Nếu chúng ta thọ
năm giới, và
khuyến khích mọi
người trong gia
đ́nh ta thọ năm
giới, th́ ngày
đó là ngày hạnh
phúc nhất trong
cuộc đời ta, v́
gia đ́nh ta sẽ
được duy tŕ, và
cuộc sống gia
đ́nh đơn giản,
tốt đẹp sẽ ảnh
hưởng đến những
gia đ́nh khác
trong xă hội.
Có một con sư tử
mẹ đang đi kiếm
ăn. Nó sắp làm
mẹ. Buổi sáng đó
nó chạy đuổi
theo một chú nai.
Chú nai con chạy
thật nhanh dù
sức yếu. Sư tử
mẹ dầu mạnh,
nhưng đang mang
thai, nên khá
chậm chạp.
Sư tử mẹ chạy
sau chú nai con
rất lâu, khoảng
15 phút, mà vẫn
chưa bắt kịp.
Sau đó chúng tới
một rănh sâu.
Chú nai lẹ làng
nhảy qua rănh,
sang bờ bên kia.
Sư tử mẹ rất bực
tức v́ không bắt
kịp con mồi, và
v́ nó đang cần
thức ăn cho cả
nó và đứa con
trong bụng. V́
thế, nó cố hết
sức để nhảy qua
cái rănh sâu.
Nhưng tai họa đă
xảy ra, sư tử mẹ
đă sẩy đứa con
khi cố nhảy qua
rănh. Dầu qua
được bờ bên kia,
nhưng sư tử mẹ
biết rằng ḿnh
đă đánh mất đứa
con mà nó đă chờ
đợi từ bao lâu,
đă yêu thương
hết ḷng, chỉ v́
một phút vô tâm
của ḿnh. Nó đă
quên rằng nó
đang mang một
bào thai trong
bụng, và nó cần
phải hết sức cẩn
trọng. Chỉ một
phút lơ đễnh, nó
đă không giữ
được đứa con của
ḿnh.
Qua được bờ bên
kia, nhưng sư tử
mẹ không c̣n
màng đến điều ǵ
nữa. Nó không
c̣n muốn chạy
đuổi theo con
nai nữa. Không
muốn ăn hay
uống. Sư tử mẹ
nghĩ rằng ḿnh
không đáng sống
nữa. Sư tử mẹ
chỉ c̣n biết
đứng bên rănh
sâu mà khóc. Đó
là một trong
những câu chuyện
đă được Đức Phật
kể trong kinh.
Trở về hang, sư
tử mẹ rất buồn.
Cả tuần nó chẳng
muốn ăn uống ǵ,
v́ trong ḷng
quá đau buồn.
Đứa con là lư do
để nó sống, th́
làm sao nó có
thể hạnh phúc
khi đă mất con?
Nhưng với thời
gian, sư tử mẹ
cũng nguôi ngoai.
Nó lại bắt đầu
đi săn, cho
chính ḿnh v́ nó
cũng đói. Giờ nó
có thể chạy
nhanh hơn v́
không c̣n phải
mang bào thai
trong bụng, nên
việc bắt mồi
cũng đơn giản
đối với nó. Cho
đến một ngày kia,
khi đang đi
trong rừng, nó
bắt gặp một chú
sư tử con đang
leo cây, với một
bầy khỉ. Chú sư
tử nhỏ leo cây
cũng giỏi như
bầy khỉ.
Sư tử mẹ suy
nghĩ, “Đây đúng
là đứa con mà
ḿnh nghĩ nó đă
chết. Nhưng nh́n
kià! Nó vẫn c̣n
sống”. Và đó là
sự thật. Khi sư
tử mẹ sinh rớt
con xuống rănh
sâu, có một con
khỉ to ở trên
cây đă nh́n thấy
hết. Nó nhảy
xuống rănh và
đem chú sư tử
con về nuôi. Nhờ
sữa khỉ mà sư tử
con lớn lên. Nó
cũng học trèo
cây, học ăn trái
cây.
Thay v́ rống như
sư tử, nó học
kêu
chkk-chkk-chkk-chkk
như khỉ, và nó
đă sống, chơi
đùa với bầy khỉ
rất hạnh phúc.
Khỉ mẹ cũng yêu
chú sư tử con
giống như khỉ
con của ḿnh.
Khỉ con và sư tử
con chơi với
nhau như anh em,
không có sự phân
biệt ǵ giữa
chúng. Sư tử con
cũng không nghĩ
ḿnh là sư tử,
chứ không phải
là khỉ.
Ngày đó, sư tử
mẹ nh́n thấy con
trên cây với bầy
khỉ, nó suy nghĩ,
“Con ta vẫn c̣n
sống, nhưng giờ
nó đă quen sống
như một con khỉ”.
V́ thế, sư tử mẹ
không nói ǵ. Nó
hoạch định cách
để đem chú sư tử
con trở lại nhà.
V́ thế, sư tử mẹ
chờ một ngày khi
bầy khỉ không có
ở nhà, nó đă đến
bên chú sư tử
con và nói, “Con
không biết ḿnh
là sư tử sao?
Không biết ta là
mẹ con sao?” Sư
tử con trả lời,
“Bà không phải
là mẹ tôi. Mẹ
tôi không giống
bà. Mẹ cho tôi
sữa, mẹ ôm tôi
trong ṿng tay,
bồng tôi lên cây.
Vậy sao bà dám
bảo là mẹ tôi.
Tôi rất ghét bà!”
Sư tử mẹ biết
rằng ḿnh đă
phạm sai lầm –
đă nói không
khéo léo. Đáng
lư nó không được
nói thẳng như
vậy, nó phải nói
khéo hơn. V́ thế,
nó quay đi, và
suy nghĩ: “Ta
phải t́m cách
làm quen với con
ta, để đem nó về
nhà, để hai mẹ
con có thể sống
trong t́nh
thương yêu?”
Sư tử mẹ chờ đợi
thêm 15 ngày
nữa, rồi khi
thấy sư tử con
đang chơi một
ḿnh, sư tử mẹ
đến bên, nói
bằng giọng rất
lễ phép, “Con
ơi, hôm nay con
vui vẻ không? Ta
rất vui được gặp
lại con. Ta xin
lỗi rằng hôm nọ
đă nhầm tưởng
con là con ta,
nhưng ta đă sai.
Con là một chú
khỉ con rất dễ
thương, ta muốn
được kết bạn,
muốn chơi đùa
với con”,
Sư tử con nghe
vậy, nó rất vừa
ḷng, nên nói,
“Được, tôi vui
ḷng làm bạn với
bà. Nhưng với
một điều kiện -
đừng bao giờ gọi
tôi là sư tử
con. Tôi là khỉ,
và bà phải gọi
tôi như thế”.
Nhờ lời nói nhẹ
nhàng, khéo léo,
sư tử mẹ được
làm bạn với sư
tử con. Chúng
chơi với nhau
một lúc, rồi sư
tử mẹ nói: “Thôi
được rồi, giờ ta
chia tay, ta sẽ
trở lại chơi với
con lúc khác
nhé”. Sư tử con
rất vừa ḷng, nó
nghĩ: “Bà sư tử
này rất lễ phép,
không ép ta phải
làm điều ǵ,
chơi với bà cũng
vui”.
Rồi một ngày kia
sư tử mẹ rủ sư
tử con đi chơi
xa, thật xa, v́
chúng đă bắt đầu
thân nhau. Sư tử
mẹ đă rất kiên
nhẫn, v́ nó biết
rằng, nếu không
kiên nhẫn, sẽ
không có cách ǵ
để mang sư tử
con trở về nhà,
trong gia đ́nh,
để gặp lại sư tử
cha, và cộng
đồng sư tử.
