Phẩm 25

 

CHÁNH NHÂN VÃNG SANH

 

Phật dạy trong các pháp bố thí chỉ có thí pháp là thù thắng nhất, ta cần biết rõ thí có hai cách :

Thứ nhất là dùng tiền bạc, cơm gạo, áo tiền, vật chất gồm những gì cần dùng cho đời sống đem ra bố thí, việc làm bằng tinh thần tự nguyện giúp đỡ cho những người đang thiếu thốn, nghèo nàn, hoặc ấn tống kinh sách thể hiện qua tấm lòng thông suốt, sự hướng tâm quay về phật pháp có hành động bằng tâm hoan hỷ cúng dường, tu bổ sửa sang chùa chiền để nuôi dưỡng người tu. Mục đích thứ hai của pháp thí là giúp người, bố thí, xả bỏ bớt tánh tham lam, chấp giữ, ích kỷ, bỏ dần thói quen cho tấm lòng rộng lớn thanh tịnh, chuyển hóa các niệm bỏn xẻn, hẹp hòi, cố thủ... là bỏ các độn sử để trang nghiêm cho cõi tâm tốt đẹp, đó là phương pháp của người tu, biết sống bằng trí giác, quyết lòng thí xả hết mọi nhiễm ô dục vọng. Pháp thí chơn chánh cũng là chánh nhân, dùng pháp thế gian là vật chất để thí xả, vẫn ở trong tài vật mà biết cách sử dụng pháp thế gian là cách xả ly tâm niệm tham mê, đã xả bỏ các niệm ích kỷ, hẹp hòi, lường lận. Niệm nhỏ mọn là những ác niệm, tất cả niệm đều không còn, thí xả hết những huyễn trần mê chấp, là pháp hành của người thực sống bằng hạnh Bồ tát, thường gạn lọc sửa sang tâm địa cho trong sạch, trống vắng mọi vọng trần, biết tu sửa bản tâm cho nhẹ nhàng, cùng cực an lạc, cõi lòng sẽ là cực quả tốt đẹp mỹ mãn. Các ác pháp đã vãng sanh, những niệm quấy ác vì mê lầm nhiều đời nuôi dưỡng đó là nghiệp si, tự đọa vì thường niệm nhớ vào lục đạo, khi đã tự giác sáng suốt sống bằng trí tuệ thì các niệm mê này sẽ chết không còn sanh khởi lại nữa, nên nói là quá vãng hay vãng sanh (tự siêu thăng). Nên hiện thân đang ở thế gian mà thế giới cõi tâm là đất của Tịnh độ, không còn vướng mắc niệm nhớ vọng trần đã tự tịnh, các ác niệm, tà niệm không sinh khởi làm não loạn rối bời, điên đảo khiến đất tâm gò nổng xấu xa vì niệm ác độc địa. Tu học Phật cần hiểu biết rõ mục đích, khi có hành động phát sinh phải tự giác áp dụng pháp tu sống bằng giáo lý chơn chánh. Tu là thấy mọi vật, mọi niệm khởi bằng pháp nhãn là chánh kiến. Vậy chánh kiến là gì? Là thấy rõ mọi tà kiến, tà niệm, thấy rõ từng niệm khởi có còn niệm trụ vào tham sân si không? Khi thấy biết được những điều này, không sa đọa, niệm vào là chánh kiến, hiện tu bằng trí tỉnh giác, thấy mọi ác niệm, tự xả ly là thường chánh niệm. Khi niệm Phật, người đang niệm phải biết niệm Phật để làm gì ? Niệm Phật để nhớ tánh giác, là buông các niệm tưởng lăng xăng. Vì vô minh nên đời sống mãi niệm nhớ vào tăm tối khổ đau, bởi không biết rõ các pháp là duyên biến hiện ảo hóa, là tạp niệm biến hóa từ biển thức, thường sanh diệt. Niệm Phật là nhớ lại tánh chơn, phương pháp buông bỏ các niệm phàm tục, bỏ các tư tưởng tham sân si hầu mở mang tuệ giác, bố thí đầu vô minh đổi lại đầu trí tuệ. Nếu chỉ mãi niệm danh hiệu A Di Đà, chỉ tin qua âm thanh, tâm ý niệm vẫn duyên theo  sắc tướng, tin bằng trừu tượng mơ hồ, chỉ là duyên ảo hóa, không khai sáng trí tuệ, dù kêu gào đọc danh hiệu A Di Đà đến khô khan cổ mà không dứt niệm thế gian cũng không vãng sanh các ác niệm được. Niệm Phật phải dùng chánh kiến quán sát thấy rõ tận đáy lòng, tự cật vấn chiếu soi tâm địa để biết Phật là gì? Niệm nào là Phật niệm nào thế gian quay vào tấm lòng tự gạn hỏi cho thông suốt, niệm Phật để làm gì? Tam tạng kinh điển đều nói Phật là Giác, là đức tánh Bồ đề không hình tướng, không màu sắc, không đẹp xấu, nhiễm tịnh, Phật không là tướng Ngũ Uẩn, phải biết rõ rằng niệm là niệm nhớ lại tánh  giác ngay cõi lòng, tìm Phật tức là tìm tánh giác. Nếu cõi tâm thanh tịnh, sáng suốt, vô nhiễm thì hiện tại tâm đó tức Phật, lòng an lạc hoan hỷ tột cùng là Phật tức tâm. Niệm A Di Đà là niệm nhớ tự tánh, tìm tự tánh A Di Đà vô biệt niệm, bất lao đàng, là không niệm nhớ lao vào ba đường ác sẽ lập tức trực vãng Tây phương, nên công đức tích luỹ của người tu niệm Phật là thành quả qua từng hành động của người công phu tu tập, sống bằng trí giác chánh minh phân định rõ ràng khi mỗi niệm sanh khởi, biết sự việc bằng trí tuệ quang minh liễu thông vạn pháp, biết sự biến hiện có pháp trong đời là duyên ảo hóa, hợp tan không thật. Buông xả tâm niệm là niệm Phật tam muội trí tuệ sẽ khai thông viên mãn, biển thức sẵn sàng an tịnh minh bạch gọi là thức chuyển thành trí, vì biết sự thật các pháp do duyên sanh cũng do duyên diệt. Niệm phật chơn chánh là thường giữ gìn tâm thức không bị gió trần cảnh là cuồng phong khổ, vui, lợi, hại, khen, chê, tốt, xấu. Gió bát phong này là vọng trần cuồn cuộn thổi làm biển thức giao động.

