Phẩm 28

 

THẦN QUANG ĐẠI SỸ

Kính thưa quý độc giả !

Đây là phẩm kinh thứ 28, Thần Quang Đại Sĩ. Mục đích phẩm kinh này ca thán hai đại sĩ Bồ Tát : Quán Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí. Phật phương tiện dùng pháp tướng có tên gọi bằng hai danh từ là Bồ Tá Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, để chỉ vào quang minh, trí tuệ có sẵn nơi mỗi con người. Quang minh này thường hay giúp đỡ, bảo hộ, giáo hóa từng ý niệm khi sanh khởi, giữ gìn không để niệm duyên theo pháp thế tục bên ngoài, bảo vệ quốc độ tại tâm là cõi Cực Lạc sửa sang cho cõi lòng người hành trì pháp tu mãi mãi an lạc.

Hằng ngày, vì tất bật theo đời sống, vì muốn bảo vệ, bảo vệ những gì cho là thật của  ta, nên có nhiều toan tính, là nguồn tư tưởng trong đầu gọi là tâm thường sanh diệt biến hóa, tuôn chảy có vô số niệm khởi của thế gian. Các niệm này là hư vọng của sự mất còn, biến hóa các pháp đến rồi đi vô thường. Tất cả là tập khí, huân chứa bởi thói quen khó bỏ. Nếu không tu bằng cách tập quán tâm nương vào pháp niệm Phật hay Thiền định tâm, thật khó thấy biết mà buông xả được những điều nà. Thế nên, đức Thế Tôn đến thế gian mục đích chánh yếu đến để khai thị, dạy ta niệm Phật nhất tâm, nguồn tâm chỉ nương giữ một niệm Phật, rồi cũng buông xả Phật hiệu là bố thí hết các niệm huyễn vọng ra khỏi bản tâm, quyết chí nhớ lại Tánh Minh cũng là Tánh Giác. Ta niệm Phật là niệm nhớ Tánh Giác, thấy lại Phật Tánh chính ta gọi là: Phật Tri Kiến. Hầu buông bỏ hết các niệm huyển hoá, hư ảo, vô thường, đem lại sự thanh bình cho cõi lòng không điên đảo, đất tâm yên vui, trong sạch,  thanh cao, dứt lìa không niệm nhớ các pháp trần buồn, thương, giận, ghét, vướng các pháp này gọi là: trần sa hoặc.

Kính thưa quý vị !

Đây cũng là nhân duyên thù thắng được phước báu thính pháp, nghe kinh, được sự thuyết giảng từ trí tuệ Sư phụ. Nhận thấy đây là bài pháp đem lợi ích rất lớn đến cho ai phát nguyện tu tâm, sửa tánh, cũng vì sự truyền thừa Phật pháp. Dù trình độ tu học nơi người viết còn yếu kém, trí tuệ còn hạn hẹp nhưng chí nguyện tôn kính và giữ gìn pháp bảo, nguyện đem hết sức ghi lại những điều sư phụ đã giảng dạy.

Mong gởi đến bạn lữ tu học đồng duyên cùng tuyên dương hướng thiện, nguyện góp chút trí tuệ nhỏ bé vào biển pháp bao la vô tận, gìn giữ ngôi nhà pháp bảo.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

PT. Như Thánh

Phẩm 28 :

 

ĐẠI SĨ THẦN QUANG

 

Phật dạy mỗi chúng sanh đều có sẵn bổn tánh Như La. Bổn tánh ấy vốn tự nhiên, không có phiền não, si mê, tham, sân hay ham muốn. Tu là tự quán xét vào cõi lòng thấy tư tưởng chứa đầy ắp phiền não, lo âu, đau khổ, hận thù, toan tính. Phải biết các pháp này chỉ là huyễn vọng trần lao, đã từng tích chứa trong đời sống, vì vô minh che mờ làm vẫn đục Bổn Tánh, mất tự nhiên của sự trong sạch. Những phiền não hư vọng này là chúng ma thường sanh sanh, hóa hóa làm điên đảo, não loạn lòng người, mất thanh tịnh, mất an ổn, các pháp trần là duyên tạm, thường đến đi hóa hiện sanh có tâm, có pháp, có vô số niệm, rất nhiều, nên có chúng mê muội sanh hóa gọi là chúng sanh. Niệm niệm không ngừng chính là nghiệp báo vây phủ chơn tâm, dẫn ta mãi luân hồi, trôi lăn trong lục đạo. Bổn tánh Như Lai mỗi người sẵn thanh tịnh, tự nhiên không ô nhiễm. Nên Lục tổ nói: “Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai”, nghĩa là: bổn tánh vốn trong sạch, không vướng bận một vật gì của thế gian. Không vướng một niệm buồn, thương, giận, ghét, không niệm vật gì là của ta, không nhớ một bụi trần nào cả. Bất cứ người nào giữ được bổn tánh này gọi người ấy là Như Lai. Nếu cõi lòng y như vậy là Phật đã hiện tiền, hết thảy chúng sanh khi biết giữ tâm niệm chơn chánh đều có thể thành Phật (giác). Ta chưa sống được với tánh giác vì cõi lòng còn các niệm phiền não, tham, sân, si. Những niệm này là kiết sử, cột chặt sai sử, tâm chịu nô lệ bởi vô tận phiền não. Những chúng sanh này thường lấn áp, bứt ngặt, làm đảo điên, não loạn bổn tánh. Đức Thế Tôn dạy ta niệm Phật là để phá vỡ vô minh, buông xả ra khỏi tâm cho hết điều phiền não cho đến khi lòng an định không còn niệm nhớ một niệm não loạn gọi là: không còn vương trần sa, cõi lòng không còn não loạn vì khổ, vui, chính lúc này là niệm Phật nhất tâm bất loạn. Vì không trí tuệ nên pháp đời thường trú ngụ tại nguồn tư tưởng trong đầu tính toán sinh hoạt hằng ngày. Nơi mỗi chúng sanh đầy ắp các niệm tưởng vô minh nên phẩm A Ma Trú (trang 19 kinh A Hàm). Vì muốn chỉ dòng họ giác, Phật nói với A Ma Trú vậy A Ma Trú là gì? “A” là vô lượng, “trú” là trụ, “ma” là pháp, “A Ma Trú” là vô lượng pháp thường trú. Phật hỏi lần thứ ba này ngươi hãy trả lời cho ta biết, ngươi đã từng nghe các bậc tiền bối, tôn túc, kỳ cựu, trưởng lão, đại Bà-La-Môn nói đến nguyên nhân của dòng họ này chưa? Lần thứ ba ta hỏi ngươi hãy mau trả lời, nếu không trả lời sẽ bị lực sĩ Mật Tích tay cầm chày vàng hiện đứng cạnh ta, bổ vào đầu ngươi vỡ làm bảy phần. Phật hỏi ba lần nghĩa là phải buông xả tất cả pháp để sáng suốt quy y Phật, quy y pháp, quy y Tăng, hướng vào ba ngôi Tam Bảo mà tự quy y tánh giác. Phật hỏi nguyên nhân dòng họ là dạy ta cần quay vào tự giác mà biết tâm địa đã có sẳn của dòng họ giác là dòng dõi tôn quý, cao thượng, trong sạch tại đất tâm, vì mê muội mãi mãi theo các niệm thấp hèn, chịu sai sử nô lệ bởi vô minh theo dòng họ của chúng ác đạo, quên bỏ dòng họ giác. Dù có mang danh từ là tiền bối , người kỳ cựu, Trưởng lão, đại Bà-la-môn mà không nghe biết dòng họ Thích là dòng giác ngộ cũng không phát sáng trí tuệ, Lực sĩ Mật Tích là sức mạnh đại hùng, đại lực, đại từ bi, thường ẩn mật tích chưa tận chơn tánh. Chày vàng là pháp bảo định lực, ý chí kiên trì vững chắc không gì phá hoại được, quý báu như kim cang, bổ vào đầu vô minh là phá vỡ mọi xiềng xích, mê muội, thấp hèn. Vỡ ra làm bảy phần là tan nát sự chấp ngã, chấp thật, thân biết thất đại là duyên tan hợp, mãn duyên đại nào trở về đại nấy. Thất đại rã tan chẳng còn gì chấp là ta, biết pháp tướng đều vô thường, vô ngã, hư vọng mới tự giác, để biết lại dòng họ giác tin nhận nuôi dưỡng, phụng thờ. Tất cả tâm niệm vào cuộc đời, do thói quen là tập đế ta thường nuôi dưỡng bởi huân tập nhiều đời. Chúng là vô số danh từ do tâm giả đặt chứa đầy trong nguồn tư tưởng. Vì không nhận biết lầm chấp thật pháp làm bổn tánh có khổ đau, có sự dày xéo, bất mãn, bất bình, được thua, lợi hại, khen chê, tốt xấu vì lo sợ. Các pháp này là huyễn duyên biến hóa, là nghiệp chướng vô thường, thành hoại, tạm đến đi. Vì thiếu sáng suốt, ta lạc lầm tưởng thật, lúc nào cũng cố gìn giữ tận đáy lòng. Niệm Phật chánh minh trực chỉ vào tâm để sống đúng chơn lý, mượn danh từ dùng Phật hiệu niệm A Di Đà giúp ta thu nhiếp tâm niệm vào Phật hiệu để làm giới luật ngăn trừ vô số vọng niệm. Vậy vọng niệm là gì? Chính là vô số hoàn cảnh thế gian, khi ý tạo tác qua tiếp xúc sáu căn, thu nhập từ bên ngoài đưa vào lòng các niệm nhớ là vô số chúng sanh luân hồi, sanh có tâm, có niệm sanh hóa thật nhiều gọi là vô biên chúng sanh. Khi nhất tâm niệm Phật là quyết lòng niệm nhớ bổn giác, quyết buông bỏ các niệm hư giả là phá ác, bố ma. Khi cõi lòng thật định an thì chính vô số ác niệm là vô biên chúng sanh tại cõi lòng đã mệnh chung, đã vãng sanh hay quá vãng, vắng lặng không còn niệm sanh khởi, đất tâm mới thật sự an ổn, đây là cõi Tịnh độ. Chánh nhân vãng sanh rước vô tận chúng sanh là vô tận phiền não qua bờ giải thoát giác ngộ, cõi lòng cùng cực an vui, yên ổn đã rước vô biên chúng sanh vào cõi Cực lạc, đó chính là dòng họ nước Tịnh độ đã vào thế giới trực chỉ bổn tâm. Người Phật tử thọ trì lời dạy Thế Tôn không nên dùng tư tưởng sai lạc phỉ báng giáo pháp bằng quan niệm mê chấp thế gian, tin rằng niệm Phật mong giàu có, mong hạnh phúc, cầu hết bệnh hay van xin muốn được lợi nhuận gì ở cuộc đời, Phật nói những thứ này là dục lạc thế gian, là uế nhiễm chứa đầy ắp trong tư tưởng, tập đế đã tích lũy, giam nhốt trong đầu vô minh làm cho bản tánh nhiễm ô vì tham chấp. Ngài đã biết rõ nên dũng mãnh buông bỏ, quyết lòng ra đi tìm đạo “Chơn không”, bổn lai vô biệt niệm, thoát ra khỏi mọi danh lợi, sắc tài, bỏ hết niệm trìu mến phàm tục. Ngài biết đây là sự ràng buộc đưa con người vào khổ đau, đọa lạc, người nguyện tu theo Phật, lý tưởng y như Phật, phải tin nhận thường nhớ Tánh giác, sống bằng bổn lai chính mình, đó là việc đại sự, ngoài ra chẳng mong cầu được gì ở cuộc đời cả, vì vậy kinh Phật dạy rõ: “Trong phép tu chỉ có pháp tu tâm là đệ nhất”. Nếu mọi hành động, việc làm còn niệm vào tham chấp, mong cầu, vẫn duyên theo pháp bên ngoài, gọi là pháp hữu vi hoàn toàn ngoài chơn lý. Dù bên ngoài có hành động làm phước, dùng vật chất đem cúng dường bố thí nhiều bằng tam thiên, đại thiên thế giới, Phật nói cũng là hư vọng vì chưa làm gì lợi ích cho bổn tâm. Kinh Kim Cang Bát Nhã dạy: “Phàm sở hữu tướng như thị hư vọng”. Niệm Phật là niệm giác, biết thật sự đang sống với chánh niệm, sống bằng giống chánh là chánh giống Bồ đề.

