Phẩm 27 :

 

CA THÁN PHẬT ĐỨC

 

Ca là khen ngợi, Tán là tán thán khâm phục. Phật là gì? Phật chính là giác, ý kinh muốn chỉ ngay vào tánh giác đã có sẵn nơi mỗi con người. Đức là nhân cách, là hành động phát xuất từ lòng từ bi hỷ xả, hành động vì mọi người quên mình. Hạnh bố thí là tâm mật tuyệt đối, không hành động vì tư lợi hay riêng tư cho cá nhân mình. Ca thán Phật Đức không chỉ chú trọng tôn kính riêng Đức Thích Ca, mà ca thán tất cả đức độ mọi con người hiện đang có mặt trong đời biết sống bằng đạo hạnh đức độ giống như Đức Phật Thích Ca. Ca thán từng hành động thiện lành cao thượng, thường nuôi dưỡng, phải tôn kính, lễ lạy, những hạnh đức hằng tích lũy huân tu đạo nghiệp, chính là nhân lành tạo vô lượng nấc thang đưa người hướng tâm tu sửa bản tâm nhanh chóng quay về quả giác. Người hướng về quả giác ngay hiện kiếp nên dùng nhãn quang nhìn bằng trí tuệ nhận biết hiện tiền tâm đang ở thời kỳ nào. Nếu cho rằng tu là theo sự tướng rầm rộ bên ngoài, làm những hành động không giống Đức Thích Ca, tự phế bỏ bản tâm sống bằng tư tưởng theo thế tục quên chơn lý, bỏ Phật pháp thì kinh nói người đó sống trong thời kỳ mạc pháp. Khi hình thức bên ngoài được nổi bậc tôn xưng, chính là tôn xưng những vọng trần, hư vọng sẽ che khuất nội tâm, khó thấy được Tánh Phật. Người tu biết quay vào tự xét tâm, mượn pháp Phật ứng dụng để tu sửa bản tâm thật là hiếm hoi, phát nguyện tu theo chơn lý cần xem rõ chí hướng hiện tại ngay tâm mình. Không tu bằng cách chạy theo phong trào, không tu với hình thức sự tướng rầm rộ. Tự cho rằng ta đã tu mà cõi lòng vẫn còn nuôi dưỡng nguồn tư tưởng trừu tượng quyết đoán thiên cổ, đoán vận mạng nạn kiếp cuộc đời hay định đoạt số mạng con người thì trong tạng kinh A Hàm Phật nói, những ai còn tư tưởng mơ hồ này không phải là đệ tử Phật, là ngoại đạo, còn theo đạo ngoài, chưa sống bằng đạo tâm giác ngộ. Đức Phật là bậc đại hùng, đại giác, đại từ bi, không hề khiếp sợ sự mất còn của cuộc đời, hoàn cảnh nào có đến lòng vẫn an định nghiệp thức không lay động vì sợ mất mác, biết chắc rằng muôn loài, vạn vật đều vô thường có thân thì có sanh, già, bệnh chết, vạn vật thì thành trụ, hoại, diệt. Đó chính thật là chơn lý theo lời Phật dạy là Tứ Diệu Đế (Khổ Tập Diệt Đạo). Người tu tâm cần biết rõ tứ đế là gốc khổ của chúng sanh, không một ai qua khỏi được, không đi đâu mà trốn được những nạn khổ này. Nếu thọ thân mà không trí tuệ sẽ khổ, phải tự giác ngộ, nhận sự thật các pháp sanh diệt của cuộc đời tâm không vướng trụ mới là trí tuệ viên mãn mà kinh Bát Nhã đã dạy.

Tâm không còn chút ngại ngăn,

Cũng không còn chút băn khoăn sợ gì

Đảo điên mộng tưởng xa lìa

Niết bàn mới đến bên kia bến bờ.

Ngày xưa vua Tịnh Phạn muốn làm suy đồi tư tưởng quyết chí tu học ra đi sống hạnh Sa Môn của Thái Tử Sĩ Đạt Ta, bằng cách tạo ra nhiều thú vui quyến dụ Thái Tử đắm say vào dục lạc tham ái của cuộc đời, cốt làm lung lạc ý định đi tu để ở lại triều đình giữ ngôi báu trị vì trăm họ. Cần vận dụng trí tuệ khi nghe danh hiệu pháp tướng Sa Môn nhận biết thông suốt bằng pháp nhãn mới không khởi niệm phiền trách, phiền não người xuất gia. Kinh A Hàm, Phật dạy các Tỳ Kheo, có người nhìn vào Giáo đoàn hỏi Đức Phật có mấy bậc? Phật trả lời đại ý có bốn hạng Sa Môn chí hướng cùng nhau, mặc y áo cạo tóc có hình tướng ở chùa giống nhau, nhưng chí nguyện thì khác nhau ngươi cần nhận rõ.

1. Là hạng hành đạo giữ giới luật thù thắng, không khởi niệm nghĩ nhớ bàn luận việc thế gian, sống bằng lòng từ bi hỷ xã luôn giúp đỡ mọi người, việc làm không vì tư lợi cá nhân, đó là hạng sa môn hành đạo thù thắng.

2. Hạng trí tuệ khéo giảng đạo lý chánh minh, thường nghiên cứu kinh điển, hết lòng nhắc nhở cho người có duyên tu nhân học Phật, giữ gìn chơn lý duy trì hạt giống giác ngộ, giữ chủng tử Như Lai mạng sống thường tinh tấn giáo pháp.

3. Hạng thứ ba cũng tướng Sa Môn nhưng nương tướng đạo để sinh sống mà tâm niệm muốn được mọi người lo lắng nuôi dưỡng, muốn đầy đủ phương tiện phục vụ cho đời sống sung sướng, nương chùa để đáp ứng thỏa mãn đời sống mà Thiền sư Đạo chứng nói “có Cực Lạc tại thế gian dành cho người làm biếng”.

