Phẩm 26

 

LỄ CÚNG NGHE PHÁP

 

 

Hàng Phật tử huân tu, phước báu lớn nhất là được dự lễ thỉnh nghe pháp. Nên người nghe pháp cần có tâm cung kính, phải đem hết tâm lực cầu pháp, bằng cách dẹp bỏ hết các niệm nghĩ nhớ, không duyên niệm vào sự nghĩ nhớ bận rộn ở bên ngoài, chỉ hướng xoay vào cõi lòng thanh tịnh để hứng từng giọt mưa pháp, nhận ân đức từ trí tuệ bậc giác ngộ sẽ rưới chơn lý vào cõi lòng, gội rửa sạch sự tối tăm mê loạn, khai sáng trí tuệ cho bản tâm người nghe được quang đãng, bồi bổ điều thiện lành, tu sửa cho đất tâm trở nên trang nghiêm tốt đẹp, phải chấp nhận vị pháp sư trước mặt là bậc Thầy hiện thay thế Đức Phật. Các Ngài đến với người nghe bằng chơn lý nhà Phật, đem Pháp bảo thuyết giáo để trùng tuyên Phật Pháp, mục đích khai thông trí tuệ cho những ai có duyên lành, dùng phương pháp mở đường dẫn tâm người nghe quay vào hội ngộ tánh giác. “Trùng” là lập lại, “truyền” là truyền thuyết lại những điều Phật muốn truyền đạt, giáo hóa cho chúng sanh giác ngộ biết rõ sự thật cuộc đời, giúp người hướng tu ngộ nhập tri kiến Phật, là thấy lại Phật Tánh chính mình. Nghe pháp Phật để được khai thị, có trình độ hiểu biết khi có duyên tiếp xúc các pháp ngoài thế gian, dùng trí sáng suốt biết đâu là chánh pháp hay tà pháp, sử dụng không lầm lạc. Kinh Pháp Hoa Phật nói “Ta đến thế gian chỉ vì đại sự nhân duyên là duyên lớn đến để khai thị cho chúng sanh. Khai thị là chỉ rõ cho chúng sanh tri kiến Phật, chỉ cho chúng sanh thấy lại tánh Phật tại tâm, tánh Phật của mỗi người đều có sẵn, giống y như Phật. Vị Pháp Sư giảng cũng là duyên lớn. Nguyên nhân lớn là mục đích muốn khai thị điều duy nhất cần chỉ tánh Phật tại lòng, cho ta nhận biết, để tự cung kính, dưỡng nuôi, quán lại cõi lòng mà tự quy y Phật Tánh, dưỡng nuôi Phật Tánh bằng những pháp thiện hạnh, nuôi dưỡng Tánh Phật bằng vô lượng công đức, nghe pháp phải bằng cả tấm lòng kính tin tuyệt đối. Tổ dạy:

Lòng thành kính các hàng đệ tử

Xin thành tâm kính thỉnh Pháp sư

Mong ngài mở tấm lòng từ

Pháp lành mưa xối vớt người trầm luân

Cả sanh chúng thắm nhuần lý đạo

Nhờ Ngài đem pháp bảo dạy khuyên

Những người hữu phước đa duyên

Nghe qua pháp lý diệu huyền tỉnh tâm

Sớm giác ngộ nương tầm nẻo đạo

Dứt nghiệp trần cởi áo oan khiên

 

Trở về theo Phật Thánh Tiên

Tu cho đắc quả đến miền Lạc bang

Đời biển khổ muôn ngàn đau khổ

Cõi Ta-bà không chỗ dựa nương

Mãi mê trong giấc mộng trường

Sanh già đau chết khôn lường kiếp qua…

Tu mục đích là khai thông trí tuệ, chứng tam minh, không mong đắc hay được gì ở thế gian cả. Không chỉ Phật mới chứng Tam minh, mà tất cả chúng sanh đều có khả năng tu chứng, khi ngộ nhận bản tánh cũng biết như chư Phật, chỉ mê hay giác mà sống bằng trình độ khác nhau. Ta niệm Phật, mục đích để thu nhiếp vọng trần, là xả ly các pháp huyễn mộng đảo điên, là cơ hội thể nhập chơn như đồng thể bản giác, là trở về trạng tánh A-Di-Đà, cũng là pháp giới Tạng Thân A di Đà Phật.

 Tam minh. Đầu tiên là Thiên Nhãn Minh. Thiên là sự thấy biết muôn ngàn vạn ức, thiên chỉ số rất nhiều vô số vô lượng, mắt trí tuệ nhìn thấy khắp suốt Tam Thiên đại Thiên Thế Giới, thấy muôn vạn ức, thiên thấy vô lượng vô số pháp, thấy muôn loài vạn vật, thấy muôn loài vạn vật sanh diệt bằng tuệ nhãn thật thông suốt, thấy những gì là nhân quả, nhân duyên, vô thường, thấy sự hợp tan, biến hoại, tùy duyên đến đi của vạn pháp, thấy nguyên nhân có noãn sanh, thai sanh, hóa sanh, thấy rõ ràng sự biến đổi của vũ trụ, vạn vật, thấy bằng trí tuệ… thấy trong giác minh. Giác minh là Phật tánh. Phật vẫn thấy sắc đẹp, thấy tiền, thấy ngũ dục, thấy vật chất, thấy danh vị, chức quyền… Nhưng giác thì thấy bằng quang minh nên không vướng mắc, không sanh tâm niệm đắm nhiễm sa đọa, không bị pháp vọng huyễn cám dỗ cuống lôi, gạt gẩm. Còn chúng sanh thấy bằng nhục nhãn, mãi chấp thật, mê lầm, tưởng pháp trần là thật, sanh tâm cố giữ gìn khi duyên thuận đến, nghịch duyên thì đau khổ khóc la, là thấy bằng mắt vô minh. Cõi lòng mãi biến hóa diệt sanh, có đau khổ, mừng vui, lợi hại, khen chê, tốt xấu, phiền não đầy ắp cõi lòng. Nếu giác ngộ sống bằng mắt trí tuệ sáng suốt như Phật thì sử dụng bằng Thiên Nhãn Minh. Người thỉnh cúng nghe pháp chơn chánh sẽ mở mắt trí tuệ sáng suốt như Phật, thì sử dụng bằng Thiên Nhãn Minh. Người thỉnh cúng nghe pháp chơn chánh sẽ mở mắt trí tuệ, không còn mù quáng sử dụng mắt vô minh nữa. Niệm Phật là thí xả các niệm trần lao, không niệm nhớ vào ba đường ác, mới khai sáng mắt trí tuệ, nên vị Pháp Sư là người :

Đem pháp lành tế độ chúng sinh

Thuyết minh chánh giáo ban hành

Chỉ đàng dẫn lối cho rành người tu

Đặng thoát khỏi khám tù nhốt phạt

Nhờ am tường thấu đạt lý chơn…

Nếu miệng mãi niệm Phật thật nhiều mà không mở được mắt huệ, không tỏ ngộ biết các pháp nhiễm ô, tâm vẫn vướng trụ pháp trần vọng huyễn, niệm niệm vẫn luân hồi vì nghĩ nhớ thế gian, chưa thực hành pháp xả ly, cõi lòng vẫn đeo mang tham, sân, si, hận oán, buồn vui, thương ghét, phiền não, vẫn điên đảo, còn đeo mang thất tình lục dục, tâm vẫn còn cực khổ vì các niệm ác chưa vãng sanh, cứ sanh diệt hóa hiện mãi không dừng, lòng chưa an ổn, chưa có cực lạc nơi nội tâm vì miệng niệm Phật mà tâm mù quáng vô minh tăm tối thì cõi lòng vẫn là địa ngục không thể nào vãng sanh vì đất tâm chưa phải là tịnh Thổ, không có Tịnh độ để về, cõi lòng còn mang nặng vọng tưởng đảo điên. Phật vẫn sử dụng tư tưởng, nhưng là tư tưởng cao thượng, trong sạch, thanh cao. Hạnh đức Ngài là dấu tích để lại làm gương mẫu cho chúng sanh nương theo mà tu sửa. Nếu tu mà không thông thấu chơn lý là tu bằng cách sa đọa sai lạc vì lầm đường lạc pháp.

Lễ cúng là cuộc hội họp bằng lễ nghi khuôn phép. “Thỉnh pháp” là đến với pháp Phật bằng lễ nghi khuôn pháp trang nghiêm trọng kính, không nghe bằng tâm suồng sả là mãi nghĩ nhớ pháp huyển bên ngoài, cõi lòng não loạn, ý niệm bong long duyên theo ngoại cảnh, thân tuy ngồi tại đạo tràng nghe pháp, mà ý niệm la cà dong ruỗi mất tập trung, lòng loạn niệm là phạm giới luật mất định, bỏ quên chánh niệm làm mất lễ nghi phong cách người con Phật. Cúng là cung kính, bậc pháp sư là người thay mặt chư Phật để trao truyền giáo pháp, người nghe pháp phải trân trọng pháp Phật giống như đến trước Phật, hiện tại như đang nghe Phật thuyết pháp, cần hết lòng cung kính. Nếu người đang hành hạnh bồ tát, mà nghe có vị pháp sư đang thuyết pháp bỏ qua không thỉnh nghe pháp không phải là hạnh bồ tát, nên người Phật Tử nghe pháp phải hết lòng lễ cúng trang nghiêm. Cung kính thính pháp trang nghiêm là khi nghe giảng, người nghe cần quay vào tâm chiêm nghiệm nghe lại chính tại cõi lòng có thâm nhập lời giảng của pháp sư không? Không nghe pháp bằng cách bỏ qua, nghe pháp cung kính giống như ngài A-Nan thời xưa, nghe nhớ lời Phật dạy mà hành trì không bỏ quên sót một lời nào, ngài nhớ rất rõ, bên ngoài nghe bằng âm thanh, còn lắng nghe lại tiếng lòng áp dụng giáo lý tự mà tu sửa bản tâm.