Nguồn tư tưởng trống rỗng mọi nghĩ nhớ tính toan, tư tưởng là nguồn an lạc nhẹ nhàng, vắng lặng chính là tuệ sáng suốt đem lại lợi ích tốt đẹp cho bổn tâm, đã giác nên Phật hiện tiền, cõi tâm không còn các niệm trần sa là khách trần, là nghiệp chướng lừa đảo dẫn ta mãi rơi vào tam ác đạo. Danh hiệu A Di Đà Phật là tánh giác vô lượng quang minh nơi mỗi người, chiếu vào tận hư không biến khắp pháp giới. Quán tâm cũng là quán giới, thường quan sát khi niệm Phật, biết đã trừ được bao nhiêu tạp niệm, tức cõi lòng là đất tâm đã dọn dẹp được bao nhiêu cỏ dại, coi ta đã trả lại cho cuộc đời bao nhiêu tà niệm. Niệm Phật là thường tỉnh giác chọn lựa để thấy từng niệm khởi là thấy từng chúng sanh. Sự tỉnh giác là trí tuệ phát sinh. Nhờ xả dứt vô số niệm mê nên cõi lòng an tịnh, bản giác chiếu soi nên có Phật A Di Đà vô lượng quang đã thị hiện giáo hóa từng niệm là bảo hộ, hộ niệm, hộ từng chúng sanh hết thảy đồng giác ngộ. Tánh giác luôn giữ gìn từng niệm, từng niệm không hời hợt, không để chúng sanh là vô số niệm khởi duyên vào mê loạn, phàm cảnh, lúc nào cũng theo sát bảo hộ, giữ gìn không để niệm vào sai phạm, cõi lòng chánh minh, cao thượng, tánh giác tự bảo hộ vô số niệm tại lòng mình, mà còn giúp người chung quanh sáng suốt quay vào tánh giác. Chư Phật chính là các niệm giác thường sở hộ niệm khi duyên khởi, không niệm theo phàm tục, giữ chánh niệm là bước vào Bát chánh đạo. Tâm hiện tiền là Chánh kiến, Chánh ngữ, Chánh tư duy, Chánh niệm, Chánh tinh tấn, Chánh mạng, Chánh định, Chánh huệ. Con đường dẫn tâm vào đạo niệm Phật là pháp, là phương tiện. Như người muốn đi xa thì dùng xe làm phương tiện, khi có phương tiện phải bước lên xe, lên xe phải biết lái xe, ngồi vào xe phải biết lèo lái vào pháp niệm Phật, phải biết mục đích pháp niệm Phật để làm gì? Lèo lái con đường nào để tâm vào Bát chánh đạo, dùng chánh tri kiến để bước vào chơn lý. Nếu miệng liên tục niệm Phật mà tư tưởng còn đầy nghẹt các niệm thấp hèn, van xin, cầu khẩn, muốn được trăm vạn điều thọ hưởng thế gian thì nguồn tư tưởng vẫn sanh hóa đầy ắp các niệm tham lam, ham muốn tà tri, tà kiến, con đường ma đạo hư huyễn đó là phương tiện cho các niệm ác nghiệp dẫn ta niệm nhớ vào ba đường ác, địa ngục ngạ quỷ súc sanh đúng theo nhân quả. Dù kêu gào niệm danh hiệu A Di Đà đến rát cổ mà tư tưởng còn tăm tối cũng không siêu thoát hết phiền não, tham, sân, si, mãi mãi đất tâm vẫn đau khổ là địa ngục A-tỳ. Cõi tâm chưa an lạc thì chưa có cực lạc tại lòng, thế giới cõi bình an mà người niệm Phật hằng mong muốn tìm đến. Nếu xét nguồn tư tưởng là bản tâm còn chứa đầy niệm, chứa vô số danh từ ngôn ngữ thì cõi lòng vẫn triền miên não loạn, nhiều mê si, nhiều chướng ngại cho bổn tâm. Niệm Phật để nhớ tánh giác, bỏ tánh mê, xả bỏ vô số niệm dính mắc bởi danh từ, ngôn ngữ mới thoát được sự nhốt phạt, đày đọa vì vô minh từ vô lượng kiếp, vì vậy Tổ dạy:”Bất lập văn tự, tuyệt ngữ ngôn”. Trí tuệ giác ngộ biết chơn lý, biết nguồn gốc vô minh, nguyên nhân đưa tâm niệm vào khổ đau, đã sáng suốt tức thời buông xả thì cõi lòng thanh lặng, mới an vui hạnh phúc được sống với tứ vô lượng tâm là: Từ, Bi, Hỷ, Xả.

Hiện nay pháp môn Tịnh độ được nhiều người tu tập mong được về thế giới Cực lạc. Nếu tìm cực lạc cần sáng suốt tự cật vấn trí tầm lại sự mong tìm cho chính đáng rằng: “Có Thế giới Cực hay không?”. Kinh Đại Bát Niết Bàn nói : “Cực lạc chẳng phải có, cũng chẳng phải không!”. Tu theo chơn lý là: “Trực chỉ nhơn tâm”, nhìn thẳng trực chỉ quán xét vào tâm người mà tu, không nhìn bằng so sánh niệm pháp bên ngoài, không tu theo âm thanh  sắc tướng, có vạn pháp là do tâm tạo tác, mà vạn pháp quy về chỉ là tâm. Vì lẽ này kinh Đại Bát Niết Bàn nói : “Cực lạc không có mà cũng chẳng phải không!”. Trong Đại Tạng Kinh Bộ Trường A Hàm, trang 241, phẩm kinh Bố Tra Bà Lâu, Phật hỏi Phạm Chí có Sa Môn, Bà La Môn bảo rằng: “Có một cõi hoàn toàn an lạc”. Ta bảo họ rằng: “Các ông quả quyết có một cõi an lạc ư ?“.

- Họ đáp: Đúng thế.

 Ta hỏi lại họ: “Các ông có thấy, có biết một cõi hoàn toàn an lạc không?”.

- Thưa, không biết, không thấy.

Các ông đã từng ngồi, đứng, nói chuyện, tinh tấn tu hành với chư thiên cõi ấy chưa?

- Thưa chưa!

Vậy chư Thiên hoàn toàn an lạc ở cõi ấy đã nói với các ông rằng: Hành vi của các ông là ngay thẳng, chân thật nên ta sanh vào cõi ấy mà cùng vui với chư Thiên ở cõi đó chăng?

- Thưa chưa từng.

Các ông có thể khởi tâm niệm biến hóa, tự thân thoát ra thân tứ đại khác mà thân thể đầy đủ các căn không thiếu sót chăng?

- Thưa, không thể.

Này Phạm Chí, vậy lời nói của Sa môn, Bà la môn ấy có thành thực, có phù hợp với pháp không?

- Phạm Chí bạch với Phật:

Lời nói ấy không thành thật, là lời nói phi pháp, không phù hợp.

- Đức Phật bảo Phạm Chí:

Như có người bảo tôi tư thông với người phụ nữ đoan chính ấy, rồi ca ngợi người phụ nữ ấy, những người khác hỏi, ông có biết người phụ nữ ấy không? Cô ta ở chỗ nào? ở phương Đông hay phương Tây? phương Nam hay phương Bắc?

- Không biết !

Ông có biết cô ấy ở địa phương nào? Ở thành ấp, thôn, xóm nào không?

- Không biết.

Ông có biết cô ấy thuộc dòng Sát đế lợi hay thuộc dòng Bà la môn, cư sĩ hay Thủ-đà-la?

- Không biết.

Ông có biết cô ấy cao hay thấp, mập hay ốm, đen hay trắng, đẹp hay xấu?

- Không biết

Thế nào Phạm Chí ! Những gì người ấy nói có thành thật không?

- Thưa không!

Này Phạm Chí, các Sa môn, Bà la môn kia cũng như thế, họ không chân thật.

Này Phạm Chí, nếu có bắc thang chỗ đất trống, những nguời khác đến hỏi:

- Ông bắc thang để làm gì?

- Tôi muốn lên lầu!

- Vậy lầu ở đâu?

- Không biết !

- Thế nào Phạm Chí ! Người ấy bắc thang như thế chẳng phải là hư vọng ư?

- Phạm chí bạch đức Phật:

- Người ấy quả thật hư vọng.

- Đức Phật dạy:

Các Sa Môn, Bà la môn ấy cũng như thế, họ đều hư vọng, không chân thật.

Đức Phật đã nói rõ Cực lạc cho Phạm Chí như thế, nên hiện tại nếu người dẫn đạo gọi là Sa môn, Phạm Chí là người cõi trời đã hỏi và được Đức Phật trả lời, họ quả quyết sự thật có một cõi hoàn toàn an lạc gọi là cõi cực lạc bằng tưởng tượng hư vọng.

Nhưng Phật hỏi lại Sa Môn có biết, đã có thấy, đã từng ngồi, đứng, nói chuyện, tinh tấn tu định với chư Thiên cõi ấy chưa? Hành vi của Sa Môn tự cho là ta ngay thẳng, chân thật đã được vào vui chơi nơi đó chưa? Khi khởi niệm bỏ thân bằng niệm tưởng biến hóa, nghĩ nhớ vào cõi đó mà thân thể hiện đến nơi đó có đầy đủ các căn chăng?

Họ trả lời : “Không thể”, “không được” và tự xác định trước lời hỏi của Phật là điều tưởng tượng. Có cõi này bằng mơ hồ là hư vọng, phi pháp, không phù hợp, không thành thực. Phật thí dụ bằng tưởng tượng của một người mê sắc, mê người nữ bằng ảo tưởng cũng giống như ta mê cảnh Tây phương cực lạc bằng trí tưởng tượng, chỉ là sự đam mê, ham muốn, mờ mờ, mịt mịt của chúng sanh, không thực tế. Sự mong cầu riêng tư, muốn thông đồng vào ở cõi Cực lạc. Khi phát tâm niệm Phật, ý sanh khởi mong được đến cõi này, nên lòng luôn ca ngợi cõi Cực lạc, có đầy đủ các báu: xa cừ, mã não, san hô, lưu ly, hổ phách, vàng ròng, mà không có trí tuệ hiểu biết nguồn gốc cõi này ở đâu? Phương hướng nào? Cõi này đẹp xấu? Lớn hay nhỏ? Cõi này chứa dòng họ nào? Dân chúng ở đây tâm địa sang trọng hay thấp hèn, chỉ tin vào mộng ảo, mơ hồ, không thật. Nếu lòng còn niệm tham, sân, si, Phật nói là dòng hạ tiện, buông bỏ hết các niệm này mới trở lại giống dòng tôn quý. Ta niệm Phật là bắc thang lên lầu các cực lạc. Đại ý nói như nơi muốn đến mà không rõ nguồn gốc, lầu các cõi này ở đâu? Dù có niệm Phật thật nhiều cũng là niệm ngoài miệng, niệm vô ký vì không hiểu biết. Niệm Phật không sáng suốt, không nhìn thông suốt thấy được cõi tâm bằng tuệ trí, giống như bắc thang chỗ đất trống, không biết lầu nào để lên, không biết cực lạc nào để đến, mãi xây cực lạc bằng tưởng tượng, hư ảo, cõi vô hình không thật, khi cõi lòng không thí xả sạch vọng trần, tâm vẫn cực khổ, ưu bi, phiền não, chưa biết sự an lạc thì lầu đài. Cực lạc nơi tâm chỉ là hư vọng mãi mãi không biết chỗ đến, dù Sa môn hay Phạm Chí nói có cõi này nhưng Phật đã xác quyết “Các Sa môn, Bà la môn ấy cũng như thế, họ đều hư vọng, không chân thật, là phi pháp, không phù hợp, trong giáo pháp của ta không có việc như thế”.

Ta tu sửa là minh sát kỹ bổn tâm. Nếu thấy cõi lòng biết buông xả sạch các niệm tham, sân, si, danh lợi, ngã mạn, nhỏ mọn, ích kỷ, hờn oán, thấp hèn ... Sống bằng đức độ giữ hạnh từ bi, hỷ xả, bản chất tâm thuần tịnh, trong sáng thì cõi lòng sẽ an lạc, nhẹ nhàng. Vì đất tâm không còn chứa ác niệm, thì quốc độ này an lạc cùng cực không gì sánh bằng. Chính cực hiện “có” tại tâm rất rõ ràng, khi cõi lòng an lạc thực tế ta nhận biết không chờ xin ai, không cầu khẩn mong chờ ai  cho cả, tâm người này chính là thế giới Tây phương Cực lạc, cõi tâm của bậc Thánh nhơn. Nếu là bậc Thánh nhơn giữ gìn cõi nước là bổn tâm mãi mãi an ổn, bất thối, thường tỉnh giác thì cực lạc cõi tâm sẽ an lạc vững bền do  công phu thiền định bằng giới luật, giữ gìn để trang nghiêm cõi nước cũng là trang nghiêm bổn tánh. Nếu là Thánh nhân mà không tự giữ lấy quốc độ cõi tâm, khi niệm khởi không giới luật, không giữ chánh niệm, chợt mê, bất giác, duyên theo pháp trần, niệm sẽ vướng đọa vào cuộc đời, niệm sanh khởi có tâm buồn vui, thương ghét, ái yêu, đấu tranh, được thua, còn mất, đau khổ . . .thì cực lạc tại tâm công phu của Thánh nhơn hằng xây dựng bằng giới hạnh vì niệm đã rơi vào phiền đau, não loạn, niệm sanh trụ, tâm rớt vào cõi địa ngục A-tỳ. Kinh nói: “Thánh nhiễm Phàm trở lại phàm phu”. Mê nên mất Cực lạc “chẳng phải có, chẳng phải không” là như vậy.