4. Hạng Sa Môn làm ô uế đạo, bên ngoài vẫn ăn chay, miệng niệm Phật mà bên trong là nguồn tư tưởng chẳng hề niệm Phật, tâm còn chứa vô số nghĩ nhớ niệm vào pháp thị phi, tính toán điều quấy ác, gạt lường, dối trá, so tính thiệt hơn, bán buôn tranh giành địa vị chức quyền, chấp giữ vật chất riêng tư, lợi dưỡng cho cá nhân, cõi lòng còn đầy ắp tâm niệm sai trái, lừa đảo chúng sanh tự làm khổ mình, khổ người là hạng có tướng Sa Môn làm ô uế đạo. Đó là lời Phật chỉ dạy các tỳ kheo về bốn hạng Sa Môn hình tướng giống nhau những tư tưởng chí nguyện khác nhau, tùy chủng giống riêng của nghiệp thức buông xả hay mê đắm chấp giữ tại đất tâm mà sanh khởi có hành động, có pháp. Người hướng tu cần nhìn các pháp bằng mắt trí tuệ, là mắt hoa sen đầy đủ thần thông để nhận rõ chơn giả cuộc đời, để không mê nhiễm phiền não vì lầm lẫn trên đường tìm Cực Lạc tại tâm. Tất cả những tư tưởng, ý niệm nếu còn luân hồi biến hóa nơi cõi tâm đều là mọi cám dỗ sự trói buộc phàm tục. Niệm Phật nhất tâm là không niệm nhớ trần lao, đã ra khỏi ràng buộc, thí xả dần các niệm muốn ham cho tâm địa an lạc, tự tại, thảnh thơi. Lục Tổ nói trong tâm có tất cả, có quang minh Quan Âm, quang minh Đại Thế Chí, đầy đủ vô lượng hào quang chiếu diệu từ tự tánh A Di Đà là vô lượng thọ, bình đẳng cùng khắp pháp giới. Học Phật phải biết rõ, khi Thế Tôn viên tịch, Ngài nhìn vạn pháp bằng trí tuệ thông suốt biết những gì có tướng ngoài cuộc đời đều là huyễn giả, ảo ảnh thế gian, có bằng biến hóa bỏ tâm thức vô thường không thật các vọng trần này gọi là MA. Khi đó chúng MA là những nghiệp thức tại tâm hiện ra đòi lại những gì của chúng và nói với Phật rằng : “Ngài đã mượn pháp của chúng tôi qua 80 năm, nay mãn duyên trần nên trả lại cho chúng tôi những gì tạm mượn trong đời sống vì đã quá lâu”. Chúng ta cũng vậy, lúc gần bỏ xác thân thì chúng ma đến đòi mạng, đòi lại sắc tướng vật chất thế gian thịt, xương, gân, máu, hơi thở buộc ta phải trả lại cuộc đời, nên khi đó ta chẳng đem một thứ gì theo được cả dù cho người thân yêu không nở bỏ, hay tài vật quý như thế nào lòng vẫn còn tràn đầy niệm luyến tiếc ái yêu  cũng đành buông xuôi không theo ý niệm lưu luyến tiếc thương được, vì vậy bậc giác ngộ biết rõ sự thật chơn giả cuộc đời, sẵn sàng buông bỏ trả hết lại cho thế gian, lòng không luyến ái, tiếc thương, không còn niệm nghĩ nhớ pháp nào ngoài sự thế, dũng mãnh vượt lên ra khỏi mọi ràng buộc hư nguy cho cõi lòng tự tại giải thoát thì cõi tâm an lạc gọi là vào Cực Lạc hay nhập Niết Bàn. Chúng sanh mê đắm mãi niệm luyến tiếc nhà cửa, thương con nhớ cháu, không đành xa chồng vợ, tiếc tiền của, xe cộ, ruộng vườn… những thứ này là những vọng nghiệp mãi canh cánh nơi lòng, sợi dây vô hình này gọi là nghiệp, trói chặt tư tưởng vào lục đạo luân hồi cứ luân chuyển hồi lại triền miên không dừng dứt, mãi mãi vẫn trầm luân vào ba đường khổ gọi là nghiệp dẫn chúng sanh luân hồi vào tam ác đạo. Phật là Bản giác sáng suốt trí tuệ thường chiếu soi hay gọi là Bản tánh Như Lai, đã tự tại nhập bản thể này gọi là Viên Tịch. Gọi tánh chúng sanh là chỉ vào vô số niệm thức mê muội chất chồng ái dục còn niệm thương ghét, ái yêu, niệm niệm tuôn chảy không dừng, quẩn quanh trong tam cõi thì mãi luân trầm trong biển nghiệp ái hà, nên người tu lúc nào cũng giữ cõi tâm bằng pháp thiền định để thấy rõ từng tâm niệm dùng trí giác tự chuyển hóa nghiệp thức chiến thắng Ma Vương tu sửa cho cõi lòng thanh tịnh. Sử chép rằng: ngộ trận Ma Vương.

