CỰC LẠC Ở ĐÂU


Lời giảng : Tỳ Kheo THÍCH MINH ĐỨC.

Biên soạn : Cư Sĩ Phật tử NHƯ THÁNH.

Kính thưa quý đọc giả !

Xét qua kinh nghiệm của các pháp thấy rằng mục đích của pháp Niệm Phật là phương tiện nương vào Phật hiệu A Di Đà Phật để được nhất tâm, không còn niệm điên đảo vào các vọng trần, thực hành pháp buông xả bỏ dần các tạp niệm để trở lại tự tánh Phật của mọi người vốn là căn bản chính, tâm buông bỏ được vạn duyên là thoát luân hồi sanh tử ra khỏi ba đường sáu nẻo. Phải sử dụng tâm bồ đề tin rằng niệm phật sẽ vãng sanh. Tâm bồ đề chính là tâm giác ngộ, giác biết được chơn Tâm và vọng tâm, chánh kiến được pháp niệm Phật là học làm Phật, trở lại với chơn Tánh bản lai diện mục chính mình. Nếu thấy được tâm là thấy được tánh nên niệm Phật là thấy tánh. Muốn thấy tánh thì tâm phải tịnh, tâm muốn tịnh thì phải thiền nên thiền tịnh không hai, không khác. “Pháp giới chúng sanh giai hữu Phật tánh” nghĩa là tất cả chúng sanh trong pháp giới đều có Phật Tánh, các pháp thế gian hiện hữu đều từ tự tánh, do tâm thức biến hiện, nên kinh dạy “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, công phu thiền là giá trị của pháp tu định đến trạng thái tâm tịnh gọi là Thiền Tịnh.

Tâm tịnh là thiền kiên cố sẽ có trí huệ, biết sự vận hành của vũ trụ khắp mười phương pháp giới, bao gồm cả Thánh Phàm muôn loài cây cỏ lớn nhỏ đều từ tự tánh biến hiện, biết thật thông suốt chứng được mừơi pháp giới, biết vạn pháp vốn vô thường gọi là giác vì đã liễu thông được sự sanh diệt của vạn pháp là đức pháp chủ, người có đức độ làm chủ vạn pháp.

Nguyện chính của pháp niệm Phật là nguyện thứ 18 gồm đầy đủ cho 47 nguyện. Kinh Hoa Nghiêm dạy “một là tất cả, tất cả là một” nên công đức 48 đại nguyện rất thù thắng. Nếu tu bất cứ pháp môn nào thì tâm cũng phải tương ưng cùng tịnh độ vì tự tịnh độ tịnh, tâm phải thanh tịnh cùng cực an lạc thông suốt. Tâm tịnh là căn bản cho sự giải thoát, trước tiên là vào Tây phương Cực lạc là tịnh độ tại tâm. Thế giới thanh tịnh rực rỡ Quang minh. Đây là pháp hi hữu nên đã khai mở được tâm an tịnh chơn chánh thì pháp nào cũng thông, vạn pháp đều thông. Thiện Tài Đồng Tử cũng từ thế giới Cực Lạc đi học 53 chỗ là dạo khắp pháp giới nhưng không trụ đâu cả. Vậy bước đầu học Phật ta phải thực hành cách xả tâm, để chuyển tâm ô nhiễm thành trong sạch thì niệm phật mới được kết quả thù thắng. Chuyển từ tâm phàm phu đến tâm cùng cực an lạc mới chuyển dần sự sáng suốt nhập vào bản thể Như Lai.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT !

Giáo lý là lời phật dạy, làm phương tiện cho mọi người nương theo tu học, có rất nhiều pháp môn nhưng không hề chống trái với nhau chỉ vì tâm chúng sanh muôn ngàn sai khác mà trụ vào pháp giới nên tu không nên chấp pháp.