Tâm như thợ vẽ, mọi ý niệm sanh có hành động giác mê thành tựu quả báo tại tâm “có”, “không”, các cõi y như tâm tạo vậy không hề sai khác. Người trí tuệ biết rành Cực lạc không phải có, cũng không phải không. Nếu có tài sản trí tuệ, đạo đức, sẽ xây dựng Cực lạc. Sự thừa hưởng thế giới này chỉ đến với người thông đạt chơn lý, giàu giới đức, mới trang nghiêm xây dựng nguy nga, tráng lệ cho cõi tâm được, không ngộ chơn lý thì không xây dựng được. Nếu tăm tối, si mê, sống không đạo đức, cõi lòng còn trĩu nặng sầu khổ, oán than, đó là cõi cực khổ A-tỳ, chính ta mê muội tự xây dựng từ cõi lòng, tự ta tạo lấy nghiệp báo. Phật nói: cõi Ta-bà là cõi tâm người mê loạn, điên đảo. Muốn đến Cực lạc là chỉ ngay vào lòng khi đã giác ngộ chơn lý, cách xa đến mười muôn ức cõi, rất xa, đó là phương tiện nói để chỉ vào tâm niệm, nguồn tâm niệm niệm, tuôn chảy mãi không ngừng như thác chảy. Nếu khởi niệm liền giác biết niệm niệm là hư vọng. Pháp đời biến hiện tâm thời, biết bằng tuệ trí sáng suốt, không duyên cho niệm khởi, cõi lòng vững vàng, an định, thì cực lạc hiện sẵn ngay sự giác ngộ nhanh như khảy móng tay, không còn nói Ta-bà đến Cực lạc phải qua mười muôn ức cõi, vì niệm niệm sanh khởi vẫn mê, mê mãi không hề giác, niệm nào cũng duyên theo, rất nhiều mười muôn ức niệm mê tức mười muôn ức cõi, khi dứt niệm là “vô niệm” thì dứt Ta-bà, Cực lạc hiện tiền trong nháy mắt. Cực lạc ở đâu? Đi bằng gì để đến đó? Cực lạc là trạng thái tại tâm người đã giác ngộ cuộc đời, lật đổ các niệm chúng sanh thường niệm nhớ vào đau khổ bởi phiền não tham, sân, si, trói buộc vướng mắc bản tâm. Tu tâm là xả bỏ hết các ý niệm này để đổi lại trí tuệ tự do, tự nhiên, trạng thái an lạc này gọi là cực lạc. Ta-bà ở đâu? Có phải tướng trạng hay con số mà ta thường nghe là nhiều tiểu thiên, trung thiên, đại thiên thế giới nhân lên thành tam thiên đại thiên ba ngàn thế giới không? Nếu chấp y danh từ số lượng này mà chẳng hiểu thấu ý nghĩa sâu sắc, thậm thâm vi diệu pháp là: “Y kinh liễu nghĩa tam thế Phật oan”. Vì vô trí không biết tường tận lý kinh, mãi chấp vào danh tự, ngôn thuyết theo lời quên ý không chứng ngộ bản tâm là nói: “oan ba đời chư Phật”. Mục đích Phật dùng danh tướng để phương tiện nói nguồn tâm chúng sanh niệm niệm mãi không dừng, mỗi niệm sanh khởi là một kiếp trụ, một kiếp là một thế giới, một thế giới có từ một niệm sanh, thế giới này chứa vô số quả khổ, nghiệp báo chúng sanh mê muội bị ràng buộc tác động vào bản tâm, vì phiền não không dứt, chúng sanh phải chịu đựng gọi là thế giới Ta-bà gồm: Dục giới là cõi đầy ham muốn, sắc giới là cõi mê vật chất, vô sắc giới là cõi mê tín sống bằng trừu tượng gọi là tam cõi. Mọi danh từ đặt tên cho cõi Ta-bà là danh ngôn, giả đặt, hàm ý chỉ sự khổ não, độc ác của con người. Nếu hiện tại quán vào tâm địa thấy có đau khổ vì các pháp cực tham, cực sân, cực si thì đất tâm này đang là thế giới Ta-bà cực khổ, cõi của dòng họ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, là dòng dõi thấp hèn, hạ tiện, tánh thường nô lệ cho chúng này. Vì mê nên bỏ trí tuệ quên mất chơn lý, chạy theo ngũ dục, tự ý khởi niệm làm ra có cõi Ta-bà ngay tâm địa hiện đang sống. Cực lạc cũng tự ý giác ngộ mà xây dựng có tại tâm, không Thần Thánh Phật Trời nào cho hay trừng phạt, ban phước hay giáng họa cả.

Nếu hiện ở cõi đời mà ý niệm xuất ly ra khỏi tam giới, nghĩa là buông bỏ hết mọi muốn ham, chấp thủ cuộc đời, không còn một niệm nhớ, đời sống không nô lệ sự cám dỗ bởi mê tín dị đoan, ý niệm này gọi là thường kiến ngoại đạo, là những chúng ma hành hạ làm ta mê loạn mất trí tuệ, ham muốn nầy là nguyên nhân đày đoạ tự huỷ diệt Phật tánh và huỷ diệt trí tuệ.

Từ Ta-bà muốn qua Tây phương cách mười muôn ức cõi, chúng sanh nơi đó lòng rất an lạc. Tây phương là danh từ chỉ vào trạng thái an lạc của bản tâm, ngôn từ dùng làm điểm chỉ trạng thái an vui. Con số mười muôn ức cõi không giới hạn xa gần, cõi đó sâu thẳm trong tâm, chỉ có phương pháp chánh quán thiền định tự liễu tri giác ngộ mới thấy được. Cõi này không có các điều khổ não hoành hành, chỉ toàn các điều vui, trạng thái tâm người này ở chỗ nào ở đâu thì cực lạc đó. Bản tánh này là chơn tánh tịnh minh, cõi Phật tùy xứ hiện, hiện ngay lòng chúng sanh khi thức tỉnh, cõi lòng khinh an giải thoát là cõi vắng lặng Thường Tịch Quang Cực lạc hay Ta bà tùy tâm hiện, phải thực hiện ngay đời sống. Ngày xưa Phật chánh đẳng, chánh giác, cõi lòng là Cực lạc Niết bàn, sống bằng trí tuệ cũng ngay cõi đời, Ngài dùng kinh nghiệm đã tự chứng ngộ đem ra giáo hóa chúng sanh. Vô số danh ngôn chỉ là giả đặt mà duy thức gọi biến kế sở chấp, pháp biến hiện do sở chấp của ý niệm, biết gạn tâm trong sạch sẽ chứng ngộ chơn lý trong nháy mắt, pháp đời vốn vô tướng vạn pháp là giai không, những gì có tướng hình đều không tồn tại.

Tất cả “có”, “không” đều do duyên tỉnh giác hay mê chấp, không ai có thể khấn vái, cầu xin, van lạy, cúng kiến khi cõi lòng còn chất chứa đầy ắp phiền não, tham si mãi mãi không có thế giới cực lạc nào mang về được cả. Kinh Đại Bát Niết Bàn ngoại đạo hỏi Phật : “Có niết bàn không?”. Phật trả lời : “Không phải có, cũng không phải không”. Ngoại đạo hỏi: “Đạo Phật khó như vậy sao?”

Phật trả lời: “Đạo ta rất khó biết được”.

Ngoại đạo nói: “Vậy Ngài có thể nói sao cho con hiểu được không?”.

Phật trả lời: “Được, ta sẽ nói cho ông được biết”. Ông nghe ta hỏi: “Vậy ông có trí khôn không?”

Ngoại đạo nói: “Bạch Thế Tôn! Có”.

Phật nói: “Vậy ông hãy đưa trí khôn cho ta coi”.

Ngoại đạo nói: “Con không đưa trí khôn cho Ngài coi được, nhưng con biết chắc chắn là có”.

Phật liền nói: “Như thế Địa ngục và Niết bàn của ta cũng y như vậy đó, vẫn có nhưng không chỉ cho ông thấy bằng mắt phàm tục được”. Qua lời vấn đáp Phật và ngoại đạo thì tất cả pháp “có”, “không” đều do tâm niệm. Khi cõi lòng an lạc sáng suốt, không còn rơi rớt niệm vào ác đạo, vô số tâm niệm thường hoan hỷ, tinh tấn thì đất tâm hiện là Tịnh thổ. Nếu niệm khởi duyên vào đau khổ, phiền não thì chính cõi tâm đó chính là cõi địa ngục xây dựng tại tâm mình. Nếu ai hiện giác ngộ thì cõi tâm đó là Niết bàn, Cực lạc. Lúc có hành động tức giận, sân si, phiền não, đất tâm sẽ não loạn, chính là địa ngục tại thế gian. Tỉnh giác biết rõ vạn pháp chỉ là duyên biến hiện, khi biết thấu sự thật cuộc đời sẽ không còn ái nhiễm, ái yêu, ham muốn, không vì lợi mà nghe theo sự bày biện cầu xin, van vái, nương tựa vào các ác niệm vô hình, vô sắc, niềm tin trừu tượng, mơ hồ ảo hóa. Tin theo Phật là tin vào thực tế khoa học, tất cả pháp đều do duyên hợp tan biến hóa, không thật có, cũng chẳng phải không, tùy duyên mà biến hiện hợp tan, đến đi thành hoại, không ở vị trí nhất định hay cố định thời gian nào cả gọi các pháp vốn vô thường chẳng “có “, chẳng “không”, không gì bền chắc cả.

Tổ Minh Đăng Quang dạy:

Chấp không chấp có rầy rà

Đến khi vô chấp mới hòa thuận nhau.

Tu là quán xét tâm niệm thật kỹ, coi các niệm mê si là các chúng sanh sa đọa vì mê chấp phải chết, có vãng sanh, thân hoại mạng chung chưa? Cần quán xét theo dõi từng niệm khởi còn sanh hay đã diệt. Nhiệm vụ này là việc làm của tánh giác, kinh dạy chỗ này rất kỹ. Vì mê, cứ chấp niệm theo sự tướng bên ngoài chấp thật thân, chấp có vật mà bỏ bổn tâm, cứ nghĩ rằng đến chết là bỏ xác thân mới vãng sanh. Đạo Phật là đạo tâm, nói trực chỉ vào tâm niệm không nói tướng hình, xác thân chỉ là dụng cụ có hành động bên ngoài đều do sự sai sử của tâm ý thiện ác. Khi ý niệm yên lặng thanh tịnh thì bên ngoài thân cũng yên lặng thanh tịnh, không có hành động nào, nói việc phát sanh đều do tâm ý, niệm vào pháp quyết định mà sai  khiến xác thân có lời nói, có hành động tất cả đều do tâm ý tạo tác. Vì lẽ này Phật dạy ta phải tu tâm, sửa tánh, giữ chánh niệm mới bảo toàn sự trang nghiêm đất tâm là tốt đẹp cho thân. Thật ra niệm niệm thường tuôn chảy, cần thấy rõ lúc nào niệm sanh, lúc nào niệm diệt. Đại Tạng Kinh, Trung Bộ Kinh, phẩm đại kinh Sư Tử Hống, trang 12 Phật nói với Sariputta (Xá lợi Phất) rằng: “Như Lai nhờ thành tựu mười lực, Như Lai tuệ tri quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các hành nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại, Như Lai tuệ trí như thật con đường đưa đến tất cả cảnh giới ( Trí nhất thiết đạo trí lực ). Như Lai như thật tuệ trí thế giới, mọi cảnh giới, nhiều chủng loại, nhiều sai biệt (trí thế gian có nhiều chủng chủng tánh lực). Như Lai như thật tuệ trí chỉ hướng sai biệt của các loài hữu tình, Như Lai như thật tuệ trí những căn thượng hạ của các loài hữu tình, loài người. Như Lai như thật tuệ trí, sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của các thiền chứng về thiền, về giải thoát, về định, Như lai nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều thành hoại kiếp, Ngài nhớ rằng: Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế nào, giai cấp như thế nào, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này, sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây, như vậy Như Lai nhớ lại nhiều đời sống ở quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy rõ sự sống và chết của chúng sanh. Như Lai tuệ trí rõ ràng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Các chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, về lời và về ý, phỉ báng các bậc Thánh theo tà kiến, những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xuống địa ngục. Các chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, về lời và về ý, không phỉ báng các bậc Thánh sống theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên các thiện thú, cõi trời. Trên đời này Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy rõ sự sống của chúng sanh Như Lai tuệ trí rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc tự mình chứng tri, chứng ngộ, thành tựu an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ Như Lai lực này Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sư tử, trong các hội chung chuyển pháp luân luận giải, giác ngộ vạn pháp là thành tựu trí huệ sống với bổn tánh bất sanh bất diệt gọi là Như Lai đã đầy đủ trí vô úy nhờ mười trí lực siêu phàm thoát tục, mười trí lực gọi là thập lực vô úy.