Lúc ngài nhập định phóng quang

Ma Vương binh tướng nghinh quang đánh đùa

Nhưng chúng phải bị thua chạy trốn

Ngài vẫn ngồi an ổn tự nhiên

Từ bi gương mặt dịu hiền

Hào quang nhập định tham thiền túa ra

Ma Vương ấy hoa là trần thế

E đạo Ngài chủ tể ngôi trên

Chơn tu đắp vững móng nền

Đổi xoay thế cuộc lấp nên đạo tràng…

Khi bỏ xác thân, nếu không buông bỏ được thói quen, niệm ái thường quen biểu hiện quanh trở lại, niệm khởi dính chặt vào bạc tiền, vợ chồng, con cái, tài sản đều là nghiệp ái vây quanh tất cả đều hiện ra là Ma Vương đến đòi nợ thế. Nếu lúc này nhờ tu tập, thường giác, sáng suốt nhìn vạn pháp bằng huệ nhãn từ tuệ tánh Phật chiếu soi, sẽ có hai quang minh là hai luồng sáng vi diệu, hai luồng sáng đó có danh gọi là Bồ Tát Quán Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí kề bên hào quang tự tánh danh hiệu thường gọi là A Di Đà, sẵn sàng tiếp dẫn vô lượng công đức đã thường giác, hội nhập pháp thân Phật là vào pháp giới Tạng Thân A Di Đà Phật, là Bản thể chơn tâm bất sanh bất diệt. Phật đức là đức độ nơi tự tánh đã giác ngộ, biết rõ sự thật cuộc đời, tự quán sát nhân duyên mà nói rằng “này các duyên ta đã biết rõ nhân duyên đều là pháp hợp tan, khách trần tạm nương gá mấy mươi năm thị hiện vào đời làm gương mẫu giáo hóa chúng sanh, các ngươi không thể dối gạt níu kéo khuyến dụ, ta không vướng mắc trói buộc vào các ngươi đâu, ta sẽ buông trả tất cả lại cho các ngươi”. Các duyên trói buộc làm mê nhiễm là sắc, tài, danh, lợi, tình, tiền đều là chúng ma. Phật đức là đại giác sẵn sàng buông trả các pháp đời lòng không luyến ái, nuối tiếc, bỏ tất cả niệm tự cao, ngã mạn, tài giỏi… đối với Phật Đức các pháp chỉ là không, chơn tâm không ngăn ngại bởi duyên trần, trí tuệ là Phật Đức siêu tuyệt vô thượng Bồ đề, trùm khắp tùy duyên thênh thang tịch lặng. Có thân trong đời ai ai cũng đến giờ phút hấp hối bỏ xác thân điều này thật chắc chắn. Thái Tử Sĩ Đạt Ta cũng là một con người ở cuộc đời, nhưng khác hơn thế tục, Ngài có danh gọi là Phật vì Ngài là người TỈNH THỨC GIÁC NGỘ, sống bằng trí tuệ nên dù khi bỏ xác thân trí tuệ đã TỊCH LẶNG các pháp sự yên ổn an vui tấm lòng là Thường Tịch Quang, bản tâm là cõi trang nghiêm cao thượng. Nếu mãi cho ta là người tu mà không biết những điều này để buông bỏ xả ly các niệm Ma (tham, sân, si) để sống bằng bản thể chánh minh, dù có hộ niệm, van lạy, khẩn cầu, cúng kiến bao nhiêu cõi tâm mãi là tâm niệm của chúng sanh thì bản tâm không phải là cõi Thường Tịch Quang hay Cực Lạc được. Tự Tánh sáng suốt thường có hào quang Quán Thế Âm và Đại Thế Chí thường kề bên bảo hộ Quán Thế Âm là trí tuệ chiếu soi từ tánh giác để quán xét nơi cõi lòng, Đại Thế Chí là hào quang mạnh mẽ, chí lớn của con người, chí nguyện vượt ra khỏi thế gian, sẵn sàng giúp đỡ các tâm niệm mê lầm tại tâm quay về bờ giác, muốn sử dụng hai quang minh này phải thường quay vào bản tâm huân tập giữ tâm niệm khát khao bằng giới luật không gián đoạn, là phương pháp nuôi dưỡng hạt giống trí tuệ tại lòng đã có sẵn. Cần thiền quán để sử dụng Quán Âm, mục đích rà sát tu sửa các tư tưởng vô số niệm niệm tệ hại làm suy đồi điên đảo cõi tâm. Thực hiện được những điều này là thường sống bằng tự tánh Quán Âm. Đã sử dụng được tự tánh Quán Âm thì phải dùng tự lực của hào quang mạnh mẽ có sẵn cõi lòng, vượt qua mọi hiểm nạn mê si thường ràng buộc tâm niệm vào biển đời, nhờ lực quyết thắng chúng ma là thắng những niệm ham muốn, quang minh kiên quyết này tại tâm có hiệu là tự tánh Đại Thế Chí, chí lớn quyết định rõ ràng tự ghi nhớ xác nhận chắc chắn ta hiện là đệ tử Phật mà lòng còn nuôi dưỡng những ý niệm này là còn sa đọa, lúc nào giờ nào cũng thường sống bằng thiền quán, đầy đủ xét suy vượt lên mọi đầm lầy sịn bả để xa lìa trần uế, đã sống bằng tự tánh Quán Âm tự tánh Đại Thế Chí thì Cực Lạc hiện tiền tại tâm tánh ta, tánh ta là tự tánh A di Đà đầy đủ quang minh chiếu soi vạn loại, tổ dạy:

