lệ, kêu than, khổ não, thần trí điên đảo, trí tuệ lu mờ, vì vậy Ngài đến cuộc đời để xoa dịu, sửa chữa những vết thương lòng, cho khắp nơi nơi được an vui, yên ổn. Ngài đến bằng quang minh, đến bằng tánh giác nên gọi là Phật Đản sanh. Sanh để đem phước báu đến cho cuộc đời, còn chúng sanh đến bằng vô minh, nên gọi là phàm sanh, đến vì nghiệp chướng, đến thế tục vì quả báo, đến để trả nợ cho đời nên không gọi là đản sanh mà gọi là nghiệp sanh hay nghiệp dẫn luân hồi vào lục đạo. Nếu nghiệp thiện nhiều hơn nghiệp ác, thì sanh vào đời khổ ít, nhiều vui Nếu ác nghiệp nhiều hơn thì khổ nhiều, vui ít, chịu mang thân tật nguyền, khiếm khuyết đui, mù, què, câm, ngọng, điếc, nghèo đói, vất vã, bị con cái bạc đãi, chịu rất nhiều khổ sở của cuộc đời đem đến, thọ nhận nghiệp quả từng gieo tạo. Vãng sanh ra sao?

Vãng sanh không cho chết là hết mà vãng sanh là các vọng niệm mê lầm đã chết. Vãng sanh hết mọi tà vọng, không còn lầm niệm vào vọng nghiệp nữa. Không niệm vào niệm buồn thì cõi lòng không còn vướng bận tâm buồn bởi tâm buồn đã chết, đã vãng sanh, không còn niệm vào khổ, vui, lợi, hại, khen, chê, tốt, xấu đây là ác niệm thường ở lòng ta, là vô số niệm mê, sanh có tâm tạo ra vô số, vô biên chúng sanh lầm lạc, đọa vào ba đường ác gọi là tam ác đạo hay gọi là đọa sanh. Nếu là con người cuộc sống sung sướng là Thiên sanh, phước cõi trời nên được thọ nhận phước được giàu sang, đời sống dư giả. Khi xét vào bản tâm không còn thấy những điều này nữa, tuy niệm vẫn khởi mà tâm là vô niệm, vì sáng suốt nên không niệm vào loạn pháp, thì không còn bị nghiệp dẫn, tất cả nghiệp vô minh phàm tục đã quá vãng, đã chết, vô biên chúng sanh là những nghiệp thức sanh diệt đã dừng, không còn xuất hiện làm khổ não cõi lòng, đất tâm sẽ an tịnh, các niệm thức u mê đã siêu thăng, thì cõi lòng ta là Tịnh độ. Tâm tâm, niệm niệm không còn biến hiện quấy rối lòng ta, thì chơn tâm ảnh hiện, chơn tâm thường nằm tại lòng mỗi con người. Vì tưởng pháp là thật nên mãi niệm chấp, càng chấp là càng chất chồng nghiệp quấy, nghiệp từ kiến đại, vì thấy bằng tà kiến, sai lầm. Khi có hoàn cảnh vui thì vướng mắc vào vui, hoàn cảnh thấy buồn thì vướng vào khổ não, cứ mãi chấp chặt buồn, vui, sướng, khổ, giận hờn, chán ghét là của tôi, tôi buồn, tôi vui, tôi khổ. Nếu thấy bằng quang minh trí giác thì biết các pháp đều là huyễn tạm, chợt có, chợt không chẳng thật, thường xuất hiện khi có duyên đến, vì cho là thật nên chấp giữ làm mờ ám trí tuệ, các pháp xuất hiện do từ ý niệm mà sanh nên Tổ dạy:

Nếu ai nhận ý là tôi

Tức thì bị ý cuốn trôi luân trầm

Dắt đi theo nẻo lạc lầm

Đọa chìm vào cõi tối tăm mịt mờ.

Tất cả đều từ sáu căn, thấy sáu trần, do mắt thấy sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân đụng chạm mà cảm thọ xúc, thức biến hóa sanh có tâm, tâm sanh có pháp, trong con người ai ai cũng đều có gọi là kiến đại, mọi hoàn cảnh mà ta biết đều nằm trong kiến đại. Khắp pháp giới cõi hư không đều có thất đại là: đất, nước, gió, lửa, không, kiến và thức đại. Khắp nơi vạn vật đều có đất, có nước, có gió, có lửa, có không, có kiến, có thức tràn ngập khắp hư không, nên con người có lúc cảm nhận là lúc buồn, lúc vui, lúc giận rồi thương, thương rồi ghét thay đổi mãi là do thức đại sanh diệt biến hóa. Ta cần nhận biết rõ rằng, khi các pháp hiện rồi biến mất, đã qua thì hết buồn giận, thương ghét thì những chúng sanh này sẽ về đâu? Đi đâu? Chúng chẳng đi đâu cả, tất cả niệm này đều trở về tận hư không biến khắp pháp giới, khi đủ duyên có hoàn cảnh thì có chúng vui, chúng buồn là do các pháp biến hiện, nếu cõi lòng không yên ổn, an định sẽ duyên theo pháp, ý niệm sanh nên có vui buồn vì chấp có ta là có ngã giữ chặt, nên cõi lòng náo động vì gió nghiệp thổi đến lung lay, làm cõi tâm điên đảo bởi huyễn trần, đất nước gió lửa tràn ngập mọi nơi để chờ duyên, để phát khởi mà sanh pháp. Cũng như nhà đang ở, bếp lò đang nguội lạnh, ta nhìn vào thì không thấy có lửa nhưng trong cái tự nhiên của các pháp, gặp pháp, gặp duyên thì va chạm những vật khác là đủ duyên nhà hay lò bếp sẽ bốc cháy, bất kỳ nơi nào, nên lửa tràn ngập trong hư không, nhưng khi mãn là hết duyên lửa tắt. Vậy lửa đi đâu? Lửa cũng về hư không, cuộc đời có thiên tai, mưa bão, lũ lụt, sóng gió khi đủ duyên cũng hội tựu gây mưa to, bão lớn, nơi nào cũng tràn ngập nước, gió cũng cùng khắp không chừa một nơi nào chẳng cầu khẩn van xin mà gió dừng lại được. Các pháp đều tùy vào duyên ở tận hư không mà biến hiện, hết duyên thì gió lặng sóng yên, nước bình ổn đều trở về tánh không, bao nhiêu sự hiểu biết nghe thấy đều nằm ở hư không, có sắc thân cũng do nghiệp thức từ hư không, đủ duyên mà hiện có tướng đẹp, xấu, cao, lùn, đều từ duyên nghiệp biến hóa tạo ra, tiếp thọ xúc chạm từ sáu căn, sanh ra có ái yêu, thích muốn ưa, giành giật, buồn phiền, đau khổ, sung sướng, hạnh phúc tất cả đều phát xuất từ ý thức, do chiêu cảm nghiệp thức phân biệt, sanh có tâm tham muốn, đòi hỏi. Bảy đại luôn hợp tan, biến chuyển trên thế gian không mất, khứ luân hồi lưu chảy mãi. Thất đại tùy duyên mà hiện có, không thật riêng của ai cả. Vậy vãng sanh là tiếp tục hành trình theo nghiệp thức, khi đã lìa bỏ được các nghiệp phàm tục như không còn giận, không buồn, không oán ghét, không đòi hỏi ... là phương pháp tự chuyển thức thành trí giác, chuyển từ những nghiệp thức mê mờ, cố chấp, chuyển tâm thành cõi cực lạc ; lòng độc ác giận buồn đổi thành từ bi, hỷ xả. Pháp niệm Phật là xét lại hiện tiền tâm, coi có bỏ được những niệm ác chưa? Có đủ khả năng sức lực chuyển nghiệp để vào thai sen không? Hay vẫn còn mang nặng nghiệp chúng sanh mê độn. Đây là tâm niệm vẫn tiếp tục hiện đang luân hồi vào ba đường ác, đưa tâm vào cõi ngạ quỷ vì tham lam. Cõi tâm phiền não là cõi súc sanh (trâu, chó, lừa, heo, gà, vịt...) hay vào bụng con người để luân hồi. Nếu hiện tại lòng ta là thế giới cõi nào đó là chánh báo, thì y báo sẽ là kết quả y như vậy không sai một tơ hào. Tâm sanh ra thế giới, tâm sanh ra các pháp, có vạn pháp cũng do tâm tạo tác, niết bàn do tâm tạo, địa ngục tự tâm sanh, nhân nào quả nấy. Nghiệp thức không thanh tịnh sẽ sai sử ta đời này qua những đời khác. Còn vô minh mê ám là còn nuôi nghiệp ngu si. Minh là sáng, thiện nghiệp sanh từ trí tuệ, hiểu rõ được chơn giả của cuộc đời, nương vào pháp là niệm pháp, là nương vào kinh điển để hiểu biết, xét cõi lòng đã bỏ được mê muội, tà nghiệp, ác nghiệp chưa? Thực hiện pháp môn niệm Phật đúng là nhớ vào tánh giác, là niệm nhớ tánh Phật tại lòng ta hay vẫn còn nhớ các niệm lông bông ngoài thế tục. Nhớ cõi cực lạc là nhớ niềm an lạc. Nếu miệng niệm Phật mà lòng còn nhớ đến khổ đau, nhớ hận thù, tranh giành hơn thua, bởi còn niệm vào ích kỷ, niệm Phật thật tướng là niệm đến khi vô minh diệt, vô minh tận, phiền não đoạn, mới là thực tướng niệm Phật. Miệng niệm Phật thật nhiều mà ý vẫn bỏ được mọi sự hơn thua, thì vô vẫn còn vô minh, chưa chuyển được các ác nghiệp đen tối. Muốn dẫn tâm vào cõi Tây phương cực lạc cần nương pháp môn niệm Phật, nương danh hiệu A Di Đà Phật là pháp hiệu được tượng trưng bằng tôn tượng mà ta thường lễ lạy là tượng Phật A Di Đà, còn niệm Phật phải tự lực thực hiện niệm bằng chánh niệm nơi ta, niệm để nhớ bản thể thanh tịnh tại lòng ta, nhớ tha thiết tự tánh A Di Đà quang minh trí huệ sáng suốt nơi ta hằng chiếu soi vào vạn pháp, mãi nhớ, mãi niệm, mãi gọi liên tục thiết tha, niệm nhớ tánh Phật, kêu tánh Phật giống như tiếng trẻ thơ lạc mẹ, cất tiếng kêu tha thiết, lòng luôn nhớ mẹ, đầu óc lúc nào cũng có hình ảnh mẹ hiện ra, tâm trí chỉ có mẹ là nhất nhất không xen tạp niệm nào khác, dù có ai đem bánh kẹo dỗ dành, cũng không cần, không ham chỉ một tâm nhớ mẹ. Ta niệm Phật, nhớ tự tánh Phật nơi lòng ta, vì mê huyễn cảnh mà lạc mất tánh Phật, quên đường trở lại. Niệm đến nhất tâm, không còn tà niệm xen lẫn, thì Phật tại lòng ta sẽ thị hiện. Muốn Phật lòng ta thị hiện, cần dẹp tất cả vô minh phiền não, mù quáng, làm mê muội tối tăm bản tánh. Niệm niệm thảy đều vắng lặng thì tự tánh Di Đà vô biệt niệm sẽ là vô lượng quang sáng suốt nơi cõi lòng ta ứng hiện, là kiến Phật dứt sanh tử, đó mới thật sự là chánh tâm niệm Phật tự giác ngộ tâm Bồ đề, là niệm Phật cầu vãng sanh cực lạc.