Nghe trong chớ khá nghe ngoài, nghe bằng tâm trí đặng hay sửa mình. Kinh dạy khi nghe pháp cần 16 điều:

1.     Đi nghe đúng thời

2.     Ham nghe

3.     Chăm lòng nghe

4.     Cung kính nghe

5.     Chẳng vì chỉ trích mà nghe

6.     Chẳng vì tranh luận mà nghe

7.     Khi nghe chẳng có tâm khinh người nói.

8.     Khi nghe chẳng có tâm khinh đạo pháp.

9.     Khi nghe quyết chẳng có tâm khinh đạo pháp.

10. Khi nghe quyết chẳng tự khinh.

11. Khi nghe xa lìa năm món ngăn che.

12. Khi nghe vì thọ trì đọc tụng.

13. Khi nghe vì diệt trừ ngũ dục.

14. Khi nghe phải đủ tín tâm.

15. Khi nghe để điều phục chúng sanh.

16. Khi nghe vì dứt cội gốc vô minh.

   

Kinh ưu bà Tắc giới dạy :

Người nghe pháp đối với vị thuyết pháp phải nghĩ tưởng vị thuyết pháp như vị thầy thuốc hay, như bồ Tát cứu khổ cho ta đang đói lòng được uống món đề hồ. Trái lại người thuyết pháp đối với thính chúng phải nghĩ tưởng rằng mình tăng trưởng thắng giải và luôn nghĩ tưởng là chữa cho họ được lành bệnh. Nếu người nói và người nghe đều dụng ý đúng như thế thì mới kham nổi năm Phật vị (nếm được vị Phật) thường sanh gặp Phật.

Lời dạy trong kinh đại tập

Nghe bằng tâm trí đặng hay sửa mình.

Cũng vậy niệm Phật phải nghe lại tiếng lòng, nghe lòng còn niệm vào phiền khổ lăng xăng não loạn không? Nếu tự lắng nghe và quán xét được tâm là thâm nhập kinh điển, nhập vào tạng Pháp Như Lai, trí tuệ có cơ hội bừng sáng, là tinh thần cung kính lễ thỉnh nghe pháp. Pháp Phật chính là phương tiện chánh pháp sẽ đưa chúng sanh vào cõi an vui thanh tịnh, còn pháp thế gian dẫn con người vào cõi đam mê đòi hỏi, cũng là phương hướng dẫn tâm vào sa đọa. Nghe chánh pháp để xây dựng lại tinh thần chuyển tâm thức thành trí tuệ giác ngộ giải thoát, đó chính là thực hành lễ cúng nghe pháp. Nghe pháp thù thắng giúp người tu khơi sáng nguồn tâm, khai thông tâm địa, mọi suy nghĩ đều chơn chánh gọi là Thiền tư duy hay tư duy tu. Văn tư tu là tu văn huệ từ huệ và tu huệ. Văn là lắng nghe bằng trí giác, tư là tư duy, chiêm nghiệm mở rộng hiểu biết, khế nhập giáo pháp để phát sinh trí tuệ, tâm niệm sáng suốt ngay đời sống hằng ngày. Thường suy nghiệm lời giảng dạy, tu sửa tâm niệm chính tại lòng cùng giáo pháp có tương ứng không? Nếu khế hợp tâm cùng lời dạy gọi là văn huệ, thông suốt được các pháp là tu huệ, chứng ngộ thành quả giác thường giữ gìn tu sửa bản tâm sống bằng chơn lý là tu huệ, đã thành tựu được pháp tu thì đời sống hòa hợp an vui, hạnh phúc. Nếu không tu văn huệ, tư huệ, tu huệ thì cuộc sống mãi chịu nô lệ cho các pháp tham lam, ích kỷ, nhỏ mọn, điên đảo, cõi lòng mãi là địa ngục tối tăm. Đạo là con đường chơn thật cảm thông, không thể nghĩ bàn, cảm thông tất cả pháp dù nghèo đói già bệnh, bị người hất hủi, mắng chửi cũng không chán nản mà bất bình, bất mãn phiền não chán ghét hận đời, lòng an ổn vì lúc nào cũng có tánh giác là Phật kề bên giúp ta sống yên vui sáng suốt an lạc. Tánh giác biết rõ nếu ta có sự khổ thì bao nhiêu người chung quanh đều có sự khổ khác nhau, tất cả đều khổ đồng ở Thế giới khổ đau nên Phật nói Tam cõi như hỏa trạch, ba cõi là dục giới, sắc giới và vô sắc giới là ba lò lửa thiêu đốt tâm con người nên bậc giác ngộ rất cảm thông bằng lòng từ bi hỷ xã, không khởi tâm hành hạ họ, hết lòng thương yêu không làm khổ ai cả. Người sống bằng tánh giác khi có hoàn cảnh khổ đến, biết dùng giáo pháp làm thuốc tự chữa lành bệnh cho mình, còn dùng kinh nghiệm sáng suốt là đem giáo pháp chữa lành bệnh cho người khác hết khổ, pháp Phật là cam lồ mới rửa sạch lòng phàm đau khổ của chúng sanh. Kinh dạy:

Nước cam lộ mưa ngay xối xả

Lửa trần gian tắt cả từ nay

Người người tỉnh giấc mê say

Nương về Tam Bảo ngày ngày lo tu.