1/ Trí tuệ biết rõ chỗ sai đúng khi ý khởi phát ra, ngôn thuyết hoặc nghe người khác thuyết nhận xét có phù hợp theo chơn lý hay ngoài chơn lý gọi là khả thi hay bất khả thi.

2/ Trí tuệ biết rõ nghiệp báo ba đời.

3/ Trí tuệ sáng tỏ về các pháp tu thiền định giải thoát.

4/ Trí biết được căn cơ mỗi chúng sanh tự tâm mình và chúng sanh bên ngoài (vô hình và hữu hình) cao thượng hay thấp hèn, biết nguyên nhân có thế giới và yếu tố thành lập chúng.

5/ Trí tuệ giải thoát mọi kiến giải.

6/ Trí tuệ rõ biết mọi hoàn cảnh biết bằng thực tế, biết nguồn gốc sanh ra có chúng sanh.

7/ Trí tuệ biết phương hướng nhân quả hay biết sanh diệt tự nhiên của vạn pháp.

8/ Có thiên nhãn vô ngại.

9/Trí tuệ biết tiền kiếp quá khứ của mỗi chúng sanh.

10/ Trí tuệ là sức mạnh có khả năng đoạn trừ tạp khí và vô minh.

Đó là mười trí lực, sức mạnh thắng trí thành tựu Như Lai, trí thù thắng biết tất cả quả báo đều tùy thuộc vào hành động, tùy niệm chấp bởi tâm niệm con người do ý tạo tác sanh khởi là nguyên nhân sanh nghiệp, nhân quá khứ là tướng quả hiện tại, quả báo hiện tại cũng là nhân cho kết quả tương lai ba thời đều y như vậy. Như Lai là bản thể tinh minh chiếu soi khắp tâm địa, tri kiến bằng tuệ trí, thấy biết chơn chánh con đường nào là nhân bước vào chánh đạo hay tà đạo, quả sẽ tạo có cảnh giới để đất tâm có thế giới lành, dữ, thiện, ác. Như Lai là tuệ trí thường chiếu biết có vạn pháp có thế giới là do tâm niệm biến hiện, sự biến hóa sanh diệt do niệm thức biến hóa tùy thuộc vào lòng tham chấp vì cố giữ, hay biết buông xả, tâm thức mê hay giác mà hiện có hoàn cảnh, có thế giới khác biết bởi vô lượng căn tánh thiện ác không đồng. Người tu tập hiểu biết chơn lý mau lẹ, dễ dàng hiểu thông, am tường tự tánh gọi là thượng căn, thuộc dòng giác ngộ sang trọng, tôn quý, dòng giống này cõi lòng rộng lớn biết đem ánh sáng chơn thật làm lợi ích cho tâm địa mình và cảm thông với mọi người. Kẻ hạ căn thì ám độn, mê si, đất tâm còn chứa đầy ngút tham, sân, si, chấp thân, chấp vật, chấp người, chấp vui buồn thương giận là thật của ta. Bổn thể Như Lai biết rành vạn pháp là hư ảo, là tạp nhiễm trần sa, không khởi ý niệm chấp giữ, sống bằng bổn tánh định tịnh, ý vắng bặt mọi nghĩ nhớ, thiền mà không chấp pháp thiền tự chứng ngộ cõi lòng là chơn lý, biết vạn pháp là duyên sanh, biết rõ có các thế giới, biết nguyên nhân nào thành lập thế giới, biết căn cơ từng chúng sanh thấp hèn hay cao thượng, nơi cõi lòng thường sanh khởi bản giác chơn không vốn rỗng rang, thanh vắng không vướng bận dù chỉ một niệm tư lợi, sân si, không một niệm giận hờn trách móc viễn ly vô số ác pháp nên tâm địa không còn uế nhiễm, ràng buộc là thường nhập vào đại định, chánh quán xét từng niệm khởi, coi những niệm ô nhiễm quá khứ đã vãng sanh chưa? Thấy rõ từng một niệm khởi, hai niệm khởi, ba niệm khởi, bốn niệm khởi... mười niệm khởi... một trăm niệm khởi... môt ngàn niệm khởi... cho đến vô số, vô biên niệm khởi. Ý Phật nói là từ một đến nhiều đời đã qua thường thông suốt biết đó là nhiều lần ý niệm sanh rồi niệm diệt, thấy rõ gọi là chánh tri  kiến biết có khi niệm sanh vào chỗ ngạ quỷ là thế giới của chúng tham lam hạ tiện, sanh chỗ kia là cõi địa ngục vì niệm rớt vào chúng phiền não dòng họ thấp hèn. Khi tuệ trí thấy ý khởi muốn làm lợi ích cho chúng sanh, dẫn dắt mọi người đến chỗ sáng suốt, hành động xuất phát là cứu khổ ban vui, đó là giai cấp dòng họ tôn quý, hành động có danh gọi là Bồ tát, lòng cao thượng đã xa lìa mọi xấu ác, chỗ đến an lạc cho ta và cho người đều thọ lạc, cõi lòng ta và lòng người đều cảm thông hoan hỷ không ai lợi dụng ai cả. Khi niệm không còn ràng buộc vào danh ngôn là tên các pháp thì bản giác rỗng rang bởi những danh ngôn này. Không dính dáng hay liên quan gì đến Như Lai cả, thường sáng suốt trí huệ liễu tri, làm chủ vạn pháp niệm sẽ không rứt đọa vào ác đạo thì nguồn an lạc là tuổi thọ cùng cực bản giác, không tăng, không giảm, thường biết niệm khởi mà bất giác là chợt mê. Sẽ mất trạng thái cực lạc niệm liền sanh vào cõi khác hoặc vào cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Niệm đã biến đổi hóa hiện vào cõi khác, niệm này chết thì niệm khác sẽ sanh, quán tâm địa sẽ biết rõ từng chi tiết, biết hoàn cảnh lớn đến việc nhỏ không thiếu sót, có hành động là do niệm, niệm niệm khởi là vô số chúng sanh luân hồi sanh tử sáu căn là điểm phát xuất để nói đến mười tám tầng địa ngục, sáu căn là sáu địa ngục khi tiếp nhận cộng thêm sáu trần cộng sáu thức biến hoá là mười tám điểm tựa, mười tám nguyên nhân tạo có đau khổ làm uế nhiễm đất tâm gọi là mười tám tầng địa ngục. Như Lai có thiên nhãn là trí lực thứ tám trong thần lực thiên nhãn, vô ngại tuệ trí thấy niệm niệm là mỗi mỗi chúng sanh thường sanh khởi vô số chúng sanh niệm vào ích kỷ, tham  đắm, sân si, độc ác gọi là chúng sanh hạ biệt, thấp hèn, thô xấu, tự giác là buông xả không vướng mắc pháp đời, sống từ bi hỷ xả là niềm hoan hỷ, may mắn đẹp đẻ, sang trọng, cõi lòng bậc cao thượng, có người có cõi, có thế giới đều do hạnh nghiệp sanh tạo bởi ý niệm qua thân khẩu, ý sanh sanh, hóa hóa thiện lành hay ác hành, niệm vào tâm tối chạy theo thế gian lam điều quấy ác, theo danh lợi quen lãng những quang minh trí tuệ, sáng suốt nơi tâm địa, là quen bỏ xa lìa các bậc Thánh, sống tà kiến, tà hạnh phải đọa vào cõi dữ ác thú, đọa xứ là cõi địa ngục. Thánh là danh từ chỉ vào hào quang giác ngộ tại lòng người, là những quang minh sáng suốt sẵn sàng rọi rọi giúp ta biết vô số điều tốt đẹp, cần chánh quán đừng che bai, phủ nhận lòng ta, cứ chạy tìm Thánh bên ngoài bằng hình tướng, âm thanh vọng tưởng. Ai giác sống với hào quang sáng suốt tại lòng mình thì người đó có danh gọi là bậc Thánh nhân. Mạng sống là chơn lý, chánh mạng đã vào đường đạo bát chánh, vào đường này là chánh định, mọi niệm ác sẽ thân hoại mạng chun. Biết thấy rõ này là trí lực thứ nhất trong thập lực, biết rõ chỗ sai đúng, phù hợp chơn lý, tự chứng rõ cõi lòng, biết rõ bản tâm đã xa lìa ác niệm, sanh vào thiện thú hoặc phước báu cõi trời hưởng an lạc ngay cuộc sống trong đời. Trí tuệ bậc siêu nhân đối với cõi đời hay xuất ly cõi đời đều là sự nghiệp, tài sản trí tuệ. Thường chánh quán cõi tâm thấy thật rõ sự sống chết, sanh diệt của từng tâm niệm gọi là thấy từng chúng sanh mới có cơ hội hóa giải chúng sanh, có đủ căn cơ, trình độ, tâm lượng khác nhau mà kinh đặt tên là Ngũ thừa, gồm nhân thừa, thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên giác thừa và Đại thừa.

Người tu tâm sửa tánh là đoạn lìa các ác niệm, quyết buông xả hết dục niệm tham ái, phiền não vô minh, ngộ nhập bổn tánh chơn như vốn trong sáng, trí huệ vô biên biết gốc của vạn pháp là duyên hợp tan, huyễn tạm, chứng thật sắc thân cùng vạn vật vốn giai không, đạo giác là sự tỉnh thức liễu thông ngay đời sống, làm chủ vạn pháp bằng tuệ trí, thấy chính xác cõi lòng không vướng bận, trói buộc vào mê đắm cuộc đời, tự làm chủ bổn tâm là phá vỡ vô minh, đoạn trừ tập đế phiền não đó là trí lực thứ 10 trong thập lực, thần lực oai dũng, đại hùng, đại lực, đại từ bi, chơn lý xuất hiện là tiếng sư tử hống thường chuyển pháp luân, cùng đầy đủ chúng hội tụ, gồm tất cả chư Thiên, La hán, Bồ tát chúng, Trời Người, chúng Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục, A-tu-la, Càn-thát-bà... Như Lai là đại năng lực chiếu soi bởi đại trí lực thông suốt bất tư nghì, thấu đến vô tận pháp giới không ngừng nghỉ.

Tự giác sáng suốt biết rõ bổn tâm, biết sự diệt sanh từng tâm niệm. Khi niệm đã diệt là chúng sanh chết, bậc trí tuệ biết rất rõ giờ khắc sự vãng sanh, thoát hóa mỗi niệm gọi là chúng ác lâm chung, bệnh khổ khỏi mình nên đã nhận biết tánh minh. Tánh minh là tánh Phật, tánh giác của mỗi người. Niệm khổ là bệnh, mê loạn, điên đảo, cũng không trìu mến chuyện tình thế gian. Thế gian là phiền não, hận thù... Các niệm này khi vãng sanh thoát hóa thì chơn tánh linh diệu sẽ hiển bày, tánh linh diệu đã khai sáng bản tâm không còn tánh tham, tánh nóng nảy, tánh tự cao ngã mạn, tánh ích kỷ nhỏ mọn, tánh xiểm nịnh. Mọi ác tánh đã mạng chung, siêu thoát, không còn khởi sanh niệm nhớ lại nữa, đã thực sự viễn ly mọi ái dục. Tánh giác là chủ nhơn ông, làm chủ tất cả, không nô lệ cho một niệm nào cả, đó là thể tánh tịnh minh, thường chiếu.