Phật để lại nhiều pháp môn, là kinh nghiệm từ hào quang trí tuệ, mục đích dẫn dạy ta trở về đạo chơn, là đạo trí tuệ, đạo khoa học thực tế, không mê tín dị đoan, trở về sự thật mới là chơn lý, không tin bói toán, không cho ngày giờ có tốt xấu, thiên văn địa lý. Nếu còn tư tưởng nghĩ nhớ, vướng bận vào điều này thì không phải là đệ tử, không phải là con Phật. Tu là tự phát triển khai thông trí tuệ, phục hồi đạo đức, giữ gìn hạt nhân, là giống giác ngộ, giữ mãi từ đời này chí tận đến đời sau, không để mất giống giác ngộ. Vãng sanh nghĩa là thay đổi cuộc sống mê lầm, chuyển thành đời sống giác ngộ, sống bằng thực tế, không tin vào mơ hồ, ảo tưởng. Kinh dạy: người niệm Phật phải nhàm chán cõi Ta bà, vì cõi này nhiều khổ ít vui, phải nguyện lìa bỏ cõi này ra khỏi tâm, lòng không chất chứa nuôi dưỡng cõi đau khổ này nữa, để các ác nghiệp vãng sanh về cực lạc. Cõi này là bản tâm không còn niệm khổ nào cả, vô cùng hạnh phúc, cùng cực an vui, vô tận bình an, đã thoát khỏi luân hồi sanh già bệnh chết. Khi tâm đã trong sạch, vẫn tiếp tục tái sanh vào thế giới hoa sen, không còn vào thế giới loài người, loài vật, đó mới thật là chánh nhân niệm Phật, chánh nhân vãng sanh. Tâm niệm vẫn lưu chảy mà vẫn sáng suốt, tinh anh bởi vô lượng quang minh trí tuệ thường chiếu hiện tại đời sống là chánh nhân vãng sanh, thì tại cõi tâm chính là cõi cực lạc, niết bàn diệu tâm, không còn tâm phàm tục nữa, nên bản tâm là vô tướng nhưng thật tướng. Cõi này thường hiển hiện cho đến khi trả xác thân về với thất đại, thì quả này là chánh quả cõi cực lạc, đã gieo nhân nào vào đất tâm, thì sẽ hái quả y như vậy, y giống chính là chủng tử đã gieo vào tâm địa.

Ta nương theo pháp môn Tịnh độ, mục đích là đổi tâm đau khổ, mê lầm do vô minh phiền não chuyển thành an lạc, sáng suốt trí tuệ. Tự độ tâm, tự tịnh lấy cõi tâm, điều này tự ta quay vào tâm mà quán xét, nghe lại tiếng lòng sẽ nhận thấy thật rõ con đường ta sắp đến là cõi Tịnh độ nhàn vui hay đến cõi ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục rất rõ ràng. Cõi này do hành động con người tạo tác, bất cứ ai phát tâm niệm Phật chơn chánh từ một đến mười niệm, niệm niệm giác ngộ được trong sạch thì thế giới hoa sen nở tươi đẹp tại cõi tâm hiện sẽ là cực lạc, hương thơm hoa trí huệ tỏa rực ngào ngạt. Nếu nhất tâm kiên cố liên tục giữ gìn chánh niệm, ngày đêm trong mười ngày, niệm Phật ý không tán loạn, nghĩa là không còn niệm đọa vào buồn phiền đau khổ, giành giật, đấu tranh, nhiễu loạn, si mê, niệm niệm đều là quang minh sáng suốt, trí huệ gọi là Nhiên Đăng Cổ Phật là đèn quang minh thường hằng hữu tự nhiên sẵn có nơi mỗi con người xưa nay bất tăng, bất giảm, bất cấu, bất tịnh, là lúc hoa sen đã nở, tự nghe cõi lòng hớn hở, trong sạch vì đã chán bỏ Ta bà, là chán mọi sự giành giật, chán gian tham, chán đua đòi, chán xiểm nịnh, chán ái yêu, chán mọi hoàn cảnh đua tranh vì danh lợi... Đó là các vọng huyễn Ta bà, phải biết nhàm chán, sáng suốt nhìn những pháp này là bài học, giúp ta kinh nghiệm để thấy rõ pháp. Ơn Tăng là ơn Tam Bảo ta mới thoát khỏi nghiệp khổ. Tu phải cần năng lực từ trí tuệ, bồi bổ cho tâm hoa sen là tự tánh Bồ đề càng ngày thêm tươi tốt, đậm đà hương sắc cực lạc tại lòng ta, có hạnh phúc an lạc thì hiện tại tâm là cực lạc. Nếu lòng còn trách móc thì tâm là địa ngục, hiện tiền tâm là tánh giác biết xả bỏ thì Tây phương cực lạc hiện ngay tánh giác không sai. Tự tánh A Di Đà chính là tánh giác có sẵn nơi mỗi con người ai ai cũng có, thì cõi tâm thanh tịnh sẽ có vô lượng quang chiếu soi, là những hào quang rực rỡ từ bản tánh tiếp độ, dẫn dắt các tâm u mê là tiếp độ vô biên chúng sanh, đang đau khổ tận đáy lòng được thức tỉnh, đã viễn ly màn vô minh tăm tối, xả bỏ mê lầm, chuyển đổi tâm là cõi vô minh thành cõi minh, các tâm mê được đức độ là tự tánh sáng suốt A Di Đà vô biệt niệm của chính ta, là vô lượng quang minh đã giác ngộ thanh tịnh tại cõi lòng ta, rước các tâm mê muội si mê, đã tự giác chuyển đổi thành những tâm thánh thiện về an huởng quốc độ cực lạc, đây là phương pháp tự độ, gọi là Phật rước. Tự tánh Phật sáng suốt nơi lòng ta, tự giáo dẫn độ các niệm ám độn cõi lòng ta. Tự quy y Phật tánh thanh tịnh sẽ rước các niệm là các chúng sanh nhiều vô biên, đã từng lầm lạc được siêu thăng tịnh độ, lòng không còn sân si phiền não, oán than, các niệm ác đã thật sự vãng sanh, nếu hiện tại ngay đời sống ta không tạo dựng đựơc thế giới hoa sen trong đất tâm, mãi gieo tạo hạt giống vô minh do ác nghiệp bao vây, thì sao khi bỏ xác thân không thể có thế giới hoa sen mà vào được, vì cõi tâm chưa hề tạo dựng cực lạc bao giờ. Cận tử nghiệp đến mà mê man vì thân sắp hư  hoại, nghiệp sẽ rần rộ bao vây, vẫn mê man mộng mơ trong biển thức, thân sắp hoại mà thần thức vẫn nhớ hết mọi thói quen, nhớ những người thân và những gì từng quen biết mến thương, yêu ái hay chán ghét hận thù, nhớ của cải, nhớ người thân, nhớ các hoàn cảnh vui buồn hờn oán, sân si, nhớ con vợ, nhớ chồng, nhớ tất cả muốn ham, thần thức thấy hết mọi người chung quanh nhưng xác thân đã ngưng hoạt động, vì thất đại phân ly, nhưng người chung quanh không thấy được thần thức, tâm thức lúc này vẫn biến hóa bình thường, nhưng thân tứ đại bất động vì các đại sắp tan rã, thần thức vẫn thấy mọi sự tẩn lịm, đám tang nhưng không biết của mình khi mãn duyên trần chỉ thấy biết bằng thân trung ấm mờ mờ, ảo ảo trong 49 ngày, khi mãn thân trung ấm vào thân hậu ấm tiếp nối theo là thân tiền ấm, là tiếp tục thọ thân khác, tùy nghiệp dẫn thiện hay ác mà mang tướng mạo, vào cõi người, cõi ngạ quỷ, cõi súc sanh, cõi địa ngục, cõi thiên, cõi A-tu-la, đó là vào lục đạo luân hồi. Bậc giác ngộ là Thanh văn, Duyên giác. Bồ tát giác là cõi Phật lập tức vãng sanh vào quốc độ an lành, đó là thập pháp giới có sẵn tại tâm mỗi con người, sẽ hiện tùy vào nghiệp thức, tự dẫn nhập vào pháp giới. Đừng quan niệm chết là hết, cần tu sửa tâm tánh để tự chuyển các ác nghiệp cho cõi lòng trong sạch, thanh tịnh, an lạc, tự giữ gìn cho nghiệp thức mãi là thiện lành đạo đức, trí huệ, quang minh sáng suốt chiếu soi đó là vãng sanh tịnh độ. Nghiệp mãi mãi tiếp tục với chúng sanh, chỉ thay đổi nghiệp khi giác hay mê, trí hay ngu mà thọ nhận quả báo cho đời sau. Chánh nhân vãng sanh, là tại lòng đạo đức trí huệ, nếu hiện có chánh báo, thì khi qua thế giới khác có y báo tự công đức ta xây dựng.

Phật bảo A Nan : “Mười phương  thế giới chư Thiên nhân dân, số người chí tâm nguyện sanh nước đó, thường gồm ba bậc” người ở thế giới cực lạc phải đầy đủ trình độ, không là sự hiểu biết tầm thường, phải là bậc phi thường, đã ra khỏi phiền não thế gian là bậc xuất thế, đó là dân số của cõi cực lạc. “Những bậc thượng bối ly gia, đoạn dục hành hạnh Sa môn, phát bồ đề tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật”, nguyện sanh về nước đó là nước Cực lạc. Bậc thượng bối là bậc trí tuệ cao rộng, không so sánh con số cao thấp, mà nói vào trí tuệ rộng lớn, bậc có tấm lòng cao thượng quân tử, hiền nhân. Bậc ly gia là người đã xuất gia, nếu có tướng đã xuất gia là đắp y, cạo tóc đó là sự tướng, nhưng vì lý tánh trực chỉ nhơn tâm, phải biết có hai hạng xuất gia là bậc Thánh tăng và phàm tăng. Phàm Tăng là người cõi tâm còn mang nghiệp, mê mãi chấp giữ tâm niệm dính trụ vào cõi thế gian, chưa đoạn dục vẫn đắm lụy thế gian, dục vọng muốn ham, còn sanh diệt, tâm còn loạn động, còn mê thế gian, mê thân là mê thất đại, cho tất cả là của tôi, lòng còn dính kẹt trong núi Thiết vi bằng sắt, chưa phát Bồ đề tâm, chưa nhất hướng quay vào tự tánh A Di Đà tại tâm tánh mình, để chuyên cần niệm nhớ. Tánh giác là chưa hành hạnh Sa môn.