Dọn lòng thanh tịnh thanh bình

Tiến vào Cực Lạc vô sinh Niết Bàn

Giữ lòng chánh trực đoan trang

Nhu hòa lương thiện chẳng màng phô trương

Thanh bần an phận thủ thường

Không cam thế sự vấn vương cõi lòng

Lục căn chế ngự nghiêm phòng

Không cho liều lĩnh luyến mong dục trần

Không làm nhơ bẩn tinh thần

Tránh lời chê trách Thánh nhân phê bình…

Ca Thán Phật Đức là tán thán, kính trọng những đức hạnh từ bi sáng suốt tại cõi lòng ta, những đạo hạnh thường tích lũy là vô số hành động đem đến cho mọi người có được đời sống an vui hạnh phúc, vượt khổ, lìa mê, tán thán, ca ngợi những đạo đức mà ta hoặc người chung quanh đã làm được, gặp những công đức này bất cứ ở nơi đâu đều lễ kính tôn trọng bằng lòng hoan hỷ. Người sáng suốt phải thường ca thán, cúng dường những đạo hạnh này tự chiêm ngưỡng lễ lạy, Phật nói : Các ông hãy ca thán các đức Phật thường gần gũi các ông, còn Đức Phật đã qua là Phật tịch diệt, những công đức hiện tại là Phật hiện tiền sẽ thành Phật, dùng đức độ ứng dụng vào ngay đời sống là Phật gương mẫu hiện thời cho mọi người nương theo học hỏi, phải thường tán thán ca ngợi, Phật tánh là trí huệ chính mình, mà còn tán thán người đầy đủ trí đức quanh ta chính là Phật hiện tiền tại thế. “Phật bảo ông A-Nan, các Bồ Tát nước đó nương oai thần Phật. Các Bồ Tát nước đó nương oai thần Phật, trong khoảng bửa ăn, lại tới mười phương vô biên cõi tịnh, cúng dường chư Phật”. Các Bồ Tát nước đó nương oai thần của Phật chính là chỉ danh hiệu hào quang Bồ Tát Quan Âm và Đại Thế Chí, nước đó là Thế giới Cực Lạc tất cả đều nương Tự Tánh A di Đà, chư Bồ Tát là danh hiệu chỉ vô biên quang minh trang nghiêm sáng suốt đã giác đều có Phật, ai ai cũng có sẵn Phật tại lòng, nếu mãi tìm Phật theo hình tướng, âm thanh bên ngoài thì không bao giờ thấy Phật vì Phật dạy :

Dĩ kiến sắc cầu ngã

Dĩ âm thanh cầu ngã

Thị nhơn hành tà đạo

Bất năng kiến Như Lai.