Vì ý sanh tâm, niệm niệm còn vô minh tăm tối. Tổ dạy :

Lúc biển động tối tăm trời đất

Cõi âu sầu phảng phất vô minh

Trần hoàn vạn vật chúng sinh

Âm thầm khổ sở điêu linh khốn nàn.

Niệm Phật là thí xả hết tạp niệm để tự mình giác ngộ. Thấy những chúng sinh khổ nàn là thấy những tâm niệm si mê tại cõi lòng vẫn còn niệm vướng trụ vào tham sân si, hận oán, làm đau khổ ô uế đất tâm. Niệm Phật để ra khỏi dục giới gia, xuất khỏi phiền não gia, không tu bằng cách theo phong trào chạy vào pháp thế gian là còn các tánh tham dục, tánh phiền não, mà quên lãng bỏ tánh Phật, làm cho cõi tâm u tối vì vô minh. Cõi tâm này chính là A tỳ địa ngục, chịu đau khổ mãi đày đọa. Tu để mở rộng kiến thức cho thông suốt, giác ngộ biết rõ sự thật cuộc đời, thì kiếp hiện có thân người được thọ nhận phước báu nên Tổ dạy:

Những người hữu phước đa duyên

Nghe qua pháp lý diệu huyền tỉnh tâm

Sớm giác ngộ nương  tầm nẻo đạo

Dứt nghiệp trần cởi áo oan khiên

 

Trở về theo Phật Thánh Tiên

Tu cho đắc quả đến miền Lạc bang

Đời đau khổ muôn ngàn đau khổ

Cõi Ta bà không chỗ dựa nương

Mãi mê trong giấc mộng trường.

Sanh già bệnh chết không lường kiếp qua.

Miệng niệm Phật thì quang minh phải chiếu soi thông suốt biết rõ vạn pháp, không niệm bằng lầm lẫn. Miệng thì luôn niệm Phật mà cõi tâm luôn bị âm thanh, sắc tướng là hờn giận, được thua, mất còn, sân si, tham đắm, tốt xấu, là các niệm phàm tục tối tăm che khuất bản giác, làm cho cõi lòng mãi mờ mờ mịt mịt, đê mê loạn tưởng. Niệm Phật để phát huy trí tuệ vì kinh dạy “Duy tuệ thị nghiệp”. Duy nhất chỉ có trí tuệ mới đích thị là sự nghiệp của bậc tu hành, quyết theo gương lành của đức Thích Ca - Bậc Đạo Sư dẫn đường cho chúng sanh lìa mê thoát khổ.

Gương thuở trước Thích Ca Phật Tổ

Đem pháp lành tế độ chúng sanh

Thuyết minh chánh giáo ban hành

Chỉ đàng dẫn lối cho rành người tu

Đặng ra khỏi khám tù nhốt phạt

Nhờ am tường thấu đạt lý chân ...

Vô lượng công đức tích lũy đều nhờ đạo hạnh tu hành thường công phu, gieo vào tâm điền pháp thí xả là trồng chánh nhân sống bằng chơn lý, quyết tự sửa bản tâm thì tại cõi tâm sẽ trổ chánh quả vãng sanh. Tất cả con người có mặt ở thế gian giàu, nghèo, sang hèn, khổ vui, sung sướng… Tất cả đều có nguyên nhân mà hiện tướng, vũ trụ vạn vật biến đổi vô thường lúc mưa lúc nắng cũng có nguyên nhân do kết hợp của nhiều duyên hợp, hoàn cảnh hiện đến là pháp tạm hợp sẽ tan mang tướng người có mặt trong cuộc đời cũng nhân duyên kết tựu qua bảy đại, phần vật chất sắc thân gồm bốn đại đất, nước, gió, lửa gọi là thân tứ đại, phần vô hình về tinh thần thêm ba đại là không đại, kiến đại và thức đại nếu thiếu một đại sẽ không thành tựu duyên con người.