Tịnh độ nương vào pháp niệm Phật tin sâu vào Tịnh độ. Còn tu thiền mỗi người có mỗi sở hành khác nhau, không nên chấp thủ cho pháp là thật riêng của ai, mà ta cần sáng suốt hiểu cho rõ người tu nào cũng phải tụng kinh, phải ngồi thiền, phải niệm Phật, nhưng phải hiểu thông thoáng rằng tất cả pháp chỉ là phương tiện, không phải là cứu cánh. Nếu cứ chấp vào tụng kinh cho là giải thoát thì chưa hiểu rốt ráo vì tụng kinh là phương tiện để thâm nhập kinh tạng, khai thông trí tuệ. Nếu cứ chấp vào nghi lễ, nghi thức tụng kinh mà cho là giác ngộ giải thoát là sai lầm. Trì chú là phương tiện, niệm Phật là phương tiện, ngồi thiền là phương tiện, tất cả là pháp mà các pháp đều như huyễn. Khi đã sáng suốt thâm nhập giáo lý nhà Phật, thấy rõ nguồn tâm, tự tu sửa tâm trong sạch thanh tịnh thì mới giải thoát. Tất cả đều là phương tiện là pháp môn tu để trợ lực cho ta đến sự sáng suốt giác ngộ. Phải thường tinh tấn thường tu, thường nghiên cứu giáo lý, thông hiểu lời Phật dạy, tìm hiểu rốt ráo mà hành trì. Khi đức Phật nắm một số lá rừng trong tay, Phật hỏi Ngài A Nan: “Nầy A Nan, số lá hiện trong tay ta là lá rừng, vậy so với số lá ngoài rừng kia, số lá nào nhiều hơn”. A Nan trả lời : “Bạch thế tôn lá ngoài rừng nhiều hơn lá trong tay”. Phật dạy rằng: “Giáo pháp ta giảng cho các ông nghe chỉ bằng số lá nắm trong tay ta thôi, mà pháp bảo còn nhiều hơn số lá ngoài rừng” nên giáo lý nhà Phật là thâm thậm vi diệu, nếu học chỉ trong một giai đoạn thì không thể rốt ráo được, phải thường học thường tu, tất cả giáo lý đều có sẵn trong kinh Phật. Nếu ta tu pháp môn Tịnh độ niệm A Di Đà Phật phải tự quán xét vào sự hiểu biết chính ta. Vậy chứ có A Di Đà Phật thật hay không mà ta tin? Ta trả lời ra sao? Nếu nói thật, hay cho là không ta đều không dám nói sự xác quyết được chỗ nào là thật chỗ nào là không vì không trí tuệ rất khó quyết định…