Người tu thiền hay niệm Phật cứ chấp theo âm thanh sắc tướng sẽ không bao giờ thấy được Phật tâm, không tri kiến Phật, vậy Phật ở đâu? Cõi Niết Bàn Cực Lạc ở đâu? Thế giới hiện sinh sống tại cuộc đời có muôn loài, vạn vật tất cả đều nương gá oai thần Phật Đức chính là nương tự tánh Phật. Đức Thế Tôn nói rằng : “Dù vũ trụ vạn vật có sụp đổ tan tành ra từng mảnh vụn mà tự tánh các ông không mất bao giờ”. Phật Đức là đức độ vô thượng chan hòa trùm khắp, Phật là trí tuệ là bản giác là quang minh hiểu biết sáng suốt vô tận thấy như thật không trụ pháp duyên, Phật tánh chính là bản giác hiện tiền thanh tịnh của mỗi con người, Phật và Bồ Tát là những hạnh đức nơi mỗi con người, được thể hiện qua từng tánh đức cao thượng từ bi hỷ xả, là những tấm lòng yêu thương muôn loài, muôn vật có sẵn hiện ở tại mỗi con người sống tại thế gian nếu người nào sống bằng đạo đức này là Phật Đức ta nên ngợi khen, ca tụng, tán thán Đức Phật cũng là một con người gọi là thành Phật vì giác ngộ sự thật cuộc đời tại thế gian. Người tu có một việc cần nhất là giữ gìn tâm niệm, không một con người tên ABC nào xấu cả mà chỉ nói cõi tâm con người có niệm vào pháp tham sân si, độc ác, vẫn còn mê muội niệm vào ô uế, hay đã thí xả hết mọi vọng trần phàm tục, biết gìn giữ cho bản tâm thanh khiết, trong sạch mà thôi, giữ bản tâm là thường quán xét hiện tiền tâm coi ta đang sống bằng tâm niệm gì? Có khởi tâm niệm làm khổ, làm phiền não cho người, hay  hiện tiền tại cõi lòng là tâm yêu thương cảm thông, nhẫn nhục, tâm đang thiền định hay còn mê loạn lăng xăng, sống với các vọng niệm điên đảo, khi niệm khởi không cần diệt niệm mà cần sử dụng tự tánh Quan Âm để quán xét ngay hiện tiền tâm, nếu tự giác sẽ gặp vô số hào quang sáng suốt xuất hiện có danh gọi là chư Bồ Tát hiện ra rất nhanh lẹ, vì thế Phật nói các Bồ Tát nương oai thần chỉ một bửa ăn liền tới mười phương, món ăn là tạng pháp bảo, Bát Chánh Đạo, Thất Bồ Đề Phần, Tứ Đế, từ bi, hỷ xả, các món ăn nầy nếu ăn vào tinh thần sẽ thông suốt vì nương pháp sẽ giúp tâm thiền định gọi là thiền duyệt thực, tự giác bỏ mê, bỏ cõi dục, bỏ địa ngục ngạ quỷ súc sanh thì thế giới cõi tâm hiện tiền là Cực lạc hay Niết bàn vào vô biên trang nghiêm cõi tịnh đã cúng dường chu Phật, tức cúng dường nuôi dưỡng các niệm giác cho tự tánh càng nghiêm tịnh. Các Bồ tát là vô số niệm đã giác nên nói là thường gặp Phật, nếu cõi lòng là các niệm giác thường cúng dường bằng pháp bố thí, trì giới, tinh tấn, thiền định là thường gặp Phật, gặp được tự tánh A Di Đà đã tri kiến Phật tại tâm, tâm tức Phật đạo tâm ngay trước mắt, thường thiền định nên tâm an, nhơ thường giác đủ định lực tới lui với Phật hằng ngày, không xa rời Phật nên Phật nói khảy móng tay liền tới Tây phương, đời sống hành động bằng đạo tâm là biết làm lành, làm phải làm tất cả điều thiện như trọng kính Thầy tổ, hiếu thảo cha mẹ, giúp đỡ mọi người, lòng không ô nhiễm, đời sống thanh bạch, xả ly mọi muốn ham là biết quay vào bản tâm ca ngợi, tán thán Phật đức, thường gần chư Phật, vì vậy tinh thần chư Phật, chư Bồ tát thường là đạo đức toả sáng khắp mười phương, mười phương chỉ ngay thập pháp giới, hiện có đủ nơi tâm địa con người đang có mặt giữa cuộc đời, hoá hiện qua nhiều trạng thái do tâm thức biến hiện niệm trụ qua từng phần mê nhiễm hat tự giác nơi mỗi chúng sanh mà tâm sanh có pháp giới. Mỗi người đều có hào quang sáng suốt tại lòng các hào quang có danh gọi là chư Bồ tát, vì mê cứ chấp âm thanh sắc tướng mơ màng chạy theo Quan Âm bằng hình tượng hoặc Quan âm tưởng tượng bên ngoài mà quên bỏ tự tánh Quan âm tại cõi lòng, thường chiếu soi chờ đợi “Hương hoa tràng phan, những đồ cúng dường, vừa nghĩ liền đến, đều hiện trong tay, trân diệu thù đặc, thế gian chẳng có, dâng cúng dường Phật và chúng Bồ tát, các hoa đã rãi liền ngay trên không, kết làm một hoa, hoa, đều hướng xuống, tròn đẹp biến khắp, hoá thành long hoa, trăm ngàn quang sắc, mỗi sắc mỗi hương mùi hương xông khắp, bảo cái nhỏ nhất, đầy mười do tuần, như thế chuyển bội, cho đến che cùng khắp cả tam thiên đại thiên thế giới tuỳ theo sau trước, thứ tự biến mất, sau rốt mới không còn rải hoa mới, chỗ hoa rải trước cuối cùng chẳng rơi. Ở trong hư không, hoa tấu nhạc trời dùng âm vi diệu, ca thán Phật đức” kinh nói tướng hoa là chỉ ngay trí tuệ,hoa đạo đức sẳn nơi mỗi con người nên nói “ hiện trong tay “ giác ngộ là lìa mọi uế nhiễm, bỏ sạch các tâm niệm thấp hèn niệm thức không còn biến hoá cư trú trong bản tâm, thì hào quang trí tuệ là hương hoa từ vô lượng công đức cũng là các món trân diệu quý báu tuyệt vời đặc biệt thù thắng gọi là “thù đặc” đã từng tích luỹ lộng tàng là tràng phan các pháp dùng che chở trang nghiêm quốc độ thêm long trọng uy nghi, dùng bảo pháp đem cúng dường tánh Phật, tất cả đều là pháp đã thanh lọc bằng chánh kiến sự thấy biết chánh chơn từ pháp tư duy thiền định tinh tấn nên kinh nói “vừa nghĩ liền đến” các pháp bảo đều là trân diệu đặc biệt không thể nghĩ bàn, pháp quý đưa tâm người lầm mê chuyển thành tỉnh giác, người thật tu mới chứng được thành quả nầy, là pháp xuất thế, nếu cõi lòng người còn tham đắm thế gian không thể sử dụng được những món trân bảo nầy nên kinh nói “ Thế gian chẳng thể có “ công đức quý báu vi diệu là các món ăn tinh thần như bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ món quý được ăn vào tinh thần thông sáng biết gìn giữ hạt giống từ bi. Những hạt giống nầy có danh gọi là chúng Bồ tát thường hành bồ tát đạo dâng các công đức lên cúng dường tự tánh, mỗi mỗi món bảo giúp trí giác càng thênh thang rộng lớn. Nhiều công đức tu tập từ hoa trí tuệ lưu xuất chiếu soi là vô lượng quang minh, niệm niệm đều giác gọi hoa giác ngộ chan hoà tràn ngập khắp tận hư không biến pháp giới thường hoá hiện, khi tích luỹ vô lượng công đức nhờ pháp bảo được thành tựu quả giác thì cõi lòng thanh khiết sáng sạch như pha lê, thuỷ tinh được các báu trang ngiêm gọi là tâm sen hay tâm bồ đề các pháp bảo thành tựu đã kết làm một hoa trí huệ trở về gốc bồ đề đầy đủ đức hạnh thù thắng, giác hạnh viên mãn tròn đẹp, lúc nào chư Bồ tát cũng khởi lòng đại bi hướng vào khắp các cõi cứu độ chúng sanh vì “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” không nở thấy một ai khổ trần. Tự tánh chiếu soi bởi vô lượng quang minh, mỗi quang minh có danh gọi là Chánh Sĩ, Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ tát... Tất cả đều là những phần giác, tùy trình độ mà tẩm ướp cam lồ vị. Mỗi phần giác là mỗi pháp, mỗi quang sắc, hương thơm xông khắp cõi tâm, tùy tâm lượng, tùy sự giác ngộ sai khác không đồng mượn pháp tôn kính Phật nói là trang nghiêm Phật tánh. Bao cái nhỏ lớn tùy thuộc vào đức giác ngộ sâu cạn của con người. Có những đức độ siêu vượt làm chủ các pháp gọi là đức pháp chủ, sự hiểu biết từ trí tuệ rộng lớn trùm khắp thập pháp giới cõi tâm mà kinh nói “lớn mười do tuần”, khắp tam thiên đại thiên thế giới. Nhưng tất cả danh từ ngôn luận bàn bạc diễn nói qua sự tướng đều là pháp. Phật dạy: Phật pháp còn bỏ huống chi là phi pháp, các pháp đều vô thường, các pháp đều vô thường chỉ tạm ứng dụng mượn duyên để hóa độ. Người tu giác ngộ giải thoát không chấp gì là ta hay của ta. Lục Tổ dạy Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai. Dù pháp quý cũng buông xả, không còn giữ gì