Nói về vãng sanh ta cần hiểu rõ thế nào là vãng sanh? Thân tứ đại chỉ là sắc tướng vô thường, chắc chắn lúc mãn duyên sẽ tan hoại, đó là sự nhóm họp của ngũ uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Mà kinh Bát nhã dạy : “Ngũ uẩn cũng giai không” tất cả sẽ tan rã, có tướng con người là sắc tướng bên ngoài, được tư tưởng vô hình là duyên nươn gá. Các tư  tưởng đó là niệm niệm liên tục tuôn chảy gọi là niệm tưởng diệt sanh, sanh diệt luân hồi trong ba cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Dục giới chỉ vào con người chứa đầy ham muốn. Sắc giới nói đến người mê sắc vật. Cõi vô sắc giới chính là người sống bằng tư tưởng vô hình, trừu tượng không thật, tự chấp bằng tưởng tượng, chiêm bao, mộng mị. Ba cõi này Phật dạy rằng : “Tam cõi như hỏa trạch”, ba cõi như nhà lửa. Nếu sống bằng vô minh, thường tạo nhân bất thiện thì chính là nguyên nhân tạo ác nghiệp gọi là nghiệp sanh, mang thân đui, què, câm, ngọng đều từ tâm mà sanh nghiệp. Còn sáng suốt đã gieo nhân lành tạo phước báu, sống sang giàu được phước sung sướng gọi là phước sanh. Người tu nhân thập thiện làm lợi ích cho mọi người đắp cầu, sửa đường... là phước sanh Thiên. Người sống bằng tấm lòng hoan hỷ, không có hành động lời nói làm phiền lòng nghịch ý người chung quanh, sáu căn giữ thanh tịnh  tâm không phiền não thì đang tạo nhân an lạc tại cõi tâm (có danh từ gọi là cõi trời Đâu Suất), hiện là chánh nhân vãng sanh, dù hiện tại còn mang xác thân hay bỏ xác thân cũng y chánh quả. Tâm đã vào cõi trời Đâu suất, cõi vui vẻ của đức Di Lặc. Bồ Tát Hộ Minh vì muốn cứu chúng sanh nên thị hiện quang minh đên cõi Ta bà gọi là Đản sanh. Nếu biết xả bỏ mọi tâm ý, bỏ dục vọng ái nhiễm trần lao, bỏ tham sân si, bỏ thập kiết sử, tà vọng thì đất tâm thanh tịnh hoàn toàn an lạc, vui tươi hạnh phúc lòng sẽ an định, dù hiện vẫn mang thân Ngũ Uẩn mà tấm lòng là cực lạc. Các ác niệm, tà niệm đã vãng sanh, không sanh khởi niệm ác trở lại nữa, mọi ác niệm đã quá vãng, đã siêu thăng, mất đi không còn luân hồi tái sanh lại nữa. Nói là ác niệm đã siêu thăng Tịnh độ, đó chính là chánh nhân vãng sanh. Thân Ngũ Uẩn sẽ tan rã, không còn chỉ là duyên tạm hợp, nên tứ đại hay Ngũ Uẩn sẽ không tái sanh hay vãng sanh được, mà chỉ vào pháp niệm Phật để nói về vô số vô biên niệm ác, là ma chướng vây quanh, cần niệm nhớ tánh Phật để xả ly các tà niệm mới là chánh nhân vãng sanh, bản tâm mới thật là Tịnh độ nhàn vui cõi An dưỡng quốc cực lạc. “Lại nữa A Nan! Nếu có người thiện nam, thiện nữ nghe kinh điển này, thọ trì, đọc tụng, biên chép, cúng dường, ngày đêm không ngừng cầu sanh Cực lạc”. Thế gian có hai loại người nam và nữ, khi hướng tu biết quy y Tam Bảo Phật Pháp Tăng phát tâm nguyện giữ giới làm lành thì người nam gọi là thiện nam, người nữ có tín tâm gọi là thiện nữ, nguyện y theo Phật quyết lòng dứt bỏ mọi điều ác.

Kinh dạy :

Chư ác mạc tác

Chúng thiện phụng hành

Tư tịnh kỳ ý

Lời chư Phật giáo.