Rồi chúng đến
bên một ḍng
nước. Sư tử mẹ
nói, “Này con,
hăy đến uống
nước đi, ta rất
khát”. Khi cùng
uống nước, bóng
của chúng in
xuống ḍng nước
rất rơ ràng.
Bỗng nhiên sư tử
mẹ nghĩ ra một
điều ǵ, nó nói:
“Thôi đừng uống
nữa, hăy soi
bóng xuống dưới
nước chơi đi”.
Khi sư tử mẹ
nh́n xuống ḍng
nước, nó tự thấy
ḿnh. Nhưng khi
sư tử con nh́n
xuống, nó thấy
một chú sư tử
con. Nó không
thấy con khỉ. Nó
chưa bao giờ soi
ḿnh dưới nước
trước đó. Nó
không biết đó là
ai. Khi nh́n lên
nó thấy một con
sư tử, nhưng khi
nh́n xuống nước,
nó thấy hai, một
sư tử mẹ và một
sư tử con. Sư tử
con bắt đầu nghi
ngờ việc nó là
khỉ. Nó suy
nghĩ, “Có thể ta
không phải là
khỉ”.
Khi sư tử mẹ
thấy rằng sư tử
con đă bắt đầu
nhận ra ḿnh là
sư tử, nên nó
nghĩ rằng con
ḿnh đă chuyển
đổi. V́ thế sư
tử mẹ rống lên,
dồn sức vào hai
chân sau để nhảy
qua bờ bên kia.
Sư tử con cũng
làm giống như
thế, nó đă rống
lên như một con
sư tử. Đó là lần
đầu tiên nó
không kêu như
khỉ. Nó nhảy
sang bờ bên kia
như mẹ nó, và
giờ th́ nó biết
rằng nó là một
chú sư tử con.
Sau đó sư tử mẹ
đi trước, sư tử
con theo sau, cả
hai đi trở về
hang động của sư
tử.
Chúng ta cần nhớ
đây là câu
chuyện Đức Phật
đă kể với các đệ
tử của Ngài.
Sư tử mẹ đă biết
làm thế nào để
thở, và sư tử
con cũng biết
làm thế nào để
thở. V́ thế từ
đó sư tử mẹ bắt
đầu dạy cho sư
tử con cách cư
xử của sư tử: đi
như thế nào,
đứng như thế
nào, nằm, ngồi,
nói năng, rống
như thế nào cho
giống như một
con sư tử. Sư tử
con học hỏi rất
nhanh, nó có thể
làm được tất cả
những ǵ mẹ nó
đă dạy trong ba
tuần. Giống nhu
21 ngày trong
một khóa tu.
Chúng ta cũng có
thể học hỏi tất
cả mọi thứ trong
21 ngày đó.
Sau khi chú sư
tử con đă trưởng
thành và trở
thành một chú sư
tử thực sự, nó
bèn nói với sư
tử mẹ, “Con biết
con không phải
là khỉ. Nhưng
con vẫn yêu gia
đ́nh khỉ. Con
biết rằng nếu
không có họ, con
đă chết. Con vẫn
thương mẹ khỉ,
thương anh chị
em khỉ, nên mẹ
hăy cho con về
thăm họ, thăm mẹ
khỉ đă nuôi con
lớn”.
Đức Phật dạy
rằng tất cả
chúng ta đều có
huyết thống tốt
đẹp. Chúng ta có
khả năng hưởng
hạnh phúc, tự
do, vững chăi.
Nhưng v́ ta sống
trong một xă hội
không phù hợp
với sự phát
triển của chúng
ta, nên ta quên
rằng ḿnh có thể
sống hạnh phúc
như những người
tự do, vững
chăi.
Chúng ta có thể
ngồi bệ vệ như
một con sư tử,
mà không phải sợ
sệt bất cứ điều
ǵ. Chúng ta có
thể đi, đứng,
nằm ngồi như một
người Giác Ngộ,
và trong quá
tŕnh đó có thể
được rất nhiều
hạnh phúc. Nhưng
chúng ta được
rèn luyện để
sống khác đi. V́
thế khi ăn điểm
tâm, chúng ta
không biết phải
ăn thế nào.
Chúng ta ăn mà
không có tự do,
tự tại. Khi rót
sữa vào chén,
chúng ta lại
nghĩ đến điều ǵ
đó. Chúng ta để
cho nỗi buồn
giận, lo âu
chiếm cứ tâm
hồn.
Chúng ta không
có khả năng có
mặt ngay khi ta
rót sữa ra chén
như một người tự
do. Khi ăn một
miếng bánh ḿ,
hay chấm bánh ḿ
vào sữa, chúng
ta không ư thức
ḿnh đang làm
việc đó, v́
chúng ta không
biết có mặt
trong hiện tại.
Bánh ngon, sữa
cũng ngon, nhưng
ta ăn như thể
chúng chẳng ngon
lành ǵ.
Hăy thử quán sát
xem người ta
dùng điểm tâm
trong thành phố
này như thế nào.
Họ ăn vội vă làm
sao. Ăn như kẻ
cướp, kẻ cướp dĩ
nhiên sẽ không
có th́ giờ để
ngồi xuống ăn,
và nh́n người
đối diện. Họ
không nh́n thấy
ai ở quanh ḿnh.
Họ cũng không
nh́n thấy món
ăn, v́ trong đầu
họ toàn là những
âu lo, buồn rầu,
sân hận. Đôi khi
chúng ta cũng
sân hận đến nỗi
ta cầm tờ báo
lên trước mặt
lúc dùng điểm
tâm, để không
phải nh́n thấy
người chung
quanh.
Chúng ta đă nh́n
thấy họ đủ rồi,
và không muốn
thấy nữa, nên ta
che mặt bằng tờ
báo. Điều đó có
nghĩa là bữa
điểm tâm lại có
thêm một nguyên
liệu không cần
thiết, đó là tờ
báo.
Tại sao ta cần
đọc báo khi đang
ăn điểm tâm?
Chúng ta sẽ
không ăn được
đàng hoàng,
không nh́n người
thân rơ ràng
trước khi mỗi
người chia tay
đi mỗi hướng.
Buổi sáng là cơ
hội để ngồi lại
với nhau và nh́n
nhau. Lư ra ta
phải rất hạnh
phúc, v́ có thể
dừng lại và nh́n
nhau, nhưng ta
không làm thế,
để rồi cả ngày
chúng ta chạy đi
làm việc này,
việc kia, giống
như đang ở trong
mộng.
Tôi nhớ lại có
lần ở New York,
tôi đang dùng
điểm tâm th́ có
người mang đến
cho tôi tờ báo -
tờ Thời báo New
York Chủ nhật.
Nó nặng đến gần
2 kg. Làm sao
bạn có thể vừa
ăn điểm tâm, vừa
đọc được tờ báo
nặng 2 kg? Tại
sao ta cần đến 2
kg giấy? Người
ta cần phải đốn
bao nhiêu cây
rừng để làm một
tờ báo như thế?
Nhiều người mua
báo mà đâu có
đọc, họ chỉ nh́n
lướt qua một
chút, hay chỉ
dùng nó để che
mặt khi họ không
muốn nh́n người
đối diện.
Bạn có biết họ
quảng cáo thế
nào về tờ Thời
báo New York
không? Họ bảo,
“Bạn không cần
phải đọc tất cả,
nhưng biết rằng
có nó ở đó là
tốt rồi”. Đó là
cách họ quảng
cáo, để nếu ta
không mua báo,
ta cảm thấy
thiếu thốn, sợ
rằng người ta
biết điều ǵ
trong báo mà
ḿnh th́ không,
nên bắt buộc
ḿnh phải mua
nó.