Sau khi niệm Phật, kinh hành ta đều nguyện về Tây phương Tịnh độ là thế giới Cực lạc, mà thế giới Cực lạc ở đâu? Ra sao? Có hay không, nếu ta không sáng suốt thì không thể có đức tin thù thắng rốt ráo để theo pháp môn tu. Phải cần tìm hiểu điều này, Đức A Di Đà có thật không? Nếu nói không thật mà ta bỏ tất cả để tu thì đức tin không kiên cố. Nếu nói rằng có vì cho rằng Phật không hề nói dối với chúng sanh, phật là thật ngữ, chánh ngữ. Ta phải giải thích được A Di Đà là như thế nào, không thể nói khỏa lấp cho qua được, phải nói bằng sự rõ ràng cởi mở, chính xác chơn lý vì Phật pháp là cao thâm vi diệu khó tìm, khó biết, ta cần chánh tư duy mà tìm hiểu. Nói về việc thế gian tại sao người ta gọi người có kinh nghiệm chuyên trị bệnh là bác sĩ, vì người đó có học và có kinh nghiệm chuyên trị bệnh đó mới thật là bác sĩ. Vì bác sĩ có học có kinh nghiệm chữa bệnh, mổ xẻ, cho thuốc nghiên cứu bệnh trạng nên gọi là bác sĩ. Còn bác sĩ trên ti-vi chỉ là hình thức giả tạm biểu diễn để đóng tuồng, đóng phim đó chỉ là hình ảnh tượng trưng. Họ cũng mang áo, đội mũ, đeo ống nghe nhưng chỉ là giả bác sĩ vì họ không có kinh nghiệm chữa bệnh, không thật là bác sĩ, chỉ là diễn viên là vỏ của bác sĩ bên ngoài, còn nghề nghiệp kinh nghiệm để trị bệnh mới là ruột của bác sĩ. Như vậy tất cả hình tượng bên ngoài có tướng Phật đều là vỏ của Phật mà ruột của Phật phải là đạo đức, là trí tuệ, là lòng từ bi, sự hoan hỷ, bao dung, lòng thanh tịnh trong sạch, công hạnh thanh cao, nhẫn nhục nhu hòa, đại từ đại bi đại hỷ đại xả là Tánh đức siêu phàm thoát tục là ruột của con người có đầy đủ công đức Phật được thế gian tôn thờ kính bái mệnh danh được gọi là Đức Phật và được người thế xưng tôn gọi là Thế Tôn. Thêm một thí dụ khác : tại sao cũng một con người mà gọi là Đại Đức hay Tỳ Kheo? Vì người đó đã buông bỏ cuộc đời, sống hạnh xuất gia, giữ được 250 giới đức độ cao thượng là Đại Đức, là Tỳ Kheo, chiếc y Tỳ Kheo được khoác lên người là vỏ bên ngoài mà phần ruột là giữ 250 giới mới là vị Tỳ Kheo chơn chánh, có đầy đủ vỏ và ruột. Vì Đức độ giới Đức mới là phần tinh túy của người xuất gia, phải đầy đủ tánh đức và thân tướng trang nghiêm. Cạo tóc, đắp y là tướng, mà 250 giới mới là đức độ siêu phàm thoát tục, được mọi người lễ lạy tôn kính gương mẫu cho mọi người nương theo mà tu học. Vì kinh nghiệm tu hành của người giữ giới không sai phạm, nhiễm ô là vị ấy đã đầy đủ vỏ và ruột của Tỳ Kheo. Vị Sa Di cạo tóc, đắp y phải giữ 10 giới mới đầy đủ vỏ và ruột của vị Sa Di, nếu không giữ được 10 giới chỉ là Sa Di vỏ bên ngoài vì phần ruột chưa có giới đức của người tu. Nếu đã cạo tóc đắp y mà không giới luật đức độ thì chỉ là cư sĩ trọc. Người cư sĩ không thọ Tam quy giữ gìn Ngũ giới chỉ là cư sĩ trên danh từ, không gọi là Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn mà Đức Phật thường nhắc nhở. Chỉ có vỏ bên ngoài là mặc áo Giới, bên trong ruột không có giáo lý giới luật của người con phật ( phật tử ). Nếu nghiêm trì giới luật của Đức Phật đó là Thánh đệ tử. Cạo tóc đắp y đó là vỏ cần giữ giới, là ruột tinh ba của người tu. Ngày xưa khi sắp nhập diệt đức Phật dạy “Các ông sau này không còn ta nữa hãy lấy giới luật làm Thầy”. Đó là lời hỏi của ngài A Nan, ta không chấp vào hình tướng bên ngoài, mà hãy nhìn vào đức độ con người mới là sáng suốt phải lìa các tướng mới là chơn thật tướng. Đây là lời dạy nhắc ta phải lìa tướng.

Con khỉ vớ được trái chanh.

Tưởng rằng trái chín trên cành là ngon.

Ruột chua lét vỏ bòn hòn .

Cắn rồi liền nhả lăn tròn trái chanh

Ê răng khỉ mới vặn mình.

Phải dò trong ruột chớ tin bên ngoài .

Phải lìa tướng giàu đẹp, sang trọng đó là tướng bên ngoài. Ta không chạy theo tướng, người tu phải có tư lương, vậy tư lương là gì? Phải nhìn bằng pháp, không nhìn bằng tướng. Nhìn bằng pháp là nhìn bằng trí tuệ, không nhìn bằng nhục nhãn phàm phu. Chấp vào tướng giàu thì sanh niệm nịnh bợ, nghèo thì chê bai, thấy sắc thì mê đắm, mến yêu, thấy tàn tật thì sanh tâm khinh mạn, nên phải nhìn bằng pháp dù là cư sĩ hay xuất gia phải coi người đó sử dụng thực hành pháp có bằng giới hạnh thanh tịnh không? Phải trọng giới đức không trọng hình tướng, danh vị, không kẹt sự thấy bằng hình tướng vì lìa các tướng mới là chơn tướng. Nhìn vào chơn như bản tánh có trí huệ, đạo đức, nhân nghĩa, hạnh vô tham mới là đức hạnh mà Phật truyền dạy. Nhìn vào tâm sẽ biết người đó bên ngoài có vỏ mà tâm còn độc ác là người còn sử dụng pháp của cửa Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Tướng bên ngoài là đẹp, là sang mà bên trong còn mang nghiệp của Tam ác đạo.