Nếu thực hành được những điều thiện, dù nhỏ không bỏ qua, cũng là niệm nhớ lời Phật dạy, là đã niệm Phật, phát nguyện giữ gìn thọ trì lời Phật dạy, niệm nhớ công đức Phật khắc ghi ứng dụng vào tâm là chánh nhân niệm Phật, để thọ trì gìn giữ lời Phật dạy, tự gìn giữ kinh điển mọi lúc, mọi hoàn cảnh, vẫn niệm nhớ không quên bỏ, cũng là chánh nhân niệm Phật thì phước đức vô lượng. Đã sáng suốt biết giữ gìn Phật tánh, nên khi bỏ xác thân các công đức này là chánh nhân từng gieo tạo tích lũy đã tìm được tự tánh Di Đà, là tìm thấy được quang minh sáng suốt tại lòng, hào quang sẵn có này sẽ tiếp dẫn các tâm niệm vô minh được vãng sanh, đưa tất cả niệm mê gọi là vô biên chúng sanh vào thế giới Cực lạc. “Phát tâm Bồ đề”. Bồ đề tâm là gốc giác ngộ, thấy vạn pháp đều do duyên hợp nên không chấp thật. “Giữ gìn giới luật nhà Phật”. Giới pháp ngăn cấm ta làm các điều ác, theo Phật là chuyên cần giữ giới, tâm ý niệm đều giữ khít khao không sanh khởi vào niệm ác. “Vững vàng, không phạm” tự nguyện với lòng nhớ lời Phật dạy quyết không làm ác, lòng kiên định chánh định vững vàng không khinh phạm giới. “Làm lợi hữu tình”. Các Bồ tát là những tên gọi cho vô lượng quang minh đã sẵn căn lành mạng mạch là chánh mạng những điều thiện sẵn sàng ban cho mọi người làm tăng trưởng an lạc cho họ. “Nhớ niệm đức A Di Đà Phật phương Tây”. Mọi hành động đều quên mình, chỉ đem lợi ích cho mọi người có đời sống an ổn, thiếu cơm giúp cơm, thiếu áo giúp áo cõi lòng thường hoan hỷ, đó là tấm lòng người đệ tử Phật nguyện làm tất cả cho đời mà lòng không đòi hỏi riêng tư. Vì thường niệm nhớ lời Phật dạy mà làm những việc Phật đã làm, dùng trí tuệ ban phước lành cho khắp thế gian bằng đức hạnh từ bi hỷ xả. “Người này mang chung sắc tướng như Phật, mỗi mỗi trang  nghiêm sanh về cõi báu, mau được nghe pháp, hàng bất thối chuyển”. Người tu giác ngộ biết các pháp thường biến hóa sanh diệt, nên sẵn sàng thí bỏ mọi niệm mê thường sanh có pháp, bỏ các pháp vô hình giận buồn, thương ghét, oán hờn, phiền não, biết buông xả, nên cõi tâm thật sự trang nghiêm, an ổn, thì công đức vô lượng, quang minh chiếu soi hiện đủ sắc tướng trang nghiêm như Phật. Mỗi mỗi là mỗi niệm vẫn khởi mà không vướng mắc vào thế gian, vì cõi lòng đã thanh tịnh vì biết xả bỏ các phàm tâm gọi là sanh về cõi báu. Kinh Trường-A-Hàm có đoạn nói với các người Lệ Xa thuộc thành Tỳ la ly rằng: Ở đời có 5 thứ báu, khó được là:

1.    Đức Như Lai chí chơn xuất  hiện ở thế gian khó gặp.

2.    Là hạng người diễn giảng pháp Như Lai thật khó gặp.

3.    Là hạng người tinh hiểu được chánh pháp của Như Lai thật là khó gặp.

4.    Là hạng người thực hành thành tựu được chánh pháp của Như Lai thật khó gặp.

5.    Là hạng người có tài xoay sở vào nguy khốn để cứu độ chúng sanh thật khó gặp. Đó là năm thứ báu khó gặp, năm chánh báu này giành cho người hữu phước đa duyên nhiều đời kiếp đã thường cúng dường các đức Phật mới được vào cõi báu. Các cõi này thường nghe tự tánh A Di Đà đầy đủ quang minh thuyết pháp, thường giáo hóa các tâm niệm mê si, biết rõ các pháp đời là vô thường, khổ, không, vô ngã, dù đối trước hoàn cảnh nào lòng cũng vững vàng an định không thối chuyển.

“Lại nữa A Nan ! Nếu có chúng sanh muốn sanh Cực lạc, tuy  không thể đặng tinh tấn lớn hoặc đặng thiền định, tân trì kinh giới nhưng cốt làm lành, nghĩa là một chẳng sát sinh, hai chẳng trộm cắp, ba chẳng dâm dục, bốn chẳng nói dối, năm chẳng nói thêu dệt, sáu chẳng ác khẩu, bảy chẳng nói đôi chiều, tám là chẳng tham, chín là chẳng sân, mười là chẳng si”. Nếu có người hướng tu tuy chẳng vào chùa, không đủ duyên xuất gia, không vào được đại định, không sống trọn vẹn giới luật qua kinh nghiệm Phật dạy, không vượt qua được mọi khổ khó là chưa đảm nhận được việc lớn. Nếu biết làm các việc lành, nuôi dưỡng điều thiện, hành động luôn có ích cho người, dù nhỏ cũng không bỏ qua. Tuy còn tại gia quyết phổ bá từ tâm, không sát hại muôn loài, tu thập thiện nghiệp, thọ trì Tam quy, giữ Ngũ giới, tròn hiếu đạo, kính trọng Sư trưởng, sống y lời Phật giáo, không hờ hững quên bỏ, không sống bằng tà nghiệp, biết đoạn dứt các điều ác, tai có nghe tiếng mắng chửi đều bỏ qua, không có hành động hay tiếng nói làm phiền não người khác, tin sâu nhân quả, mọi hành động phát sinh cốt yếu là những điều lành không hại mạng chúng sanh, không gian tham trộm của, dù chỉ bằng hình thức nhỏ nhặt nào, không dâm dục giữ tròn đạo nghĩa vợ chồng, chẳng khởi tâm lang chạ, tập nói lời chơn thật, không nói thêu dệt hại người bằng ác khẩu. Người giới hạnh nói bằng ái ngữ, nhu hòa, không nói đôi chiều bộc lộ có lời làm khổ đôi bên, mà nói lời cảm thông hòa hợp, nên Tổ dạy:

Tiếng ta là gió mùa xuân

Một cơn thổi nhẹ muôn dân mát lòng.