Bậc thượng bối chỉ vào Thánh nhân Tăng, chỉ vào người đã đắp y cạo tóc, ở núi rừng, thường sống bằng pháp Tụng kinh, Ngồi thiền, Niệm Phật... lòng không còn mến nhiễm thế tục, đã xuất thế tục gia, tâm không màng đến tiện nghi, đã xa lìa mọi ham dục, sáu căn thanh tịnh, không đắm đọa sáu trần. Sống phạm hạnh là hạnh Sa môn, mạng mạch là sự giải thoát, trí tuệ viên mãn, lúc nào cũng có tánh giác là Phật thị hiện tại tâm, phát tâm bồ đề, niệm vẫn khởi nhưng lòng không vướng bận, đắm mê vào niệm nào, còn là chúng sanh vì lòng còn vướng lụy nhiều vô số kể dục vọng trần sa. Phát bồ đề tâm là chuyên lòng nhớ tánh giác, niệm Nam Mô A Di Đà Phật là kêu Phật tánh tại lòng ta sống dậy, còn nhớ đến công đức người đã dạy đạo, để tam tạng kinh điển lại cho ta tu học thì niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Di Đà tự tánh là Phật quá khứ thường có sẵn trong tâm mọi người. Niệm Phật là kêu gọi nhớ tha thiết Phật tánh tại lòng ta. Gọi là nguyện thiết, nguyện lìa bỏ tất cả ham muốn cuộc đời, ra khỏi tham vọng, sân hận, ra khỏi tam cõi, chỉ cầu tự tánh Phật tại lòng hiển hiện phóng quang tiếp độ. Muốn A Di Đà Phật tự tánh ta thị hiện, cần dọn dẹp đất tâm cho sạch sẽ mới có Tịnh thổ là nơi thanh tịnh để Phật an vị. Người tu niệm Phật phải chuyên lòng tha thiết nhớ Phật, ngoài ra không cầu mong được gì ngoài thế gian cả, mới chứng đạo quả. Chứng đắc đạo quả cần giữ gìn giới hạnh, là không sai phạm vào tham sân si, phiền não, tạo dựng công đức là những hạnh lành cao thượng, để lại gương mẫu cho đời mãi mãi nâng niu ca tụng, tán thán.