Vậy tiền thân A Di Đà là Bảo Tạng Tỳ Kheo, là con người từ vua vô Tránh Niệm đã gìn giữ bảo hộ giới đức Tỳ Kheo, đã bảo hộ tạng pháp của 48 đại nguyện được thành tựu đó là phần ruột của Đức độ A Di Đà. Nếu vua Vô Tránh Niệm không có giữ Bảo Tạng là 48 lời nguyện, là ruột, là giới đức thì vua Vô Tránh Niệm chỉ là con người phàm tục bình thường không thể thành tựu đức A Di Đà được. Vua Vô Tránh Niệm đã thọ trì, gìn giữ 48 đại nguyện nên đã tự trở lại sự thành tựu đức tánh A Di Đà ( tự tánh A Di Đà tự tâm ta ) là công đức đựơc thành tựu nơi mỗi con người có quyền gìn giữ bảo hộ. Chúng ta cũng là một con người như vua Vô Tránh Niệm, nếu ai cũng biết gìn giữ Bảo Tạng là 48 đại nguyện kinh nghiệm là quả diệu giác của Đức Thích Ca diễn nói để dạy ta thành tựu tánh Phật A Di Đà đó là phần ruột, là cứu cánh, là sở hộ niệm của chư Phật. Như vậy nên có vô số người được thành tựu pháp Di Đà thành vô số vô lượng Phật A Di Đà. Cũng như có vô số người học pháp bác sĩ thì có vô số vô lượng kinh nghiệm được thành tựu phương pháp làm bác sĩ do từ kinh nghiệm của vị giáo sư bác sĩ truyền dạy, dù không mặc áo, đội mũ bác sĩ vẫn đầy đủ kinh nghiệm sáng suốt đức độ giúp ích cho mọi người. Sự thành tựu trí đức của bác sĩ mới là tài năng, là phần ruột tinh ba của người bác sĩ. Đức Quán Âm do bảo hộ gìn giữ 12 đại nguyện mới thành tựu đức Quán Âm. Nếu một con người thành tựu 12 đại nguyện cũng là hạnh Quán Âm, nhiều người thành tựu 12 đại nguyện là có vô số Quán Âm nên gọi là thành Phật, nên phật nói “Ta là phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Nếu con người đầy đủ giới đức nào thì thành tựu pháp đó. Mục đích người tu là phát nguyện thành Phật. Phật dạy “Pháp giới chúng sanh giai hữu phật tánh” nghĩa là tất cả chúng sanh đều có phật Tánh. Vậy Di Đà vỏ là tượng hình đang thờ, đang lạy, đang chiêm bái ruột Di Đà là 48 đại nguyện, là giới luật tất cả đều là kinh nghiệm tu hành ta phải xác quyết rằng ta theo pháp muôn Tịnh độ là theo phần ruột, theo 48 đại nguyện là công đức Phật. Sự lễ bái hình tượng là tín ngưỡng phần vỏ, tượng là hình tượng, tượng trưng do sự tưởng tượng mà có để cho ta tập chiêm bái tập hướng tâm nhớ về công đức Phật. Người tu Tịnh độ phải xét lại Tịnh Thổ. Tâm địa là quốc độ thanh tịnh trong sạch tại tâm, Cực Lạc tại tâm, là phần ruột cứu cánh tại tâm. A Di Đà là tánh phật tại tâm, tất cả được thành tựu đều nhờ tha lực từ 48 đại nguyện. Tự tâm ta phát nguyện thọ trì, gìn giữ, đọc tụng, sao chép, diễn nói, tự giảng cho mình và mọi người có duyên để trở về phần ruột là đạo đức, bao nhiêu công đức đều là tự tánh Di Đà vô biệt niệm vô lượng quang, vô lượng thọ vô lượng công đức là Cổ Phật Nhiên Đăng. Đèn trí huệ có sẵn từ lâu vì mãi đuổi theo ngũ dục lục trần, lầm nhận ngoại cảnh, ngoại vật chấp là ta, mà quên bỏ Cổ Phật tại tâm lúc nào cũng hằng hữu.