cho bản tâm. Pháp “trước sau” là không mê chấp Tiểu thừa hay Đại thừa vì pháp nào cũng không thật, nên kinh nói “tự biến mất”. Dù là pháp bảo cũng chỉ là phương tiện dùng tướng các hoa để chỉ ngay vào vô số quang minh, chỉ từng phần giác nơi con người hướng tu giác ngộ. Giác viên mãn thì không còn chấp văn tự, sự tướng, âm thanh, danh từ, bỏ sạch mọi phương tiện là pháp giải thoát. Nên kinh nói : “sau rốt không còn rải hoa mới”. Nguồn tư tưởng sanh diệt của chúng sanh có vô số vô lượng tâm, niệm niệm thường tuôn chảy, bậc giác ngộ thì có vô số hào quang là hoa trí huệ rải khắp hư không, rải các công hạnh từ bi hỷ xả. Giới đức thường được chư Bồ tát gìn giữ là mạng mạch Phật Pháp. Có hành động phát sanh đều bằng trí tuệ, đời đời kiếp kiếp không thối chuyển là Bồ tát bất thối. Khi đã thành Phật cũng gìn giữ để sống bằng giới đức trí tuệ viên mãn không mất, nên kinh nói “cuối cùng chẳng rơi”. Chư Bồ tát là vô biên quang minh thường trang nghiêm tại cõi lòng hằng tự nhắc nhở ta bằng diệu âm là các âm thanh mầu nhiệm, gọi la Phật lối âm vương, dạy ta bỏ các thú vui dục lạc thế gian, biết quay vào cõi lòng cùng nhau tu thập thiện nuôi dưỡng phương báu cõi trời là “hòa tấu nhạc trời”, cõi lòng sẽ tràn ngập hoan hỷ, hạnh phúc khi biết niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng, giữ gìn hạnh đức, giới pháp trang nghiêm, sống bằng chơn tâm, thường quán xét cõi lòng mà ngợi khen, ca tụng, tán thán phật Đức. Ca thán đạo hạnh đức đó cao thượng chính mình và người chung quanh đã làm được là chánh nhân làm Phật. Tự xây dựng, tích lũy, kiên quyết gìn giữ bản tâm không sa đọa niệm vào lục đạo luân trầm trong ba đường ác. “Trải qua khoảnh khắc quay về bổn quốc, cùng tụ họp nơi giảng đường, bảy báu. Phật vô lượng thọ, rộng nói đại giáo, viễn xướng diệu pháp thảy đều hoan hỷ, tâm giải đạo đạt”. Bổn quốc là cõi lòng an lạc, nước cực lạc tại tâm. Bậc sống bằng trí tuệ dù xác thân đau bệnh cho đến tan rã, trí giác vẫn mạnh mẽ, mãi mãi vẫn là tánh Phật, biết cuộc đời là giả tạm, không giảm, không quên mất bao giờ. Công đức tự giác kinh tiêu biểu bằng pháp tướng các hoa quý ngầm nói lên đạo đức dùng để trang nghiêm bổn quốc. Quốc độ cõi tâm an lạc tốt đẹp như tướng hoa Mạn-đà-la, Mạn-phù-sa, hoa Bồ đề, hoa Sen, ẩn chỉ vào người đã xây tạo tích lũy nhiều công đức bằng tâm hạnh nghiêm mật. Các hoa từ trí huệ là hạnh đức nở khắp hư không. Các báu này không mất bao giờ. Khắp tâm địa cùng xác thân con người đều có hư không trùm khắp, chẳng nơi nào thiếu hư không. Nên tiếng thơm là đạo đức hoa tỏa hư không tồn tại lưu truyền, mãi mãi được mọi người tôn thờ, kính bái, lễ lạy, Phật giáo là chơn lý, không nói lớn nhỏ, Tiểu thừa hay Đại thừa, trước hoặc sau. Vậy chơn lý là gì? Nếu còn tâm tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, tà kiến, biến kiến, kiến thủ, giới cấm thủ chính là thập kiết sử. Các ác pháp vô hình, vậy các ác pháp vô hình này ở đâu? Chính tại tâm địa con người. Tâm người ở tận hư không khắp pháp giới. Thập pháp giới cũng ở tận hư không. Nếu giác ngộ, sáng suốt biết buông xả các ác pháp này ra khỏi bản tâm, bỏ hết sự nhỏ mọn, ích kỷ, không vướng vào một niệm nghĩ nhớ, đắm lụy sống bằng tánh Phật chơn thật, cõi lòng vắng bặt mọi nhiễm ô, giải thoát các pháp thì đó là chơn lý. Cõi tâm rộng lớn là tâm quảng đại, danh từ thế gian gọi là tâm đại bi. Nếu bản tâm còn vướng mang niệm ích kỷ, nhỏ mọn, hẹp hòi, xấu xa, gọi là tâm tiểu, đã mất chơn lý vì còn chấp ngã lầm tưởng sắc tướng là của ta, nhà cửa, ruộng vườn, anh em, chồng vợ, người thân yêu nhất là của ta, mê muội sống bằng niệm tham, cõi lòng cứ trụ vào pháp, cố giữ, mãi giành giựt không được thì khởi sân, đã niệm vào si mê nên bản tâm hiện là địa ngục A-ty, vô minh, tối tăm. Pháp là ảo hóa, không của riêng ai, vô thường, hết duyên cũng sẽ trở về hư không. Nên kinh Bát Nhã nói “Sắc tức Không”. Khi đủ duyên hợp lại “Không tức Sắc”. Buông xả thì nhẹ nhàng an lạc. Nếu cố giữ quyết cưu mang tâm niệm, khi sắc pháp tan rã, hoại diệt, sẽ niệm vào đau khổ. Muốn xây dựng cõi cực lạc tại tâm, phải sống lòng từ bi, sử dụng tấm lòng cao thượng, tất cả việc làm đều vì lợi lạc cho mọi người, biểu hiện hành động bằng đạo đức gương mẫu cho mọi người học theo là “Diễn nói đại giáo”. Đại giáo là giáo điều lớn lao vì đại sự nhân duyên mà Phật thị hiện đến thế gian, dạy chúng sanh nhận lại Phật tánh chính mình và giải thoát mọi ràng buộc cuộc đời ra khỏi bản tâm, lìa mê, thoát khổ, nói lời minh bạch chơn chánh, không sai chơn lý, mở khai trí tuệ, đem sáng suốt cho người đủ duyên học hỏi lìa mê hết khổ đời sống là bình an, vui vẻ. Khi đã thấm nhuần ân đức mạng sống chánh mạng là chơn lý. Mất đạo đức là tà mạng vì sống xa giáo pháp, phải thường quán vào tâm địa cõi tâm Bồ đề là hạt giống hoa sen có nở chưa? Hay bản tâm mãi mãi là những tâm niệm mê lầm còn ngậm ngùi đau khổ, vì còn hơn thua, giành giựt, dãi đãi ... “Gió hương liền thổi qua cây bảy báu, phát tiếng ngũ âm, vô lượng diệu ho theo gió rải tung ra khắp bốn phía tự nhiên cúng dường, như thế không dừng. Tất cả chư Thiên, mỗi vị mang theo trăm ngàn hương hoa, muôn thứ âm nhạc, cúng dường Phật kia, cùng chư Bồ tát và chúng Thanh văn, lui tới trước sau, hớn hở khoái lạc. Đây do bổn nguyện vô lượng thọ Phật, gia trì oai lực và cũng đã từng cúng dường Như Lai, thiện căn tương tục, vì không khuyết giảm, vì khéo tu tập, vì khéo nhiếp thọ, vì khéo thành tựu”. Con người hiện thân tướng có mặt nơi cuộc đời là pháp hữu hình gọi là sắc pháp, về tinh thần thì tư tưởng là nguồn tâm niệm niệm liên tục biến hóa sanh diệt không dừng, thế gian quen gọi bằng danh từ thế giới vô hình. Tuy nhục nhãn ta không thấy thế giới này nhưng tất cả nguồn tâm niệm là vô số nghiệp từng thân quen là thân bằng quyến thuộc thường theo và ở kề bên ta từng sát-na, sẵn sàng biến hiện, dẫn ta luân hồi vào lục đạo. Nên kinh nói “vạn pháp duy tâm hay nhất thiết do tâm tạo”. Vạn pháp đều từ nguồn tâm lưu xuất, vậy thế gian vô hình hiện ở đâu? Lục Tổ nói : Trong tâm có tất cả, không ngờ trong tâm có muôn pháp”. Có chư Bồ tát, chúng Duyên giác, chúng Thanh văn, chúng Địa ngục, chúng Ngạ quỷ, chúng Súc sanh, chúng A-tu-la, chúng Thiện, chúng Ác, chúng Đức độ đều là vô số niệm tại tâm, đó là thế giới vô hình. Người tu nên quán xét vào nguồn tâm, coi hiện tại đang là chúng nào, vì Phật dạy “nhất thiết do tâm tạo”. Nếu ta đang niệm nhớ giống nào thì hiện là dân chúng đó, thế giới đó. Muốn làm dân đất Phật phải xét vào bản tâm mà chọn giống Phật, gọi là Trạch pháp. Pháp bảo trong thất giác chi gọi là “chen qua hàng cây bảy báu”. Kinh thường dạy ta đọc tụng “Nam mô tận hư không biến pháp giới hóa hiện vị lai chư Phật, tôn pháp, hiền Thánh Tăng thường trú Tam Bảo”. Bản tâm có vô số chúng chư Thiên, vô lượng pháp bảo thường hóa hiện cúng dường các đức Phật, là cúng dường những niệm giác (niệm giác chi) gọi là cúng dường chư Phật khắp mười phương. Muốn giác ngộ quả tốt lành, cần phải tự chọn giống lành mà ươm gieo vào tâm địa. Nếu đất tâm thường được người tu siêng năng, cần mẫn, nhẫn nại chăm sóc, tưới tẩm thì có vô số cây công đức sẽ kết hoa trổ quả, là hoa trái ở thế giới vô hình. Mà thế giới vô hình chính tại nguồn tư tưởng là tâm điền ngay cõi lòng ta, không xa một mải may nào cả.