Công đức là gì ? Công là công trình sửa sang tánh hạnh, biết nghiêm trang đạo đức tu tâm dưỡng tánh để thành người thánh thiện. Tâm trong sáng đó là công, dùng trí tuệ giác ngộ hiểu biết đem ra giúp đời đó là đức. Người trí tuệ mới làm được công đức. Công đức là năng lực tu hành đã dẹp phá được rừng vô minh đầy phiền não, phá tội lỗi tham dục ngu tối, làm ô nhiễm tâm hồn, làm được những điều này là công phu tạo ra đức độ vang lừng khắp mười phương thế giới, đó là công đức bậc thượng bối. Nếu còn chấp vào sự bố thí cúng dường bên ngoài, chỉ là phước hữu lậu không bền. Nên ngày xưa khi vua Vương Võ Đế đến hỏi Tổ Đạt Ma : “Ta đã xây dựng được 72 cảnh chùa và hàng năm cúng dường nuôi Tăng, Ni tu học, vậy có công đức chăng?” Tổ trả lời : “Đó chỉ là phước thế gian được sanh Thiên, chưa giác ngộ, giải thoát để cứu tâm mình, thì chưa phải là công đức”. “Các chúng sanh đến lúc mạng chung”. Mạng chung là lòng đã tắt hết mọi phiền não, chỉ vào tự tánh, về sự tướng thì sau khi tứ đại tan rã cũng gọi là mạng chung. “Phật A Di Đà, Phật cùng Thánh chúng hiện tiền trước mặt”. Tự tánh A Di Đà tại tâm ta cũng có vô số chúng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát là những quang  minh tại cõi lòng đã giác, tự tánh cũng có đức độ to lớn, cao thượng là đức Đại Thế Chí giúp ta tu hành, vượt qua mọi hiểm nạn của cuộc đời, có quang minh biết tự quán xét vào tận cõi lòng, lắng nghe âm thanh thế gian bằng đức độ, là đức Quán Thế Âm, thường căn dặn, nhắc nhở ta tu sửa tâm tánh, vượt qua biển khổ thế gian, bằng lòng tin sâu vững, các Ngài là ánh sáng quang minh tại lòng, dạy ta biết tự giác, dặn dò rằng thế gian là vô thường, đừng sanh tâm luyến ái, đọa lạc. Các Ngài dạy ta sống bằng trí tuệ, chơn lạc, chơn thường, chơn ngã, giúp tâm không còn não loạn, thì lúc đó có Thánh chúng, là các tâm niệm tại lòng ta đã tự giác, chuyển hóa tâm phàm phu thành tâm của bậc Thánh. Gọi là Thánh chúng hiện ra tiếp dẫn đưa ta về cõi an lành. Thánh chúng bên ngoài cũng có các Bồ tát, sống bằng chí nguyện dũng mãnh tu hành, tinh tấn vượt qua mọi khổ khó cuộc đời, đem kinh nghiệm trí tuệ đã thông suốt chơn lý đem ra giảng giải, thuyết minh khai thị, dẫn dắt tâm ta biết quy y Phật, Pháp, Tăng để trở về đường chơn chánh, thoát khổ lìa mê, cho tâm thức thường biến hóa sanh diệt được chuyển thành trí gọi là bậc thượng phẩm thượng sanh, là bậc thượng bối siêu vượt thế gian. “Trong một khoảnh khắc liền được tiếp dẫn vào hoa sen bảy báu”. Mê là cõi lòng tham dục, giác ngộ liền buông bỏ trong  khoảnh khắc tâm là hoa sen bảy báu. Bảy báu là thất bồ đề phần, là thất giác chi đều là thất thánh tài, toàn là những báu trân quý. “Trí tuệ dõng mãnh thần thông tự tại”. Lòng dũng mãnh không sợ mất thế gian, vì thần thức đã thông suốt, không còn chướng ngại dính mắc vào pháp đời, lòng tự tại nhờ trí tuệ đã thông suốt, biết rõ các pháp là vô thường, không khiếp sợ các pháp huyễn ảo cuộc đời, tâm là thế giới cõi giải thoát, nhờ giác ngộ nên biển thức bình an không chao động, thần thức đều thông cõi tâm là an nhiên tịch lặng, không dính trụ trần cảnh huyễn mê, đã thông tất cả pháp, thông kinh điển, thông suốt lời Phật dạy đó là thần thông tự tại. Tất cả pháp tu từ công đức Phật để lại, không chỉ dành riêng cho giới xuất gia, mà hàng cư sĩ tại gia cũng đồng thọ học tu tập như nhau. Nếu người cư sĩ miệng thường niệm Phật, mà không biết giữ gìn giới tâm, vẫn còn mang nặng tham sân si, phiền não, mạng sống là đất tâm còn nhiều dục vọng, đó là còn tâm niệm phàm nhân, thường sống bằng niệm phàm tục. Người cư sĩ biết sử dụng pháp tu, chuyên chú giữ lòng thanh tịnh, sống bằng chánh niệm, thường tư duy giáo lý, đời sống biết viễn ly xa lìa ác niệm, đó là hàng cư sĩ biết giữ giới luật. Tâm là cư trần bất nhiễm, hiện là Thánh cư sĩ, là bậc sống được hạnh xuất thế, hạnh đức bậc cao thượng của hàng trí huệ, là hoa sen cõi thượng phẩm. Cõi lòng đã nở đầy hoa sen cõi thượng phẩm, nở đầy hoa trí huệ, lòng hiện là cực lạc Tây phương, từ bi hỷ xả, đã giác ngộ thì lòng ta hiện là lòng của Phật. Khi lòng kiên quyết niệm Phật, cõi tâm trong sạch, thanh tịnh, thì cực lạc tại lòng ta sẽ nở hoa sen vì không còn lụy trần, nhiễm trần dù hiện thân ở trong trần, sen dù ở trong đầm bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, sen sẽ nở ngay cõi lòng trong sạch nơi ta, tâm sen giúp ta không còn mê không chất chứa tham lam, ích kỷ, ngã mạn tự cao, ái nhiễm là bậc thượng phẩm vãng sanh bậc đã xuất khỏi tam giới gia, tất cả con người ở thế gian đều có khả năng làm được, dễ dàng nhất là bậc xuất gia. “Do đó A Nan! Có chúng sanh nào muốn trong đời này, thấy Phật A Di Đà phải phát tâm vô thượng bồ đề”. Vô thượng bồ đề là giác ngộ tột cùng, không tu bằng cách bỏ quên tánh giác, tu hời hợt chỉ tu  bằng cách làm việc bên ngoài, cần chuyên tu chí định vào một pháp môn siêng suốt, giữ tâm niệm thật vững vàng, không duyên theo tạp niệm, tạp chướng, tạp suy nghĩ, tạp tâm niệm không còn chen lẫn, giữ lòng mãi là cực lạc vô thượng bồ đề. Vậy ta tu cách nào để được tâm vô thượng? Hằng ngày ta thường suy nghĩ, mở lời có ngôn ngữ xuất sanh từ ý niệm mà có hành động. Nếu tự giác biết tác ý có hành động đã sai lời Phật dạy, lập tức tự sám hối đó là cách tự giữ tâm được cao thượng, tâm sẽ là cõi giác ngộ, tâm chính là Bồ đề. Nếu ám độn, u mê duyên theo tà ý, sanh có hành động tạo gây tội lỗi, thì tâm địa là cõi thấp hèn đã mất cao thượng. Ta niệm Phật là thường sám hối, tu sửa không ngừng để bỏ dần các tạp niệm. Pháp sám hối là do Phật dạy nên khi biết sám hối cũng là pháp niệm nhớ Phật, nhớ công đức Phật để tự gạn lọc cho cõi tâm được trong sạch như cõi tâm Ngài. Giữ giới cũng là niệm Phật, vì giới luật cũng do Phật dạy. Lạy Phật cũng là niệm nhớ Phật. Khi ta lạy Thích Ca để nhớ công đức Ngài, lạy bằng lòng tôn kính, mà cũng cần làm lợi ích cho tâm ta, thêm vào bằng cách xoay lại tự tư duy, quay vào kỉnh lễ Phật tại lòng ta, nhờ Phật lòng là hào quang sáng suốt soi rọi, giúp ta biết nẻo chánh đường tà, tự sám hối cho tâm là cõi an lạc, những điều gì Phật đã dạy mà ta làm được chính là niệm nhớ Phật, nghĩ nhớ và làm đúng như lời Phật dạy, là giác ngộ tâm bồ đề cao thượng, không còn tâm nào sánh hơn được, trí huệ vô cùng vô tận. “Lại phải chuyên niệm cõi cực lạc, tích chứa căn lành, liền đem hồi hướng”. Tất cả việc làm từ các công đức, đạo hạnh tu tập bằng pháp bảo, từng lời Phật dạy như bố thí, giúp người nghèo khó, sám hối, tâm là hạnh từ bi hỷ xả, biết tu bát chánh đạo, giữ tứ nhiếp pháp, niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng... đều là phương pháp để tích chứa căn lành, là chủng tử giúp ta giác ngộ, là phước báu hồi hướng những công đức này về đạo vô thuợng bồ đề. “Thế nên thấy Phật sanh về nước đó, đặng bất thối chuyển, cho đến đắc quả vô thượng bồ đề”. Trời đất, vũ trụ, vạn vật, con người đều vô thường thay đổi, có lúc nắng, lúc mưa, nóng lạnh hoàn cảnh chuyển biến, con người sanh tử, tâm ý có lúc buồn vui, không đứng yên một trạng thái nhất định nào cả, theo các duyên mà sanh diệt, thời tiết tùy duyên đến, đi, mưa, nắng, nóng, lạnh, ta không giữ mãi được ở nơi cố định theo một hiện tượng cố định, hay nhất định theo ý ta cả. Tất cả pháp đều có duyên, khi hết duyên, đến thời gian tan rã sẽ hư hoại, sẽ hết. Con người cũng thay đổi theo thời tiết nên có bệnh hoạn, hòa theo sự biến chuyển của thất đại, vũ trụ biến đổi theo cảm thọ nóng lạnh của gió mưa, mà thân có đau bệnh thay đổi trạng thái vô thường, chuyển biến sức khỏe của thân. Tâm người cũng thường thay đổi có mừng, thương, giận, ghét, ham muốn, chán chê, theo hoàn cảnh, thuận ý hay nghịch ý mà sanh có tâm người. Thân và tâm cũng ứng hóa nhân duyên hòa hợp cùng trời, đất, thời tiết, vạn vật, vũ trụ, theo duyên vận hành mà thay đổi. Mưa, nắng, gió... là duyên của vũ trụ, không là của ai. Nên con người giận, buồn, thương, ghét, chán, chê, ưa thích, các trạng thái này cũng không là của ai cả, cảm thọ con người cũng tùy duyên như thời tiết, thay đổi tự đến rồi cũng tự đi, vũ trụ thay đổi hết nắng rồi lại mưa, người thay đổi hết vui lại buồn, chỉ là duyên biến hiện không của riêng ai cả. Duyên đến rồi cũng tan, mất vào tận hư không, rồi có duyên sẽ sanh lại. Làm cha mẹ, vợ chồng, con cái đều do duyên những đời trước từng kết cấu. “Với bậc trung bối tuy là không thể hành hạnh sa môn”. Sa môn là người xuất gia đã cạo bỏ râu tóc, tâm cạo sạch mọi phiền não, ham muốn pháp đời. “Tu công đức lớn”. Khi hướng tu nguyện xả bỏ mọi thói hư tật xấu, quyết lòng tu sửa bản tâm càng ngày càng trang nghiêm cho đất tâm thêm trong sạch, sáng suốt, cao thượng, còn hướng dẫn người chung quanh đều biết niệm Phật, biết tu thiền định, biết giữ gìn tâm niệm, bỏ dần phiền não, tự thực hành hạnh đức thanh cao, còn giúp người tiến tu đó là tu công đức lớn. “Nhưng phải phát tâm vô thượng bồ đề, chuyên tâm niệm Phật A Di Đà”. Chuyên tâm là nhất định xuyên suốt, lúc nào cũng niệm nhớ gọi kêu Phật, dù có ai chửi mắng, sỉ mạ, lăng nhục, nói oan ức, bức hiếp phải có Phật là tánh giác kề bên. Tự giác là nhớ rằng, nếu ta cũng làm lại giống như họ để thỏa mãn cho niệm thức tìm cách chống trả lại, thì sẽ chất chồng thêm oan trái. Ta nhớ liền lời Phật dạy, oan trái cần chấm dứt, không gieo tạo thêm nữa đó là nhớ Phật, nhớ tánh giác nơi ta, liền trở về sống với tự tánh A Di Đà Phật, vô biệt niệm, không còn nghĩ nhớ niệm vào chuyện bên ngoài, được như vậy thì phiền não, đau khổ ích kỷ, hẹp hòi sẽ tự tan biến, đó là chuyên lòng niệm A Di đà Phật. “Tùy chỗ huân tụ các công đức lành, phụng trì trai giới”. Theo lời Phật dạy, người Phật tử phải giữ tròn năm giới. Trai là trong sạch, giới là giữ ranh giới cõi tâm phải là quốc độ thanh tịnh. Nếu tu tâm, giữ được năm giới cho  trong sạch, đó là đang niệm nhớ Phật, không bị phạm giới, quyết tâm nhớ lời Phật dạy là đang niệm nhớ lời Phật ngày xưa từng dặn dò cho hàng đệ tử và để lại trong tam tạng kinh điển. Mục đích nhắc nhở khắp chúng sanh phải tự dặn lòng giữ gìn giới luật. Phật khuyên cấm không cho ta niệm nhớ vào giận hờn, tham lam, đố kỵ, giành giật, nhớ thương. Nhớ những điều này giúp ta giữ được trai giới, là nhớ Phật, nhớ đến lời Phật dặn. Làm trọn vẹn những điều này là phước đức lớn nhất của con người. Giữ trọn được năm giới thì trời người đều tôn kính nên phước đức vô lượng đã vượt qua mọi khổ đau, lòng không còn bận bịu vào các pháp ô nhiễm của cuộc đời. “Khởi dựng tháp tượng”. Muốn làm điều gì, xây dựng gì cũng phải khởi niệm. Nếu niệm khởi muốn xây dựng tượng Phật là phước báu trang nghiêm Tam Bảo, làm cho mọi người kính tin mà chiêm bái, để nhớ đến công đức Phật mà tôn kính, lễ lạy, noi theo gương hạnh nơi Ngài quyết chí tu hành, là đang niệm nhớ đến Phật thì phước đức lớn vô cùng. Nếu khởi niệm riêng tư là xây dựng tượng Phật để cầu phước báu đời này cho ta, người thân ta được hạnh phúc cầu mong đến đời sau được tiếp tục hưởng phước. Nếu còn mang tâm niệm này là còn muốn đòi Phật hay cầu xin Phật trả lại những điều trần tục, đòi được những lợi dưỡng trần tục, những vọng trần Phật đã trả tất cả cho cuộc đời, vì Ngài biết đó là dục vọng ô nhiễm. Huyễn tâm chỉ là phước hữu lậu còn quẩn quanh trong lục đạo. Người được phước giàu có cũng vẫn chịu khổ vì chưa thoát luân hồi. “Cúng dường sa môn, treo phan, đốt đèn, rải hoa, đốt hương lấy đó hồi hướng, đều nguyện sanh về nước kia”. Tất cả hành động cúng dường đều có tâm niệm hồi hướng về Cực lạc, không đòi được phước gì ở thế gian là hồi hướng vào cõi tâm người không còn niệm ô nhiễm, đòi hỏi, không còn chứa phiền muộn, tham sân si, đau khổ tất cả việc làm vì mục đích hồi hướng cho bản tâm giải thoát. “Người đó khi mệnh chung, Phật A Di Đà hóa hiện thân Ngài quang minh tướng tốt, đủ như thân Phật, cùng với Thánh chúng, trước sau vây quanh hiện trước người đó, nhiếp thọ tiếp dẫn, liền theo hóa Phật, vãng sanh nước đó, trụ bất thối chuyển vô thượng Bồ đề, trí tuệ công đức sau bậc thượng bối”. Bậc thượng bối là bậc thượng phẩm thượng sanh đã thấy được tự tánh, sống bằng vô lượng quang minh, còn bậc trung bối là trung phẩm trung sanh, vì chúng sanh chấp tướng, nên Phật phương tiện mượn pháp tướng, hóa hiện có tướng A Di Đà Phật để phương tiện dạy ta dùng danh hiệu A Di Đà để ta nương theo, một lòng chuyên niệm nhớ tánh Phật vui vẻ mà tin sâu, nguyện thiết, tha lực giúp ta không còn nghi ngờ, dẫn cõi tâm ta từ biển khổ trần lao nhiều chướng nạn, nhập vào tự tánh Phật là bản tâm thanh tịnh, là không còn tâm niệm loạn động là đến bờ giác, bằng tâm bất thối chuyển, đã vượt qua hoàn cảnh khó khăn, kiên cố tu hành, nguyện tu giải thoát. Khi mạng là khi các vọng niệm đều vãng sanh, chỉ còn lại quang minh giác ngộ trí huệ, là vô lượng quang minh, đã được chuyển đổi niệm phàm phu hóa thành niệm của bậc Thánh. Các niệm đã giác, đều chuyển hóa thành Thánh chúng vây quanh tự tánh Phật, niệm niệm tại lòng là vô biên chúng sanh đã giác gọi là Thánh chúng, đã được hóa Phật A Di Đà, là tự tánh hóa hiện tiếp dẫn. Hóa Phật, nghĩa là tâm niệm đã nhiếp thọ tương ứng cùng danh hiệu A Di Đà. Danh hiệu và tâm niệm là một gọi là nhất tâm bất loạn, được Thánh chúng sáng suốt tại tâm hóa hiện tiếp dẫn vào vô thượng Bồ đề. “Đến khi mạng chung, người ấy trong mộng thấy Phật A Di Đà, cũng được vãng sanh, trí huệ công đức sau bậc trung bối”. Sống trong đời bằng các pháp vô thường, chợt có, chợt không, khi còn, lúc mất, không thật, chỉ là ảo mộng, bào ảnh. Khi lìa bỏ xác thân vào cõi vô hình, nếu không sáng suốt vì vô minh, thì vẫn còn tham sân si phiền não. Biển thức hoạt động liên tục vì chưa an định, thức biến hóa sanh diệt vô thường cũng là ảo mộng, nên khi mạng chung, thần thức mở màng như trong mộng nghiệp thức vẫn vây quanh, não loạn quấy rối tâm thức, là nghiệp sẽ dẫn ta luân hồi theo niệm nghiệp, dòng niệm thức nào mạnh nhất sẽ cuốn hút ta vào pháp giới đó. Bậc giác ngộ đã dừng hết mọi vọng thức, biết đời là cõi tạm, biết các pháp vô thường, huyễn ảo, sanh diệt đi đến tùy duyên nên lòng không bấn loạn, sợ sệt, lo âu. Tâm là chánh định, lúc nào dù còn thân hay bỏ xác thân cũng sống bằng tự tánh Phật sáng suốt tại cõi lòng, niệm niệm của nghiệp thức không còn sanh diệt, đã hoàn toàn vắng lặng, thì hiện tại đã vào chơn như tịch lặng, thường chiếu soi vào vạn pháp mà không dính trụ, là giải thoát khỏi cuộc đời. Người có tâm hạ bối là hạ phẩm hạ sanh, là người đã hướng tu, muốn làm tất cả công đức, chịu sửa tâm. “Nếu có chúng sanh trụ pháp Đại thừa, đem tâm thanh tịnh hướng vô lượng thọ, cho đến mười niệm nguyện sanh nước Ngài, nghe pháp thâm sâu, liền sanh tin hiểu nhẫn đạt được một niệm tịnh tâm, niệm đức Phật kia, người ấy mệnh chung, thấy Phật Di Đà, sanh về Cực lạc, được bất thối chuyển, vô thượng Bồ đề”. Người có cõi tâm này cũng chuyên tâm niệm Phật, vì biết niệm đời là khổ, niệm Phật để sau khi thác sanh, được vào cõi Cực lạc. Giữ tâm bằng cách lắng dịu cõi lòng, xa lìa lục dục thất tình, giảm dần mọi điều ham muốn, tâm hành tin kiên cố, nhất tâm niệm, nhàm chán Ta bà, giác ngộ từng phần thì khi thác sanh, kế bậc trung bối. Nếu giữ một niệm trong sạch nghĩ nhớ đến Phật A Di Đà là liên tục nghĩ nhớ nhiếp thọ vào tự tánh Phật ngay bản tâm, không còn xen tạp lẫn lộn một niệm trần lao chen vào niệm chen tạp, có nghĩa là miệng vẫn niệm Phật không ngừng, mà ý chạy rong nhớ công việc, nhớ hoàn cảnh sinh hoạt hàng ngày, thường tiếp xúc trong đời sống. Nếu niệm Phật mà khẩu và ý không tương ứng đồng nhất hòa hợp, khẩu ý không đồng nguyện. Khẩu bên ngoài thì niệm Phật, mà ý bên trong còn niệm vọng ma, miệng muốn đòi vào Cực lạc, mà tâm ý muốn đi vào cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, khẩu ý chẳng tương đồng quan điểm, ý niệm mãi rong ruỗi, la cà vào lục đạo, thì cõi của tâm vẫn còn mãi là cõi của Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục, Nhơn, Thiên, A-tu-la. Như vậy tâm vẫn tức là lục đạo, tâm chưa tức Phật, Phật chưa tức tâm, niệm Phật như vậy không thể vào thế giới Cực lạc được, vì cõi tâm vẫn còn triền miên mãi trong cõi cực khổ. Nếu niệm Phật mà tâm và ý không chuyên nhất, đồng niệm Phật, không còn niệm phàm tục xen tạp, thì tất cả tâm niệm đã tự giác, đồng vãng sanh về cõi Cực lạc, khắp bản tâm là mười phương thế giới đều an lành, đều là Cực lạc, nên vô lượng quang minh chiếu khắp mười phương quốc độ, mười phương cõi nước. Nếu có người thường sống bằng hành động là việc làm, thích in kinh ấn tống đó là phước lành, nhưng cũng phải niệm Phật nhất tâm, xả bỏ tham cầu là tự tạo, tự tích lũy công đức để trang nghiêm cho cõi tâm, luôn phát nguyện khi thác được sanh về Cực lạc cõi Tây phương Tịnh độ, để thường giữ lòng là cõi cao thượng. Ba bậc vãng sanh là nói vào trình độ tự giác của tâm người, tùy vào phước nghiệp, giác ngộ sâu cạn, trí huệ thông suốt mà nói có bậc. Bậc tâm là cõi thượng thì trong sáng như lưu ly, là bậc thượng bối, chỉ vào bậc xuất gia, cõi lòng đã xuất khỏi tam giới gia. Bậc trung là người chưa hành hạnh Sa môn, nhưng phát nguyện tu các công đức lớn, phát bồ đề tâm, lòng chuyên trì niệm nhớ tự tánh A Di Đà Phật, tu giữ giới hạnh tích luỹ công đức thiện lành, tất cả đều hồi hướng nguyện thác sanh về nước Cực lạc, có đủ quang minh sáng suốt như đức Phật, lập hạnh như bậc thượng bối, khi lâm chung sẽ có quang minh chư Bồ tát hiện ra tiếp dẫn, sẽ vào bất thối chuyển vô thượng Bồ đề. Sau bậc thượng bối, bậc thứ ba là Hạ Bối, là những người chưa làm các công đức lớn, nhưng đã phát tâm bồ đề, một lòng trì niệm, chuyên nhớ tự tánh A Di Đà Phật, nhất nguyện vui vẻ tin nhận, không nghi ngờ, tin bằng chí nguyện, quyết niệm Phật thác sanh về Cực lạc. Người bậc hạ cũng quyết sống tốt đẹp, sống bằng đạo đức, cũng cương quyết niệm Phật, nhưng còn tạp niệm phàm tục thỉnh thoảng xen lẫn, chỉ nhận thấy tánh Phật trong mơ màng, chưa tri kiến Phật rõ ràng, nhưng biết cõi Ta bà, cõi Trời không bền chắc, nhiều đau khổ, nguyện xa lìa, tuy chưa thật sống được hoàn toàn với tánh Phật, nhưng chí nguyện thiết tha niệm Phật cầu về Cực lạc, khi thác sanh thấy tánh Phật mơ màng gọi là mộng thấy Phật, là còn thấy các nghiệp thức vây quanh. Nếu tỉnh giác là quang minh thiện tri thức chiếu diệu sáng suốt nhắc nhở, một lòng chuyên niệm nhớ tự tánh A Di Đà Phật, giữ lòng thanh tịnh đã tịnh lặng vọng trần, tâm bình an, hạnh phúc, tâm là tức Phật thì sẽ về thế giới cực lạc sau bậc trung bối.