Cuộc sống của
chúng ta ở New
York không phải
là cuộc sống cúa
một người hạnh
phúc, một người
tự do, một người
vững chăi. V́
thế, chúng ta
phải thực tập
sống như một
người vững chăi,
một người tự
do.
V́ lỗi lầm của
người cha hay
mẹ, hay ông bà,
chúng ta quên
cội nguồn, quê
hương nơi chúng
ta đến từ đó.
Chúng ta quên tổ
tiên của ta là
Đức Phật, là các
vị Bồ-tát, những
người có khả
năng để sống
hạnh phúc, vững
chăi, và tự do.
Nên chúng ta
chạy ḷng ṿng,
và tự đắm ḿnh
trong khổ đau.
Đức Phật và các
vị Bồ-tát đă thể
hiện giống như
những con sư tử
mẹ, đi t́m đàn
con đă lạc lối.
Chư Phật và các
vị Bồ-tát với
tấm ḷng đầy
kiên nhẫn, và
tất cả chúng ta
như là những chú
sư tử con đă lạc
đường về. Chúng
ta cần phải khéo
léo, thông minh,
mới có thể t́m
được đường trở
về nhà.
Chúng ta cũng có
khả năng được
hạnh phúc, an
lạc, tự do, vậy
mà trong cuộc
sống, chúng ta
khổ đau, chúng
ta ch́m đắm. Do
gánh nặng của
khổ đau, chúng
ta làm cho người
quanh ta cũng
không hạnh phúc.
Giờ, ta phải trở
về với cha mẹ
ruột của ḿnh,
học đi, học
đứng, học ngồi,
học nằm trở lại,
học nói, học
lắng nghe trở
lại, để có thể
làm sống lại
cung cách của
một con sư tử
thật sự.
Dầu đă lạc lối,
chúng ta cũng
không biết học
hỏi kinh nghiệm,
hay ta đă quên
con đường, quên
những tập quán,
quên cuộc sống
có thể mang đến
cho ta yếu tố
hạnh phúc mà
chúng ta cần
được hưởng.
Nếu là người Do
Thái, tổ tiển
của chúng ta là
các vị giáo sĩ
Abraham và các
vương nữ như
Sarah, Rebecca
và Ruth. Tổ tiên
chúng ta có
những giới luật
riêng của họ, và
qua những giới
luật này, họ có
thể duy tŕ hạnh
phúc và vững
chăi trong xă
hội của họ.
Nhưng v́ một số
lỗi lầm, một số
bất cẩn của cha
mẹ hay tổ tiên
chúng ta, mà
chúng ta quên đi
cội nguồn, và
chúng ta đă lang
thang cùng trời
cuối đất mà
không nhớ đến
cội nguồn, v́
thế ta phải khổ
đau.
Tổ tiên của
chúng ta cũng có
thể là Jesus
Christ, và qua
nhiều thế hệ đă
tuân theo văn
hóa và những lời
dạy tinh thần
của chúa Jesus
Christ. Họ đă
hạnh phúc v́
điều này. Họ đă
biết thương yêu
là như thế nào,
nương tựa vào
nhau là nhờ các
giáo lư này.
Nhưng v́ lỗi lầm
của một vài thế
hệ, sai lạc của
nhà thờ, chúng
ta đă bỏ các
giáo đoàn. Chúng
ta đă hận thù
giáo đoàn của
ḿnh, và đi t́m
một con đường
tâm linh khác.
Chúng ta đi t́m
Phật giáo, đi
t́m Ấn Độ giáo,
và chúng ta nghĩ
là hạnh phúc
không thể có
trong cội rễ
Thiên Chúa Giáo.
Có lẽ v́ chúng
ta là người Việt
Nam, và v́ những
bất hạnh lớn, v́
những lỗi lầm
của các vị lănh
đạo, chúng ta
phải từ bỏ quê
hương, đi t́m
một cuộc sống xa
lạ đối với chúng
ta, phải học đi,
đứng, nghĩ suy,
và hành động
không giống như
cách sống của tổ
tiên chúng ta.
Và chúng ta đă
mang khổ đau,
dằn dặt đến cho
tâm hồn, cho
thân xác chúng
ta, khi chúng ta
rời bỏ quê
hương. Chúng ta
không biết ḿnh
có những cội
nguồn này. Chúng
ta nghĩ rằng
ḿnh thuộc ḍng
giống khác, và
chúng ta nghĩ
rằng ḿnh sẽ
không trở về lại
với cội nguồn.
Chúng ta là hoa
sen với hương
sắc diệu kỳ,
nhưng chúng ta
đă đánh mất
hương sắc của
hoa sen, chúng
ta không nhận ra
mùi hương của
hoa sen là mùi
hương của chúng
ta. Ta đi mua
nước hoa để thoa
lên người, và
cho rằng đó là
mùi hoa của
chúng ta, và
trong quá tŕnh
trôi lăn như thế
chúng ta đă học
được bao điều
tiêu cực trong
xă hội mà chúng
ta mới du nhập
đến. Xă hội đó
cũng có những
điều tốt đẹp.
Chúng có mặt
trong môi trường
mới này, nhưng
để biết được
những điều tốt
đẹp này trong xă
hội mới, chúng
ta cần có người
d́u dắt. Văn hóa
Mỹ có nhiều khía
cạnh tốt đẹp,
tuyệt vời, mà
chúng ta có thể
học hỏi, hàm ân
và sử dụng,
giống như chú sư
tử con có thể
học được những
điều mới lạ từ
gia đ́nh khỉ
kia. Nhưng v́
chúng ta không
có người d́u
dắt, hướng dẫn,
chúng ta để cho
những rác rưởi
của xă hội
phương Tây mà ta
đang sống ở đó,
trùm phủ chúng
ta.
Chúng ta không
chọn lựa những
châu báu của xă
hội phương Tây,
mà chúng ta chỉ
nhận lấy rác
rưởi của xă hội
phương Tây để
đeo lên người.
Những đớn đau,
bất hạnh của
việc sử dụng ma
túy, của t́nh
dục bừa băi, là
những rác rưởi
của văn hóa
phương Tây. Khi
ta bỏ những thứ
đó vào đầu, vào
ḷng ta, th́
thân tâm ta sẽ
khổ đau, và ta
sẽ khiến cha mẹ
ta khổ đau, tổ
tiên ta khổ đau.
Chúng ta không
biết rằng có
châu báu, có
những giá trị
trong xă hội
phương Tây mà ta
có thể học hỏi
để làm giàu thêm
cho văn hóa của
bản thân. Ta cần
biết rằng trong
văn hóa của
chính ḿnh,
trong văn hóa
Việt Nam, cũng
có châu báo, và
chúng ta phải
gom góp chúng
lại, học hỏi, v́
chúng ta đến từ
văn hóa đó, đó
là nền tảng của
chúng ta.
Nhưng v́ chúng
ta giận hờn cha
mẹ, chúng ta
không thể nói
chuyện, trao đổi
với họ. Do đó
cha mẹ chúng ta
không thể chuyển
giao cho chúng
ta châu báo,
những tinh hoa
của truyền
thống, phong tục
cổ truyền.
Nếu cha mẹ không
thể nói chuyện
với con cái họ,
làm sao họ có
thể chuyển giao
cho chúng những
giá trị và đức
hạnh đă được
trao lại từ
truyền thống qua
bao thế hệ?
Nhưng giữa thế
hệ của những
người trẻ và
người lớn tuổi
có hố phân cách
lớn. Một trong
những lư do là
thế hệ của người
lớn quá bận rộn,
họ có quá nhiều
công việc, và
thế hệ tuổi trẻ
cũng bận rộn
không kém.