Không nương theo giáo pháp thì đời đời mãi khổ, phải dìu dắt nhau điểm tô công quả đó là tinh thần đạo cảm thông không thể nghĩ bàn. “Lại nữa A-Nan mười phương Thế giới các chúng Bồ Tát”. Phật tại tâm, trong tâm có tất cả nên mười phương cũng ở tại tâm, các Bồ Tát chính là các quang minh giác ngộ tại tâm, các niệm u mê cũng là các Thế giới sa đọa tại tâm, sau khi mãn duyên trần, xã bỏ xác thân, tâm niệm cũng trở về Thế giới mười phương. Nếu niệm chấp trụ vào phương nào thì tâm vào ngay cõi đó. Tại cõi Ta-bà, là Thế giới ta hiện có mặt, cũng là một thế giới nằm trong mười phương thế giới, là một đơn vị trong thế giới mười phương. Nếu một con người đang sống trong cõi Ta-bà mà lòng cao thượng, trong sạch, chẳng vướng bận thế gian, không niệm trụ vào ngũ dục, lòng từ bi quảng đại, thương yêu mọi người, cõi tâm thường yên ổn, an lạc, thì Cực lạc Tây phương là thế giới sẵn có rõ ràng. Cũng là người ở Ta-bà mà lòng luôn chất chứa độc ác hận thù, bất mãn, bất bình, tự cao, kiêu mạn, giựt giành, nham hiểm, sát hại chúng sanh thì cõi tâm chính là thế giới của ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục. Mười phương Thế giới chính tại tâm, Phật cũng tại tâm. Tu là tự dùng trí tuệ mà chọn lựa pháp thiện lành hay độc ác mà sử dụng. Trong tâm mọi người đều có mười phương Thế giới, ta hiện ở trong mười phương. Nếu những người thân ta tạo nhiều nghiệp lụy ác độc, thì khi rời rã thân tứ đại họ sẽ theo nghiệp dẫn luân hồi mang tướng nghiệp cá, tôm, gà, vịt, trâu, bò, heo, chó v.v… Họ là cửu huyền thất tổ, ông bà, cha mẹ của ta nhiều đời đang thọ nghiệp mang lông đội sừng, có khi vì nuôi dưỡng cho ta sung sướng mà phạm đều tội lỗi, phải mang tướng nghiệp theo nhân quả đã gieo tạo. Nên Phật dạy giới đầu tiên là cấm sát sanh hại mạng. Giới cấm nghiêm nhặt trong từng suy nghĩ. Giới để dạy ta tránh nghiệp sát sanh, tránh giết hại lầm lẫn ông bà cha mẹ thân bằng quyến thuộc của ta. Nếu vô minh phạm vào giới này sẽ mang đầy dẫy nghiệp oán hận, oan oan tương báo càng chất chồng nghiệp quấy ác có thừa núi cao. Tất cả nghiệp báo đều hệ lụy vào nhân duyên do tâm thức tạo tác mà thành thế giới cực ác, cực khổ bởi tương tàn tương sát. Mười phương thế giới rất nhiều đẳng cấp, mà cao nhất là chánh đẳng chánh giác. Thế giới nặng nhất là địa ngục tam đồ, mê muội tối tăm. Tu học là nâng đẳng cấp tại cõi tâm đủ hiểu biết thể nhập trí tuệ, mọi tư tưởng ý niệm đều do thức chuyển biến phân biệt bằng tư tưởng sanh diệt. Nên cần tu ngay đầu vô minh, buông bỏ hết mê lầm chấp trước để đổi đầu trí tuệ thông suốt cao thượng. Bên ngoài thế gian có hành động cúng dường Tam Bảo mà bên trong tư tưởng ý niệm có thanh tịnh hay đòi hỏi cũng từ đầu sinh khởi. Cúng là cung kính, dưỡng là nuôi dưỡng, là cung kính nuôi dưỡng bảo vệ Tam Bảo Phật Pháp Tăng. Lễ Phật cũng bằng đầu trí tuệ, là cung kính lễ bậc giác ngộ, lòng kiên quyết nguyện noi theo gương hạnh Ngài để giác ngộ. Ngày xưa Phật tu bằng đạo hạnh từ bi phát xuất từ trí tuệ, vì thương chúng sanh mà hết lòng bố thí, đắp tượng Phật mà tâm còn cầu cho khỏe mạnh, hạnh phúc, được tiền của, được phước sang giàu là còn tâm đổi chác. Hành động cúng dường làm việc Phật mà cõi lòng vẫn nuôi dưỡng niệm vào tham muốn, đòi hỏi được ban ơn thì thế giới cõi tâm còn mang nặng vọng trần, chưa vãng sanh các niệm ham muốn, lòng còn đầy dục vọng vẫn là thế giới vô minh, chưa giác ngộ giải thoát. Nếu rõ biết điều nầy là đã được khai thị sáng sạch, đất tâm đã chuyển đổi những tư tưởng sai lạc làm tắc nghẽn trí giác, ta phải là quang minh sáng suốt của danh từ Bồ Tát, tự đưa ta ra khỏi sông mê biển khổ luân trầm và cần cứu giúp mọi người bằng hào quang Bồ Tát là đức hạnh sáng suốt tại con người đã giác ngộ, chỉ nói vào đức hạnh, trình độ tánh giác nói ngay quang minh trí tuệ có sẵn nơi con người, không nói xác thân vẫn tạm gá vô thường. Thực hành 48 lời nguyện chính là hạnh đức Bồ Tát. “Vì muốn chiêm lễ cực lạc Thế giới”. Chiêm lễ là ngưỡng mộ, tôn kính, tha thiết nhớ nghĩ đến sự an lạc, là cực lạc tại tâm. Tâm có địa ngục cũng từ niệm độc ác tại lòng sanh ra. Nên kinh dạy, người tu phải nhàm chán xã bỏ thế giới khổ đau, là chán những vọng niệm tham sân si độc ác, phiền não, làm tan nát, điên đảo cõi lòng. Thế giới Cực lạc do Tứ Vô Lượng Tâm, là bốn tâm lớn từ bi hỷ xã, bổn tâm giải thoát. Người biết gìn giử bổn tâm này là có cực lạc. Nếu không tâm thì không có thế giới nào cả. Phải ngộ nhập tri kiến Phật mới có thế giới Cực lạc. Muốn tạo thế giới Cực lạc tại tâm, phải lắng nghe lại chính lòng mình, xác định tâm niệm rõ ràng bằng chánh kiến, chánh tư duy, chánh định, sẽ thấy được thế giới Cực lạc hiện tiền tại tâm thật rõ ràng. Nếu không nghe nhận bằng trí tuệ, chỉ đem mê tín dị đoan là sự tin mù quáng, làm hại ta và hại cả mọi người chết lịm tuệ giác trong biển u mê, u ám, cứ mãi mơ màng tưởng tượng chấp có cực lạc bằng hình tướng trừu tượng mờ ảo, biết quanh quẩn vào hư không bằng ảo giác vô minh. Phải biết chính tâm mình tạo ra có thế giới cũng như ở thế gian có tâm người mới có suy nghĩ tính toán sanh hành động tạo có công ty, có trường học, có bệnh viện có nhà cửa v.v… có vạn pháp đều do tâm tạo tác. Vì vậy Cực lạc cũng do tâm tạo ra. Ta niệm nhớ Phật hiệu cần biết niệm Phật để làm gì? Niệm Phật để buông xả các niệm thế gian, nhiếp tâm chỉ còn Phật hiệu. Phật hiệu chính là danh hiệu tự tánh thanh tịnh trong sạch vô nhiễm nơi mỗi con người. Niệm Phật để thị hiện lòng Bồ Tát sống bằng hạnh Lục độ là sáu pháp : Ba-la-mật, Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí huệ. Nếu có người sỉ mạ, nặng nhẹ, chà đạp, ức hiếp ta hay gặp người hoạn nạn nghèo đói bệnh tật mà nghe lòng khởi niệm bố thí, nhẫn nhịn, thương xót giúp đỡ họ bằng lòng từ bi, mà không có niệm tức giận, oán ghét, sẵn sàng thí xả bao dung, tha thứ thì cõi lòng chính là thật tướng niệm Phật. Lòng vắng lặng là Tự Tánh Di Đà Vô Biệt Niệm không duyên theo niệm pháp bên ngoài, lòng không vướng bận, chẳng lụy phiền điều gì cả, không sanh tâm bực tức, ích kỷ, hoàn cảnh nào đến, tâm vẫn thiền định, an ổn trong tánh giác, là ở trong trí huệ thì cõi lòng ta là cõi lòng Phật, cõi tâm ta chính là cõi Phật, là cõi cực lạc, lý sự đã viên dung, bất cứ pháp nào ngoài thế gian đến mà thực hành bằng tâm từ bi hỷ xả nhẫn nhục đều là pháp Phật. Nếu nóng giận, sân si khởi niệm vào pháp độc ác, sanh tâm muốn trả đũa lại họ thì tâm hiện tiền chính là cõi địa ngục, là thế giới khảo tra, chém giết, chửi rủa, khổ sầu, bứt ngặt, đày đọa cõi lòng ngập tràn đau khổ, hiện đọa vào tam ác đạo. Nếu quyết lòng giữ giới ăn chay mà có người quyến rũ, mời gọi khuyên ta ăn mặn phải cương quyết giữ vững niềm tin, quyết định lòng ta là lòng Phật. Phật thì không hủy phạm trai giới, giữ tròn giới hạnh, trì giới, thì lòng ta đang giữ chặt giới hạnh, tinh tấn vượt qua mọi nạn ách là thật tướng niệm Phật, không niệm âm thanh, sắc tướng nào cả. Sống bằng tánh giác tức đang niệm Phật, niệm nhớ tánh Phật không hề sai phạm vào ngũ dục. Giữ giới hạnh lúc đi đứng ngồi nằm thường quán chiếu vào tâm, rà sát lúc nào cũng xem xét tâm niệm không phan duyên niệm theo cảnh theo vật, theo người, theo âm thanh, sắc tướng, đó là tâm thiền định hay sống bằng chánh kiến. Sống bằng chánh kiến, không làm mọi người chung quanh phiền não, không hơn thua giành giựt các pháp huyễn tạm, không chấp giữ gì riêng tư cho cá nhân, không niệm vào khổ vui lợi hại khen chê tốt xấu thì quang minh trí huệ sẽ chiếu soi.

“Vô lượng thọ Phật đều đem hương hoa, tràng phan, bảo cái đi đến chỗ Phật, cung kính cúng dường”. Tuy là pháp thế gian, trong đời sống nếu ta sáng suốt sống bằng đạo đức, mọi hành động sanh khởi đều cao thượng, sẽ chuyển hóa vô lượng tâm niệm giác ngộ, gọi là vô lượng thọ Phật. Nếu giác ngộ sự thật cuộc đời đều là Phật, vô lượng thọ Phật từ vô lượng công đức đã làm được vô lượng đức hạnh lợi ích cho cuộc đời, vì Phật pháp bất ly thế gian giác. Khi giác ngộ được các pháp thế gian, lúc đối diện với pháp ta có hành động sáng suốt thì các pháp được sử dụng bằng trí tuệ đều là pháp bảo, là Phật pháp được trí giác thọ nhận gọi là vô lượng thọ Phật. Ngoài thế gian cúng Phật bằng trầm hương hay hoa tươi xinh đẹp để bày tỏ lòng tôn kính, thương yêu, đó là pháp thế gian. Bậc xuất thế đã giác thường cung kính nuôi dưỡng cúng dường Phật tánh bằng Giới hương, Định hương, Giải thoát, Giải thoát tri kiến hương, là hương hoa trí huệ quả đức. Bậc đã chứng ngộ sống bằng quang minh, đem cả tấm lòng trong sạch thanh cao là đem hương hoa giác ngộ, hoa vô ưu là hoa lòng không còn ưu phiền để cúng dường chư Phật, tràng phan, bảo cái là các công đức tích lũy từ vô lượng pháp bảo, phất phới bay lượn tận hư không, là những quang minh cao thượng tốt đẹp, làm phương tiện giúp người tu trang nghiêm quốc độ, làm cho thế giới cõi tâm nguy nga táng lệ, là chỉ vào người thường cúng dường Phật tánh.