Ba bậc vãng sanh đều phát từ bồ đề tâm vô thượng. Bồ đề tâm là tâm giác, vô lượng giác là tâm giác tối thượng là Phật, nhất quyết tu để thành Phật. Dù là hạng chúng sanh tâm là cõi nào mà khi phát bồ đề tâm nguyện sanh về Cực lạc, quyết lòng tu sửa đều được giác ngộ, vì vậy kinh Đại Niết Bàn Phật nói : “Ta dùng Phật nhãn xem khắp các pháp trong tam giới, tánh của vô minh bổn tế vốn là giải thoát, tìm khắp mười phương trọn chẳng thể được, do gốc là không, nên với cành lá đều được giải thoát, do giải thoát khỏi vô minh cho nên đến lão, tử đều giải thoát, do nhân duyên ấy ta nay an trụ trong thường tịch diệt quang gọi là đại niết bàn”. Phật dạy rằng : “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều giác ngộ thành Phật được. Muốn tu phát bồ đề tâm cần nhìn thấy được tâm vì tâm là gốc vốn sẵn thanh tịnh xưa nay.

===oOo===

Tâm sen tánh Phật tuyệt vời

Tinh ba diệu lý chiếu ngời ánh minh

Rọi soi vạn vật hữu hình

Mười phương thế giới nhiếp thâu diệu mầu

Khắp cùng thiên hạ đâu đâ

Chí tâm phát nguyện vãng sanh lạc thành

Bậc thượng bối ly gia đoạn dục

Hạnh Sa môn phát nguyện bồ đề

Tịnh lòng trì niệm lìa mê

Di Đà tự tánh là quê, là nhà

Thích Ca lời Phật sâu xa

Dựng xây công đức chính ta tạo thành

Nguyện về Cực lạc vãng sanh

Lâm chung thấy Phật quang lâm hộ trì

Di Đà tánh Phật uy nghi

Quang minh tỏa sáng diệu kỳ lòng ta

Cùng chư Thánh chúng hiện ra

Thánh là đạo hạnh lòng ta tạo bồi

Công đức hạnh tự mài dồi

Đó là thiện hữu cũng là hiền nhân

Bồ đề quyến thuộc xa gần

Là chư Bồ tát ân cần nhắc khuyên

Rước ta về chốn đài liên

Vào ao bảy báu trí minh tịnh lòng

Tâm tự tại, thức thong dong

Cõi lòng thanh thoát, đục trong tỏ tường

Muốn thấy Phật phải rõ đường

Phát tâm vô thượng bồ đề dựa nương

 

Bồ đề giác ngộ mười phương

Lòng ta an lạc chính A Di Đà

Đức lành tích lũy hà sa

Là nhân hồi hướng nước A Di Đà

Chánh nhân an lạc lòng ta

Bồ đề vô thượng trổ hoa đại từ

Là người phước báu thừa dư

Tâm là thánh thiện công phu sẽ thành

Phật đã dạy đành rành Tứ Chúng

Người phát tâm chí quyết tu hành

Tướng hình giai cấp vô tranh

Tại gia phát nguyện đạo thành không xa

Thân tuy còn ở Ta bà

Cư trần bất nhiễm chính ta Bồ đề

Gìn lòng chẳng đọa trần mê

Phụng trì trai giới, dựng xây hạnh lành

Tâm đăng tỏa sáng mười phương

Tràn phan pháp tự cúng dường Như Lai

Rải hoa trí huệ đức tài

Hướng về Cực lạc, liên đài vãng sanh

Di Đà tánh phật dạy rành

Dạy ta xả bỏ giật dành thế gian

Quang minh hóa hiện thân vàng

Vây quanh Thánh chúng là giờ vãng sanh

Bồ đề giác ngộ sẵn dành

Rước người thánh thiện tu rành đạo tâm

Xét lòng nhờ đức Quán Âm

Đại Từ Thế Chí phá mê vượt đời

Bồ đề vô thượng đắp bồi

Đạo tâm bất thối thoát rồi trầm mê

Nếu ai muốn biết đường về

Quay vào tìm gốc bồ đề là tâm

Đừng tìm đừng kiếm xa xăm

Đừng mơ, đừng mộng, đợi trông ảo huyền

Nhất tâm niệm Phật là duyên

Tin sâu nguyện thiết mới yên tấm lòng

Giáo điều Phật dạy tri âm

Giữ lòng tịnh niệm quang lâm cửa thiền

Nguyện tu soi sáng chư duyên

Không còn lầm lạc đảo điên mê mờ

Mệnh chung thấy Phật đón chờ

Di Đà tự tánh mõi mòn đợi trông

Trí minh sáng khắp đại đồng

Bồ đề thoát đời trầm luân.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

Vật chi nếu tướng hình

Thảy đều hư mộng, vọng tình lông bông

Bằng xem tướng có là không

Nhận ra đức Phật khắp trong cảnh tình

Nếu ai chấp có biết mình

Biết người cùng biết chúng sanh kia là

Lại thêm mạng số biết tà

Phải đâu Bồ tát vượt qua lưới mành

Nếu xem Phật ở tướng xinh

Lại nghe Phật ở âm thanh dịu dàng

Thì ra kẻ ấy lạc đàng

Như Lai chơn tánh có tàng chi chi

Những là các pháp hữu vi

Giống như mộng ảo khác gì huyễn thôi

Tựa hồ bọt nước dòng khơi

Mãnh hình ảnh giả chút hơi sương tàn.