Nếu theo phần vỏ là hình tượng mà ta hằng chiêm bái cũng đừng quên phần ruột là 48 đại nguyện, là giới luật gìn giữ thì tâm mới là chơn lý thanh trong phải thường chiêm bái giới luật. Lời nguyện thứ 18 trì danh niệm Phật là chuyên nhất nhớ danh hiệu A Di Đà tự tánh chính bản tâm của hành giả đang tu tập gìn giữ được nhất tâm bất loạn cho được thành tựu tự tánh A Di Đà vô lượng sáng suốt, chiếu soi trong tâm mỗi con người thấy được tất cả pháp bằng tuệ nhãn, biết rõ sự vô thường, không còn chấp vào tứ tướng, tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả mới là thật tướng A Di Đà, đủ Tánh Đức trang nghiêm vì đã xa lìa ngũ dục, buông xả vạn duyên đầy đủ bi, trí, dũng gọi là vô lượng công đức, đã nhất tâm thanh tịnh không còn xen tạp bởi các niệm tà vọng. Không còn niệm vào lợi danh, quyền chức, mê đắm sắc tài, rượu chè, bài bạc, chỉ giữ một niệm trong sạch đến giờ lâm chung không còn niệm nhớ vào mê muội buông xả hết mọi trần duyên, tâm địa thanh trong là Tịnh Thổ, là dân ở đất Tịnh. Nếu không rõ được điều này miệng niệm phật mà tâm vẫn còn nghĩ nhớ lung tung, niệm toàn điên đảo, thì đất tâm vẫn là ô nhiễm, bất an, không thành tựu pháp tu, không có Cực Lạc tại tâm vì các niệm mê đắm vẫn còn, niệm niệm mãi liên tục là vô minh. Nghiệp luyến ái vẫn là tâm vọng đang hiện hành vì ác nghiệp chưa vãng sanh (chưa siêu thăng Tịnh độ). Nếu không có Cực Lạc tại tâm thì niệm niệm vẫn trôi lăn theo dòng sanh tử. Thời đức Phật khi nghe giảng xong thời pháp có người liền chứng quả Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, La Hán vì các vị ấy đã thấy được nguồn tâm, biết tất cả pháp đều sản sanh do tại nguồn tâm, sắc thọ tưởng hành thức đều do ngũ uẩn hợp thành gọi là Thân. Phật dạy vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, nếu dùng mắt phàm phu, tai phàm phu để thấy nghe trên văn tự thì đọc kinh hay nghe giảng pháp không thể hiểu được ngày xưa các Thánh đệ tử của Đức Phật vừa nghe giảng một thời pháp liền chứng ngộ, vì đã bỏ sự thấy nghe của phàm tục mà chỉ thấy nghe bằng trí tuệ đó là Bậc Bồ Tát thị hiện tại tâm. Vậy thời nay không còn tướng Phật ở thế gian nhưng đại diện cho tướng Phật là Tam Tạng Kinh Điển là pháp Phật, là pháp bảo để cho ta nghiên cứu đọc tụng, cũng như ta vẫn còn được gần bên Phật vì còn lời giáo dỗ. Còn ở kinh tạng đó là hình ảnh của chơn lý tuyệt dịu, tụng kinh, xem kinh, nghe kinh, nghe giảng pháp cũng nên trở lại nguồn tâm như chư Thánh đệ tử của Phật ngày xưa, thấy biết tất cả pháp cũng đều sản sanh từ nguồn tâm mà quyết lòng thực hiện thì cũng như đang nghe lời thuyết giáo của đức Phật còn lưu lại trong kinh là phương tiện dạy dỗ, chúng ta sẽ được chứng ngộ Thanh Văn, Duyên Giác La Hán, Bồ Tát vì đã tỏ ngộ sáng suốt tại nguồn tâm đó là phước huệ lớn nhất của người hướng tâm tu nhân học phật, chính thức là học Phật là con Phật.

Pháp thành tựu đức phật Thích Ca là Tứ Hoằng Thệ Nguyện và Tam Tạng Kinh Điển vì Ngài đã thuyết 49 năm, độ vố số chúng sinh nên tam tạng kinh điển là giới luật, là ruột, tinh ba, là quả diệu giác tại nguồn tâm mà phật đã tự chứng ngộ. Với kinh nghiệm này Ngài muốn đem ấn vào tâm của chúng sinh mà giáo hóa gọi là tâm truyền tâm, đăng truyền đăng. Mỗi đèn trí huệ cho muôn loài được tỏ ngộ, đó là nguồn tâm, là trí huệ, kinh nghiệm của đức Thích Ca Mâu Ni mà ngày nay ta là mỗi người ân Phật được phước báu thừa hưởng tài sản vô giá của Ngài đã để lại cho ta tu học. Tài sản quý báu này chỉ có ai thật sự thừa hưởng, phải là đệ tử của Ngài mới sử dụng được. Có mắt Phật mới thấy Phật, có lỗ tai Phật mới nghe được lời Phật, ý của Phật mới thành Phật, kinh là tiếng nói của Phật phải có huệ nhĩ mới thông suốt được lời Phật nói, vì đó là vi diệu pháp, là bảo châu trân diệu đưa người thoát tục.