“Nghe nhận kinh pháp”. Hướng về học Phật ta phải biết có hai phần Tướng Phật và Tánh Phật. Ta đến với tướng Phật là đến với hình tượng Phật, đến với chùa chiền, đến với chư Tăng. Đến với Tánh Phật là chiêm nghiệm tư duy từng tánh đức, đầy đủ từ bi hỷ xả, quyết sống theo gương hạnh Ngài, là thường nghĩ nhớ đạo hạnh đức độ nơi Ngài, từng sống ngay cuộc đời, quyết tu tập học theo từng hạnh đức cao thượng. Nếu xét thấy hành động ta và hành động Phật ngày xưa tương ứng thì cõi tâm ta là Thế giới đầy đủ pháp bảo vô lượng công đức, nhờ giới luật đã nghiêm trì khát khao mới chứng thành đạo quả vô lượng công đức. Nghe nhận kinh pháp là khi nghe giảng thuyết từ kinh nghiệm vị Pháp sư. Nghe phải nhận xét thật kỹ bằng trí tuệ. Nếu thấy lời giảng tương ứng cùng kinh nghiệm của Phật Tổ, phải thành kính tin nhận, thực hành y theo lời giảng là theo kinh pháp của Phật kinh là lời giảng qua kinh nghiệm từ trí tuệ Phật. Ngài đã giảng suốt 49 năm, mục đích duy nhất là đem hết tâm huyết truyền lại cho chúng sanh tu học để thấy lại tánh Phật, pháp Phật, dẫn tâm người từ chỗ mê lầm, sai trái, khổ đau, về đến cõi giác ngộ an vui. Pháp Phật là vũ khí cực mạnh dùng đối trị những tà vọng tà ý. Phật lực phát sinh từ trí tuệ gọi là Phật Pháp. Nếu ta nhìn pháp thế gian bằng sáng suốt minh bạch, không còn lầm lạc mê nhiễm thì pháp thế gian sẽ chuyển thành Phật Pháp. “Tuyên bố hóa đạo”. Tuyên là lặp lại, nói lại những kinh nghiệm từ xa xưa đã có, mà ngày nay cũng còn vẫn thọ nhận nên gọi là tuyên thuyết. Dùng pháp Phật chỉ rõ chơn lý, hướng dẫn chuyển tâm mê giúp mọi người thoát khổ là hóa đạo, dẫn cho người thâm nhập kinh tạng phát sinh trí tuệ rộng lớn, trị lành bệnh cho chúng sanh gọi là hóa đạo. “Xưng tán cõi Phật”. Thế gian không gì quý hơn Tam Bảo là Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Nếu có một chúng sanh giác ngộ, sống bằng tâm cao thượng, gọi là Phật Bảo. Phương pháp làm cho người giác ngộ gọi là Pháp bảo. Giúp cho con người phát sanh trí huệ, cõi lòng thanh tịnh là Tăng Bảo. Xưng là xưng hô, tán là tán thán khen ngợi. Nếu ta không biết kính trọng, xưng hô, tán thán ba ngôi Tam bảo mà bỏ bê miệt thị, không biết giữ gìn là đang đi dần vào địa ngục. Tam bảo có thế gian Tam Bảo là chùa chiền, có trụ trì, gìn giữ, chăm sóc và xuất thế Tam Bảo là Tánh Phật sáng suốt tự thanh tịnh. Tăng là tịch lặng sáng suốt chiếu soi vạn pháp. Vì mê muội chạy theo pháp hữu vi bên ngoài mà không có lòng cung kính, xưng tán, mãi bỏ quên Tánh Phật, kinh nói là “ta tự cô phụ lấy ta”. Nếu ta không kính trọng ta thì không ai trọng ta cả. Phật nói rằng “Các ông đừng bỏ bê Phật Tánh của các ông mà hãy tri kiến Phật”. Mãi chạy theo đạo bên ngoài mà bỏ đạo chánh là bỏ đạo tâm chơn thật bất hư bất ngụy. “Công đức trang nghiêm”. Công là công sức tu hành, công phu thiền định, công bố thí, công xả bỏ tham sân si, công nhẫn nhục, công tinh tấn, trí huệ vượt qua mọi nạn ách gọi là công đức. Hành động bố thí, cúng dường, giúp đỡ cho mọi người bằng vật chất là phước đức, không nói là công đức. Vì công đức là sự tu hành bằng đạo đức, được tích lũy bằng công phu tu tâm dưỡng tánh mới gọi là công đức. Trang là bằng thẳng, trang trọng. Nghiêm là tịnh, nghĩa là chỉ vào cõi tâm con người, tâm địa bằng phẳng không còn gò nỗng, hầm hố, gồ ghề, tăm tối. Những danh từ này tiêu biểu cho những niệm thức quấy ác, xấu xa, tội lỗi, tâm địa không còn gò nổng tham sân si, không còn hầm hố tồi tệ, thấp hèn thì gọi là trang nghiêm. Kinh nói lên những danh từ này làm pháp tướng để chỉ vào Quốc độ là Thế giới tại tâm không còn ô nhiễm nữa, đã an tịnh. “Bấy giờ Thế Tôn liền nói bài kệ”. Gọi Đức Thế Tôn là chỉ đức độ bậc giác ngộ được người thế gian tôn xưng, tôn kính, xưng tán. Ta cũng có Tánh Phật tại lòng là bản giác thênh thang rộng lớn mà ta không biết kính yêu, tôn quý, nỡ quên lãng, lìa bỏ, chạy theo vọng huyễn, là khách trần mà quên chủ. Lễ cúng nghe pháp là nghe lời Phật dạy và đồng quay lại tự tánh tại cõi lòng ta có tương ứng hòa nhập viên dung cùng đạo Đức Phật không? Lòng ta và lòng Phật đã thể nhập tương ứng, là thật sống được với bản giác từ lâu ta mê lầm quên bỏ. “Cõi nước Phật phương Đông”. Phương Đông là thế giới hiện ta đang có mặt, cũng có vô số Phật, là vô số tâm niệm con người đã giác ngộ. Kinh nói là mười phương chư Phật, cõi nào, phương nào đều có Phật. Nếu hiện tại nơi Ta-bà là phương Đông con người lòng còn bất bình, bất mãn, hận oán, ghét ghen, độc ác, sát hại lẫn nhau, tranh danh đoạt lợi thì gọi là phương Đông. Nhưng bậc đã giác biết đây là nghiệp thức từ tâm biến hóa sanh diệt vô thường, liền buông xã, không dính trụ, thì cõi lòng sẽ chuyển ngay phương Đông là Tây phương Cực lạc. Vì tâm không còn não loạn, đảo điên, kinh dạy : “Ngoài tâm không có thế giới nào cả, vạn pháp do tâm tạo, trong tâm có tất cả, vạn pháp quy tâm hay Niết bàn do tâm tạo, địa ngục tự tâm sanh”. Phật sẽ thị hiện tại tâm khi chúng sanh nào đã giác. Vì Phật là Giác nên có hằng hà sa số chư Phật dạo khắp mười phương “nhiều như cát sông hằng”, vô lượng vô số chúng sanh đều có Tánh Phật là Tánh giác sẵn tại tâm. Vì mê trần duyên chạy theo vô minh, chỉ biết sống bằng niệm tham dục, nên mây tăm tối che khuất. Phật nhìn vào vũ trụ bằng tánh minh nên thấy mọi loài đều có Phật Tánh, có hằng hà sa số tâm niệm đã giác nên nói là nhiều như cát sông hằng. Nếu sống bằng tuệ giác, biết buông xã vạn duyên thì cõi lòng giác ngộ, nên Phật nói ta là Phật đã thành chúng sanh là Phật sẽ thành. Khi lòng thanh tịnh sẽ có Phật hiện vì Phật là Tánh giác tại cõi lòng đã chờ đợi ta từ vô lượng kiếp. Nhờ Đức Thích Ca thị hiện vào đời chỉ cho chúng sanh thấy biết muôn vạn loài đều có sẵn muôn vạn, vô số vô lượng Phật là sự giác ngộ chờ sẵn để thành Phật. “Hằng hà sa số Bồ Tát”. Hằng sa là chỉ cát sông hằng, Bồ Tát là gì? Mọi chúng sanh đều có Phật Tánh có lòng từ ái thương yêu muốn cứu giúp mọi loài, chỉ vì niệm khởi sai lầm tham lam, ích kỷ, nhỏ nhen, là mây đen tối vô minh kéo đến che khuất lòng từ ái. Nếu sáng suốt sống bằng hào quang trí tuệ, sử dụng lòng thương yêu cứu giúp mọi loài đó chính là đức độ quảng đại linh cảm của Bồ Tát. “Đến lễ vô lượng thọ Phật”. Dù ở bất cứ phương nào Đông, Tây, Nam, Bắc hay bất luận nơi đâu khắp mười phương thế giới. Tu mà không thấy tánh Phật chính mình, cứ tu mãi, tụng kinh niệm Phật mãi, cũng là vô ích. Tu phải thấy được tâm tánh ta hiện còn nóng giận, sân si, tham đắm vào nơi nào, vào pháp nào, để buông xã cho tâm tánh trong sạch. Cần gạn xã những vọng tưởng, vọng niệm thì chơn tâm sẽ hiển lộ. Không thấy biết vọng tâm thì không thể thấy được chơn tâm, vì vọng tâm mạn nghi, ác kiến, tà kiến, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ đều là ma tâm hay phàm tâm. Nếu biết lìa bỏ ma tâm, phàm tâm thì còn lại chơn tâm Phật Tánh, ta cần quay vào mà đảnh lễ chơn tâm Phật Tánh chính tại lòng ta và Phật Tánh mọi người, mới là bậc chơn tu, lòng kính yêu thương mến muôn loài là kính lễ vô lượng thọ phật. “Và chín phương còn lại cũng đồng như thế”. Chỉ một phương Đông đã có hằng hà sa số Phật, hằng hà sa số chúng Bồ Tát, tại cuộc đời vẫn có hằng hà sa số bậc giác ngộ rồi. Chín phương khác cũng là thế giới bao trùm vạn loại, vẫn có hằng hà sa số Phật và Bồ Tát như ở phương Đông. Nếu tâm ta đã có Phật và Bồ Tát thì khắp chúng sanh muôn loài đều cũng như thế. Trong kinh Lăng Nghiêm Phật hỏi ngài A-Nan “Tâm ông ở đâu?”. Ngài A-Nan trả lời : “Bạch Thế Tôn, tâm con ở ngoài”. Phật nói : “Nếu tâm ông ở ngoài sao ông không thấy?”. Ngài A-Nan liền nói: “Bạch Thế Tôn tâm con ở trong”. Phật nói: “Nếu tâm ở trong, sao ông không thấy lục phủ ngũ tạng?”. Thì ra tự tánh Phật bao trùm khắp thế giới vạn loài, nên kinh dạy :

Tâm trí huệ thênh thang rộng lớn

Tánh trong ngần chẳng gợn mảy trần

Làu làu một tánh viên chân,

Bao trùm vạn loại chẳng phân Thánh Phàm.

Tâm không ở trong, ở ngoài hay giới hạn ở một phương nào, vì chấp thân huyễn giả là thật có nên nói có trong có ngoài. Phật Tánh vốn vô tướng nên mười phương chư Phật đều lễ kính Phật Tánh, nói vô tướng vì tự tánh là chơn không trùm khắp. Tổ dạy:

Thân chẳng thấy biết là thân Phật

Nếu biết rồi thì Phật là không

Người khôn biết tội tánh không

Thản nhiên chẳng sợ trong vòng tử sanh.

Không tham sân si là không còn tướng phàm phu nên gọi là vô tướng, còn mê muội thì có đủ thứ tướng, tướng giận hờn, tướng ghen ghét, tướng ích kỷ, tướng giựt dành, tướng gian lận v.v…vô số tướng gọi là hữu tướng. Khi giác ngộ, lìa bỏ tất cả tướng, là bỏ các tướng tham sân si, ghét thương, vui buồn, sướng khổ thì còn lại không tướng, cõi lòng đã thanh tịnh vắng lặng tất cả pháp, là thật tướng. Tổ dạy : Tánh chúng sanh thảy thanh tịnh hết.

Do không sanh không diệt mà ra

Thân tâm là huyễn thôi mà.