La-Hán là danh từ tên đặt để gọi, nói lên từng quả giác của con người cũng là pháp, vạn pháp do tâm mà có, pháp sanh do tâm tạo tác. Nếu ta cứ mãi cầu khẩn mong được mọi người cung phụng, được phục vụ ăn uống, thỏa mãn cho cuộc sống đầy đủ tiện nghi, tâm niệm đòi hỏi cho thân sung sướng đáp ứng cho nhu cầu của ý riêng tư, miệng nói tu mà lòng còn ham hưởng thụ các pháp đời là cõi lòng còn vướng trụ pháp thế gian, không biết làm ích lợi cho mọi người đang cần sự giúp đỡ của người tu chơn chánh, dùng kinh nghiệm tư trí tuệ chỉ rõ bản tâm biết xả bỏ tham sân si ra khỏi tâm cho thoát khổ, vì thế Pháp Sư Đạo Chứng nói rằng: Nếu người tu có quan niệm đó là còn ý tưởng ham muốn hưởng thụ riêng mình được sung sướng là “Cõi cực lạc dành riêng cho người tu bằng tâm làm biếng”. Tu bằng tâm dải đải chỉ lo riêng cho mình, thế giới này chỉ vô ích làm nhân loại thiệt thòi. Tu để tự độ ta, còn dẫn dắt độ người được giác ngộ, đồng thoát khổ mới là tự độ, còn độ tha là bậc Bồ tát vào đời cứu độ chúng sanh, phần giác tiểu La Hán còn sợ nghèo, sợ khổ, sợ bệnh, biết sợ tội lỗi nhưng không dám xả thân để làm lợi lạc chúng sanh. Tổ nói đó chỉ là cách tu chồi khô, mọng lép, sẽ cháy tiêu tất cả công phu tu tập, vì Phật dạy: “Tiền cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh”. Ngày xưa đức Phật rời triều đình đi tu vì thương vua cha, thương công chúa Gia-Du-Đà-La, thương La-Hầu-La, thương cả triều đình, thương dòng tộc cùng thương khắp cả chúng sanh mà ra đi tìm phương giải thoát để tự cứu mình và cứu muôn loài thoát trầm luân khổ ải.

Phật không ở non núi để người tìm kiếm mất công, mà Phật ở ngay tại lòng mọi người đều có, đừng tìm kiếm lấn chen bên ngoài, mơ vọng tìm bằng âm thanh sắc tướng, vĩnh viễn sẽ không thấy Phật, tự độ mình sẽ độ được người chung quanh. Nếu chọn đúng pháp tu  trở về sống được với tư tánh Di Đà vô biệt niệm thì mười phương chư Phật đều tán thán. Kinh dạy:

Trí thần sáng chiếu thế gian

Tiêu trừ thống khổ phá tan mây mờ

Sông mê đã vượt khỏi bờ

Soi ra Ngũ uẩn một giờ thành không.

Khắp pháp giới hư không đều là quang minh sáng suốt chiếu diệu bởi hào quang trí tuệ biết rõ vạn vật, biết sắc thân được duyên hợp từ bảy đại: đất, nước, gió, lửa, không, kiến, thức gọi chung là thất đại. Ta tu để biết rõ rằng khi bỏ xác thân này là chết, không đi về đâu cả. Sự sống hay chết đều là vọng tưởng, chỉ thay đổi tùy duyên tan hợp, không có gì ta muốn cho nó biến mất và cũng không có gì tự tạo ra được, mà tất cả đều là những tướng trạng biến dạng, thay đổi của pháp, Tổ dạy:

Uẩn từ không đến, không sanh Uẩn về

Này là các pháp chấp nê

Vốn không có tướng nào hề diệt sanh

Chẳng dơ, chẳng sạch khó rành

Chẳng thêm chẳng bớt thôi thành hư không.

Ở thế gian khi nhà cũ hư sập thì xây cất nhà khác, thân cũng vậy nếu thân tướng này hư hoại vì già bệnh chết sẽ rã tan đổi tướng khác, tùy nghiệp do tâm thức tạo tác mà có tướng hình, nên kinh dạy:

Ý kia đã dứt nghĩ suy

Bao nhiêu cái thức chung quy chẳng còn

Vô minh đâu có sanh tồn

Vô minh cũng chẳng hao mòn mất đi.

Mang tướng trạng diện mạo do nghiệp quả nên có sự thay đổi khác nhau. Ngày xưa đức Phật ngồi dưới cội Bồ-đề thấy chiếc lá vàng từ thân cây rơi xuống, Ngài tự giác ngộ “thấy đời như chiếc lá”, khi mãn duyên khô héo sẽ rơi rụng, từ thân cây biến đổi sẽ có chiếc lá khác, chiếc lá vàng trước kia có cũng từ duyên hợp sanh ra, duyên của đất tươi nhuận phát triển, từ duyên của nước, duyên gió là không khí, ấm áp nhờ duyên của lửa, có nhân duyên hợp sẽ sinh ra muôn loài vạn vật, khi rơi rụng là duyên tan lá cũng trở về không. Con  người tâm thức biến đổi nên có lúc buồn, vui, thương, ghét, vậy lúc hết buồn vui thương giận ghét thì những trạng thái của những hoàn cảnh này sẽ về đâu ? Tất cả là vô thường đều trở về hư không nên lòng ta không còn vui buồn thương giận ghét nữa, chẳng còn tâm vui buồn thương giận ghét nào là của ta cả nên đã sống được với đạo chơn. Ngày xưa Ngài Thần Quang bạch với Tổ rằng : “Bạch Thầy tâm con không an” vì tâm Ngài Thần Quang còn đầy ắp phiền não khổ sở, còn chất chứa vọng trần, hiện tại tâm còn có các niệm mê là những chúng sanh não loạn đang hoành hành cõi lòng, toàn niệm khởi bất an. Nên Tổ bảo : “Con đem tâm ra ta an cho”. Ý Tổ nhắc Ngài Thần Quang thấy được các vọng tâm mà buông xả nên lúc này nhìn lại sự thật thấy không còn tâm, quay nhìn không thấy tâm nào của Ngài cả. Ngài bạch rằng: “Bạch Thầy con tìm không thấy tâm” vì không dính trụ pháp trần, đã buông xả các duyên, tất cả đều trở về thất đại, về với hư không, hư không có vô số, vô số rất nhiều nguyên tử sanh diệt, đạo tâm trong sạch là lìa bỏ hết mọi toan tính, âu lo, mừng vui, giận ghét, được thua, dứt mọi tưởng tượng thì tất cả về với hư không, nhưng khi có duyên đến nếu bất lập tức sẽ có tâm sanh khởi, các pháp thành tựu chờ đủ duyên. Khi duyên đến sẽ có hoàn cảnh, nếu không sáng suốt giác biết sống bằng giới luật giữ tâm an định thì mọi toan tính âu lo, sợ sệt, vui buồn, thương giận, tức tối, tham ái ... sẽ luân hồi quanh lại, sẽ sanh có tâm, quấy nhiễu làm bận rộn não loạn cõi lòng, rối bời vì điên đảo. Chúng ta tu học để hiểu biết giác ngộ tất cả duyên, sáng suốt không gá vào duyên huyễn giả là giận hờn, phải quấy, buồn khổ, không nhận pháp huyễn để làm tâm của ta hay tâm của tôi cần tạo an lạc bình an bằng pháp từ bi hỷ xả thì hiện tại cõi lòng là quốc độ an ổn, nên Tổ Đạt Ma nói với ngài Thần Quang “Ta đã an tâm cho con rồi đó”. Kinh dạy:

Giữ cho tâm ý lần lần thanh bai

Chớ lầm một việc đơn sai

Là theo chánh đạo Như Lai chơn truyền.

Niệm Phật thực tướng là kêu ngay tánh Phật, niệm nhớ ngay Phật trí tuệ tại cõi lòng ta, gọi kêu tánh từ bi hỷ xả, đừng kêu, đừng gọi, đừng niệm nhớ giận hờn, hận oán, buồn khổ ghét ganh, đừng niệm nhớ gọi kêu tâm niệm độc ác là những chúng sanh mê muội trong lòng, chỉ gọi nhớ tha thiết tự tánh Phật A Di Đà là chơn tánh sáng suốt, trí tuệ vô lượng quang tại lòng ta đã tỉnh thức, cùng ta san sẽ trí minh cho thoã lòng chờ đợi là nguyện thiết tha chỉ nhờ và muốn gặp Phật tánh, vì vô minh đã bỏ quên phai mờ từ vô lượng kiếp, khi duyên khởi ta từ không đến, nên hết duyên rời bỏ thân huyễn tạm cũng trở về không, đó chính là định luật tự nhiên, chẳng đi đâu cả, các pháp như huyễn tùy duyên đến tùy duyên đi.