Cả ngày cha mẹ
đều bận rộn, cả
ngày con cái
cũng bận rộn,
buổi tối khi họ
trở về nhà, tất
cả ai cũng đều
mệt mỏi, và họ
dễ quạu; bực bội
phát sinh do họ
mệt mỏi. Không
có bên nào biết
làm sao để lắng
nghe sâu lắng,
làm sao để nói
những lời yêu
thương, ḥa
hợp.
Do đó, khoảng
cách giữa hai
thế hệ càng ngày
càng lớn rộng,
và thế hệ tuổi
trẻ cảm thấy đau
khổ, thế hệ
người lớn cũng
cảm thấy đau đớn
không kém. Cuối
cùng thế hệ tuổi
trẻ không c̣n có
thể nh́n thế hệ
người lớn, và
cha mẹ không thể
nh́n con cái họ,
v́ cả hai bên
đều quá đau khổ
v́ nhau.
Chúng ta chưa
thể tiếp nhận
cách sống từ văn
hóa dân tộc, văn
hóa tâm linh, và
do đó chúng ta
không biết nghệ
thuật sống. Và
trong sự quên
lăng này, trong
sự vụng về, dại
khờ này, chúng
ta gây ra lỗi
lầm, giống như
khi con sư tử mẹ
phóng sang bên
bờ rănh sâu,
trong một phút
lăng quên đă làm
sẩy con xuống hố
sâu.
Đă có bao nhiêu
bà mẹ, ông cha
đau khổ v́ đánh
mất con ḿnh?
Tại sao họ mất
con? V́ họ đă vô
tâm, v́ họ vụng
về. Điều này
không chỉ đúng
cho cha mẹ người
Việt Nam, mà
cũng đúng cho
các bậc cha mẹ
người Tây
phương. V́ có
quá nhiều cha mẹ
người Tây phương
quá bận rộn, họ
không có chánh
niệm, họ vụng
về, do đó, họ
cũng đă đánh mất
con cái ḿnh.
Dầu họ không có
cùng văn hóa như
người Việt Nam
chúng ta, họ
cũng đă mất con
trai, con gái
họ, giống như
người Việt Nam
đến sống ở Tây
phương.
Người Việt Nam
đau khổ hơn
người Tây
phương, không
chỉ v́ sự cách
biệt tuổi tác,
mà c̣n v́ cách
biệt văn hóa
giữa hai thế hệ.
Dầu người Tây
phương không có
sự cách biệt văn
hóa, như đối với
người Việt Nam,
nhưng họ có sự
cách biệt tuổi
tác. Có thể văn
hóa của thế hệ
này khác với thế
hệ kia, và cha
mẹ không thể
chấp nhận văn
hóa của thế hệ
tuổi trẻ. Các
kiểu tóc của
người trẻ bây
giờ rất khác với
thế hệ cha ông,
và chỉ kiểu tóc
thôi cũng đă làm
thế hệ cha mẹ
phải không bằng
ḷng với con cái
họ.
Những người trẻ
Việt Nam chịu
ảnh hưởng của
văn hóa phương
Tây, âm nhạc mà
giới trẻ lắng
nghe làm nhức
đầu thế hệ cha
ông. Cha mẹ rất
ngạc nhiên rằng
con cái họ lại
có thể nghe được
loại âm nhạc đó.
Không chỉ các
gia đ́nh Việt
Nam sống ở Tây
phương có vấn đề
về sự khác biệt
giữa các thế hệ,
mà các gia đ́nh
phương Tây cũng
có những vấn đề
này.
Đó là một bi
kịch khi cha mẹ
không c̣n có thể
nh́n con cái họ
nữa, không c̣n
hạnh phúc khi
nh́n nhau nữa,
v́ thế khi ngồi
ăn cùng nhau, họ
không hạnh phúc.
V́ không có hạnh
phúc, chúng ta
đặt tờ bào trước
mắt ḿnh, để
không phải nh́n
thấy các thành
viên khác trong
gia đ́nh. Có
những gia đ́nh
mà không ai muốn
nh́n mặt ai, họ
chỉ muốn nh́n về
hướng khác. Đó
không phải là
hướng của những
lư tưởng chung,
đó là hướng của
chiếc truyền
h́nh. Nh́n vào
hướng đó để bớt
khổ đau, để quên
khổ đau.
Họ đang chạy
trốn khỏi thực
tại, thực tại
của khổ đau.
Nh́n người thân,
ta không c̣n cảm
thấy họ thân
thiết nữa. Gương
mặt họ luôn khổ
đau, và khi
những người này
nh́n lại chúng
ta, họ cũng
không thấy ǵ
ngoài khổ đau
trên gương mặt
ta. Do đó dường
như ta đă có một
hiệp ước ngầm
rằng cả hai bên
đều nh́n vào
truyền h́nh, để
không c̣n khổ
đau nữa. Đó là
những ǵ đang
xảy ra trong rất
nhiều gia đ́nh,
dầu chúng ta làm
như nó không
đang xảy ra. Giờ
ta phải có can
đảm nh́n thẳng
vào sự thật và
tự hỏi ḿnh, tại
sao? Tại sao ta
để cho điều đó
xảy ra?
Sư tử mẹ đă phạm
một lỗi lầm: bà
đă để sư tử con
rơi rớt, để mất
nó. Chúng ta
cũng thế: chúng
ta đánh mất con
cái ḿnh v́ sự
dại khờ của
chúng ta, và con
cái chúng ta
cũng không c̣n
cha mẹ, dầu
chúng ta vẫn c̣n
ở cơi đời này.
Nhưng cha mẹ
không thể yêu
thương con cái
họ nữa, không
thể ôm ấp chúng
nữa, không thể
ngồi ăn với
chúng nữa, và
con cái không
c̣n thấy giá trị
của cha mẹ nữa.
Đó là một bi
kịch lớn, không
chỉ cho người tỵ
nạn Việt Nam ở
phương Tây, mà
c̣n cho cả những
người đă có mặt
ở đó lâu hơn.
Có những người
cha mẹ khi thức
giấc, giống như
con sư tử mẹ khi
thức giấc, nhận
ra được sự vụng
về của ḿnh,
những lầm lỗi
ḿnh đă phạm
trong quá khứ,
và họ tu tập để
mang những đứa
con trở về.
Chúng ta biết
rằng sư tử mẹ
rầt kiên nhẫn,
đầy t́nh thương,
dầu đôi khi nó
phải nói những
điều không muốn
nói, những điều
rất khó nói như:
“Này con, ta rất
lấy làm tiếc,
nhưng con không
phải là sư tử
con, mà con là
khỉ, ta đă không
tế nhị”. Bạn có
thể thấy là sư
tử mẹ rất đau
khổ khi nói lên
những lời ấy.
Nhưng v́ yêu
thương chú sư tử
con mà nó phải
nói lên những
điều này.
Khi chúng ta là
người cha hay
người mẹ đă đánh
mất hay sắp mất
con cái, chúng
ta cũng phải
tỉnh giấc để
thấy nguy cơ sắp
mất con. V́ nếu
điều đó xảy ra,
chúng ta đánh
mất tất cả:
tương lai, v́
con cái là tương
lai của chúng
ta. Do đó chúng
ta phải làm tất
cả, bất cứ điều
ǵ có thể để
mang chúng trở
về.
Bằng t́nh
thương, bằng sự
quyết tâm, chúng
ta có thể làm
được bất cứ điều
ǵ. Nếu đă đánh
mất con cái, mà
chúng ta không
muốn phải trải
qua những giây
phút khó khăn
khi phải nhận
lỗi với chúng,
th́ con cái
chúng ta sẽ
không bao giờ
quay trở lại. Do
đó ta phải học
từ sư tử mẹ,
chúng ta phải
biết làm thế nào
để đến bên con
cái, nhận lỗi
của ḿnh, để dần
dần mang chúng
trở về với chúng
ta.