Niệm Phật chỉ nhớ một niệm giác, quên tất cả mọi tạp niệm vì chúng là nghiệp chướng trần sa. Ngoại ma thường quyến dụ chúng sanh từ vô lượng kiếp. Niệm Phật là nhớ tánh giác, là nhớ vô lượng quang, hào quang trí tuệ, biết những chướng nghiệp này có vãng sanh đã chết chưa? Khi biết chúng đã chết không còn một niệm sanh nhớ lại nữa là biết ngày xưa ta rất nóng, mà bây giờ tánh nóng đó đã chết, chính là Biết Giờ Biết Khắc Rất Rõ, niệm giận hờn, thù oán, phiền não, tham sân... đã chết hết, đã vãng sanh, không còn sanh khởi nữa, tất cả đã siêu thăng Tịnh độ, sự sanh tử diệt sanh không còn, đất tâm là Tịnh thổ, cõi lòng đã vắng lặng, người quán tâm biết giờ khắc nào chúng ác vãng sanh không hề sai sót. Nhìn thẳng là trực diện bản tâm, coi những ác niệm thường đọa lạc ở cõi lòng có vãng sanh chưa? Tự biết tâm có an lạc không? Tánh giác có thường gìn giữ khi niệm khởi cho trong sạch không? Hộ niệm là giữ gìn, bảo hộ chánh niệm cho vãng sanh ác niệm, tà niệm ngay lúc còn sống không chờ đến chết là bỏ xác thân nầy mới vãng sanh. Ngày xưa, Đức Phật đã vãng sanh các niệm mê lầm khi còn tại thế, chứng đạo tâm ngay Bồ đề tâm, Ngài ngộ chơn lý bằng phương pháp thiền định, biết rõ ngày giờ nào càng rõ hơn là lúc sao mai vừa mới mọc. Ngài chứng đủ tam minh, biết lúc nào cõi lòng minh tường, an lạc, bình thản. không còn não loạn, những tham ái sân si. là chúng ma đã bị sức mạnh trí lực thứ mười trong thập lực đoạn tận, thật sự đã chết vì Ngài nhận rõ nguồn gốc của chúng là dòng họ hạ tiện thấp hèn, không để tâm nô lệ cho chúng nữa. Kinh nghiệm này là tự giác chánh minh, chánh đẳng, chánh giá. Tâm địa Ngài hiện là Niết bàn ngay Ta bà, lòng quảng đại rộng lớn, tự do không còn bị pháp đời ràng buộc gọi là Cực lạc nhàn an. Các chúng hạ tiện độc ác, thấp hèn là vô số niệm đã giác nên không còn ở trong dòng họ nô lệ cho ngũ dục, đồng giác ngộ trở về dòng họ tôn quý Sa Môn là dòng họ Giác. Đức Phật tự xóa bỏ mọi giai cấp, từng tâm niệm ngay cõi lòng, tất cả chúng sanh đều bình đẳng giác, không còn nói hạ tiện hay tôn quý nữa. Tự tánh là trí tuệ vô lượng quang, vô lượng thọ, vô lượng công đức, là ba yếu tố cần thiết để trang nghiêm cõi Phật, thọ nhận tất cả chúng sanh mà không để một chúng sanh nào thọ khổ. Tất cả đồng tự giác bình đẳng nên có kinh Đại thừa là xe lớn chở tất cả chúng sanh là vô lượng thọ, bỏ tất cả các niệm là Trang Nghiêm, đất tâm trong sạch là Thanh Tịnh, vô số vô biên tâm niệm là vô số vô biên chúng sanh đồng giác là Bình Đẳng Giác. Kinh là trí tuệ có hành động từ vô lượng công đức mà thành tựu. Gươm vàng trí tuệ thập lực là sức mạnh Phá Ác, Bố Ma. Phật đem kinh nghiệm đã tự chứng ngộ bản tâm, độ chúng sanh suốt 49 năm dài giáo hóa chúng sanh bằng đạo toàn giác ngay cuộc đời, không đợi đến tám mươi tuổi mới vãng sanh hay đến lúc bỏ xác thân cõi lòng mới an lạc, lúc sắp bỏ cõi lòng mới an lạc, lúc sắp bỏ xác thân cũng không ai hộ niệm cho Ngài cả. Ngài đã tự giữ gìn, bảo hộ cho từng tâm niệm khi biết sanh khởi. Ngài sử dụng sức mạnh mười trí lực, thường xuyên giáo hóa, khi niệm niệm vừa phát sinh đưa tất cả chúng sanh này vào Cực lạc, nên Niết bàn Đức Phật chứng ngộ tại Bồ đề tâm ngay cõi đời hiện tại, không đợi đến chết mới nhập Niết bàn như trí phàm tục đã nói. Phật đã từng giác ngộ, thường ở trong đại định Niết Bàn chơn như, sống bằng tinh thần buông xả, bỏ hết mọi trạng thái trầm luân, viễn ly mộng tưởng điên đảo. Xả vô số ảo vọng, hư huyễn, xả hết mọi ác trược, phiền não trược. Đức Phật là đại trí tuệ, đại quang minh trùm khắp pháp giới, chủ vạn pháp mà chẳng trụ một niệm thế tục, tự tịnh, tự giác trước các pháp không hệ lụy gọi là đức giải thoát. Tất cả chúng sanh đều bình đẳng, chẳng nói Thánh Phàm. Khi sáng suốt, bỏ tham, sân, si, độc ác, giúp đời, giúp người thực hành từ bi hỷ xả gọi bằng danh từ “Thánh” hay “Bồ tát”, còn mê muội khởi niệm duyên theo trần danh từ gọi “phàm phu”, hai danh từ nầy dùng để chỉ một con người, đổi thay danh từ chỉ vì mê hay giác mà có tên gọi khác nhau, cả hai danh  từ đều không thật. Tu sửa tâm là tự giác, buông xả tham, sân, si, phiền não thanh lọc tâm cho mỗi ngày càng trong sạch, nguyện bất thối tự độ, quyết nâng trình độ giác ngộ, giác tất cả hữu tình gọi là đức Bồ tát thường giáo hoá từng niệm, quán xét các chúng sanh biết còn hay đã chết để cứu họ, cõi lòng có vô số chúng sanh vô hình, bên ngoài cũng có vô số chúng sanh hữu hình .

Nếu niệm khởi ham bên ngoài là chấp trần, niệm khởi ham bên trong là chấp thân, niệm khởi ham thấy nghe là chấp tâm niệm theo lục trần là theo dục giới, niệm theo hình tướng là theo  giới, niệm so đo tưởng tượng là vô sắc giới tất cả pháp đều là hư vọng, chúng sanh thường huân tập trong tam cõi. Quán xét vào tâm thấy còn niệm độc ác thì hiện tiền tâm nầy là cõi địa ngục, còn niệm tham là cõi Ngạ quỷ, còn niệm phiền não hiện thân là cõi súc sanh.

Khởi tu có 2 hạng:

1/ Lòng kiên quyết với chí nguyện thù thắng tu hành để mở mang trí tuệ, tu tâm sửa tánh, giải thoát mọi phiền trược thế gian gọi là xuất thế.

2/ Tu bằng cách ham làm bố thí, cúng dường mong được phước báu thế gian. Nếu đem của cải làm phước mà cõi lòng vẫn còn ham muốn đòi được trả lại vật chất, hạnh phúc được ban ơn, được sung sướng sang giàu cho đời sắp tới thì hiện thân nầy chưa dọn dẹp hết sự muốn tham mà lại ham cho thân sau nên tánh tham không dứt được, nếu không sáng suốt dù làm phước rất nhiều mà không được đền trả thoã mãn những điều cầu mong thì khởi thêm niệm phiền não, sân si, bất mãn, hành động tốt đẹp mà lòng còn đầy ắp ô nhiễm vẫn chưa làm lợi lạc gì cho bản tâm cả, vẫn là chúng A Tu La.

Danh ngôn Bồ tát là danh hiệu chỉ vào một con người, khi niệm niệm khởi đều sáng suốt biết lìa khỏi mọi ràng buộc thế gian, khả năng nhận các sự vướng mắc bằng trí tuệ mà mỗi người đều có sẵn, nếu niệm niệm khởi điều giác, kinh nói đó là   Chư Bồ tát di bạn lữ “, các Bồ tát là những luồng quang minh của nguồn trí lực chiếu soi chánh quán thấy các chúng sinh là các niệm thấp hèn, hư vọng đã chết, không còn luân hồi niệm lại nữa, cõi lòng vắng lặng vô biên phiền não đã siêu thăng thì hiện tại đất tâm là cực lạc, cõi tịnh nhàn vui, đã biết rõ chúng ác đã vãng sanh gọi là: “ Chết biết giờ, biết khắc” không đợi lúc bỏ xác thân mới là vãng sanh, đạo Phật nói về tâm không nói thân tướng bao giờ, khi thân tứ đại tan rã chẳng còn gì nói đến mà tâm niệm là ác nghiệp, luyến ái, tiếc thương là chướng duyên sẽ dẫn chúng ta luân hồi vào ác đạo, bỏ xác thân mà các niệm tưởng tham, sân, si, ái nhiễm, sân hận, thương yêu, tiếc nối chưa buông xả mà chúng vẫn còn sanh, thân xác rã tan mà chúng ác ma tại lòng vẫn chưa chết, chưa vảng sanh, còn quấy rối cõi lòng thì sức mạnh oan gia nầy dẫn người mê luân trầm đến vô lượng kiếp không thoát sanh tử được, tu tâm là trực chỉ nhơn tâm, không chấp vào tướng trạng bên ngoài thân xác mà cho là vãng sanh, vị lương y cho bệnh nhân uống lầm thuốc chỉ làm hại chết một người, còn vị dẫn đạo sai chơn lý sẽ hại thế hệ nầy cả đến thế hệ về sau , làm hại chết trí tuệ, đày đoạ tinh thần tối tăm mãi mãi, đạo Phật rất sâu kín, khó tin , khó biết, khó giác, nên khi Phật thành chánh giác Ngài muốn vào Niết bàn vì thấy giáo pháp thâm sâu, cao vòi vọi, khó truyền dạy, thế nên Ngài diệu dụng dùng danh từ, ngôn ngữ, pháp tướng làm phương tiện dẫn chúng sanh trực chỉ vào tâm, để dọn dẹp tu sửa bản tâm cho trong sạch, thanh cao, an ổn, nên kinh Pháp hoa, trong hội Linh sơn Phật nói rất rõ:” Ta thị hiện đến cõi đời vì đại sự nhân duyên, đến để chỉ cho chúng sanh thấy lại tánh Phật chính mình, tánh Phật vốn “ vô tướng “ nhưng thật tướng, tu chánh niệm là không niệm dựa vào âm thanh, hình tướng mới là vô tướng, để tránh sai lạc làm điên đão, suy thoái tinh thần tu sửa lại con đường vào tâm gọi là tìm đạo tâm, cần hiểu biết ý niệm hiện tại mục đích sẽ làm gì? Ích lợi gì cho tâm nếu rõ biết hành động đang sinh khởi, chọn lựa nhận thấy chơn lý hay ngoài chơn lý mà thực hành là sống bằng trí tuệ sáng suốt tự làm chủ bản tâm, làm chủ tội phước, thiện ác rõ ràng, không hành động theo mê muội, tư tưởng tối tăm vì vô minh của mình hay theo lời nói, hành động vô minh của người khác, tự ta làm chủ tâm ta để không tự làm khổ mình, còn làm khổ người khác vì cõi lòng chưa xả hết tham sân si mê tối. Thường biết từng niệm khởi gọi là biết từng chúng sanh ngay tâm địa, thấy vô số chúng sanh là vô số niệm phiền não vô hình đang đau khổ, bên ngoài cũng có vô số chúng sanh hữu hình. Chúng trong tâm là chúng địa ngục niệm niệm cứ sanh khởi vào tham lam, đòi hỏi khổ đau là chúng cõi Ngạ quỷ, còn niệm ham muốn là chúng cõi súc sanh. Đất tâm cũng có vô số chư Thiên, Bồ tát, Phật vào con đường thiền định, mục đích là thấy rõ từng chúng sanh còn lạc loài, đoạ đày khổ sầu trong địa ngục A tỳ là cõi vô minh tăm tối. Thiền định cũng thấy được chúng giác ngộ là những niệm sáng suốt biết lìa điều quấy ác là chúng chư Thiên, Bồ tát chúng, tất cả đều có tại tâm nên Lục tổ nói:” Trong tâm có tất cả”, thường giác dùng tuệ trí, tuệ oai quản giáo tất cả chúng sanh ngay cõi lòng, đừng để chúng làm não loạn bản tâm, cõi lòng người giữ đạo nhân biết giữ gìn ngũ giới, hiếu thảo cha mẹ, kính trọng tam bảo, thương kính Thầy tổ, yêu mến bạn bè, những hành động nầy đều xuất phát từ ý niệm, thực hiện được đạo nhân nầy đều do các chúng ngay cõi lòng, là các niệm tỉnh giác quyết định, tuyệt đối sống bằng chánh giáo để giữ gìn tâm niệm không quên bỏ, không hời hợt xem thường mới tròn đủ giới luật để làm người, chúng giác ngộ biết đời là tạm giả, tuy hiện ăn ở sinh sống cõi nầy dù sang giàu, danh vị hay nghèo nàn, cơ cực, tất cả lúc đến chỉ tay trắng, đến lúc bỏ xác thân nầy cũng trắng tay, chẳng gì thật là của ta cả, đã biết sự thật đến rồi đi của cuộc đời, lòng không còn cố chấp, giữ gìn nên bản tâm rất an ổn bằng lòng mọi hoàn cảnh dù khổ hay vui chẳng oán than, buồn trách hoặc van lạy cầu xin mong được ai tặng cho hay ban bố cả, chỉ biết đem năng lực ra làm tốt đẹp cho đời, chẳng cầu tư lợi, người đức độ nầy có danh gọi là: “ Đức Bồ Tát”, đã giác ngộ chơn lý, rồi đem kinh nghiệm sáng suốt giáo hoá làm lợi ích khắp nơi, sống bằng hành động an lạc, hoan hỹ cho mình và cho khắp mọi người.