Huyễn thì tội phước hóa là thành không. Quán vào cõi lòng, thấy được vọng tâm, quyết xả bỏ mới hiển lộ chơn tâm. Mãi sống bằng phiền trược, vô minh thì vọng tâm sẽ dẫn ta luân hồi đời đời kiếp kiếp trong sa đọa khổ sầu, khổ vì ma tâm. “Đều đem tâm cung kính”. Ta tu bất cứ pháp môn nào chỉ biết cung kính lễ lạy tượng Phật, mà không biết cung kính, thương yêu Phật tánh nơi mình thì vẫn chưa đủ. Tượng Phật và Phật tâm tuy hai nhưng chỉ là một. Phật tượng là hình ảnh tượng trưng bên ngoài có tướng, nhưng Phật lòng là tánh giác vô tướng, không chấp trong hay ngoài. “Dâng cúng món trân diệu”. Những gì quý báu gọi là trân diệu. Trong đời, Phật là trân diệu nhất nên khắp thế gian mọi người đều chiêm ngưỡng lễ lạy, tôn sùng, thương yêu, kính bái. Ngoài thế gian thì tiền của, vật chất, địa vị, chức quyền, tình yêu, sắc đẹp đối với con người rất quý. Vậy mà trước khi đi tu Phật còn xả bỏ không tham luyến, chỉ sống bằng pháp trân diệu là lục độ vạn hạnh để dâng lên cúng dường Phật Tánh. Con người khi sống ở đời mượn vật chất cung phụng cho thân, nhưng khi già chết chỉ còn lại tâm. Nếu hiện tại chỉ biết tu bổ cho thân mà bỏ bê tâm, không lo tu dưỡng, sửa sang tâm thì lúc bỏ xác thân ra đi, tâm rất thiệt thòi, thiếu thốn, khổ đau. Thần thức cũng là vọng tâm, là niệm luyến ái biến hóa nên cũng quyết bỏ luôn. Quang minh sáng suốt là chơn tâm, tối tăm u ám là vọng tâm, còn lại địa ngục A-tỳ. Đến giờ lâm chung, điều này rất quan trọng. Nếu ra đi mà nghiệp u mê, tâm thức hoảng loạn thì quang minh đã tắt lịm, tự dẫn tâm thức vào sa đọa. Hiện ngay đời sống cần tu là tập bỏ dần những luyến ái ham muốn của cuộc đời, chấp nhận tin đời là huyễn giả, thì lúc xả thân ra đi, sẽ chọn chơn tâm vì đã bỏ được vọng tâm. “Phát âm thanh hòa nhã”. Âm thanh phát ra từ trí tuệ minh bạch, thấy bằng sự vi diệu, biết đời là vô thường, ưu bi khổ não, dạy ta vô ngã, không pháp nào thật cả, trí biết chơn thật này đem lại cõi lòng ta thật huyền diệu sáng suốt hòa hợp, cảm thông cùng vũ trụ quan, thế giới quan, nhân sinh quan. Tất cả đều hòa nhã là an nhàn sống bằng tấn lòng cao thượng, thanh trong, tâm không đã vắng lặng các vọng duyên, đã thí xã hết mọi nhiễm ô, cấu trược. Xứ sở là cõi lòng vắng vẻ, an ổn. gọi là A-Lan-Nhã, tấm lòng là xứ yên vui, hạnh phúc hòa nhã. “Ngợi khen tối thắng tôn”. Chỉ có chơn tâm tánh Phật là tối thắng, tối thượng không gì bền vững chắc chắn bằng tự tánh cao vượt hơn thế gian. Phật là bậc siêu phàm giác ngộ, sống bằng tánh giác nên cả thế gian đều tôn kính. Nên ta phải thường thương yêu, giữ gìn, trân trọng, bảo vệ, nuôi dưỡng Tánh Phật, luôn trân trọng hoan hỷ sống với tự tánh, người sống như vậy tất cả Trời Người đều ngợi khen, lễ kính, gọi là bậc tối thắng tôn. “Thần thông huệ rốt ráo”. Con người có tám thần thức là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, mạt-na và A-lại-da-thức. Nếu tám thức này vô minh thì không thông suốt, không trí tuệ. Mỗi người có sẵn năm lò lửa là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, lúc nào cũng sẵn sàng rực cháy bởi cuộc đời rất nhiều nỗi khổ. Khổ vì lửa tham, lửa sân, lửa si, lửa phiền não làm khổ sở tâm người. Thần thông là các thần thức thông suốt, đã dẹp hết các sự khổ. Sáu căn vẫn thấy rõ tất cả pháp nhưng thấy bằng quang minh thông suốt, biết các pháp đời là không bền chắc nên không mê nhiễm, không chấp nhận để vô minh len lỏi chen vào. Khi lục căn thanh tịnh thì đồng với trí tuệ chư Phật khắp mười phương. Ngày xưa Thập đại đệ tử Phật có ngài Mục Kiền Liên chứng lục thông. Mục là mắt, Kiền Liên là hoa sen. Sáu căn Ngài toàn là hoa sen thông suốt. Sở dĩ tu không có lục thông vì không xả bỏ được phiền não nên đời đời mãi sống trong đau khổ, là cõi tâm thường là địa ngục. Quan trọng là thức Mạt Na, thức thứ bảy, chuyện suy nghĩ, tính toán phân biệt phải quấy, trăm vạn điều. Tu là điều phục cho Mạt-Na thức an định, không còn vẽ vời to nhỏ, lý luận mới giải thoát được mọi vướng bận vào dục lạc, sắc, tài, danh, lợi, giữ được điều này A-lại-da thức sẽ chuyển thành trí tuệ quang minh đã trong sạch gọi là Bạch tinh thức cũng là Như Lai Tạng, nơi chứ vô vàng pháp bảo đó là thần thông huệ rốt ráo. “Thâm nhập sâu cửa pháp”. Sáu căn là sáu cửa. Nếu sáu căn u mê sẽ bị các pháp uế nhiễm nhập vào sáu cửa mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Cũng sáu cửa khi thanh tịnh thông suốt là sáu căn tịch tịnh, dù tiếp xúc pháp nào cũng không tham muốn. Sáu căn thông suốt nên tịch lặng vô nhiễm thì pháp nào cũng là Phật pháp. Thấy xấu không chê, đẹp không mê đắm, nghe chửi mắng ý không buồn khổ sân si hận tủi, oán ghét đó là tu sâu. Sáu căn vô nhiễm thì sáu cửa đều thâm nhập sâu cửa pháp, sẽ sanh trí huệ gọi là lục thông, thấy mà sanh tâm chướng ngại, bực bội phiền não thì sáu căn đã mở sẵn cửa dẫn tâm đi vào lục đạo luân hồi, khó thoát vòng sa đọa. “Nghe danh Đức Phật Thánh”. Nghe danh là tự quán vào tận đáy lòng nghe danh hiệu A Di Đà thì ta sẽ gặp tự tánh Phật khi đã giác. Nghe lòng có danh Bồ Tát hiển hiện là tự ta biết hành đạo Bồ Tát đã lìa Thập Kiết sử, chứng ngộ Thánh quả biết sống bằng đạo hạnh giác ngộ có danh gọi là Đức Phật hay Thánh. “An ổn đặng lợi lớn”. Nếu sống an vui trong chơn lý, cõi lòng thường tẩm ướp giáo lý thì con người đã giác ngộ được lợi ích rất lớn, đã tri kiến Phật thoát luân hồi sanh tử, cõi lòng mãi mãi là Cực Lạc. “Trong các món cúng dường”. Phật dạy các pháp cúng dường thì cúng dường bằng pháp siêng tu là siêng năng thí xả bố thí các pháp vọng, siêng thực hành pháp nhẫn nhục, siêng thiền định, siêng niệm Phật, siêng tụng kinh, dùng những pháp báu này cúng dường nuôi dưỡng Phật Tánh là lớn nhất để chứng thành Phật quả, sẽ thành tựu pháp tu. “Quán cõi thù thắng kia”. Quán là xét lại cuộc đời từ xưa nay coi những gì tu được lợi ích hay cõi nào trong tâm an ổn thù thắng nhất, cõi đó chính là cõi Cực Lạc, nhờ trí giác sáng soi làm an lạc tâm ta gọi là quán cõi thù thắng kia. “Vi diệu khó nghĩ bàn”. Ngoài thế gian tất cả hoàn cảnh như nhà cửa vật chất, con người và rất nhiều việc khác ta có thể suy nghĩ và tạm bàn tính được, còn Phật Pháp là vô số vô lượng pháp bảo vô tướng, chỉ có người chứng ngộ là chư Phật chư Bồ Tát chư Thánh Hiền mới có thể tư duy bằng thiền định mới hiểu biết được. “Công đức trang nghiêm khắp các cõi Phật khó bằng”. Các công đức, công hạnh huân tu trang nghiêm Quốc độ, làm cho thanh tịnh đẹp đẽ cõi tâm rất khó, vì bỏ thói quen cuộc đời là bỏ các vọng trần rất khó. “Nhân phát tâm vô thượng nguyện chóng thành Bồ đề”. Tu pháp môn Tịnh độ có Tam Tư Lương là Tín-Nguyện-Hạnh, là nhân phát tâm vào vô thượng nguyện chóng thành Bồ đề. Nhân là tam tư lương, lòng không mong được gì cả, chỉ quyết tu cho mau chóng quả giác ngộ Bồ đề tâm, nguyện tu thành Phật độ khắp chúng sanh muôn loài. “Liền đó đấng tối thắng, mỉm cười, hiện thân vàng, quang minh, từ miệng phóng chiếu khắp mười phương cõi, thâu về nhiễu quanh Phật ba vòng xong nhập đảnh, Bồ Tát thấy hào quang”. Khi phát nguyện tu chứng ngộ Bồ đề tâm, vậy Bồ đề ở đâu? Hiện tại ta tu niệm Phật là muốn gặp Phật, gần gũi Phật, chờ Phật hiện, nhưng Phật là đấng tối thắng, mà Phật ở đâu? Phật tức Tâm, Phật chính tại Tâm, ta cần biết tâm nào là tâm Phật? Tâm Phật không phải là tâm tham đắm, tâm Phật không phải là tâm ích kỷ, tâm hẹp hòi, tâm đấu tranh mà Phật là tâm giác cao thượng giác, chính là tâm Bồ đề. Nếu gặp duyên, có người đến chửi mắng mà ta biết cảm thông không oán giận họ, cảm thông vì biết họ đang bức xúc điều gì, thì ngay đó tâm Phật hiện ra, tâm này đã thắng tâm ma sân hận. Thân Phật là trí giác trong sáng gọi là thân vàng sẽ thị hiện ngay khi ta giác ngộ nhân duyên. Khi hoàn cảnh đến Phật tại lòng chỉ chờ ta tự giác. Phật là giác, là quang minh sáng suốt tại lòng, sẽ lập tức dẫn tâm vô minh thành sáng suốt thiện lành về thế giới Cực Lạc. Giác là Phật, đã làm chủ được pháp nóng nảy bực dọc. Tánh giác đã giáo hóa được chúng ma, không còn hoành hành não loạn nơi tâm địa Phật, là giác sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm, lòng luôn hoan hỷ là hiện thân vàng, thân không còn nhiễm tạp chất phiền não thế gian, mỉm cười thốt lời từ ái cảm thông. Bậc giác ngộ thường phóng quang minh sáng suốt, dùng ngôn từ đạo đức đem lòng từ bi hỷ xã nhu hòa nhẫn nhục, âm thanh từ ái phát ra từ trí tuệ, tự tánh đã thị hiện đầy đủ quang minh gọi là vô lượng quang, chiếu soi khắp mười phương nơi tâm địa. Các niệm si mê não loạn là các chúng sinh u tối tại cõi lòng đều quy y quang minh tự tánh mà nhiễu ba vòng, cúi đầu quy mạng lễ. Cõi lòng không còn là thế giới của bóng đen u ám, đã buông bỏ những thói quen tham đắm hẹp hòi, chỉ còn tâm cao thượng là lòng của chư Bồ Tát thường lắng lòng mà nghe thấy hào quang Phật chiếu soi. Dù tu Thiền, Niệm Phật, Kinh Hành, Trì Chú cũng tự xét cõi lòng coi còn vướng bận niệm vào ích kỷ tham lam không? Cần tìm cho được tự tánh A-Di-Đà Phật là gốc Bồ đề cao thượng, coi tâm này hiện ở đâu mà thỉnh mời cho được vô lượng giác. Tâm Bồ đề này không ở đâu xa mà là tánh giác chính ở tại lòng ta. Nếu ngộ tánh giác chính là tìm thấy Phật Tánh, giác ngộ tâm cao thượng đã buông xả thân Ngũ uẩn thì chính sự giác ngộ là Phật, còn sống bằng tâm u tối mê muội đắm lụy vọng trần mê si là chúng sanh, phải tự chọn lọc cõi lòng ta coi những gì cần thí xả để bỏ ra, điều gì tốt đẹp nên giữ lại. Các Bồ Tát đều sống bằng tứ vô lượng tâm là bốn tâm lớn từ bi hỷ xả. Từ là bạt khổ, lòng từ không muốn ai khổ cả, cũng không gieo khổ sầu cho ai đó là bi, khi hoàn cảnh đến nghịch ý không vừa lòng đều thông cảm vui vẻ tha thứ bỏ qua là hỷ xả. Không sống được bốn tâm này mãi mãi xoay vòng niệm niệm vẫn luân hồi vào lục đạo. Tổ dạy:

Loanh quanh trong cạm luân hồi

Xoay qua trở lại biết đời nào ra

Mấy ai suy nghĩ kỹ ra

Rảo chân cất bước cho qua hội này…

 Ra khỏi Thập Kiết Sử mới là cơ hội giác ngộ để tìm thấy Phật, phải tinh tấn sống bằng pháp khó hành, tu bằng pháp khó tu, mới trở về tâm tối thắng, là cõi hạnh phúc an lạc, đã sống bằng chơn lý. Tu và thực hành đúng chánh pháp mới đúng thật là đệ tử của Phật Vương. Nếu tu bằng tâm u tối, đam mê, vọng động, còn chạy theo tà pháp, đích thị là đệ tử của Ma Vương. Nhìn người nghèo khổ hoạn nạn mà khởi lòng thương yêu, dùng tài vật đem trợ giúp bằng lòng trìu mến xót thương, đem của cải ra giúp họ vượt qua nạn khổ, nhìn họ an ổn, miệng mỉm cười thì cõi lòng ta tự nghe nhẹ nhàng, thanh thoát, an lạc trong pháp huyền diệu vô vi. Ngược lại, mãi sống bằng hận thù, ti tiện thì cõi lòng hiện là địa ngục vì đã tắt lịm hào quang, lu mờ trí tuệ, Phật tại lòng ta đã tịch diệt cần tập tu nâng cao tinh thần vô lượng giác, chính là Phật đang thị hiện để cứu độ chúng sanh, làm được điều này là niệm Phật thành công, đã ra khỏi Tam cõi tham sân si, nhiễu ba vòng có nghĩa khi Tánh giác hiện ra thì ba vòng luân hồi dục giới, sắc giới và vô sắc giới là những trạng thái thay đổi sanh diệt tại cõi lòng đã an định, thanh tịnh không luân hồi vòng quanh lại lòng ta nữa. Nên sự tôn kính hành động quỳ mọp kính lễ tôn xưng Phật, là chiêm ngưỡng quang minh hào quang tuệ giác, đã đến để cai trị giáo hóa toàn các cõi tâm dẫn dắt chúng sanh ra khỏi biển khổ luân trầm, đã sáng suốt buông bỏ hết mọi hoàn cảnh đắm lụy cuộc đời. Đổi lại cõi lòng cao thượng là lòng của chư Bồ Tát, đã chứng Bồ Tát quả “liền chứng bậc bất thối”. Nếu sống với Tánh giác, sống bằng lòng cao thượng dù cõi đời là ngàn vạn khó khăn lòng bậc giác ngộ cũng không thối lui, lùi bước. Kinh nói là Bồ Tát Bất Thối, mãi mãi đời nào cũng tu là chơn tu Bồ Tát đạo, sống chánh mạng là Bồ Tát hạnh, chỉ vào đời để cứu độ chúng sanh. Người chơn tu chính là Phật, mà Phật chính là bậc chơn tu, không ai rước ta đi đâu hoặc làm cho lòng ta cao thượng hay thấp hèn được cả. Nếu lòng ta còn ích kỷ nhỏ nhen cứ mãi cầu Phật Bồ Tát rước hay cầu được giúp đỡ thì chẳng có Phật Bồ Tát nào đến cứu ta cả, vì luật nhân quả tự nhiên vốn công bằng. “Lúc hội chúng tất cả đồng sanh tâm hoan hỷ”. Tâm địa có vô số, vô lượng tâm nếu mê muội gọi là tâm chúng sinh, nếu đã giác tri kiến Phật là tìm được tâm cao thượng, thì lòng thanh thản sáng suốt nhẹ nhàng an ổn, đã hết khổ nên cõi lòng rất hoan hỷ, tánh giác đã giáo hóa tất cả chúng sanh là các niệm mê tại tâm được thông suốt giác ngộ, nên các niệm mê trong tâm khi đã giác gọi là hội chúng đồng hoan hỷ vui mừng tin nhận, hết thảy sự mê si đã buông xã vượt lên khỏi tam cõi, đã lìa bỏ tam cõi đồ ác đạo, khắp cõi lòng vang dội tiếng từ bi hỷ xã, tiếng niệm Phật niệm pháp niệm Tăng đượm nhuần gió đức mưa hoa. “Phật ngữ phạm rúng động, bát âm thông diệu thanh”. Phật ngữ là lời dạy của Phật cũng là lời bậc giác ngộ, là bậc pháp sư trùng tuyên, thuyết giảng nói lại lời Phật dạy, pháp sư là người thay Phật thể hiện gương hạnh từ bi giác ngộ tự nhắc nhở lòng mình còn đem kinh nghiệm tu hành nhắc nhở người chung quanh bằng ngôn từ ái ngữ. Nói bằng chánh pháp là lời nói phát ra từ Tánh Phật thanh cao. Nói bằng quang minh trí tuệ vì Phật là đức độ vô thượng Bồ đề Phật không là ai. Phật không có tướng hình cho ta tìm kiếm, Phật là Đức trí giác ngộ ứng hiện ngay tự tánh. Nếu lòng ta còn hung ác, tham lam, bỏn xẻn, nhỏ nhoi, dù có tướng Phật, tướng Bồ Tát hiện ra trước mặt cũng không giúp được cho ta gì cả. Mọi người đều trôi lăn theo nghiệp duyên thiện ác ngay hành động phát sinh từ tâm ý mà thọ nhận cực khổ hay cực Lạc, tâm dẫn đầu các pháp, tâm khởi ác dẫn ta vào địa ngục, nhận quả khổ do tâm. Nếu tâm thiện lành sáng suốt sẽ dẫn ta vào Cực Lạc nhàn vui. Vạn pháp quy tâm nhất thiết do tâm tạo, chẳng ai tạo cho ta, chẳng ai cứu ta, mà ta tự độ tự cứu lấy ta, ta sẽ theo nghiệp duyên chính ta tự tạo con người có tám tâm gọi là bát thức tâm vương. Mắt là chủ tâm thấy, tai là chủ tâm nghe, miệng phát ra âm thanh v.v… Tất cả tám thức phát ra khi thanh tịnh toàn là những âm thanh vi diệu. Chứng ngộ bản tâm nhờ tám thức tâm vương trợ duyên, khi thông suốt phát ra bát âm thông diệu. Nếu tu mà không gìn giữ lục căn cho thanh tịnh sáng suốt thì lúc xác thân tan rã thần thức mê muội không thể vãng sanh được. “Chánh sĩ mười phương tới”. Đệ tử của Đức Phật là chư Bồ Tát gọi là Chánh Sĩ. Tướng xuất gia là sự xuất gia, cần lập hạnh thêm bằng tâm cao thượng sáng suốt trí huệ là lý xuất gia mới đầy đủ ý nghĩa xuất gia. Khi lý sự đều xuất gia là bậc Chánh Sĩ, là người tu sĩ chơn chánh, hết thảy mọi người nếu tu chơn chánh đều là chánh sĩ. “Ta tất biết nguyện kia”. Mọi hành động đạo đức đều phát ra từ chí nguyện giải thoát giác ngộ, khi cõi lòng tự giác biết buông xả sẽ thấy rất rõ các tâm nguyện, lúc tâm