Không sống bằng niệm tham lam vì biết các pháp đều vô thường không thật bền chắc, nên chẳng sanh tâm niệm vào ích kỷ, cứ chấp giữ cho mọi vật là của ta, bỏ tánh nóng giận sân nộ mà đổi lại tánh đức từ bi nhẫn nhục, tha thứ nhu mì điềm tỉnh, không niệm si vì biết rành nhân quả. Sống bằng chánh niệm vì biết có chánh niệm tâm mới an định là sống bằng tánh Phật sáng suốt, cõi lòng không còn não loạn bởi buồn vui, thương ghét, được thua, còn mất đó, là các ác pháp si mê buông lung, cứ lầm lẫn tranh thua để tâm mãi dong ruỗi theo hoàn cảnh khổ vui, phàm tục ngoài cuộc đời. Nếu giới luật được giữ gìn, nghiêm mật là chánh nhân niệm Phật, còn phạm giới là quên niệm Phật thì chánh quả không nói vãng sanh được, tâm địa còn não loạn không có tịnh độ hay tịnh thổ nào cho ta đến cả. Nguời học Phật khi đọc tụng kinh điển nhà Phật là đang niệm Pháp, chỉ còn một niệm duy nhất gom tâm vào kinh điển, hiện đọc tụng tư duy. Tu là nhớ từng lời kinh hầu thâm nhập kinh điển mở khai trí tuệ rộng lớn, tự thực hành kinh nghiệm lời kinh đức Phật để lại mà tu tâm sửa bản tánh, mục đích hướng tu là thoát luân hồi sanh tử. Niệm pháp cũng là cách niệm nhớ pháp Phật mà xả ly niệm thế gian, ngoài ra không mong được gì cả mới là chơn chánh niệm. Pháp đã tự quy y Pháp, vì người tu phải thường niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Kinh nói các kinh Phật thường sở hộ niệm, nếu người tu làm được mọi điều lành cũng là thường niệm Phật, kiên quyết giữ chánh niệm bằng cách niệm nhớ lời Phật dạy, niệm nhớ công hạnh đức độ Phật, tôn kính giữ gìn ngay tâm địa không hề sai sót, không để cõi lòng chen  lẫn vào niệm phàm tục, quyết chẳng gieo vào đất tâm các niệm ác là tham sân si. Phật nói, nếu ai niệm Phật được như vậy thì phước đức vô lượng gọi là vô lượng công đức, tâm người này hiện là cõi cực lạc, đã tri kiến Phật, tìm được tự tánh A Di Đà thành tựu được pháp tự quy y Phật. Sáng suốt trí tuệ nhờ vô lượng hào quang chiếu soi tiếp độ dẫn tất cả chúng sanh, là vô biên, vô tận niệm phiền não đã tự giác mà vào Tịnh độ. Sống bằng thiền định dù hiện tại thân ở trong đời nghe thấy tất cả pháp, vẫn nghe lời nói chửi mắng, khinh khi hay khen tặng mà bản tâm vẫn định tĩnh, an ổn, biết vạn pháp tùy duyên đến, tùy duyên đi, tùy nhân quả vững vàng đó là trung đạo. Không dấy khởi ý niệm vào pháp khổ não, mọi tư tưởng đã thoát ra khỏi sự ràng buộc khổ vui luân hồi của cuộc đời, nên bản tâm sáng suốt an nhiên tịch lặng, biển thức định an không nổi cuồng phong, vắng lặng gió bát phong, là khổ, vui, lợi, hại, khen, chê, tốt, xấu, nghĩa là vào sâu thiền định. “Như thế suốt ngày đêm nghĩ nhớ thế giới Cực lạc, Phật A Di Đà các thứ công đức, các thứ trang nghiêm hết lòng quy y đãnh lễ cúng dường”. Tu niệm Phật phải giữ gìn tâm ý lúc nào cũng quán xét tâm, quán nhân duyên, mọi suy nghĩ đều hướng về quả chánh giác, nhớ những pháp thiền định, niệm Phật đều là thiền hạnh, tin chắc chắn tại lòng thường có cõi Cực lạc, xuyên suốt sống với tánh giác có đầy đủ pháp bảo. Các pháp bảo đều là công đức, đã sống bằng pháp thân, công đức này tự trang nghiêm quốc độ cho tốt đẹp an lạc cõi lòng, nhờ quang minh thanh tịnh chiếu soi, Phật gọi bằng danh từ chư Bồ tát. Hằng giữ gìn quốc độ cõi tâm mãi mãi an ổn là thế giới Cực lạc. Đạo hạnh này người tu cần phải tự giữ gìn nghiêm mật, không sơ sót