A Di Đà cũng là tự tánh chính ta, Di Đà không phát sáng vì phiền não trần lao là mây vô minh đen kịt, tham, sân, si, tự cao ngã mạn độc ác che mờ, là những vầng mây tăm tối che mờ quang minh, A Di Đà là bổn giác là đèn trí tuệ quang minh soi đường, là tự tánh vô lượng quang sẳn sàng thường chiếu rọi, đèn trí tuệ quang minh giống như tướng duỗi cánh tay dài chờ tiếp dẫn các niệm mê, kêu gọi “ A Di Đà Phật” là kêu gọi tự tánh cứu vớt, như mẹ chờ gặp con thơ lưu lạc từ lâu, chờ tiếp rước các chúng sanh đau khổ ra khỏi rừng mê biển khổ đem về cõi an  lạc, yên vui tây phương tịnh độ. Ta phải là chủ nhơn, ông chủ nhà tâm biết trong nhà ta có bao nhiêu chúng đã giác, còn bao nhiêu chúng tham lam, bao nhiêu chúng phiền não, bao nhiêu niệm là bao nhiêu chúng đã được dạy dỗ, bao nhiêu niệm còn si mê khổ sở, ta tu làm chủ tâm phải tự cai quản vô biên chúng sanh, vô tận phiền não không để chúng ăn gian, ăn dành, ăn giựt, ăn mạng, ăn trộm, ăn cướp làm não loạn tâm địa, muốn cai quản giáo hoá chúng sanh thì lúc chúng sanh khởi có niệm tham, giận, tức, buồn cần tự thấy rõ hết lòng dùng đức từ bi mà khuyên giải, tự dạy dỗ họ, mở lòng bố thí xả bỏ tất cả ác niệm nầy ra khỏi bản tâm là biết cai quản đất tâm, giữ gìn cõi cực lạc, tự giữ gìn quốc độ ngay lòng ta bình an, không còn loạn lạc, quán xét nghe âm thanh nơi quốc độ ta không còn tiếng khổ não, oán than thì cõi nước ta là cõi lòng mới tịnh thổ đất tâm trãi bằng vàng ròng không còn chen lẫn tạp niệm làm ô uế quốc độ. Người gìn giữ tâm, đừng bảo thủ rằng ta đã hết tham lam, hết giận, hết sân si, hết phiền não, các niệm nầy là vô lượng chúng sanh trú ẩn ở tại tâm, thường sanh cõi là thói quen nghiệp  tàng trữ nhiều đời, mỗi khi khởi niệm cần nhanh chóng biết mà thí xả, sự biết nhanh chóng đó là các niệm đã giác gọi là chư Bồ tát tại tâm kịp thời giáo hoá dạy dỗ, Bồ tát và chúng mê muội cũng là thân bằng quyến thuộc nhiều đời từng sống chung quen biết từ vô lượng kiếp, các niệm mê cũng là cửu huyền thất tổ từng tới lui luân hồi trải qua nhiều kiếp khổ cùng khổ, vui cùng vui, các Bồ tát khi đã giác cần độ họ, kềm giữ khi mỗi niệm sanh không duyên khởi theo phàm tục làm điều bất nhân trái đạo, mất đạo đức, đức độ nầy là độ khắp chúng sanh, mà không thấy chúng sanh nào độ, sự giáo hóa kềm giữ tâm nầy nhà thiền gọi là “Chánh định”, niệm khởi đã an định biết dừng không chạy nhảy loạn lạc gọi là” Nhất tâm bất loạn” là “ Nhất niệm”, niệm khởi chư Bồ tát sáng suốt giữ lại vì được giáo hoá không phan duyên gọi là “niệm“, mà “vô niệm”, không phải tâm hết tham sân si mà sáng suốt hết gìn giữ nên Tổ nói “ không sợ mê chỉ sợ giác chậm”, thường ấn giữ niệm dần dần thành thói quen, cho ác niệm là tà ma không làm não hại cõi cực là nơi “an dưỡng quốc” được vô lượng quang minh chư Bồ tát giữ gìn bằng trí tuệ đạo đức, giác ngộ tức là thường sống bằng Bồ tát tánh, việc làm gọi là Phật sự đưa rước vô số chúng sanh qua bờ giải thoát. Cực lạc không ở đâu xa, cực lạc chính tại lòng ta, vì mê không biết tìm xa bên ngoài, niệm Phật mục đích là chỉ niệm nhớ tánh giác, bỏ hết tạp niệm mê lầm, dạy dỗ các chúng sanh là vô số niệm thế gian cho cõi lòng an lạc thì hiện tiền tâm là cực lạc nhờ vô lượng công đức tự tích luỹ là tài sản của chư Phật, nương pháp bảo là Thánh tài mà xây dựng thế giới cực lac, buông xả cõi ta bà từ lâu vì vô minh phải đoạ chìm nơi rừng tối, nhờ đèn trí huệ là “ Tâm đăng”, nguồn sáng chơn lý quang minh soi đường dẫn lối mới có cơ  hội ra khơi bóng đêm dày đặc, trí tuệ giống như người thấy đường phải nhờ mắt tu mà không trí tuệ giống như kẻ mù, khó thấy được phiền não, nhờ trí tuệ chói rọi khi phiền não sanh liền ngăn chặn giữ gìn không để cho chúng quấy rối làm loạn tâm, danh hiệu A di đà Phật là hàng rào giới luật chặn đứng, không niệm theo dục vọng là không nuôi dưỡng cho chúng ma lớn mạnh, hoành hành. A di đà Phật là vũ khí “ sát tặc, bố ma” tiêu diệt giặc tâm phá ma đạo tặc, nếu không diệt trừ chúng sẽ phá tiêu nước cực lạc, thì cõi lòng khổ não vô cùng, chúng dẫn ta bỏ nhà cực lạc vào chốn “ khổ ải vạn trùng ba” nên cần gấp rút” Tảo gấp niệm Di đà” đừng mê lầm cầu xin được vào thế giới nào cả, tự cầm đèn trí tuệ có sẳn mà soi đường tự cứu tâm mình cho minh bạch. Người cõi cực lạc dù thân đang ở hoàn cảnh khổ sở mà lòng vẫn giữ an lạc, bình thường, chẳng đòi hỏi cầu mong xin được gì, quyết giữ bản tâm là tự giữ quốc độ cõi nước tâm mình lòng chẳng nao núng, vui khổ. Người cõi lòng là địa ngục dù sống trong hoàn cảnh giàu có, sung túc, sang trọng nhiều tiền lắm của, kẻ hầu người hạ, uy quyền chức vị mà lòng mãi sợ sệt, âu lo phiền não vì hơn thua cố chấp, hờn ghen, tranh giành mãi mãi tâm vẫn là địa ngục khổ đau, hưởng thụ bên ngoài chỉ là tướng hữu vi, không an lạc cõi lòng, hết duyên cũng tan hoại bởi định luật vô thường. Pháp môn niệm Phật hay pháp môn tu thiền hoặc bất cứ pháp môn nào mục đích là trang nghiêm tâm địa, sửa soạn tu bổ cho đất tâm rỗng rang, tịch lặng mới là “pháp tu tâm đệ nhất”, giàu có mà tâm chưa tịnh lòng chưa an ổn vẫn là đau khổ, nghèo nàn mà lòng vẫn an vui không não loạn thì tâm nầy là “ đệ nhất”.

Khi thực hành pháp tụng kinh đừng khởi ý niệm tụng kinh nhiều là tu nhiều, kinh là phương tiện là thuyền bè, kinh như ngón tay dùng để chỉ cho ta thấy được trăng, kinh là ngón tay, tri kiến Phật là thấy trăng, là thấy tánh giác, đừng mê pháp là mê ngón tay mà bỏ quên trăng, là bỏ quên tánh giác, trăng là tánh giác mới sáng, ngón tay là kinh, là phương tiện là tha lực giúp ta sáng suốt, ngày xưa ông Pháp Đạt bạch với Tổ Huệ Năng, bạch thầy” con đã tụng ba ngàn bộ Pháp hoa, như vậy có tốt không” Lục Tổ nói “ Ông tên Pháp Đạt mà không đạt pháp, nếu đạt pháp thì tốt. Còn không đạt pháp thì không tốt” nếu tụng kinh nhiều mà không hiểu biết thông đạt ý kinh. Không làm sáng tâm thì chẳng đem lợi ích gì cho tâm cả, tụng kinh mục đích là “ thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển”, kinh Pháp hoa có nhiều ý Phật thí dụ như cõi nước đó là cõi cực lạc, có vô số đền đài nguy nga tráng lệ là pháp dụ cũng như kinh vô lượng thọ Phật nói, cõi cực lạc là cõi tâm, người đã từng trang nghiêm có vô số sa cừ, mã não, san hô, lưu ly, hổ phách, vàng ròng, là vô pháp bảo tôn quý thầm chỉ tứ vô lượng tâm, bát chánh đạo, thất bồ đề phần, lục độ ba la mật . . . đều là Thánh tài, tài sản là vô lượng công đức đã tích luỹ bằng trí tuệ, pháp ẩn dụ là phương tiện Phật đã dùng thần thông trí tuệ hoá hiện có pháp tướng để giáo hoá dẫn độ chúng sanh, con người sự quý báu nhất là đạo đức, đức hạnh nầy quý hơn vàng ròng, làm người biết đem hiếu thảo với cha mẹ, vợ chồng chung thuỷ, kính yêu mọi người, tôn kính tam bão, trọng ơn Thầy tổ thì đạo đức nầy quý hơn vàng, có vàng cũng không đổi được đạo hạnh nầy gọi là “ tấm lòng vàng” Phật phương tiện mượn tướng của vàng là vật quý, thế gian làm pháp tướng ẩn dụ chỉ cõi cực lạc là chỉ vào tâm địa trong sạch, không còn một tạp niệm, đất tâm trãi bằng vàng ròng không lộn tạp chất thế gian, cõi nước an lạc thanh tịnh nơi con người biết bảo vệ bản tâm, người sống bằng tấm lòng cao thượng, giác ngộ gọi là vô thượng chánh đẳng, chánh giác, vô thượng là cao  tột không thể nghĩ bàn, chánh giác là tuệ trí sáng suốt, biết rõ vạn pháp bằng đức tin chơn chánh, đã vượt qua tâm niệm thấp hèn, xoá bỏ giai cấp hạ tiện là xoá bỏ mọi ác niệm, bỏ các hạt giống thường chịu nô lệ cho ngũ dục, sống bằng Thánh tài , giàu sang là tài sản trí tuệ, dòng họ Trưởng giả, vua chúa giàu đạo đức vượt lên dòng dõi sa môn giác ngộ, không còn phân biệt hạ tiện hay tôn quý mới là chánh đẳng, chánh giác, Đức Phật thị hiện đến xứ An Độ xoá bỏ mọi giai cấp con người bên ngoài tiêu biểu bằng sự tướng, Ngài muốn dạy con người tự giác, quán xét bản tâm sáng suốt, xoá bỏ các niệm u mê là hạt giống vô minh từ lâu chịu sai sự nô lệ của cuộc đời là các chúng sanh tham, sân, si, hèn hạ mãi đày đoạ khó thoát khỏi khổ đau, tất cả mê loạn nầy tự lòng giác ngộ giáo hoá, tự xoá bỏ, tự độ cho đất tâm là cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, cõi nầy chỉ toàn chúng sang trọng, sáng suốt giàu trí tuệ, trung tâm đã xoá sạch các chúng cùng đinh, hạ tiện, nghèo trí tuệ thì bên ngoài sẽ không còn hiện tướng chia rẻ phân biệt giai cấp giữa con người đã dứt niệm trong lòng thì cõi ta bà cũng biến thành tịnh độ, khắp nơi đều an lạc, tâm có niệm chấp thủ thì bên ngoài mới có tướng ngã mạn, phân chia tôn quý hay hạng cùng đinh tất cả đều là con người giống nhau, chỉ khác nhau nơi phước báu, nhân quả mà chịu nghèo hèn, cơ cực hay sang trọng giàu có, đạo đức là nền móng chánh đẳng, chánh giác, bình đẳng giai cấp, mọi tướng trạng tốt đẹp rực rỡ bên ngoài cũng không gì sánh bằng đức hạnh con người, đẹp hơn cả những kỳ quan thế giới, đức độ là tài sản vô giá sẽ theo ta mãi mãi, không mất bao giờ, cũng là chơn lý bất tận.