Lúc đó, mối liên
hệ giữa con cái
và cha mẹ có thể
được nối kết trở
lại. Sau đó
chúng ta có thể
giao truyền cho
con cái những
điều tốt đẹp của
nền văn hóa từ
quê hương, xứ
sở, từ nền văn
hóa tâm linh,
đến từ chư Phật
và các vị Bồ
tát.
Nếu là người
theo đạo Ki-tô
giáo, ta cũng
phải làm giống
như thế. Nếu ta
không thích giáo
hội, không ưa
cha xứ, đức giám
mục; hoặc nếu ta
theo Do Thái
giáo, mà ta
không ưa các vị
rabbi, không
thích giáo đoàn,
v́ họ đă phạm
lỗi lầm, không
hiểu chúng ta,
đă ép bưộc chúng
ta làm những
điều mà chúng ta
không hiểu lư do
tại sao phải
làm.
Khi chúng ta
dùng quyền lực
để ép bưộc người
khác phải làm
những điều họ
không hiểu, họ
sẽ không thích
chúng ta, không
thích Kitô giáo
hay Do Thái giáo
của chúng ta, họ
sẽ rời bỏ chúng
ta để đi t́m một
con đường tâm
linh khác. Các
vị giám mục, các
rabbi, các cha
xứ, các bậc cha
mẹ, phải thấy rơ
những lầm lỗi
ḿnh đă làm, và
phải học từ sư
tử mẹ.
Họ cần phải nói
với con cái
ḿnh: “Trong
truyền thống văn
hóa, trong xă
hội của chúng ta
có những điều
không tốt đẹp,
có những điều
xấu xa, những
điều gây hiểu
lầm, không có tự
do, nhưng đó
không phải là
tất cả”.
Nếu chúng ta cố
gắng, đi trở về
với văn hóa, với
tâm linh và cách
sống văn hóa của
chúng ta, ta sẽ
khám phá ra
nhiều, rất nhiều
châu báu quư giá
trong truyền
thống của chúng
ta, dầu đó là
văn hóa phương
Tây, hay phương
Đông, dầu đó là
Do Thái, Kitô
hay Phật giáo.
Phật giáo có
những điều tốt
đẹp; Phật giáo
cũng có những
điều chưa tốt
đẹp. Những điều
chưa tốt đẹp có
mặt, v́ có những
người không hiểu
Phật giáo, do đó
họ đă làm những
việc mà họ cho
là ‘Phật giáo’,
nhưng thực sự
không phải là
Phật giáo.
Có mê tín dị
đoan, có đàn áp,
ép buộc người ta
làm những việc
thực sự ra là mê
tín dị đoan. Có
rất nhiều điều
tốt đẹp về Phật
giáo, và trong
Kitô giáo, trong
Do Thái giáo,
chúng ta cũng có
thể t́m được
những điều tốt
đẹp. Nhưng những
người có trách
nhiệm trong các
tôn giáo này, v́
họ không t́m
được an lạc cho
chính bản thân,
nên họ đă có
những hành động
ép buộc người
khác, đán áp
người khác.
Và những người
không thể chịu
đựng được điều
đó, họ sẽ rời bỏ
tôn giáo của
ḿnh. V́ thế, sư
tử mẹ phải tỉnh
giác, phải khéo
léo, phải nói:
“Mẹ đă sai lầm.
Hăy tha thứ cho
mẹ”. Chúng ta
phải coi con cái
như là bạn bè
khi thực hiện
điều này. Phải
nói với chúng
như thể đang nói
với bạn bè và
phải công nhận
rằng ḿnh đă sai
lầm.
Tổ tiên của
chúng ta cũng có
sai lầm. Họ cũng
không khéo léo,
không thực sự
thấu hiểu thông
điệp, không nắm
được đức tính
thực sự của
truyền thống của
chúng ta, và họ
đă làm những
điều ngược lại
với t́nh thương
yêu, với sự hiểu
biết. Họ đă lợi
dụng tôn giáo để
gây ra chiến
tranh, để hỗ trợ
cho bạo động,
cho sự phân biệt
chủng tộc.
Đó không phải là
châu báu của văn
hóa và tôn giáo,
đó là rác rưởi
đă được tạo ra
do sự không khéo
léo, vụng về.
Chúng ta cần
phải nh́n nhận
rằng những thứ
này đều có mặt,
nhưng chúng
không phải là
thứ duy nhất.
Cũng có những
thứ quư báu, giá
trị, những châu
báu, rực rỡ,
sáng chói, những
thứ của hạnh
phúc. Nếu chúng
ta cùng nhau trở
về, chúng ta có
thể t́m được
những thứ này,
để trao truyền
cho các thế hệ
mai sau tận
hưởng.
Chúng ta cần
biết làm thế nào
để tha thứ, làm
thế nào để trở
về với cha ông,
v́ thế chúng ta
sẽ cùng nhau
bước trên đường
khám phá, để
khám phá ra nét
đẹp của cội
nguồn. Không
biết có bao
nhiêu người trên
thế giới có thể
hành động giống
như con sư tử mẹ
đă làm?
Sáng nay tôi
dùng điểm tâm
với một sadi.
Chú Sa-di là
người Việt Nam,
trưởng thành ở
Tây phương. Chú
rất thành công
trong việc học
hành ở xứ người,
đă tốt nghiệp
kiến trúc sư, và
đă kiếm được
việc làm. Chú
rất hạnh phúc
với công việc
của ḿnh, cho
đến ngày chú
được gặp lại sư
tử mẹ của ḿnh,
chú thấy rơ con
đường của chú là
con đường trở về
nhà.
Chú tham dự một
khóa tu dành cho
người Việt Nam ở
nam California.
Chú nói và viết
tiếng Anh hoàn
hảo, nhưng tiếng
Việt th́ không
thông, và chú
biết rất ít về
văn hóa cũng như
Phật giáo Việt
Nam. Nhưng chỉ
trong một khóa
tu, chú đă có
thể trở về với
những giá trị
của truyền thống
tâm linh và văn
hóa của ḿnh.
Sau đó chú viết
cho tôi một lá
thư và nói:
“Kiến trúc để
làm ǵ? Kiến
trúc là để tạo
ra không gian để
người ta có thể
sống dễ chịu,
trong an lạc.
Con nghĩ trở
thành một tu sĩ
cũng là thực
hành một loại
kiến trúc khác,
v́ chúng ta cũng
tạo ra những
không gian để
người ta có thể
sống thoải mái,
trong tự do.
Khi trở thành
một tăng sĩ, con
thực sự đang
tiếp nối lư
tưởng được trở
thành một kiến
trúc sư”. Rồi
chú hỏi, “Xin
cho con được
thành tu sĩ, v́
con nghĩ là con
sẽ có thể giúp
được nhiều
người, nếu con
là tu sĩ”. Chú
đă xuất gia mùa
đông năm ngoái,
nhưng đă trở về
với cội nguồn
rất nhanh chóng,
chú đă có thể
nói sơi tiếng
Việt, và chú đă
học hỏi rất
nhiều điều về
văn hóa Việt
Nam. Chú làm
được điều đó
nhanh chóng v́
trong tim chú có
rất nhiều yêu
thương, có sự
ngưỡng mộ rất
sâu xa.
Tất cả các chú
sư tử con, nếu
đă lạc đường,
nếu có thể làm
được như chú
Sadi kia, v́ sư
tử mẹ đă có mặt
ở đó với tất cả
tấm ḷng yêu
thương. Không
thể nói bà không
có mặt ở đó. Bà
đă mở rộng tấm
ḷng để hướng
dẫn cho sư tử
con khi nó trở
về nhà.