sai phạm dù chỉ một niệm mê sinh khởi. Pháp này là quy mạng chiêm lễ cúng dường tự tánh Phật thêm tăng trưởng trí tuệ mỗi ngày càng thênh thang rộng lớn đầy đủ sáng suốt, giữ bản tâm không ô uế bởi mê loạn. “Người sống như vậy là y chánh pháp, lúc mạng chung lòng không khởi niệm kinh sợ không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi Cực lạc”. Trí tuệ là hào quang chiếu soi, biết tứ đại chỉ là duyên hợp gá, đất nước gió lửa là pháp vô thường, sống hay chết do nhân duyên các pháp đến đi tan hợp dù sắc thân Ngũ uẩn tan hoại, mà tự tánh Phật mỗi con người không đổi thay bởi già chết, tùy vào nghiệp tỉnh giác sáng suốt hay mê loạn tối tăm mà cảm thọ nghiệp báo. Tỉnh giác sống bằng trí tuệ thì nghiệp báo an lạc, còn si mê phải luân hồi vào tăm tối ngục tù chịu khổ báo. Bậc giác ngộ dù còn mang xác thân hay bỏ xác thân, cõi lòng vẫn vững vàng an định, lúc mạng chung không hề kinh sợ hoảng loạn hay điên đảo vì chủng tử ác đã chết, đã quá vãng, không còn khởi niệm luân hồi tưởng nhớ lại nữa gọi là vãng sanh. Thật tướng niệm Phật nên lòng an lạc cùng cực, không còn sa đọa niệm vào ác đạo mà kinh nói đã sanh vào thế giới Cực lạc. Đời sống là chánh niệm, chánh tư duy, chánh định thì tánh Phật hiện tiền tự tánh A Di Đà là chơn tánh sáng suốt, tiếp dẫn các ác niệm chuyển hóa trở nên thanh tịnh, các ác niệm đã lâm chung không luân hồi niệm nhớ nữa. Chánh nhân là giống ác đã vãng sanh thì chánh quả là kết quả sự an vui giải thoát giác ngộ. “Nếu sự đa đoan, không thể ly gia bận rộn, không thể đại tu trai giới, nhất tâm thanh tịnh, những lúc rỗi rãnh, thân tâm đoan chánh, dứt muốn, bỏ lo, từ tâm, tinh tấn, không nên sân hận, đoạn trừ tật đố, tham lam bỏn xẻn, trong lòng chẳng chút hối hận nghi ngờ”. Người mê muội sống bằng tư tưởng lông bông nên ý dẫn sanh có tâm niệm, tính toán, suy nghĩ thường biến hóa, niệm niệm tuôn chảy chẳng dừng, lúc nào cũng bận rộn trong nhà thế tục, nhà phiền não làm ô nhiễm bản tâm, không giữ vững giới hạnh, quên chánh niệm, mất chánh định là mất trai  giới, tâm tâm niệm niệm mãi lăng xăng không nhất tâm thanh tịnh được. Khi đã giác ngộ sự thật cuộc đời, biết dừng vọng tưởng, biết thí xả dục niệm, bỏ ham muốn, bỏ sân si, dứt suy tưởng luyến ái thế gian, thông suốt nhận ra mọi hoàn cảnh đến đi trong đời là duyên tạm, nên không còn tâm niệm muốn ham cố giữ, không sợ lo mất mác, tinh tấn vượt qua mọi cám dỗ thế gian, dù mất mác không được gì, lòng không sân hận, bất mãn, bất bình, chán ghét, đố kỵ, bỏ sạch phiền muộn tham lam bỏn xẻn, ích kỷ cõi lòng trống vắng hết mọi dục vọng thấp hèn, tâm từ bi hỷ xả là chánh mạng đã sạch các niệm cấu nhiễm trần lao, đất tâm rỗi nhàn dứt mọi điều ác thì cõi tâm trang nghiêm đoan chính. “Phải nên hiếu thuận trung chánh hết lòng”. Vô lượng kiếp vì mê chịu luân hồi sanh tử nên tất cả muôn loài, mượn vật hiện có trong đời là duyên tao ngộ đã từng là pháp lữ gặp gỡ cùng nhau, duyên theo nghiệp thức mà mang tướng hình, có lúc làm cha mẹ, ông bà, con cháu, anh em, vợ chồng hay mang tướng súc sanh, muôn loài, muôn vật đã từng là cốt nhục nhiều đời. Vì vậy tu phải sống bằng đạo hạnh, hiếu thuận cùng khắp muôn loài, không khởi niệm sát hại oán hờn, đấu tranh giành giật, sống hòa thuận, yêu, thương giúp đỡ cùng nhau, lòng không niệm nhớ đến tư lợi cho cá nhân, mới chính thật là đại hiếu.