Quả Bồ đề chánh đẳng chánh giác muốn thành tựu phải nhờ trí huệ, là tài sản nhà Phật tỏa hương thơm từ bảy đức giác ngộ, thất giác chi cũng là Thất Thánh Tài gọi là hàng cây bảy báu.

1.     Niệm (chánh niệm).

2.     Trạch pháp (chọn pháp).

3.     Tinh tấn (vượt lên).

4.     Hỷ (vui vẻ).

5.     Khinh an an lạc an ổn).

6.     Định (chánh định).

7.     Xả (thí xả, lìa bỏ).

Bảy báu này là hương hoa của pháp bảo hương thơm, đưa vào lòng người tỉnh thức cơn mê bước vào thế giới thanh tịnh. Biết sống hạnh lắng nghe âm thanh từ tiếng lòng sẽ phát ra ngủ âm và diệu tư giáo hóa, khuyên nhắc người, quyết tu bằng năm thứ âm thanh qua tiếng niệm Phật, tiếng niệm Pháp, tiếng niệm Tăng, tiếng tịch tỉnh, tiếng không vô ngã, vô số vô lượng âm thanh nương theo gió đức hạnh, tự giác xả ly các pháp thế gian, nhập tứ thánh quả vì các tâm niệm si mê đã tỉnh thức, tự nhiên chuyển hóa vào vòng Thánh đạo mà không cần tâm ý tạo tác như các pháp thế gian. Ngộ nhận chỗ này, nên Lục Tổ nói “chư Thiên”, là thiên muôn vạn hằng hà sa số tâm đã tự giác, là vô số hương hoa giác ngộ tỏa ngát hương đạo đức đem cúng dường tự tánh Phật chính tại tâm người tu chơn chánh. Nên đức Thế Tôn gọi là “các đức Phật kia”. Bản giác thanh tịnh là thế giới Tây phương Cực lạc. Thế giới an lạc chỉ vào bản tâm, không còn uế nhiễm bởi các tâm niệm si mê, ham muốn vì ám độn, bản tâm toàn là quang minh trang nghiêm sáng suốt có danh gọi là chư Bồ tát, chư Thanh văn ... quây quần tự tánh “lui tới, trước sau” vui mừng khoái lạc.