Tất cả các chú
sư tử con, người
đă lạc lối,
người đă đánh
mất ḍng giống,
sự truyền thừa.
Chúng ta phải
lắng nghe lời
kêu gọi của sư
tử mẹ, trong máu
thịt của ta, và
hăy trở về với
cội nguồn. Điều
đó không chỉ
đúng cho những
người Việt Nam
sống ở Tây
phương mà c̣n
đúng cho cả
những người Việt
Nam đang sống
trong nước, mà
cảm thấy như đă
đánh mất bản
thân. Người Việt
Nam ở Tây phương
cảm thấy lạc
lỏng, v́ “Đây
không phải là
nhà, xă hội thực
sự của tôi”. Và
xă hội Tây
phương cũng đă
khiến cho rất
nhiều người trẻ
không cảm thấy
thoải mái ngay
chính trong xă
hội của ḿnh, họ
cảm thấy họ đă
lạc lối.
Họ không có
phương hướng,
không nhận nh́n
được tổ tiên,
cha mẹ của họ.
Nỗi khổ của
người tỵ nạn
Việt Nam lang
thang không gốc
rễ, với nỗi khổ
của những người
trẻ Tây phương
không có cội
nguồn, cái nào
lớn hơn?
Thế kỷ thứ 16,
17, đă có những
người truyền
giáo đạo Kitô
vào Việt Nam,
nhưng phương
pháp của họ
không được tốt.
Họ khuyên người
Việt Nam, “Đừng
có thờ cúng tổ
tiên. Đừng có lễ
bái Đức Phật.
Hăy vứt bỏ tất
cả. Hăy dẹp bàn
thờ, đừng đốt
nhang ở đó nữa.
Chỉ nên tin theo
đức chúa Jesus
Christ”. V́ cái
nh́n hẹp ḥi của
họ, họ muốn tách
rời chúng ta
khỏi cội nguồn
của ḿnh. Do đó
họ đă tạo ra
nhiều người
không có cội
nguồn.
Khi đến phương
Tây, tôi không
đến với tư cách
của người truyền
giáo. Tôi đển để
kêu gọi chấm dứt
chiến tranh Việt
Nam. V́ tôi là
người tu sĩ, dầu
ở đâu, tôi cũng
phải tọa thiền,
thiền hành và
thiền thở. Những
người trẻ ở Tây
phương đồng ư
với tôi, muốn
cùng làm việc
với tôi để chấm
dứt chiến tranh
giữa nước Mỹ và
Việt Nam, và họ
học làm thế nào
để thở, làm thế
nào để ăn trong
chánh niệm. Khi
họ thực hành
những điều này,
họ cảm thấy rất
nhẹ nhàng và
hạnh phúc.
Các bạn tôi cũng
khuyến khích tôi
mở các khóa tu,
để nhiều người
có thể học hỏi
về chánh niệm.
Tôi không bao
giờ nói, “Hăy từ
bỏ truyền thống
của bạn để theo
tôi”. Một con sư
tử chỉ có hạnh
phúc, khi được
là chính nó. Nó
không muốn trở
thành một con
khỉ. Dầu nó có
thể học hỏi được
nhiều điều mới
lạ từ khỉ, nhưng
nó sẽ không thực
sự hạnh phúc khi
bị tách rời khỏi
cội nguồn sư tử
của nó. Một
người theo Kitô
giáo cũng vậy.
Dầu bạn có bất
măn với nhà thờ,
với cha xứ, với
cha mẹ, bạn cũng
cần phải hiểu đó
là cội nguồn của
bạn. V́ thế tôi
khuyến khích bạn
đến chùa để học
tập chánh niệm,
rồi bạn sẽ thấy
trong chính
truyền thống tâm
linh của bạn, có
châu báu, bạn sẽ
trở về với
truyền thống, sẽ
giúp gầy dựng
lại châu báu
trong truyền
thống của bạn.
(. . .)
Ngũ giới không
phải là để ép
buộc ta làm điều
ǵ, chúng là
cách sống trong
chánh niệm.
Chánh niệm là
sống với sự tỉnh
thức, để biết
rằng nếu tôi làm
điều này, nó sẽ
đem lại tai hại,
trái lại, nó sẽ
đem lại hạnh
phúc. Năm giới
được đặt ra là
để giữ cho thân
tâm ta được khỏe
mạnh, để giữ cho
gia đ́nh chúng
ta được khỏe
mạnh. Đây là
chân lư mà ta
phải chấp nhận:
rằng nếu ta sống
theo năm giới,
ta sẽ bảo vệ
được những mối
liên hệ giữa ta
với người, để
chúng không bị
đổ vỡ. Chỉ có
một con đường
duy nhất là tu
tập theo năm
giới.
Khi đến được một
trung tâm thực
hành như thế
này, chúng ta
cần phải biết
rằng, nếu ta
chấp nhận năm
giới, và đem
chúng về nhà để
thực hành, đó là
lời cầu nguyện
để bảo vệ chúng
ta và bảo vệ
thân tâm của
những người ta
yêu thương. Ta
có thể chắc chắn
rằng gia đ́nh
của chúng ta sẽ
không bao giờ bị
đổ vỡ, nếu chúng
ta thực hành
theo Năm giới.
Hôm nay, huynh
Sanghakaya sẽ đi
gặp Phó Tổng
thống Mỹ, nên
hỏi tôi, “Con sẽ
nói ǵ với ông
Phó Tổng thống?”
và tôi tră lời,
“Năm giới”. Tôi
khuyên huynh ấy
đặc biệt nói về
Giới thứ ba. V́
nếu Tổng thống
Clinton đă thực
hành theo năm
giới, ông đă
không cảm thấy
khó tră lời
trước sự chất
vấn của báo
giới, tinh thần
ông không phải
bất ổn, trong
khi ông c̣n bao
nhiêu việc phải
làm. Nhưng v́
gia đ́nh, v́
quốc gia, ông
phải trả lời
những câu hỏi
hóc búa này.
Ông cần tu tập
năm giới không
chỉ để bảo vệ
bản thân, mà c̣n
để bảo vệ quốc
gia. Cả đất nước
ông cần đến Năm
giới. Nếu tất cả
mọi người trong
xă hội Mỹ, xă
hội Pháp, sống
theo Năm giới,
th́ chắc chắn,
họ không phải
đối mặt với bao
khủng hoảng.
Giới thứ ba
khuyên rằng,
“Hăy tránh xa
t́nh dục không
chính đáng. Nếu
hai thể xác muốn
ḥa hợp nhau,
điều đó chỉ có
thể xảy ra khi
cả hai thệ
nguyện lâu dài”.
Nếu không có
t́nh yêu và sự
thệ nguyện,
nhưng lại có sự
giao hợp thân
xác, th́ hoạt
động t́nh dục đó
sẽ mang đến khổ
đau cho cả hai
phía.
Chúng ta nghĩ
rằng khi ở bên
nhau, ta sẽ bớt
cô đơn. V́ bên
trong tất cả
chúng ta đều cô
đơn, chúng ta
dại khờ khi nghĩ
rằng nếu chúng
ta sống với ai
đó, ta sẽ không
c̣n cô đơn nữa,
nhưng sự thật là
trái lại. Chúng
ta đă ở bên nhau
biết bao lâu, mà
vẫn không thấy
bớt cô đơn; thật
ra ta cảm thấy
dằn vật, bức xúc
hơn trước đó, v́
cơ thể chúng ta
có thể giao hợp,
nhưng hoàn toàn
không có sự
thông cảm, không
có sự ḥa hợp
giữa hai tâm
hồn. Do đó sống
theo Giới thứ ba
là để bảo vệ
thân tâm của ta
và thân tâm của
người khác.