Phẩm 28 nói về Đại sĩ thần quang, vậy Đại Sĩ là ai? Chính là hạnh đức Quán Âm đại sĩ tượng trưng bằng hình tượng ông Tiêu đứng giữ cửa chùa, canh  giữ không cho tà ma vào chùa, bằng hình ảnh nầy tiêu biểu dạy ta thường quán xét âm chất cõi tâm, lúc nào cũng xử dụng hào quang sáng suốt Quán âm chiếu rọi mà canh giữ cửa tâm, không ngủ quên cần thức tỉnh, không để các niệm hư vọng, tà trần xâm nhập, quấy rối làm tâm địa bất an thì Quán âm là hành động cao đẹp của con người sẽ ứng hiện, cần tìm đức độ Quán âm đại sĩ tại lòng, nếu lòng có tham, sân, si thì cũng có đủ từ bi hỷ xả nên Lục Tổ nói “Trong tâm có tất cả, trong tâm chứa muôn pháp “ Dùng trí tuệ tu học gọi là “Đại sĩ” là người học trò có trí lớn, sức mạnh của thần thông soi rọi cõi tâm, xử dụng bằng đức tánh từ bi hỷ xả, chí nguyện lớn lao trí lực thứ tư trong thập lực đức Như Lai tự biết căn cơ mỗi chúng sanh, tự lòng mình và cả chúng sanh bên ngoài, cao thượng hay thấp hèn, biết nguyên nhân thành lập mà có thế giới.

Phật là giác tại lòng ta, vì mê tư tưởng sai lạc, niệm phan duyên theo hoàn cảnh mà quen tánh giác, bỏ Phật theo ma, quen xử dụng tánh độc ác mà quên tánh Phật, gặp hoàn cảnh không như ý thì bực bội, bất mãn nên có niệm vô minh là những bóng ma vô hình, chen lấn nhảy ra biểu lộ hành động của thân đánh đập, đâm chém, ấu đả, chửi rủa, hơn thua, tướng sắc mặt đỏ, mắt trợn xếch ngược, hung hăng, lồng lộn muốn ăn  tươi nuốt sống mạng người đối diện thì lúc nầy ma hiện, các quang minh sáng suốt là chư Bồ tát từ bi hỷ xả, nhẫn nhục sẽ tịch diệt biến mất chỉ còn bóng đêm vô minh, chúng ma độc ác mặc sức hoành hành làm tan nát cõi tâm tràn ngập hận thù, oán ghét khổ đau, chúng dạy ta trả thù, trả hận, dạy ta sân si phiền não làm hư hoại bản tâm rối bời tả tơi rách nát mất cực lạc, tâm địa hiện là thế giới cực khổ đau thương “ Phật bảo A Nan trong cõi nước ta đó các chúng Bồ tát đều đặng thấy suốt, nghe thấu mọi sự tám phương trên dưới, hoá hiện vị lai, chư Thiên nhân dân, cho đến các loài cò bay máy cựa, tâm ý thiện ác, lời miệng muốn nói, chừng nào độ thoát đắc đạo vãng sanh, đều dư biết cả”.

Trong cõi nước đó chính là cõi cực lạc có vô số chúng sanh là vô số tâm niệm, Phật nói đến cõi cực lạc tại tâm người đã giác ngộ, các Bồ tát là các quang minh đạo đức sáng suốt thần quang của bậc đã giác, gọi vô số chỉ vào số đông, rất nhiều Bồ tát chúng, nói đến đức độ đã nhiều lần giác từng tích luỹ nơi tâm địa đông đủ thường câu hội, tu tâm là nhìn thấy tận tấm lòng, tự quán xét nghe được tiếng lòng, thấy suốt là thấy rõ từng niệm, tự chỉnh sửa những gì sai phạm, nâng cao trí tuệ cho đạo đức cao thượng là đồng thấy suốt nghe thấu mọi sự. Tám phương trên dưới là thấy rõ sự biến hoá của Bát Thức Tâm Vương, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, a lại da thức là tám phương cùng phương trên, phương dưới, cùng giáp thập pháp giới mọi biến chuyển vướng mắc ô nhiễm hay xả ly trong sạch đều thấu suốt, cùng khắp đất tâm không nơi nào thiếu sót sự cai quản chiếu rọi của tánh giác, không một niệm nào sanh khởi mà Bồ tát quên sát nghiêm mật giữ gìn, chăm sóc niệm niệm từng đường tơ kẻ tóc, biết rõ chúng sanh đang suy nghĩ gì? Muốn gì? Khởi niệm vào cõi nào? Biết rõ đang niệm gì? Tâm thức sẽ hoá hiện để có hành động tạo nhân và biết rõ nhân, sẽ tạo là thiện lành hay độc ác, kinh dạy “ Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả” Kiểm soát từng ý niệm không để gián đoạn gọi là thường tu, biết nghe âm thanh và tiếng nói nơi cõi lòng sửa sang tâm địa gọi là “ Quán âm tầm thinh cứu khổ nguyện “, nguyện tìm nghe âm thanh lời nói của các chúng sanh luân hồi sanh diệt nơi cõi lòng nguyện tìm kiếm mà độ tất cả, kinh Phật rất vi diệu, giải thoát, vì cứ chấp vào đọc tụng mà không dùng hạnh lắng nghe lời kinh hiểu biết bằng trí tuệ, biết âm thanh là tiếng lòng các chúng vô minh rì rào kêu cứu, dùng kinh nghiệm là Phật dạy làm pháp bảo để cứu họ thoát mê thì kinh điển mới giúp ích cho bản tâm, tự giác lắng nghe âm thanh là tiếng nói của lòng đau khổ đang cầu cứu, nên kinh nói” chúng sanh khổ con nguyền tự độ, vì tham lam sân hận ngút trời, sống u hoài trong cảnh lầm than, giờ giác ngộ mới tìm ra phương hướng” tự tháo mở cửa tâm để thả hết những tâm niệm thấp hèn là phóng sanh thả vô số chúng hạ tiện, xả niệm độc ác là thả chúng rắn rết thường dùng nọc độc làm tâm xấu xa hại người, thả loài heo là niệm ham ăn, ham ngủ, ham sắc dục, bỏ các niệm ngang ngạnh cá nhân là thả loài cua, cá, tôm, bỏ niệm hung dữ là thả cọp, beo, sói, niệm tự cao ngã mạn là thả chim loài thích sống trên cao, thả niệm dải đải lười biếng là thả rùa loài chậm chạp, thả niệm ích kỷ hẹp hòi nhỏ nhen, bòn rút là thả ruồi, muỗi, kiến, trùng, dế, sâu mọt, loài mang tướng nghiệp nhỏ nhen vì tâm địa hẹp hòi, thả niệm chuyên hút máu người để nuôi thân là vi trùng thừơng làm khổ người chỉ sống vào máu thịt người khác, các tướng nghiệp hữu hình nầy có đều từ tâm niệm con người là nhân mà sanh quả, tuỳ niệm nghiệp mà hiện tướng hình, nhân nào quả nấy, tất cả pháp đều tự tâm sanh, giác ngộ nhân duyên nầy nên mở cửa lòng bố thí, buông xả phóng sanh thả hết các loài ra khỏi tâm đừng giam giữ nữa, cho đất tâm rỗng rang thanh lặng, trí tuệ mới có cơ hội bừng sáng, đó là Đại Phóng Sanh, phương pháp mượn vật bên ngoài phóng sanh là phương tiện có tướng, để dạy chúng sanh biết quay vào cõi lòng sáng suốt thực hiện pháp xả tâm, Phật chỉ nói đến tuệ giác vô tướng mới là chơn thật tướng, tu tại tâm thu dọn dẹp cho tâm địa trang nghiêm không còn nuôi dưỡng các chúng sanh mê muội, khi cõi lòng trang nghiêm thì làm bất cứ điều gì cho ai chính là đem tấm lòng trang nghiêm hiến dâng tặng họ, việc gì cũng bằng hạnh tốt đẹp thanh cao, hành động nầy cũng là niệm Phật, sửa tâm ý niệm vững vàng nhờ có Quán Am đại sĩ, giữ gìn, cai trị, kiểm soát, Đức Quán âm thường quán xét thấy được những lỗi lầm, cũng nhờ Đức Bồ tát Đại Thế Chí kề bên giúp đỡ, Đại Thế Chí là chí lớn của người thế gian, quyết tâm vượt lên trước mọi hoàn cảnh, dù duyên đến thuận hay nghịch cố gắng vượt qua không sợ khổ khó, sống bằng ý chí can đảm bằng lòng tin Thánh thiện một lòng theo chơn lý, không gục ngã bởi cám dỗ thấp hèn, quyến dụ. Mỗi niệm thiện ác đều là chúng sanh, nhân dân trong nước, chư Thiên chỉ vào người tu thập thiện, giữ tròn đủ 10 giới, nhân dân là người giữ tam quy, ngũ giới, các loài cò bay máy cựa là vô số chúng sanh còn giữ niệm thấp hèn, tất cả đều nhờ vào thần lực Quán âm, Đại Thế Chí bảo bộ giữ gìn giáo hoá tự giác ngộ thì tất cả đều được vãng sanh, khi niệm xấu ác không còn bằng tuệ trí chiếu soi vào tâm địa thấy suốt 10 phương chúng sanh nào quá vãng đều dư biết, thấy rất rõ, thấy chúng nào đã lâm chung, chúng nào còn oán hận, buồn phiền, đấu tranh, hơn thua ích kỷ, những niệm nầy là giống ác chưa siêu thăng, còn nhờ chư bồ tát giải cứu cho đến khi tất cả đều được độ thoát. Bồ tát là những quang minh thường tầm thinh nhìn vào cội tâm mà cứu khổ, quán tâm thấy không còn sanh ác niệm thì dư biết chắc rằng các chúng sanh đều giác ngộ vãng sanh, biết rất rõ từng khắc, từng giờ biết ngay lúc quán tâm, không chờ đến bỏ xác thân mới biết, các tà niệm, tạp niệm đã lâm chung ngay đời sống, niệm gian dối đã vãng sanh, niệm giận hờn đã vãng sanh, niệm tranh dành, niệm ngã mạn tự cao, niệm ích kỷ đều vãng sanh, không còn niệm sanh lại nữa, người chánh quán thấy mọi điều nầy lắng nghe rất rõ, nếu mãi niệm Phật mà không nghe được các niệm là vô số chúng sanh cõi lòng mình có vãng sanh chưa là trí tuệ còn lờ mờ tăm tối, chúng sanh cõi lòng chưa được độ thoát, vì lẽ nầy kinh nói khi chúng sanh quá vãng sanh là mạng chung phải biết giờ biết khắc, vào pháp môn tu cần thông sáng ý kinh, không nghĩ theo âm thanh, sắc tướng mà sai lạc con đường chánh kiến uổng phí công phu.