bồ đề bừng sáng sẽ cảm thông biết tất cả trình độ mỗi người, biết nguyện lực tu giải thoát rất khó, nên hết lòng truyền đạt, giúp chúng sanh tìm thấy lại cõi lòng hạnh phúc an vui để tu hành giác ngộ. “Chi cầu nghiêm tịnh độ”. Dù làm bất cứ Phật sự gì cho cuộc đời mà chí nguyện lớn nhất chỉ cầu trang nghiêm cho cõi tâm là tịnh độ, không mong được hưởng gì của thế gian cả. Nghiêm là trang trọng hoàn chỉnh. Nghiêm Tịnh độ là cõi tâm hoàn chỉnh, không còn loạn đông lãng vãng các tâm niệm si mê, thì tạng tâm là tự tánh A Di Đà nghiêm tịnh độ. Tâm thanh tịnh tức Phật tịnh. Nếu tam nghiệp thanh tịnh đồng trực vãng Tây phương. Khi tâm tịnh cũng đồng trực vãng Tây phương, vì tất cả chúng sanh đều đồng có Phật Tánh. “Thọ ký sẽ thành Phật”. Nếu hành động là đạo hạnh từ bi chính là hạt giống Phật (chủng tử Như Lai). Tuy là cõi chúng sanh mà được gieo vào đất tâm hạt giống Phật, thì giống Phật là nhân đã được gieo vào sẽ kết thành quả Phật. Khi tâm vẩn đục vì loạn niệm nếu giác biết liền niệm nam mô A Di Đà Phật, để nhớ lại Tự tánh thanh lặng thì tâm vẩn đục được gieo vào câu Phật hiệu Tự tánh sẽ sáng suốt trong lặng. Như thau nước đục được thả vào viên ngọc minh châu chiếu sáng, thì nước đục sẽ trở thành trong, giống Phật có sẵn tại lòng khi nhớ đến thì tham sân si, phiền não, độc ác, sẽ không còn nữa. “Liễu triệt tất cả pháp, như dư vang mộng huyễn”. Vì mê, ta mãi sống trong tham sân si độc ác, tự cao, ngã mạn, vô minh, chỉ là các duyên huyễn mộng, không thật, chợt có, chợt không, như điện chớp, không pháp nào bền chắc là của ta. Nếu thông rõ các pháp không nhận gì ở thế gian làm tâm, chấp là của ta, đã hiểu tất cả pháp như tiếng vang, như bóng, như bào ảnh, vô thường, không thật thể, có sanh thì có già, bệnh, chết, có ưu bi, khổ não. “Đầy đủ các diệu nguyện, ắt thành cõi như thế”. Được thông suốt giáo lý phải tu ngay cái đầu để khai mở trí tuệ hiểu biết chơn chánh, nguyện tu bằng các pháp chơn thật. Diệu nguyên là lòng phát nguyện tha thiết quyết lìa xa tội lỗi, biết cõi như bóng, như ảnh, thường phát tâm hoằng thệ, rốt ráo đạo Bồ Tát. Đã giác biết cuộc đời như bào ảnh, huyễn mộng là đã soi rọi thông thấu tâm vô thượng bồ đề, không còn niệm thấp hèn quẩn quanh nhiễu loạn cùng tà mị yêu ma, là đã giác tâm bồ đề cuộc sống thiết tha nguyện tu, nguyện độ những tâm tham sân si phiền não là vô biên chúng sanh và vô lượng phiền não tại cõi lòng, thường tư duy giáo pháp cùng kinh điển nhà Phật làm cho cặn bả cấu nhiễm nơi lòng lắng dịu, làm cho Tánh Phật trong sáng trang nghiêm là hành rốt ráo đạo Bồ Tát. “Đủ đầy công đức, tu thắng hạnh Bồ đề”. Thắng hạnh là hạnh đức cao thượng đã vượt lên mọi cám dỗ cuộc đời, không còn bị các pháp huyễn đè bẹp, mãi nô lệ cho pháp trần huyễn tạm. Lúc mới sanh ra không có ai cao thượng hay thấp hèn, chỉ vì đời sống ham danh lợi mãi duyên theo tâm niệm đòi hỏi mà có tâm thấp hèn hay tâm cao thượng. Chẳng ai làm cho ta thấp hèn hay cao thượng cả. Thắng hạnh bồ đề là lòng chí quyết không sanh niệm rớt vào sa đọa tội lỗi nữa. “Thọ ký sẽ thành Phật”. Giác ngộ là đã tự thọ nhận ký thác cuộc đời vào cõi an lạc, thật tin vào giáo pháp, mạng sống thiết tha là chơn lý quyết định nếu còn xác thân thì lo tu học, bỏ xác thân nhất định theo tự tánh trí huệ, không theo tạp niệm thế gian. “Thông đạt các pháp tánh, tất cả không vô ngã”. Tánh giác là đèn trí tuệ chiếu soi thông đạt, biết rõ các pháp chỉ là duyên hợp, tạm gá theo duyên mà có. Con người cũng do duyên mà có tướng. Từ không thức biến mà hiện có, hòa duyên nhau thay đổi, nay mưa mai nắng, mãi xoay vòng theo luật tuần hoàn của cuộc đời, đời đời, kiếp kiếp, chắc chắn mãi là như vậy, không và có cứ quyện nhau. Thời gian không gian có nhiệm vụ thay đổi vô thường, không ai điều khiển cả, mãi theo định luật tự nhiên mà biến hiện, không ai cấm trái đất ngừng quay, cấm mưa, cấm nắng, không ai làm cho con người không già bệnh chết được, có sanh thì có tử thành trụ hoại không. Các pháp mãi là như vậy. Sắc thân là đất nước gió lửa, do duyên nhóm hợp, khi mãn duyên trần cũng trở về hòa quyện vào đất nước gió lửa, là về cùng vũ trụ vạn vật, nên kinh Bát Nhã nói : “hết già hết chết giả không có gì”, chỉ theo duyên nghiệp mà có tướng hình sai khác, không tự ngã nào thật là ta cả. Mê chấp thân là thật vì không hiểu sắc thân chỉ là ngũ ấm, tạm trần duyên gá hợp giả hiện mà có, là giả ngã nên không thật chủ thể, vì lẽ đó con người không làm chủ được thân mình, có các trạng thái nóng, lạnh, khỏe mạnh, già, bệnh, chết, đều tùy thuộc vào sự thay đổi của tứ đại, theo luật vũ trụ chuyển xoay. Sống chết theo luật thiên nhiên không gì là ta cả. Nếu giác ngộ nhân duyên, thông suốt được những điều này, sẽ không chấp giữ gì là của ta, không chấp thân là thật là ngộ được nhân vô ngã. Biết vạn pháp do duyên sanh, không thể tánh, chắc chắn là đã thông biết các pháp vô ngã không gì tồn tại, bền vững sẽ hết khổ đau.