Đại hiếu là gì? Là sự hòa thuận cùng tất cả đại chúng, số đông nhiều người không riêng chỉ gia đình cha mẹ ta hiện tại. “Trung tín hết lòng, tin kinh Phật nói, nghĩa lý thâm sâu, tin nơi đạo lý, làm lành đặng phước, phụng trì tất cả pháp như thế, không được thiếu sót, nghĩ suy chính chắn”. Lời Phật dạy không hề hư dối, nên khi hướng tu cần đọc tụng kinh điển, kính tin nhớ lời Phật dạy, y giáo pháp mà thực hành, mục đích duy nhất chỉ là tu sửa bản tâm cho trong sạch. Đạo lý nhà Phật ý nghĩa rất thâm sâu diệu mầu siêu xuất, nên lúc đọc tụng thọ trì phải tự quay vào tâm mà quán sát, không tu hời hợt bằng pháp tướng bên ngoài. Mục đích của kinh là dạy chúng sanh thoát khỏi luân hồi sanh tử, bỏ ba ác nghiệp tham sân si, xả ly ái dục, tất cả công đức đạo hạnh đều là chánh nhân hướng về cõi an lạc, giác ngộ giải thoát các pháp huyễn hóa cho cõi lòng cao thượng, trạng thái hoan hỷ hạnh phúc giúp cho cõi tâm tự tại, ngoài ra không cầu để được điều gì cả. Kinh A Hàm Phật nói với ngài A Nan “Người tu chỉ lo thu nhiếp tâm ý, Phật nói. Này A Nan ngươi cho rằng sau khi Phật diệt độ thì các ngươi sẽ không còn chỗ nương tựa, không ai che chở? Chớ nghĩ như thế! Nên biết những kinh luật mà ta đã dạy từ khi thành Phật đến nay, chính là chỗ nương tựa che chở cho ngươi đó”. Đây cũng là lời Thế Tôn khuyên dạy cho tất cả chúng sanh thực hành đạo giác ngộ. “Muốn đặng ngộ thoát ngày đêm thường niệm”. Khi các chúng sanh là các tâm niệm mê muội đã được giáo hóa, độ thoát giác ngộ thì cõi tâm sáng suốt hiện đủ quang minh gọi là ngày, nhưng còn vô biên chúng sanh là các ác niệm của độn sử là thói quen đã ăn sâu khó bỏ, nên tăm tối vô minh gọi là đêm, dù đã giác ngày hay đêm mê hay ngộ cũng phải tinh tấn thường niệm nhớ tánh Phật không quên bỏ, không lui sụt, không để tâm niệm phóng dật buông lung. Phật dạy các Tỳ kheo “Các ông không nên phóng dật, Ta chính nhờ không phóng dật, không buông lung mà thành chánh giác, vô lượng điều lành nhờ không buông lung mà giác biết tất cả vì vạn vật đều vô thường” đó là lời dạy cuối cùng của Như Lai. Lúc nào cũng chiêm ngưỡng nhớ cõi tâm là Tịnh thổ, thế giới Cực lạc. “Muốn nguyện vãng sanh cõi nước thanh tịnh của Phật A Di Đà”. Kinh nói cõi nước thanh tịnh của Phật A Di Đà chính là chỉ vào Tự Tánh A Di Đà Vô Biệt Niệm tại lòng người sử dụng pháp tu, đã dừng dứt hết suy nghĩ tính toán, hơn thua được mất, cõi vô lượng sáng suốt tại tâm thường chiếu soi nhìn rõ được vạn pháp. Tự tánh này ai cũng sẵn có, đủ khả năng nhận biết sự hòa hợp tan hoại của các duyên, biết nhân thế nào thì quả y như vậy, không lầm gọi là cõi nước thanh tịnh. “Mười ngày đêm, cho đến một ngày, một đêm nối nhau không hề gián đoạn, mạng chung đều đặng vãng sanh Cực lạc, hành bồ tát đạo”. Căn tánh trình độ của chúng sanh nhiều vô số, vô lượng sự sai lệch mê độn không đồng nên nghiệp báo có sai khác, nhưng khi giác quyết lòng tu sửa, buông xả các niệm thấp hèn, bản tâm không còn chen lẫn niệm vào pháp tham chấp, nên chẳng tính thời gian dài ngắn, mau chậm. Nếu còn niệm vào tăm tối vô minh gọi là đêm, niệm niệm khởi đều giác là chánh niệm. Niệm niệm liên tiếp nối nhau thường giác chiếu soi không gián đoạn thì tất cả ác niệm đều mạng chung đã chết, không sanh khởi lại nữa gọi là vãng sanh, cõi tâm hiện là Tịnh độ. Vô biên vô số ác niệm đã quá vãng sanh vào thế giới cực lạc sống bằng đạo hạnh từ bi hỷ xả làm lợi ích chúng hữu tình gọi là hành Bồ tát đạo. “Chư vị vãng sanh đều đắc A Duy Việt Trí, đủ sắc vàng ròng, 32 tướng, đều sẽ thành Phật”. “Chư” là chỉ số nhiều, “Vị” chỉ vào từng niệm. Giác từng quả vị, tất cả đã giác đã vãng sanh giải thoát nên gọi là A duy việt trí. Chứng đắc hoàn toàn, thân tâm đều trang nghiêm trong sáng không chen lẫn niệm mê là tạp chất, không nghĩ nhớ thế gian, thì đất tâm đã được lót bằng pháp bảo trân diệu quý giá gọi là vàng ròng nguyên