Vô lượng thọ Phật chính là tự tánh A Di Đà tại lòng ta, đã trang nghiêm bằng vô lượng công đức nhờ oai lực trí tuệ hằng chiếu rọi, từng cúng dường bản tánh Như Lai. Có công đức là nuôi dưỡng sáu căn tịnh lặng, chẳng bận sáu trần, mắt, tai, miệng, thân, ý đều thanh tịnh. Nuôi bằng ý chí kiên định, bảo hộ công phu tu tập không gián đoạn, thành tựu quả bồ đề chánh đẳng chánh giác bằng vô lượng công đức. Tất cả công đức này đều là Phật đức. Ta cần ca thán, tôn kính, chiêm ngưỡng mà lễ lạy tôn thờ. Phật đức bất cứ ai sống bằng tự tánh, biết diễn giải chánh giáo, giữ gìn chơn lý là hộ trì mạng mạch Phật pháp. Những đức hạnh này ta phải thường ca thán lễ lạy học theo.

 

KỆ KHUYÊN TU

 

Phật ngôn giáo lý thâm sâu

Cứu người đau khổ dứt câu não phiền

Xét lòng còn luyến trần duyên

Là ta tự trói lo âu vào lòng

Huệ minh vạn pháp giai không

Dứt tham đoạn ái cõi lòng mới an

Đọa trần vì mãi đa mang

Khổ, vui, lợi, hại, khen, chê, luân hồi

Tu là phát nguyện đắp bồi

Từ bi hỷ xả phục hồi trang nghiêm

Ái yêu thương giận tỵ hiềm

Chẳng còn vương vấn lưu truyền dây dưa

Đuổi theo sân hận, thích ưa

Dẫn ta đọa lạc dày bừa tấm thân

Duyên trần tạm gá chút tình

Có chi là thật giữ gìn phí công

Giả danh đừng giữ, đừng trông

Đừng nên lầm lạc uổng công kiếm tìm

Đọa đày mộng ảo vào tim

Phật ta tịch diệt âm thầm mờ phai

Ai Ai cũng có Như Lai

Nhiên Đăng Cổ Phật sống dai vô cùng

Nhiên là bản tánh vô phiền

Đăng là đèn huệ sẵn liền tại tâm

Cổ từ vô thỉ xa xăm

Phật là tánh giác âm thầm kề bên

Tu cần gìn giữ cho bền

Ngọn đèn trí tuệ tự nhiên thuở nào

Thế trần vạn pháp lao xao

Tuần hườn vũ trụ chuyển xoay lẽ thường

Tuồng đời huyễn ảo phô trương

Diễn bày biến hóa vô thường hợp tan

Nguyện sau giữ sạch tâm vàng

Dứt lìa vui khổ chánh đàng vãng sanh

Gạn lòng trong sạch tinh anh

Diệt sanh biển thức định thanh an nhàn

Hoa khai kiến Phật đạo tràng

Nhập dòng thánh thiện dứt đàng muội mê

  ta quyết chọn đường về

Xuất gia lìa thế tục trần chẳng vương

Giác minh vi diệu phi thường

Hết lòng cung kính, cúng dường viếng thăm

Dời như trãi giấc mộng nằm

Giựt mình tỉnh mộng kiếm tầm được đâu?

Niệm đời vào tận biển sâu

Càng đi theo mãi nghiệp sầu càng cao

Bỏ quên Cổ Phật thuở nào

Bỏ quen tánh giác, bỏ lìa thiện căn

Nghiệp vây như cát sông Hằng

Dễ gì tháo cỗi, tầm phăng đạo mầu

Làm sao cắt đứt mạch sầu?

Làm sao giác ngộ hồi đầu tánh chơn?

Tánh chơn chẳng giận không hờn

Tánh minh thông cảm khảy đờn từ bi

Nương về chánh giáo quy y

Bồ đề Bát chánh xả ly dục trần

Tu tâm phải biết ân cần

Dưỡng nuôi chăm sóc vạn lần vì tâm

Nuôi bằng chơn lý thậm thâm

Minh tâm giác tánh quang lâm hiện tiền

Nuôi tâm niệm ác triền miên

Ướp vào tâm địa đảo điên vạn phần

Tùy duyên chọn giống lần lần

Bồ đề chánh giống gieo trồng vào tâm

Dọn bao cỏ dạy mê lầm

Bồ đề hoa nở thoát vòng tử sanh

Văn thô ý gởi trong lành

Mượn văn thi kệ kết nhành liễu tri

Cuộc đời nào có chắc gì

Đệ huynh pháp lữ tu trì cùng duyên

Cùng nhau ta nắm mối viền

Hướng vào tánh giác cần chuyên sửa lòng

Ai ơi!!! Ai hởi!!! Ai ai !!!

Lòng người con Phật tâm thiền cho mau

Thiền tâm chờ đợi kiếp nào

Sau không cất bước làm đau tâm điền

Từ bi đã sẵn thiện duyên

Có ai đồng nguỵên đồng thiền mau mau

Bỏ dần niệm luyến trần lao

Đồng chung niệm giác khác nào Phật xưa

Văn thơ nói mấy cho vừa

Gởi vào vũ trụ, nhắn duyên Bồ đề

Nguyện lòng tinh tấn dứt mê

Giác minh tỏa chiếu không hề lãng xao

Di Đà hiệu giác thuở nào

Chiếu soi vạn loại tỏ tường giả chơn

Lắng nghe rõ tiếng tủi hờn

Vô biên sanh chúng chập chờn khóc la

Nguyện tiêu tam chướng lòng ta

Nguyện sanh trí huệ vô biên tuyệt vời

Nguyện bao nghiệp tội xa rời

Nguyện hành bồ tát đời đời độ tha

Nguyện về tịnh độ nước nhà

Hoa sen chín phẩm là cha mẹ mình

Hoa nở sẽ thấy tánh linh

Các ông Bồ tát bạn lành dựa nương.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Cư sĩ Phật tử Như Thánh

Thành kính cúng dường