Vậy ta đã rõ biết pháp nào thành tựu Đức Thích Ca, pháp nào thành tựu Đức Di Đà, pháp nào thành tựu Đức Quán Âm, pháp nào thành tựu có ta, ta phải biết ta, tự mà sửa sang gìn giữ. Nếu biết xét vào tự tánh, xét vào nguồn tâm chính ta hiện là người đang niệm Phật, mà có thật lòng là đang niệm Phật không? Tâm có thành tựu pháp Phật dạy hay không? Hay chính ta tự dối gạt ta, bên ngoài đối đãi bằng miệng niệm Phật mà sự thật trong tâm đang đùa vui cùng vô số niệm vào tội lỗi, niệm vào danh, lợi tài sắc, tự cao ngã mạn, muốn ham, đòi hỏi sự ăn uống ngủ nghỉ. Nếu đang ngủ có ai làm phiền, làm thức giấc thì hiện lên tâm sân si, nóng giận, phiền não, đó là niệm vào ngũ dục trần lao. Có khi miệng niệm Phật mà lòng vẫn còn niệm vào bực bội, hờn giận, ghét thương, đau khổ, niệm niệm vẫn đam mê thì không thành tựu pháp niệm Phật được. Niệm Phật phải tha thiết nhớ rằng suốt đời gìn giữ Ngũ giới, thề không sát sanh, tham lam, gian dối, trộm cắp, tà dâm, chè rượu thì đó là Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhân, là Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, xứng đáng làm con người thọ nhận được giới luật chư Phật truyền thừa đã giữ tròn Tam quy, Ngũ giới. Nếu xét vào tâm hiện đang có thân là con người mà lòng còn chứa tham lam, ích kỉ, hẹp hòi, gian dối thì thân tướng là người nhưng lòng thì nuôi dưỡng Ngạ quỷ, săn sóc cho loài súc sanh, địa ngục. Người tu phải thấy được pháp là thấy được tâm niệm không chấp vào hình tướng. Nếu trực nhận vào tâm thấy không còn tham sân si, mê đắm, tâm không ô nhiễm đã thanh tịnh đó là tự độ tịnh, là hoa sen của Tịnh độ, người của Tịnh thổ, là đã xây dựng kiến lập Cực lạc Tịnh độ tại thế gian, không đợi khi chết mới về thế giới Tây phương Cực lạc bằng tư tưởng mà Cực lạc là hiện tiền tâm. Bất cứ nơi nào cũng là Tịnh độ vì tâm đã tự tịnh trong sạch. Người có tâm Tịnh nơi đâu cũng là Tịnh độ. Người còn tâm ô nhiễm thì bất cứ nơi đâu cũng là uế độ, ta phải xét kỹ tâm nếu còn tham lam ích kỉ, hẹp hòi thì không thành tựu pháp môn niệm Phật được. Niệm ngoài miệng mà không thấy Phật tâm là có vỏ mà không có ruột vì “Phật tức tâm, tâm tức Phật” nên xét kỹ vào tự tâm mà nhận biết thấy tại lòng ta mà tu sửa. Cõi Tịnh độ có chín phẩm hoa sen nếu buông xả ít thì Hạ phẩm hạ sanh, buông xả nhiều hơn là Trung phẩm, xả tất cả sự ô nhiễm thế gian là Thượng phẩm thượng sanh. Người tâm tịnh là sáng suốt, trí huệ thanh tịnh, không còn vọng niệm xen tạp.

Nếu biết tất cả pháp được thành tựu đều do tâm niệm, thì pháp Thích Ca, Di Đà, Quán Âm, Người, biết ta như thế nào thực hành đúng như lời phật dạy đó là liễu nghĩa, nguyện giải Như Lai chơn thật nghĩa, không còn biết trong mơ hồ ảo giác, mộng mơ qua tư tưởng nữa.