Hàng Tiểu Thừa biết nhân vô ngã Bồ Tát giác ngộ tất cả nhân và pháp đều vô ngã. “Chuyên cầu Tịnh độ Phật”. Chuyên là chuyên nhất, chỉ một môn tu trực chỉ vào tâm, nguyện sửa lòng cho đến cùng cực an lạc. Chuyên tu thực hành 48 nguyện, tự chuyển hóa tâm địa phàm phu, sửa cho đất tâm là Tịnh độ, tự độ tâm là cõi Phật. Kinh duy Ma dạy: “Người tu dùng những pháp báu tự trang nghiêm Tịnh độ để tạo thành cõi Phật của chính mình”. Tịnh độ chính là sự an lạc tại tâm người chơn tu đã tự giác ngộ. Ắc thành cõi như thế, Phật nói cõi như thế là chỉ cõi Tịnh độ, là Thế giới Tây phương Cực Lạc tại cõi lòng người thường tu biết xã bỏ những tâm niệm mê lầm được tự giác, đã ra khỏi tứ tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giã. “Nghe pháp vui nhận hành”. Được nghe lời trùng tuyên thuyết giảng của vị Pháp sư, là người giác ngộ đời sống là chơn lý, đủ khả năng thay Phật tuyên dương diệu lý, dạy ta biết nhận ra vạn pháp quy tâm, sanh có vạn niệm cũng từ tâm lưu xuất. Nên Thế Tôn dạy khắp chúng sanh tu pháp môn niệm Phật, mục đích nhờ danh hiệu Phật giúp ta quyết niệm nhớ chuyên cần, chỉ một Phật hiệu làm phương tiện cho ta nương theo để nhiếp tâm, gom vạn niệm trần lao buông xã hết, để quy về chỉ còn nhớ một niệm Phật là nhớ Phật hiệu A di Đà, mới có cơ hội nhập vào Bản Tánh Phật ngay lòng ta, cho vạn niệm trần tục thường lăng xăng được vãng sanh, không còn niệm nhớ luân hồi sanh lại làm não loạn điên đảo tâm ta. Khi vạn niệm trần lao đã siêu thăng, thì đất tâm ta sẽ là Tịnh Thổ, tâm là cõi Tây phương Cực Lạc cho ta an dưỡng tu hành. Nên kinh thường đọc tụng Nam mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Quang Như Lai”. Nếu chúng sanh nào nghe thông suốt hiểu và thực hành đúng pháp này lòng sẽ vui mừng nhận lấy là tri kiến Phật. Phật tại lòng đã thị hiện, ta nên tự tin nhận cúi đầu mà lễ kính, chiêm bái Tánh Đức A Di Đà Phật và thực hành tự lắng nghe Tự Tánh A Di Đà thuyết diệu pháp thậm thâm, nghe lại tiếng lòng hào quang sáng suốt, tánh Phật lòng ta sẽ dẫn tâm vào Thế giới Cực Lạc, là thường Tịch Quang an ổn hạnh phúc tĩnh lặng tại lòng ta, mãi mãi gìn giữ cõi Tịnh là nghe danh tín thọ phụng hành. Cực Lạc chính tại lòng ta, A di Đà Phật cũng chính tánh Phật tại lòng ta. Được như vậy, là niệm Phật nhất tâm bất loạn sẽ thấy được Tánh Phật “được tới chỗ thanh tịnh”. Tu niệm Phật là xả bỏ các niệm trần lao cho cõi tâm thanh tịnh trí huệ chiếu soi các ác pháp, tà pháp, thường nhiễu loạn nơi tâm vắng lặng. Cõi lòng không còn các niệm mê muội vì mây vô minh, mây phiền não che mờ tánh giác, đã biết sống bằng diệu tâm, biết rõ nếu có tâm sanh là có pháp sanh diệt, nên không còn chấp giữ một pháp hay một niệm mê nào, tâm địa trở nên tốt đẹp gọi là đại viên cảnh trí. Vẫn thấy biết niệm niệm khởi thường tuôn chảy nhưng vẫn sáng suốt không vướng trụ vào niệm nào, nhờ Tánh giác vô lượng quang chiếu soi gọi là vô biệt niệm hay niệm mà vô niệm đó là tâm thanh tịnh, chỗ ở của Tánh giác là Thường Tịch Quang Tịnh độ. “Nhất định vô lượng tôn, thọ ký thành chánh giác, cõi thù thắng vô biên, sức bổn nguyện Phật kia, nghe danh muốn vãng sanh, dự vào ngôi bất thối, Bồ Tát phát chí nguyện, nguyện cõi mình không khác, nhớ độ rộng tất cả, đều phát tâm Bồ Đề, xả bỏ thân luân hồi, điều khiến lên bờ giác”. Người cõi tâm an lạc vì đã xã hết nghiệp thấp hèn, lòng không còn niệm tham dục, sân si, độc ác, gian ngoa, cõi tâm cao thượng tột cùng đó chính là cõi Niết Bàn diệu tâm. Trí huệ thênh thang, rộng lớn, quảng đại, không ngằn mé, không ranh giới, vượt qua tất cả phàm tình, không danh từ nào diễn tả hết được. Tâm địa bậc giác ngộ là Thế giới quang minh đầy đủ pháp bảo chiếu soi, đó là cõi vô biên thù thắng. Đức Phật Thích Ca nói, sức bổn nguyện Phật kia là nói Phật hiệu A di Đà đã tròn nguyện lực 48 nguyện, được thực hành thành tựu, bổn nguyện viên mãn vượt khỏi mười phương, không vướng trụ vào phương nào, rất thù thắng. Phật hiệu A Di Đà là tha lực giúp người tu nhiếp tâm nhập vào tự tánh Phật, là bản giác sẵn có nơi mỗi con người. Có tín nhân là nương Phật hiệu trì niệm mà thu nhiếp tâm niệm, buông xả hết vọng niệm phàm tục cuộc đời nên đầy đủ phước báu, cõi lòng an lạc, tâm tức là tín quả cõi Cực Lạc, quyết lòng gìn giữ bản tâm, chứng quả bất thối, tâm niệm không thối chuyển diệt sanh, đó là nghe danh muốn vãng sanh. Bậc giác ngộ phát nguyện cứu chúng sanh có danh từ gọi là Bồ Tát. Chí nguyện vì chúng sanh không sợ cực nhọc, không cầu tư lợi, một lòng đem an vui lợi ích cho mọi người, tự giữ cõi tâm là Quốc độ nghiêm tịnh, sống bằng tâm Bồ đề kiên cố, nguyện giữ Cực Lạc tại lòng để giáo hóa cứu độ vô số chúng sanh, là vô số tâm niệm còn chợt mê là những niệm si mê qua trạng thái buồn vui, thương ghét, giận hờn, bực bội, bất bình, bất mãn, tự cao, ngã mạn, ích kỷ, siểm nịnh, hẹp hòi, giành giựt, đấu tranh, hận oán, độc ác là vô biên chúng sinh tại lòng cần thệ nguyện độ, phiền não vô tận nơi lòng thệ nguyện đoạn, nguyện rước tất cả các chúng sanh vào Cực Lạc như cõi A Di Đà không khác. Độ chúng sanh bằng phương pháp chuyên niệm nhớ Tánh Phật A Di Đà, các niệm tận đáy lòng sẽ cùng sanh vào cõi Tịnh độ thể nhập Pháp giới Tạng Thân A di Đà Phật, đồng giống A Di Đà không khác, đã phát Bồ Đề tâm rộng lớn độ tất cả chúng sanh đã xả bỏ vô minh, bỏ ngũ dục bỏ hết tâm niệm luân hồi sanh diệt, hết thảy ác niệm đã vãng sanh nên đất tâm là Tịnh độ, chí nguyện viên thành đồng lên bờ giác ngộ giải thoát. “Gần gũi vạn ức Phật, tự tại vô ngại đi khắp giáo hóa các cõi, cung kính hoan hỷ đi, độ xong về an dưỡng”. Tất cả tâm niệm vô minh đã giác ngộ Bồ đề được gọi là chư Bồ Tát, cũng là vô biên chúng sanh đã vãng sanh, đều giác ngộ, đã thành Phật, đưa cõi tâm vào thế giới an lạc, thì tại tâm ta là Tây phương Cực Lạc, cùng chung cõi Phật nên đã gần gũi vạn ức Phật, dạo khắp mười phương tự tại vô ngại, tâm niệm không còn luân hồi niệm nhớ trở lại các vọng trần làm chướng ngại cõi tâm. Người đã giác thường sống bằng trí huệ, lúc nào cũng dùng quang minh quán xét vào cõi lòng để tự giáo hóa các kiết sử, là các niệm lông bông, là các chúng sanh còn lạc lầm vào các cõi ác, lòng Bồ Tát lúc nào cũng hoan hỷ, kinh gọi là hoan hỷ địa, dù dạo khắp mười phương cõi nước để độ chúng sanh, có đủ căn tánh sai biệt bởi tâm khổ, vui, thương, ghét mà Bồ Tát vẫn bình an sống bằng tâm hạnh an ổn gọi là an ổn quang hay hoan hỷ quang, tạng hoan hỷ có sẵn nơi lòng nên đời sống tự tại, giữ gìn Quốc độ bằng pháp lục độ thì cõi tâm mãi là Cực Lạc, là an dưỡng Quốc.

Ngộ chơn lý duyên lành muôn thuở

Thấy bản tâm chuyện hiếm thế gian.

Si mê vui cảnh nhộn nhàng

Trí minh lìa dứt con đàng tử sanh

Ham chi bọt bóng ven gành

Xuôi tay nào có ước ao được gì?

 

Thôi thì lòng giữ từ bi

Niệm trần trả lại, quy y Phật lòng

Ngẩn ngơ thế sự lông bông

Dù bùn vẫn có nước trong lẫn vào

Chỉ cần gạn lọc trước sau

Bùn kia lắng xuống, nước trong thuở nào

Lòng thanh chẳng muốn ước ao

Niệm trần là nợ là duyên luân hồi

Chắc chi vọng huyễn nổi trôi

Tùy duyên biến hiện có không lẽ thường

Ta đừng mơ mộng vấn vương

Chẳng phiền chẳng não chẳng thương chẳng thù

Pháp đời vốn thật êm ru

Đảo điên giông tố lu bù do tâm

Tịnh lòng nghiệm xét Quán tâm

Xét cho thấu lý thâm thâm diệu hòa

A Di Đà Phật Tánh ta

Hào quang sáng suốt dạy ta tại lòng

Giựt mình vạn pháp vốn không

Chấp lầm thật cảnh thảm thê ê chề

Ta bà biển khổ rừng mê

Tìm đường giác ngộ mõi mê tấm lòng

Mấy ai chịu sống thong dong

Mấy ai chịu bỏ cùm gông xích xiềng

Ta còn trìu mến trần duyên

Làm sao thoát được lửa phiền lưới mê

Hỡi ai từng sống xa quê?

Đời là quán trọ đừng mê quên đường

Duyên lành giống Phật còn ươn

Quán lòng nghiệm xét náu nương Di Đà

Quán Âm suy nghiệm xét ra

Chan hòa lụy ngọc bình sa tấc lòng

Quán tâm mà lệ tuôn dòng

Nguyện về với Phật ấm lòng từ bi

Tâm thanh càng nhớ càng ghi

Quên đời nhập đạo liễu tri Bồ Đề

Rời xa biển khổ bến mê

Chơn tâm, tự tánh là quê là nhà

Thuyền từ Thích Tử thăng hoa

A Di Đà Phật tánh minh chiếu ngời

Ngọc lòng soi bóng khắp nơi

Tâm bình Thế giới nở hoa đại từ

Khuyên dời dứt niệm riêng tư

Đừng quên cổ Phật mà vui ngục tù

Vô ưu quả giác chơn tu

Vạn ngàn năm rộ nở hoa một lần

Dặn lòng chăm sóc ân cần

Đừng làm hoa héo một lần này thôi

Bỏ qua khó đắp khó bồi

Hoa từ bi ấy sáng ngời tánh ta

Thanh thanh lời nhắn thiết tha

Gọi người khắp chốn gần xa đồng hành.

 

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

 Cư  Sĩ Phật tử Như  Thánh

Thành Kính Cúng Dường