Lại cõi Phật đó chúng Thanh Văn thân sáng một tầm”, chúng Thanh Văn mới nhập vào dòng Thánh đạo sơ ngộ, giác từng phần, vào sơ quả quang minh còn ngăn trí tuệ chưa chiếu soi khắp các cõi nên kinh nói sáng một tầm “ Bồ tát đầy đủ trí tuệ, thông suốt vạn pháp, giác khắp hữu tình độ vô biên chúng sanh, quang minh chiếu khắp 10 phương thế giới, tam thiên đại thiên trí tuệ soi đến 10 phương nên quang minh Bồ tát chiếu trăm do tuần. “ Có 2 vị Bồ tát tối tôn bậc nhất oai thần quang minh, chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới” Bố tát tâm địa trong sạch, an lạc quốc độ là cực lạc sống bằng quang minh tuệ giác, quang minh thường quán tâm địa danh gọi là: Quán Thế Am, chí giác mạnh mẽ nguyện vượt qua mọi cạm bẩy thế gian lòng không khiếp sợ là hào quang Bồ tát Đại Thế Chí dũng mãnh chiếu rọi giúp chúng sanh đứng vững bản tâm an ổn, cả hai quang minh Quan âm và Đại Thế Chí là thần lực vô uý rước chúng sanh bằng con đường chánh đạo, chánh tinh tấn. Khi tư duy muốn nói điều gì phải nhìn vào tâm tìm hai vị Bồ Tát là hai hào quang tối tôn hai thần quang tại cõi lòng có chấp nhận không? Mới hành động là phương pháp gìn giữ lục căn thanh tịnh, nếu lục căn thanh tịnh đồng Phật vãng Tây phương, sáu căn thanh tịnh gọi là Thánh, căn chiếu suốt sáu hào quang. Chiêm bái lễ lại tôn tượng là lễ hình tượng Quán Âm Bồ Tát, còn tự tánh Bồ tát Quán Âm là nguồn sáng từ bản tâm chiếu diệu thông suốt ba ngàn đại thiên thế giới, chí quyết nguyện bất thối chính là đức Đại Thế Chí Bồ Tát, A Di Đà Phật là tự tánh chiếu soi, Quán âm thường quán xét tự tánh, Đại Thế Chí là chí nguyện rộng lớn, kề bên giúp đỡ Đức Quán âm giáo hoá giữ gìn tâm niệm tại lòng, khắp mọi chúng sanh đều có sẳn Tam Thế Phật, nên quay vào mà đãnh lễ chiêm bái, lễ lại, giữ gìn đừng để các hào quang nầy tịch diệt thì mãi mãi phải sống với vô minh tăm tối , không biết bao giờ mới vào được thế giới cực lạc, đừng bỏ qua sự vi diệu mầu nhiệm các pháp hư vọng bên ngoài, “ A Nan bạch Phật, hai vị Bồ tát danh hiệu là gì? Đức Phật liền bảo, một vị gọi là Quán Thế Âm, một vị danh gọi là Đại Thế Chí, cả hai vị nầy nơi cõi ta bà hành hạnh Bồ tát, vãng sanh nước kia thường ở hai bên trái, phải của đức Phật A Di Đà” cõi ta bà là chỉ nguồn tư tưởng chứa vô số niệm sanh diệt biến hoá, chư Bồ tát là Thần quang cũng chung nguồn tư tưởng, nhưng tư tưởng nầy đã giác ngộ, các Ngài vào cõi ta bà không vì đắm nhiễm, mà đến để hành đạo Bồ tát. Quang minh A Di Đà chính là trí tuệ thanh tịnh sẳn có nơi mỗi con người, niệm A Di Đà là nhớ trí tuệ giác ngộ chính ta, khi quán tâm hay niệm Phật dẹp hết các niệm tham, sân, si, phiền não thì cõi lòng là “ Bổn lai vô nhất vật” bản tánh ta chính là Phật hiệu A Di Đà, A Di Đà cũng là bản tánh ta nếu nhận biết tại lòng thường có sẳn quang minh Quan Âm, Thế Chí, A Di Đà và sống mãi với bản tánh nầy thì không còn sợ địa ngục, bất cứ chúng sanh nào trong tâm còn đau khổ đều có Tam Thế Phật đến cứu khổ, giải nàn, đừng tưởng tượng mơ màng bằng cách van vái, cầu xin hay lạy lục bằng hy vọng mong manh khi bỏ xác thân được Đức A Di Đà bằng tưởng tượng đến rước về cực lạc khi sự thật cõi lòng chưa giây phút nào biết an lạc cả. Phật nói: “ Trong đêm tối ta là người cầm đuốc soi đường, đi hay không tuỳ ở chúng sanh, ta không ban phước hay giáng hoạ cho ai cả” Phật không ban cho hay trừng phạt ai nên cách van lạy cầu xin không cho là thành tựu phật pháp, đức Phật ngày xưa tự tu, tự giác ngộ mà giải thoát, Ngài chẳng cầu xin hay cầu mong ai cho điều gì cả, tự tinh tấn buông xả hết các niệm riêng tư, tự phát sanh trí tuệ, đạo Phật “vô cầu” “vô đắc”, nếu cầu xin được thì Ngài chỉ ở tại triều đình mà cầu xin, không cực nhọc vào rừng khổ hạnh lâm sáu năm tìm đạo, phải thật tu tâm thiền định mới chứng ngộ chơn lý, chơn lý tự nhiên thanh tịnh chẳng vướng bận gì cuộc đời cả nên nói là vô sở đắc “ Muốn đến 10 phương vô lượng chỗ Phật, tuỳ tâm liền đến cõi nầy làm lợi lạc lớn” A Di Đà là tánh Phật của mỗi người có vô lượng hào quang chiếu khắp, niệm niệm dù sanh diệt nhưng tự giác không duyên theo, chỉ một lòng một lòng nhớ tánh Phật A Di Đà thì khắp 10 phương đều là chỗ chư Phật hiện, tuỳ vào sức mạnh trí tuệ, tuỳ căn tánh trình độ chúng sanh mà hoá độ làm lợi lạc khắp hữu tình, trình độ Thánh văn thì nói pháp tứ đế, Duyên Giác nói Thập nhị nhơn duyên, Bồ tát nói lục độ tuỳ tâm mà hiện đến, tự tánh sáng suốt chứng ngộ biết tất cả pháp, tất cả tâm niệm sanh mà có thế giới có cõi, gọi là thấu suốt, chỉ cần một niệm kiên quyết chuyên nhất nhớ A Di Đà Phật, nhớ quang minh Quán Thế Âm Bồ Tát, nhớ quang Đại Thế Chí Bồ Tát, cõi lòng không còn niệm mong cầu gì cả sẽ tự nhiên biết tánh mình có trong sạch hay chưa, có còn lẫn lộn các niệm muốn ham ngoài thế tục không? Việc nầy người niệm Phật biết rất rõ nên kinh Bát nhã dạy.

Tâm không còn chút ngại ngăn

cũng không còn chút băn khoăn sợ gì

Đảo điên mộng tưởng xa lìa

Niết bàn mới đến bên kia bến bờ

Khi cõi lòng an ổn thanh tịnh, bổn tánh tự nhiên A Di Đà vô lượng quang soi khắp 10 phương thế giới để làm lợi ích cho chúng sanh, việc trọng đại là Thấy Lại Tánh Phật là điều lợi lạc lớn Đại Sự Nhân Duyên Trong Giáo Pháp Thích Ca việc nầy ngay thế gian không tìm cõi xa xăm nào cả “ Nếu các Thiện nam và Thiện nữ, gặp lúc cấp nạn, rơi vào khủng bố, quay về nương tựa Bồ Tát Quán Âm, đều được giải thoát “ khi hoàn cảnh đến có người ghét muốn hại, bị họ chửi mắng, trù rũa làm tâm ta sợ  khủng hoảng, phải gấp rút nhanh chóng quay vào cõi tâm, tìm gặp tự tánh Quan Âm là quang minh trí tuệ, xử dụng hạnh lắng nghe tự tư duy nhớ lời Phật dạy hạnh Phật là nhẫn nhục, nhu hoà sửa lòng trong sạch, biết các duyên đến đi đều giả tạm do tâm thức sanh diệt mà hoá hiện, tánh Phật là từ, bi, hỷ, xả, sáng ngần tánh Phật chẳng hơn thua sân hận, tự hỏi lại tự tánh Quán Âm có nên chiến đấu tranh chấp lại hay thí xả, quyết gìn giữ hạnh đức từ bi. Sẽ nhờ trí tuệ Quán Âm dùng đức từ bi giáo hoá, lòng an ổn nhẹ nhàng nhờ sức mạnh thần lực Đại Thế Chí cứu khổ sẽ tự tại vượt qua hiểm nạn, nếu mất sáng suốt sẽ sa đoạ vào ba đường ác, nên xác quyết rằng người sống tại cõi đời, cõi lòng lúc nào cũng có thần lực là hào quang A Di Đà, Quan Âm, Đại Thế Chí sẵn sàng cứu khổ ban vui và độ thoát mọi hiểm nạn ngay cuộc đời, tự tánh ta sáng suốt trí tuệ tự độ ta không mơ vọng xa xôi nơi phương nào sẽ có người đến giúp ta được cả, tự quy y là quay vào sống y như tánh Phật thì tất cả tâm niệm là vô số chúng sanh tại lòng đều được độ thoát.

Phẩm 28 Đại Sĩ Thần Quang chủ đích ca thán hai vị Bồ tát là hai quang minh thần quang đại lực tại tâm người, thường giáo hoá bản hộ niệm giữ gìn gọi là Hộ Niệm cho tâm địa trang nghiêm thanh tịnh, giữ cực tại lòng người giác ngộ mãi mãi thanh bình an vui hỷ lạc, như vậy cực lạc chính tại tâm, nếu cứ tin cực lạc bằng tư tưởng bên ngoài thì kinh Trường A Hàm trang 241 phẫm kinh Bố Tra Bà Lâu Phật nói là ngoại đạo “ Trong Giáo Pháp Ta Không Bao Giờ Làm Những Việc Như Thế” theo Phật là theo chánh đạo, chơn đạo, không theo ma đạo. Phật dạy những gì có hình tướng đều là Ma Vọng hay Niết Bàn Do Tâm Tạo Địa Ngục Từ Tâm Sanh

 

Thi Kệ

Đời là biển khổ sông mê

Khổ đau đày đoạ thảm thê khách trần

Duyên theo nghiệp luỵ xoay vần

Hụp trồi chìm nổi chất chồng trái oan

Tử sanh mấy độ nợ tàn

Làm thân khách tục ngỡ ngàng rừng mê

Ngày nào lòng cách xa quê

Là còn sa đoạ muội mê não phiền

Niệm đời mãi mãi nào yên

Xa lìa nguồn cội lửa phiền bủa vây

Thoảng nghe âm vọng phương Tây

Cõi an dưỡng quốc kết xây lạc thành

Làm sao thông hiểu cho rành?

Làm sao vào được Lạc thành dưỡng tâm?

Vô minh khó nổi kiếm tầm,

Lý kinh Phật dạy “ Phật thời tức tâm”

Quán vào tâm địa truy tầm

Coi tâm tức phật tâm nào tức ma

Quán tâm thấy rõ hằng sa

Tâm giành tâm giựt, tinh ma quá nhiều,

Lợi danh ngã mạn tự kiêu,

Ai yêu thương ghét vạn điều trái oan

Ôi thôi kinh khiếp ngỡ ngàng

“Phật tâm” chẳng thấy, thấy toàn“tâm ma”

Làm sao vượt bể ái hà,

Bơ vơ lạc lối đường xa khó tìm

Lạc loài yếu ớt cánh chim

Biển đời sâu nặng, bay tìm chốn nao ?

Duyên lành ngộ pháp truyền trao

Xét xem tâm địa vàng thau đủ đầy

Tưởng mơ Phật ở phương tây

Nào hay phật sẳn đủ đầy tại tâm

Quán âm vi diệu thậm thâm

Thần thông hoá hiện quang lâm tại tiền

Giúp người tháo cổi trần duyên

Dạy ta xả bỏ luỵ phiền sẽ yên

Chấp chi thế sự chinh nghiên

Nghiệp đời hư vọng là duyên luân hồi

Quán là hiểu thấu khúc nôi

âm thanh nghe tại tiếng lòng thở than

Thế là bận bịu buộc ràng

Phật danh bồ tát hữu tình giác tha

Danh kia chính hạnh đức ta

Quán tâm tự xét chan hoà cảm thông

Hào quang chiếu khắp đại đồng

Cứu bao sanh chúng sang bờ bình an

Quang minh rực rỡ huy hoàng

Đại từ đại lực vững vàng độ an

Thần quang hiện tại tâm vàng

Quán Âm Thế Chí dẹp tà phá mê

Khi lòng an định trọn bề

Sẽ nhìn thấy Phật hiện kề bên ta

Di Đà tánh Phật lòng ta

Quán Âm chọn lựa Phật ma rõ ràng

Đại từ Thế Chí cứu nàn

Rước bao sanh chúng phá tan ngục tù

Muốn nhìn thấy Phật phải tu

Lòng người thiền định công phu sẽ thành

Thế Tôn xưa đã dạy rành

Ta không danh lợi giựt dành thế gian

Tánh minh vốn thật bình an

Chỉ vì mê chấp lầm than tâm vàng

Xả tâm hết cảnh mơ màng

Xả cho dứt hết buộc ràng đeo mang

Mê đời niệm niệm ngút ngàn

Lòng an đích thị đạo tràng tức tâm

Tu tâm xét kỷ kẻo lầm

Tự ta tu sửa âm thầm trang nghiêm

Cõi lòng vạn sự lặng êm

Tâm thanh an định chớ thêm niệm gì,

Di Đà giác tánh từ bi

Nguồn âm chiếu diệu vô vi khắp miền

Rọi soi khắp cõi trần duyên

Biết đời tan hợp lửa phiền sẽ tan

Dứt lìa nghiệp chướng đa mang

Có an dưỡng quốc độ an sĩ hiền

Ai người quyết giữ tâm điền

Quy y tánh Phật kết duyên bồ đề

Nhớ lời Tổ dạy phá mê

“ Tâm vô nhất vật” giác mê sẽ tường

Niệm đời là niệm tai ương

Sao  không niệm Phật nhớ liền tánh ta

Nhớ chi ác niệm tà ma

Dẫn ta đoạ lạc quên nhà Như Lai

Ái, yêu, tham, giận hằng ngày

Là dây xiềng xích ngục tù trói trăn

Giàu sang bọt bóng trôi lăn

Bọt trần ẩn hiện vỡ tan vô thường

Tu cho trí huệ minh tường

Để không lầm lạc vào đường tử sanh

Pháp như bóng bọt đầu gành

Hợp tan sanh diệt huyễn đời bất an

Nếu đem tâm niệm luận bàn

Cũng là giả tạm cũng là mê si

Bồ đề chơn giác nhớ ghi

Vốn “ vô nhất vật” bổn lai thuở nào

Vật là niệm niệm xôn xao

                                      Tuệ tri dứt niệm thoát câu luân hồi

.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

 Cư  Sĩ Phật tử Như  Thánh

Thành Kính Cúng Dường