Trong đời sống nhà cửa là pháp cần thiết của con người, nhà nào cũng tạo đường đi ra ngoài, nhưng nếu đường ra vào trải bằng gai gốc hoặc đồ bén nhọn, không sửa sang dọn dẹp trơn láng thì chính chân ta đạp những vật này. Đường vào nhà tâm cũng vậy, niệm niệm sanh diệt luân hồi ra vô hằng ngày nếu ta trải đường vào tâm bằng các pháp độc ác, là gai gốc hận thù thì chính những sự độc ác này là nghiệp báo khổ đau, nếu tự ta gieo tạo thì tự ta gánh chịu, tự nhận lấy không chối bỏ hay tránh né được. Đường vào nhà tâm luôn là hờn giận, trách móc, tội lỗi là tự tạo con đường gai gốc cho ta tự nhận. Nếu tạo phước báu là lót đường bằng gấm lụa, tức là pháp từ bi hỷ xả, lòng tha thứ độ lượng khoan dung. Nhẫn nhục thì đất tâm là cõi an lạc được lót bằng vàng ròng, thì khi rời bỏ xác thân ta sẽ đi đúng y con đường mà ta đã tự xây dựng tích luỹ bằng phước đức. Nếu không nhận được điều này, mãi tích trữ vào tâm bằng ác nghiệp thì con đường ác đạo tiếp tục dành cho thân sau tự mà lãnh nghiệp thọ sanh theo nhân quả. Tu là tự sáng suốt biết chuyển đổi nghiệp, bỏ tham sân si chuyển thành từ bi hỷ xả, vậy mười phương chư Phật ở đâu? Là ai? Chính là khắp cả chúng sanh, khắp pháp giới mười phương đã giác ngộ, hoàn toàn sống bằng chơn lý, mỗi niệm là một vị Phật, niệm niệm đều giác là chư Phật khắp mười phương nên mười phương chư Phật đều tán thán, kinh Phật mà mọi người thường đọc tụng, nhắc nhở mục đích muốn khai thị cho ta biết rõ mười phương là các thế giới tại cõi tâm, phải hằng nhớ mà quán sát tại lòng, tự quay vào mà đãnh lễ “Chí tâm đãnh lễ Nam mô tận hư không biến pháp giới hóa hiện vị lai chư Phật Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trú Tam Bảo”. Vậy không như thế nào? Không mà người tu cần biết là:

          Sự rỗng không từ vô thỉ và mãi mãi rỗng tuếch. Phật nói là Ngoan Không, cái không này chẳng liên quan gì với nhà Phật, là cái không khô cứng tối tăm, vì chấp không ngơ nên lòng chai cứng không làm điều thiện, không bố thí cúng dường, chẳng niệm Phật, chẳng thương yêu giúp đỡ hay san sẽ sự khổ cùng ai, cái không nầy bồng bềnh trôi nổi là không ngơ.

Không tự tánh là tự có sẵn, chơn như bản tánh trùm khắp. Không này thoát ra từ tự tánh, chơn tâm, từ Như Lai Tạng Tánh biến hoá có hư không. Hư không này chứa trong Như Lai Tạng Tánh (hư không này khác với không ngơ) là đương thể tức không, như ta đang có thân là đương thể vì thân là sắc pháp chỉ là huyễn tạm vô thường nên không bền chắc chỉ nương gá nhân duyên mà dính kết, mãn duyên sẽ tan rã vì già bệnh chết, nên nói thân là đương thể sẵn sàng chờ tan rã là tức không, chỉ vào pháp không vĩnh viễn, bởi vì các pháp đều từ nhân duyên tạo tác mà thành, duyên hết pháp hoại diệt.

Chơn Không sanh Diệu Hữu.

Chơn là chơn lý, không là không nhiễm. Diệu Hữu là sự biến hóa tự nhiên thanh tịnh. Hữu là có vạn vật hữu tình, có tuớng tức là cái diệu dụng từ tâm thể, là những diệu hữu mầu nhiệm từ bản thể chơn không mà ra, khi đã nhận bản thể không còn một pháp mới thấy được diệu hữu của chơn tâm. Diệu hữu là biến hóa, mà Chơn Không là tâm thể của con người, còn tánh không là thể tánh của muôn pháp, tánh không do duyên hợp mà sanh có muôn pháp hư vọng.

Hiện tại ta đang có thân là do duyên  hợp, sự sinh hoạt theo thói quen của đời sống thế gian là do thức diễn biến tiếp trần mà sanh pháp từ lục căn là: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức tiếp xúc sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, sanh ra có phân biệt, mọi thấy, nghe, ngửi, nếm, trơn láng, nóng lạnh, đều nhờ sáu thức, nếu sáu căn được gìn giữ thanh tịnh thì không còn nói nghiệp dẫn hay sanh già bệnh chết nữa, nên Tổ nói:

Cái già cái chết thấy chi

Pháp nào tận diệt ai bi chết già

Bốn đề thanh diệu bao la

Khổ Tập Diệt Đạo cũng xa mấy vòng

Đến đây cái trí không không

Có chi là đắc mong chi cho thành?

Bởi không có đắc riêng mình

Thế nên Bồ tát tâm tình không ngăn

Nương theo trí huệ vô ngần

Không còn sợ hải băn khoăn cảnh đời

Đảo điên mộng tưởng xa vời

Không còn ưa thích nghỉ ngơi Niết bàn

Ba đời chư Phật khắp tàng

Nương thuyền trí huệ mà sang bến bờ

Quả linh hiển đắc kịp giờ

Chánh đẳng chánh giác tôn thờ không trên

Cho hay trí huệ tảng nền

Ai mà thấu nhập trở nên phép thần ...

Thái tử Sĩ Đạt Ta vì biết rõ đương thể tức không nên Ngài rời bỏ ngai vàng điện ngọc, vợ đẹp, con ngoan, bỏ địa vị chức quyền, Ngài biết các pháp thế gian không gì vĩnh viễn là của ta cả, hết thảy sẽ trở về thất đại, thức hằng chuyển biến từng sát-na để trở về không, vì biết rõ nên lòng không luyến ái, quyết ra đi tìm chơn lý.

Nếu ai tu bằng ảo giác, cứ mãi chấp có Phật A Di Đà bằng hình tướng đến rước người thế gian khi lòng họ còn ngút ngàn sâu độc, tam nghiệp nặng oằn thì những oan nghiệp họ đã gieo tạo, vậy ai trả thế cho họ đây? Không còn tin nhân quả hay sao? Không thể có A Di Đà nào làm trái ngược chơn lý được, nghiệp báo sẽ theo ta như bóng theo hình không ai can gián gánh thay được cả. Tu là mở rộng trí tuệ tỏ tường nhân quả, muốn nhân quả lành phải tự chuyển đổi thói quen xấu ác là chuyển nghiệp bằng hành động không nói lời độc ác, ý không nghĩ ác, nên trả hết lại cuộc đời những oan trái chướng nghiệp tà vọng xưa nay lầm chấp vào hư không pháp giới, để sống bằng hạnh đức thiện lành, phước đức trí huệ, hiểu biết thông suốt sự thật cuộc đời mới đi đúng vào con đường bát chánh đạo. Cái không thứ ba được thấy rõ trong Bát Nhã Tâm Kinh, Sắc tức là Không, Không tức là Sắc, Chơn Không mà Diệu Hữu, khắp vạn pháp hữu vi như trời, trăng, mây, nước, mưa, gió, chim bay, cá lặn, thú vật, con người v.v... Các pháp mà ta nhận được là có gọi là hữu vi pháp, đều như bọt như bóng, như điện chớp, không thật, người  giác ngộ nhìn bằng mắt tuệ giác biết các pháp từ không mà có gọi là diệu hữu. Mắt phàm phu nhìn bằng nhục nhãn tưởng pháp hữu vi là thật nên chấp có chắc chắn gọi là mê, khắp vạn vật vũ trụ thế giới con người đều ở trong cái không. Không này thênh thang không ngằn mé, không giới hạn nên dung chứa hết vạn hữu, dù có bao pháp cái không bao la rộng lớn đều chứa được nên gọi là chơn không mà diệu hữu. rDù chơn không nhưng chứa đủ pháp vi diệu đủ duyên sẽ diệu dụng ra có tuy có mà không tuy không mà có, không nhưng có tất cả đất nước gió lửa, có đầy đủ pháp làm lợi ích cho chúng sanh chẳng phải không ngơ trong vô ký, người tu là đem kinh nghiệm trí tuệ ra tự chuyển nghiệp còn đem sự giác ngộ nơi mình ra cứu độ chúng sanh là hạnh tác Như lai xứ hành Như lai sự, nhưng Như lai là ai? Như lai chính là bản giác chơn như bất khứ bất lai, người hướng tu mục đích duy nhất là thành Phật là thấy lại tánh Phật chính mình tức kiến Như lai. Kinh dạy : “Nguyện giải Như lai chơn thật nghĩa”, nếu chỉ tu bằng miệng thì tu hoài cũng chẳng xong vì chưa thấy được tánh tham, chưa thấy tánh sân si, những tánh phiền não, giận hờn ghen ghét ngã mạn, tự cao, ích kỷ, hẹp hòi, kiêu căng, tự phụ... tất cả đều là tánh nhưng chỉ là tánh phàm phu tục tử độc ác, cần phải nhận thấy để mà lìa bỏ đoạn trừ các chủng tử này từ biển thức do phân biệt biến hóa sanh ra tất cả đều nằm trong thất đạ. Tu là sáng suốt chuyển thức về trí gọi là Tịnh trí, muốn chuyển thức thành trí phải thấy ta đã tự quy y Phật nghĩa là trở về sự tỉnh giác, quy y Pháp là trở về chánh định, chánh niệm, quy y Tăng là trở về sự hòa hợp, cần quán xét vào tận đáy lòng coi có sống được nơi tam quy y chưa? Quyết quy Phật, quy Pháp, quy Tăng để trở thành người thánh thiện sống bằng tâm thật tu, thật tu là dù hoàn cảnh nào có đến cũng giữ gìn tấm lòng vững chắc, không giao độc bát phong là khổ, vui, lợi, hại, khen, chê, tốt, xấu, nguyện tu sống bằng tâm bồ đề thật kiên cố, chí tu học vững bền, xa bể khổ nguồn mê, chóng quay về bờ giác, cảnh nào đến lòng cũng an nhiên, kiên định, thật tu là quyết giữ với tấm lòng không nổi sóng vì gió nghiệp thổi vào biển thức.