Và Giới thứ tư,
đó là ǵ? Giới
thứ tư giúp
chúng ta biết
làm thế nào để
lắng nghe, làm
thế nào để sử
dụng ái ngữ.
Chúng ta không
bao giờ nói lời
thô tục, đổ lỗi,
buộc tội, và khi
ai đó nói, ta
phải lắng nghe
mà không nên la
hét hay cắt
ngang. Chỉ cần
biết lắng nghe
là ta cũng đă
giúp người khác
rất nhiều. Người
kia đă từng đau
khổ, mà không có
cơ hội để thổ lộ
nỗi khổ đau đó.
Không ai muốn
ngồi xuống lắng
nghe họ, v́ thế
nỗi khổ của họ
không được vơi
bớt.
Giờ chúng ta
ngồi xuống bên
người đó, giống
như Bồ tát
Avalokiteshvara
(Quán Thế Âm),
lắng nghe với
tất cả ḷng bi
mẫn, để người đó
có thể nói về
nỗi đau khổ của
ḿnh. Có thể
người kia nói
những điều ta
không đồng ư, v́
họ có cái nh́n
thiên lệch, hoặc
là họ kết tội
chúng ta, những
điều họ nói đầy
cay độc, nhưng
v́ ḷng bi mẫn,
chúng ta có thể
vẫn ngồi đó để
lắng nghe họ.
Khi họ được nói,
họ sẽ vơi bớt
khổ đau.
Rồi vài ngày
sau, bạn sẽ đến
bên người đó để
nói: “Ngày hôm
đó, khi nghe bạn
nói, tôi biết
bạn đang đau
khổ, tôi rất
hiểu bạn. Nhưng
có một số điều,
tôi nghĩ là bạn
đă hiểu lầm, hăy
để tôi được giải
thích, để bạn có
thể hiểu tôi
hơn”. Với những
lời lẽ dịu dàng
như thế, ta giúp
người khác thoát
khỏi tà kiến của
họ, và họ sẽ
chuyển đổi.
Giới thứ tư
khiến cho hố
ngăn cách, những
trở ngại giữa ta
và người biến
mất, để ta và họ
có thể đến với
nhau, thiết lập
lại sự giao hữu.
Do đó, Giới thứ
tư là một sự
nguyện cầu, và
chúng ta cầu
nguyện nơi
miệng, nơi tâm.
Chúng ta không
cần phải niệm
Jesus Christ,
hay Phật, chúng
ta chỉ cần có
đôi tai biết
lắng nghe, và
miệng biết nói
lời ái ngữ.
Sau ba, năm hay
bảy ngày, hoàn
cảnh sẽ đổi
thay. Người khác
sẽ thấy là ta
trở nên tử tế
hơn. Trước kia,
ta giống như một
bức tường, bất
cứ ai nói ǵ ta
cũng không nghe
được. Nay khi ta
nói, lời nói của
ta trở nên nhẹ
nhàng, dễ chịu.
Đó là Giới thứ
tư –đó không
phải là điều ta
có thể thực hiện
được v́ ta muốn
làm thế, mà đó
là điều ta làm
được v́ ta đă có
thực hành, v́
tăng đoàn đă hỗ
trợ cho chúng ta
trong việc thực
hành.
Khi ta thực hành
sự giữ giới này
trong gia đ́nh,
là ta đă bảo vệ
được gia đ́nh
ḿnh: gia đ́nh
ta sẽ được toàn
vẹn, tránh được
đổ vỡ, nó đă
được bảo vệ. Nếu
ai cũng có thể
thực hành Giới
thứ tư này, dù
chưa hoàn hảo,
chúng ta cũng có
thể chắc chắn
rằng gia đ́nh họ
cũng sẽ không bị
đổ vỡ.
Giới thứ năm là
về sự tiêu thụ.
Chúng ta phải
chánh niệm khi
tiêu thụ. Phải
biết loại đồ ăn
ǵ là cho thân,
ǵ là cho tâm,
để chúng được
thiện hảo và
khỏe mạnh. Khi
ăn vào, ta thấy
nhẹ nhàng, giải
thoát, và thân
tâm được thêm
dinh dưỡng.
Những cũng có
những thứ, khi
chúng ta ăn vào,
sẽ hủy hoại thân
tâm. Có những
quyển sách, tạp
chí, chương
tŕnh truyền
h́nh đầy độc
tố.
Khi xem chúng,
ta thấy có quá
nhiều hận thù,
quá nhiều bạo
lực, nhiều sự
hiểu lầm, sợ hăi
len vào thân tâm
ta. Khi ta tự
nhồi nhét ḿnh
với những thứ
này mỗi ngày,
làm sao ta tránh
khỏi bị bịnh?
Khi nổi giận, ta
chỉ muốn t́m cái
búa, con dao hay
một khẩu súng để
giết hại người
khác. Chúng ta
không biết dùng
lời ái ngữ.
Không biết lắng
nghe, v́ đă hấp
thụ quá nhiều
bạo lực trong
các phim ảnh.
Quảng cáo luôn
nói với chúng ta
rằng, “Hăy mua
sản phẩm này để
được hạnh phúc”.
Nhưng khi đă mua
nó rồi, ta phải
nhận bao hậu quả
xấu.
Hạnh phúc không
đến từ sự tiêu
thụ. Khi đă tháo
gỡ hết mọi khổ
đau bên trong ta
th́ hạnh phúc sẽ
đến. Điều này
thật diệu kư.
Nhiều người nghĩ
rằng hạnh phúc
đến từ sự tiêu
thụ cái ǵ đó,
từ việc mang cái
ǵ đó từ bên
ngoài vào trong
ta, nhưng thực
sự là hạnh phúc
đến từ bên trong
ta.
Khi đă có thể
tháo gỡ khổ đau
trong ta, ḷng
sân hận, tuyệt
vọng trong tâm
ta, th́ hạnh
phúc sẽ nở ra
như đóa hoa sen,
hay hoa hồng.
Hạnh phúc của
hoa không đến từ
bên ngoài, mà từ
bên trong đóa
hoa, hạnh phúc
của chúng ta
cũng thế. V́ ta
có những thứ
tiêu cực trong
thân tâm, chúng
ta không thể có
hạnh phúc.
Không phải v́
được ăn nhiều mà
ta cảm thấy được
hạnh phúc, nhất
là khi ta ăn
những chất độc
hại làm cơ thể
ta mỗi ngày thêm
nặng nề. Tâm ta
cũng thế: không
phải v́ ta hấp
thụ nhiều phim
ảnh, sách báo mà
nó cảm thấy hạnh
phúc, mà chính
v́ ta có thể
tống khứ những
chất độc hại ra
khỏi cơ thể. Đó
là điều mà Pháp
thoại có thể
mang đến cho
chúng ta.
Lắng nghe Pháp
thoại là để tháo
gỡ những hiểu
lầm, si mê, tham
đắm, sân hận
trong ta. Ta
càng có thể tháo
gở được nhiều,
th́ tâm ta càng
cảm thấy nhẹ
nhàng, thư thái,
và hạnh phúc là
điều có thể.
Hạnh phúc tăng
trưởng từ trong
ra ngoài. Hăy
nhớ điều đó.
Do đó, Giới thứ
năm là về sự
tiêu thụ trong
chánh niệm. Mỗi
ngày ta ăn những
ǵ, uống ǵ, hấp
thụ những sách
báo ǵ, những
mối liên hệ ǵ
th́ rất quan
trọng, v́ khi ta
tiêu thụ như
thế, ta có thể
đem rất nhiều
độc tố vào trong
thân.