chất, chẳng pha lẫn niệm ác, dù chỉ một niệm bợn nhơ vướng vào tham đắm cũng làm tâm địa cấu nhiễm. Niệm niệm sanh khởi đều do quang minh Bồ Tát chỉ vào người biết đem bình an hạnh phúc đến muôn loài. Nếu tất cả tâm niệm đều giác thì kinh nói đều sẽ thành Phật. “Muốn được thành Phật ở nước nào, tùy theo tâm nguyện, do nơi chư vị ngày đêm tinh tấn, cầu đạo không dừng, quyết định kết quả, sở nguyện chẳng luống”. Tùy vào trình độ hiểu biết, tùy căn tánh mê độn, tinh tấn tu hành, buông xả từng phần, tâm được trong sạch, mà thể hiện đức tánh từ bi qua từng bậc giác ngộ. Tùy tâm nguyện, tùy niệm lực mà có kết quả vào cõi Phật. Nếu chánh báo thế nào thì y báo đúng y như vậy, không thêm không bớt, tu sửa ngay đời sống được an lạc là Hữu Dư Y Niết bàn, sau khi bỏ xác thân kết quả là Vô Dư Y Niết bàn. Chánh nhân hiện thế nào thì chánh quả y thế ấy, không sai sở nguyện. “Lại nữa A Nan, do nghĩa lợi này, vô lượng vô số không thể nghĩ bàn, chẳng có sai khác, vô biên thế giới chư Phật Như Lai đồng thanh xưng tán của công đức Phật vô lượng thọ”. Phật Vô lượng thọ chính là chính là trí tuệ trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng giác, thọ nhận tổng hợp giác biết, thọ nhận chư duyên bằng trí tuệ bình đẳng, không lấy, không bỏ, thông thấu tất cả pháp, làm chủ muôn pháp mà tánh giác không ô nhiễm, dùng danh từ thế gian, không thể diễn bày, không bàn luận bằng suy nghĩ mà nói hết được. Pháp tùy duyên đến, tùy duyên đi vậy, chẳng nhiễm tịnh chỉ vì niệm phân biệt, tâm mê vướng trụ, niệm niệm do thức đại biến hoá sanh khởi tuỳ tâm, nên có vô số vô biên thế giới do ý niệm vướng trụ tạo tác chấp giữ như thế nào thì tại tâm sanh thế giới y như vậy, không hề sai khác. Tham là thế giới Ngạ quỷ, phiền não là thế giới Súc sanh, si mê ám độn là thế giới Địa ngục, nóng nảy sân si thế giới A-tu-la. Người tu thập thiện, tâm là thế giới cõi Trời, nghe lời Phật dạy sợ khổ lo tu thế giới Thanh văn, giác ngộ 12 nhân duyên giữ gìn giới hạnh thế giới Duyên giác, lòng trong sạch, đoạn lìa thập kiết sử, dứt hẳn mọi vọng trần ô nhiễm, tâm niệm không sanh khởi não loạn vào đường ác là bậc vô sanh thế giới A-la-hán. Giác ngộ cuộc đời khởi lòng từ bi, thương yêu cứu khổ giúp đỡ chúng sanh quên mình hành đạo là thế giới chư Bồ tát. Thông rõ làm chủ các pháp, lòng an định, tự tại vắng lặng mọi muốn ham, sân si, phiền não, trí tuệ minh bạch chiếu soi, giác hạnh viên mãn là thế giới chư Phật. Tất cả thế giới đều từ tâm lượng con người mà có. Nên tu  tâm là thường quán xét sửa tâm, coi chánh nhân hiện ta đang xây dựng tại đất tâm là thế giới nào, tự mà chọn lựa, tự chuyển hóa, tự độ, tự ta quyết định lấy thế giới cho tâm ta, không ai có thể ban phước hay giáng họa cho ta gánh chịu vì Phật đã dạy rành “vạn pháp tự tâm sanh”. Ta cần hiểu biết để buông xả tướng “lìa các tướng mới là chơn thật tướng”. Thật tướng chính là chơn tâm tự tánh, Chơn không mà Diệu hữu. Phật nói với ngài A Nan, chư Phật Như Lai là chỉ trí tuệ giác ngộ trùm khắp thênh thang, đồng xưng tán công đức của Phật Vô lượng thọ, là xưng tán bản giác có khả năng thọ dụng tất cả pháp mà bình đẳng không phân biệt, bản giác trí tuệ có sẵn đầy đủ nơi mỗi con người. Nếu chánh nhân là thường niệm nghĩ nhớ bản giác, đã thí xả mọi niệm tướng nghĩ nhớ thế gian là bỏ những suy nghĩ, tính toán, hơn thua đấu tranh vì giành giật quyền lợi ảo hóa, mãi chấp giữ tự ngã, sống bằng tham sân si độc ác, cần buông xả hết các vọng niệm mê mù ra khỏi bản tâm mới thật sự là Chánh Nhân Vãng  Sanh vào cõi tịch tịnh, là Bản Thể Như Lai Thường Tịch Quang Thường Chiếu.

Di Đà tánh ấy trong ta

Bốn phương đây đó đều là pháp thân

Trường không một mảnh trăng vầng

Nước yên biển lặng sáng ngần đêm thu.

                                            ( Tuệ Trung Thượng Sĩ )

 

===oOo===

 

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.