Lại nữa A Nan, trở về đông phương thế giới nhiều như cát sông Hằng, mỗi thế giới có hằng sa Phật, mỗi vị đều dùng tướng lưỡi rộng dài, phóng vô lượng quang, nói lời thành thật xưng tán công đức Phật vô lượng thọ”. Phật vô lượng chính thật là tự tánh A Di Đà có khả năng thọ dụng đất, nước, gió, lửa không kiến thức là thất đại đều là duyên ai cũng có khả năng thọ dụng cũng như các pháp thế gian và xuất thế gian đều thọ nhận, nên khắp pháp giới thành tựu nơi tâm người là thế giới hư không tạng chứa vô lượng pháp gọi là vô lượng thọ, chỉ vào tự tánh Di Đà nơi mỗi con người đều có khả năng đều thọ dụng là bản thể chắc chắn vững bền không thay đổi, từ vô thi kiếp mãi mãi vô lượng, từ chơn không biến ra diệu hữu thay đổi chuyển biến lên xuống, có khi làm người, làm thú, làm Bồ tát, làm Phật, gọi là dụng, thọ dụng này là pháp sử dụng được tất cả thiện ác, phải quấy, tốt xấu, nên hư chính nơi ta. Người tu nhờ giới luật gìn giữ bản tánh cho trong sạch tự trang nghiêm quốc độ vì giới luật có trang nghiêm thì đạo quả trí huệ phát sanh nói bằng chính ngữ là tướng lưỡi rộng dài, khi mỗi niệm khởi vì mê cứ chấp trụ cố giữ cho là của riêng tôi, cho mọi sự vật yêu thích buồn khổ là của tôi như toi buồn tôi khổ, tôi hạnh phúc tôi giàu có, cho rằng cha mẹ con cái những người thân là của tôi, mỗi niệm sanh khởi tự chấp nhận cho là tâm cố giữ là có gọi là chấp ngã chấp pháp, con người thường sống bằng vô số tâm niệm, mỗi niệm chấp giữ thì tâm có mỗi thế gian. Nếu tâm tham lam thì là thế giới loài ngạ quỷ, tâm niệm phiền não là thế giới của loài súc sanh, tâm mãi si mê là thế giới địa ngục, tâm nóng nảy là thế giới của A-tu-la, cõi lòng trong sạch là thế giới A-La-Hán, thương yêu giúp đỡ mọi người lòng không tư lợi thì đất tâm là thế giới của Bồ tát. Bậc giác ngộ thường sống bằng trí tuệ hằng giác nên lòng luôn an lạc, tâm cao thượng chính là Thế giới tây phương cực lạc là quốc độ chư Phật. Thế nên Phật dùng pháp tướng chỉ số nhiều của cát sông Hằng để ẩn dụ chỉ vào vô số vô biên tâm niệm nơi mỗi con người là vô biên chúng sanh còn chất chứa vô lượng phiền não. Tu là độ tận các chúng sanh mê muội tại cõi lòng, còn phải đoạn vô lượng phiền não tại lòng ta, nên Lục Tổ nói : “Không ngờ trong tâm có tất cả, không ngờ trong tâm chứa muôn pháp”, có vạn pháp do tâm. Phật nói tâm tâm địa có vô số thế giới nhiều như cát sông Hằng, tâm địa cũng có vô số niệm đã giác, là có hằng hà sa số Phật, mỗi vị Phật đã tự giác, nói tướng lưỡi rộng dài, có nghĩa là cứ mỗi lời nói từ miệng bậc giác ngộ từ lưỡi thốt ra đều là chánh ngữ, lời nói là kim ngôn ngọc ngữ tức là lời vàng tiếng ngọc chắc thật trong sáng, chiếu suốt vang vọng cùng khắp pháp giới cõi tâm, lưỡi nói lời chơn lý biết trùm khắp xóa tan được tội lỗi lầm lạc  các niệm vô minh tại cõi lòng và giáo hóa được chúng sanh hữu hình bên ngoài được tỏ ngộ, lưỡi rộng dài nói tất cả nguồn tư tưởng chánh minh từ trí huệ sáng suốt phóng ra vô lượng quang minh, không còn một niệm vô minh nào chen tạp, tướng lưỡi rộng dài phát ra âm thanh vi diệu gọi là lưỡi bậc trí tuệ nói thông suốt trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói bằng vô lượng từ bi, vô lượng sáng suốt, vô lượng thọ nhận biết vô lượng pháp mà bản thể chơn tâm không hề đắm lụy. Cõi tâm rộng lớn thênh thang hoàn toàn chơn lý, nhìn vạn pháp bằng Phật nhãn, pháp nhãn không thể suy nghĩ bàn luận, mà nói hết được đánh thức các tâm thức mê muội tại lòng hằng sa quốc độ đều tỉnh giác nên chư Phật khắp mười phương đều tán thán. Nếu tu mà không nghiêm giới luật thì lời nói thật ra là tà ngữ, tà vọng, yêu mị, tội lỗi phát sanh, vì giới cũng là duyên lành giữ gìn mạng mạch, Phật pháp giúp ta thành chánh giác. “Hằng sa thế giới chư Phật xưng tán, cũng lại như thế bốn phương phụ và hai phương trên dưới, hằng sa thế giới chư Phật xưng tán lại cũng như thế, tại vì sao thế? Bởi khiến cho chúng sanh phương khác nghe danh hiệu Phật, phát tâm thanh tịnh, quán chiếu thọ trì, quy y cúng dường, cho đến hay phát một niệm tịnh tín, có được căn lành chí tâm hồi hướng nguyện sanh nước ấy. Tùy nguyện được sanh, đắc bất thối chuyển, cho đến vô thượng chánh đẳng bồ đề”. Nghe các đức Phật khác là sử dụng hạnh lắng nghe lại cõi lòng, nghe lại những tâm thức đã giác, nghe bằng thiền định đã biết chuyển thức thành trí, tâm thức không còn phân biệt, từ tận đáy lòng tất cả tâm niệm đều trở về quy ngưỡng Như Lai Tạng Tánh, vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng như nhau, chỉ vì đuổi theo nghiệp thức biến hóa lầm chấp không đồng, tùy nghiệp nhân mà hiện nghiệp quả có tướng nam nữ, thông minh, trí tuệ hay u mê đần độn. Nếu sáng suốt đồng trở về tự tánh vẫn đủ khả năng làm Phật, làm Bồ tát, làm Thánh. Tất cả chúng sanh đã giác ngộ đều là chư Phật nên khắp mười phương đều tán thán nhờ đã tri  kiến Phật tánh, thường sống với Phật tánh nên biển thức không còn loạn động tự chuyển thành trí, bởi vì những tâm thức ham muốn, duc vọng đòi hỏi đã giác thì chẳng còn nghiệp gì cả nhờ tự tánh Di Đà vô lượng quang chiếu soi nhờ diệu quang sát trí, là quang minh Bồ tát thế âm quán sát quán tự tại cõi lòng tầm thinh nguyện cứu khổ khắp chúng sanh mê muội tại lòng, chuyển hoá các tà niệm mê si vào tận hư không tận cùng pháp giới, trí tuệ rộng lớn thênh thang hằng hữu khi giác ngộ tự nhập bản giác, tâm thức không còn mây vô minh che khuất, ác niệm đã siêu thăng vào hư không hoàn toàn giải thoát.

Phật dạy nhân nào quả nấy, muốn sanh đâu cứ tạo nhân thì nhận quả đúng y như vậy, cứ mãi tạo nhân quấy ác, tội lỗi mà muốn về Cực lạc, muốn vãng sanh là điều không thể có, rất vô lý. Phát hạnh nguyện thiện lành thì mới được về thế giới thiện lành là điều chắc chắn vì Niết bàn do tâm tạo, địa ngục chính tâm sanh, pháp này mười phương chư Phật đều tán thá. Mọi người đều có tánh Phật sáng suốt trí tuệ sẵn tận hư không biến khắp pháp giới, sẵn sàng hóa hiện vì si mê nên không biết sử dụng bỏ quên tánh Phật, sự sanh diệt của tâm thức cũng từ thức đại nằm trong tạng tánh thức giao động biến hóa phân biệt nên có tâm, sanh có pháp thức còn sanh diệt là tâm còn chúng sanh, não loạn bản giác là hào quang sáng suốt tỉnh thức gọi là minh là trí xuất thế. Nếu nhận lại bản giác tịnh minh ngộ nhập tri kiến Phật cũng là sống với bản giác A Di Đà hiển nhiên hằng có sẵn ở mỗi con người. Vì cứ đuổi theo pháp trần mà quên bản giác, mãi theo thức luân hồi sanh diệt chấp thật, cố bám giữ Phật cũng là một con người đã giác ngộ sống bằng trí vô phân biệt, nếu ta tu giác ngộ sống như ngài thì ta cũng là Phật đã thành.

Tâm thức thường biến hóa tận hư không, khi tâm thức tịnh là trở về với tự tánh, không còn giới hạn chấp hẹp vào sở chấp cho pháp là của ta. Vì chấp trụ nên tâm nhỏ hẹp, tâm lượng thu nhỏ chỉ trong gia đình ta, người thân, của cải vật chất, danh vị, ghét thương, si mê, oán hận, buồn vui... Nên tấm lòng mất quảng đại, vì lầm nhận những pháp chấp này giữ chặt không lối thoát, nếu sống bằng tánh Phật tự nhiên của mỗi người khi đã xả bỏ hết pháp tà huyễn thì trí tuệ thênh thang rộng lớn trùm khắp vạn pháp, nên khi chánh giác chư Phật tán thán, tất cả pháp giới mười phương đều nằm trong Như Lai Tạng Tánh, là tự tánh chơn tâm của mỗi con người hằng sáng đầy đủ trí tuệ, cũng là pháp giới tạng thân A Di Đà Phật. Kinh Bát Nhã dạy : Chỉ một niệm chuyên chú nhất tâm có thể nghiền thành vi trần hết thảy đại địa, trong tam thiên đại thiên thế giới nhiều như cát sông Hằng trong cả mười phương, sức lực của nhất niệm không thể nghĩ bàn, niệm Phật được như vậy thì tâm chính là Phật, Phật cũng chính là tâm, chẳng nói trong ngoài không nói trói buộc hay nói giải thoát, khắp cả núi sông đại địa, mười phương hư không chẳng một nơi nào dầu nhỏ bằng hạt cải, lại chẳng phải là chỗ đức vô lượng thọ Phật hiện thân thuyết pháp, cho nên ly cũng chính là phân ly nên nhập ngay vào đại quang minh tạng Như lai. Tổ dạy:

Cho hay trí huệ tảng nền

Ai mà thấu nhập trở nên phép thần

Oai to lực rộng sáng ngần

Phép nào cao cả dám phân phép này

Năng trừ các thứ nạn tai

Rõ ràng chơn thật chẳng sai ngoa lời

Bờ bến trí huệ rộng khơi

Buông ra muôn trượng gom thời một câu

Độ đi độ khắp đâu đâu

Độ cho giác ngộ chóng mau viên thành.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

 Cư  Sĩ Phật tử Như  Thánh

Thành Kính Cúng Dường