Có những đứa trẻ
ngồi trước
truyền h́nh ba
tiếng mỗi ngày,
và trong ba
tiếng đồng hồ
đó, chúng đă
nhồi nhét vô tâm
trí bao điều bạo
lực. Khi ra
ngoài xă hội,
chúng cũng áp
dụng những điều
đă xem trên
truyền h́nh. Khi
không thích điều
ǵ, ta muốn dẹp
bỏ nó. Chúng ta
có dụng cụ điều
khiển từ xa, khi
không thích ǵ
ta có thể bấm bỏ
nó. Khi không
thể dẹp bỏ người
ta ghét, ta bắn
giết họ để nhanh
chóng dẹp họ qua
một bên.
Nhưng khi làm
thế, ta phải vào
tù, v́ thế ta
không thể loại
bỏ họ nhanh
chóng như ta
muốn. Ta không
có kiên nhẫn,
không có yêu
thương, không có
sự hiểu biết, và
đó là kết quả
của những ǵ ta
đă nhận được
trong cuộc sống
hàng ngày, qua
sự hấp thụ của
ta. Điều đó
không phải là
thực sự sống, mà
đúng hơn là thực
sự chết, nó
giống như một
kiểu tự tử.
Chúng ta cho
rằng các tăng ni
không thực sự
sống v́ họ không
coi truyền h́nh,
xem sách báo,
nhưng họ mới
thực sự sống. Họ
không tiêu thụ
độc tố, không tự
nhồi nhét vô
người những độc
tố, nhờ đó thân
tâm họ nhẹ nhàng,
thảnh thơi.
Bất cứ khi nào
tôi thấy ai đó
quỳ xuống để thọ
ngũ giới, tôi
cảm thấy hạnh
phúc. Hạnh phúc
cho người đó,
cho gia đ́nh đó.
Phật tử có thể
thọ ngũ giới
(năm giới) từ
tôi, người theo
Ki-tô giáo có
thể thọ nhận Năm
giới từ cha xứ
hay đức giám mục,
v́ Năm giới cũng
có trong Ki-tô
giáo. Tôi đă
viết về chúng
rất rơ ràng.
Người trẻ cũng
có thể đọc
được.
Đó không phải là
những điều cấm
đoán, không ép
buộc bạn phải
làm điều ǵ đó.
Chỉ là v́ chúng
tôi đă thấy quá
nhiều đau khổ,
nên chúng tôi
nguyện giữ Năm
giới. V́ đă tỉnh
thức, chúng tôi
thấy rằng nếu
không thực hành
Năm giới, gia
đ́nh chúng tôi
sẽ đổ vỡ, xă hội
chúng tôi sẽ đổ
vỡ. Đó là lư do
tại sao chúng
tôi muốn thực
hành điều này.
Và ở các khóa tu,
khi tôi thấy ba
trăm, bốn, năm
trăm người quỳ
xuống để thọ ngũ
giới, tôi cảm
thấy vô cùng
hạnh phúc đến
nỗi tôi muốn
khóc, v́ tôi
biết ngũ giới sẽ
giúp họ tự bảo
vệ ḿnh, bảo vệ
gia đ́nh họ, bảo
vệ xă hội của họ.
Chúng tôi sống ở
nơi người ta chế
biến rượu, nhưng
khi có bốn hay
năm người nguyện
không uống giọt
rượu nào, tôi
cảm thấy rất
hạnh phúc. Rượu
đă khiến cho bao
gia đ́nh bị đổ
vỡ. Ở Mỹ, ở Pháp,
quá nhiều trẻ em
lớn lên trong
đau khổ, chỉ v́
cha mẹ của các
em nghiện ngập.
Chúng ra đường
t́m đến ma túy
để quên khổ, và
v́ các loại ma
túy này, chính
quyến đă phải áp
dụng những chính
sách cứng rắn để
chặn đứng đường
dây buôn bán ma
túy.
Nếu chúng ta giữ
được năm giới,
nếu tất cả mọi
người sống trên
đất nước này đều
sống theo Năm
giới, th́ chúng
ta không cần đến
chính quyền phải
sử dụng những
phương tiện mạnh
mẽ để dẹp bỏ
việc sử dụng ma
túy.
Thỉnh thoàng vị
Bộ trưởng Y tế
của Pháp cũng
kêu gọi người ta
bớt sử dụng
rượu, v́ đă có
biết bao tai nạn
trên đường phồ
do sử dụng rượu.
Tôi nhớ có một
tấm bảng quảng
cáo như thế này,
“Một ly –th́
được; ba ly –là
gặp họa”. Và tôi
đă nói, “Làm sao
có tới ly thứ ba,
nếu không có ly
rượu đầu tiên?”
Do đó, tôi nghĩ
là không nên có
đến một ly rượu
nào, v́ sau ly
thứ nhất, có thể
bạn sẽ khát ly
thứ hai hay ly
thứ ba. Một khi
đă có ly thứ hai,
th́ bạn đánh mất
sự sáng suốt và
b́nh tĩnh. Nên
tốt hơn hết là
chẳng nên bắt
đầu ly thứ nhất.
Nếu những người
làm rượu nghe
tôi nói chắc là
họ sẽ giận dữ
lắm.
Tôi biết là họ
sẽ thất nghiệp
nếu không có ai
uống rượu nhưng
khi tôi nghe
tiếng xe cứu
thương chạy
nhanh đến chỗ
tai nạn. . . vài
ngày trước đây,
bốn hay năm
người trẻ ở
Duras, v́ say
rượu đă lái xe
xuống hồ nước và
tất cả đều chết
ch́m, v́ họ đă
không giữ được
giới thứ năm.
Cha mẹ uống
rượu, th́ con
cái cũng uống
rượu – đó là
điều tự nhiên.
Chúng ta nên
uống bao nhiêu?
Thường cảnh sát
sẽ có những dụng
cụ để bạn thở
vào đó, và họ sẽ
biết bạn có lái
xe khi đang say
rượu không. C̣n
bao nhiều thứ đồ
uống ngon bổ
khác, mà không
phải là rượu,
như nước trái
cây.
Nếu chúng ta giữ
năm giới, chúng
ta không chỉ giữ
ǵn cho thân
ḿnh, tâm ḿnh:
chúng ta cũng
bảo vệ con cái
và cha mẹ chúng
ta. Nếu khi c̣n
trẻ, chúng ta bị
chết đi, th́ cha
mẹ chúng ta cũng
cảm thấy như họ
đă chết, nếu cha
mẹ chết đi, con
cái sẽ cảm thấy
như họ cũng chết.
V́ thế khi ta tự
bảo vệ bản thân,
là ta cũng bảo
vệ người khác.
Giữ ǵn năm giới
không phải là
vấn đề của cá
nhân, nó là vấn
đề của quốc gia.
Nếu cả nước đều
thực hành giữ
năm giới th́ đất
nước sẽ phồn
thịnh. Sẽ không
c̣n những gia
đ́nh bị đổ vỡ,
xă hội bị đổ vỡ.
Do đó, ta biết
rằng việc giữ
ǵn năm giới là
phương cách cụ
thể nhất để thực
hành chánh niệm.
Nếu chúng ta thọ
năm giới, và
khuyến khích mọi
người trong gia
đ́nh ta thọ năm
giới, th́ ngày
đó là ngày hạnh
phúc nhất trong
cuộc đời ta, v́
gia đ́nh ta sẽ
được duy tŕ, và
cuộc sống gia
đ́nh đơn giản,
tốt đẹp sẽ ảnh
hưởng đến những
gia đ́nh khác
trong xă hội.
HT Thích Nhất
Hạnh
Diệu Liên dịch