Cõi Tây phương có hay không? Nếu ta muốn đến Tây phương Cực lạc phải hiểu rõ điều này. Cực lạc ở đâu? Ta phải biết thế gian là vô thường, không thật nên Đức Phật bỏ tất cả hoàn cảnh thế gian là ngai vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con xinh, bỏ luôn thân tứ đại không màng vật chất để cầu đạo giác ngộ giải thoát. Mà Ngài đã đắc pháp chứng ngộ tại tâm và thành đạo quả, biết đời là biển khổ, khổ vì vợ, vì chồng, vì con, vì tài sản, địa vị… nên Ngài bỏ tất cả trở về tâm chơn chánh, mới cầu được đạo chơn chánh, muốn cầu đạo chơn thì tâm phải chơn.

Giáo chủ cõi Tây phương Cực lạc là Phật A Di Đà. Cõi ấy có cây lưu bảy báu bằng tường hoa, có ao thất bảo đầy nước tám công đức, bờ hồ cẩn bằng vàng ngọc châu báu, trong hồ có hoa sen bốn màu lớn bằng bánh xe, hương thơm ngào ngạt, màu nào cũng có hào quang chiếu sáng, quanh hồ có những tòa lâu đài nguy nga xinh đẹp, toàn bằng thất bảo. Nếu nói có thật thì ta không biết ra sao, chỉ biết bằng tưởng tượng vì không thể chứng minh được, mà kinh Phật thì diễn tả thật rõ ràng nên ta nói không thì cũng không đúng, đây là điều rất khó đối với người tu pháp môn TỊNh độ. Cần hiểu sáng suốt hai yếu tố Có - Không này. Nếu không biết được đức Di Đà và cõi Tây Phương Tịnh độ Cực Lạc mà ta cứ tin mù quáng vì không hiểu mà cứ tin, cứ tu, cứ làm là tin mù quáng phải cần thông thật rõ. Cõi đó là Thường Tịch Quang Tịnh Độ, đây là cảnh giới Phật thường an trú, không thay đổi, không sanh diệt tức pháp thân Phật thường thanh tịnh tịch là yên lặng, vắng lặng là tâm yên lặng nhưng vẫn đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, làm tất cả việc không rời các pháp. Động và Tịnh đúng theo chơn lý khó hiểu vô cùng. Nếu cho đi, đứng, cử động, nằm, ngồi, nói năng, làm việc mà cho là tâm động thật là sai, tịnh là ngồi chết cứng một chỗ cũng là sai. Tất cả việc bên ngoài đều là có tướng, nhưng tịnh và động đều chủ đích tại tâm phải thấy trực chỉ vào tâm .

Tịch là đối trước sắc đẹp, tiền tài, vật chất, tình yêu, danh vị, lợi dưỡng mà tâm không thọ nhận, không cảm động bởi niệm phan duyên là vui mừng, yêu thích, thương ghét, muốn ưa, hay chán nản, tâm và niệm vẫn tự tại, tự nhiên, bình an, bất động, không duyên theo mà khởi niệm sanh, tâm lúc nào cũng thanh tịnh sáng suốt, biết tất cả pháp có mặt thành tựu là do nhân duyên hòa hợp không thật, không bền dù có tiền bạc thật nhiều, hay có ai chửi mắng, nhục mạ, tạo gây phiền não, tâm vẫn an nhiên, không cảm động thọ nhận vui hay khổ nên gọi là thường tịch. Vì tâm không chao động bởi các pháp, tâm thường tịch lúc nào cũng tự tại, hoàn cảnh nào cũng không ô nhiễm vương mắc vào pháp trần gọi là tâm thường tịch.

Gìn giữ giới luật là gìn giữ pháp thân, 250 giới là pháp thân của Tỳ Kheo, 5 giới là là pháp thân của người Cư sĩ, 10 giới là pháp thân của Sa di. Giới là chánh mạng của người tu, nếu không có được giới đức gọi là tục thân, là tà mạng, mạng trược. Đức tánh Di Đà là thường tịch quang, là pháp thân thanh tịnh sáng suốt, trí huệ, tịnh mà không động. Pháp thân ngài là thường tịch quang Như Lai, đã xa lìa các phiền não vọng nhiễm nên xuất hiện đức giải thoát sáng suốt gọi là quang. Nếu ở tại thế gian ai có đức độ siêu phàm khi đối với pháp, với hoàn cảnh biến hiện của cuộc đời, không khởi niệm tham đắm, phiền não, thường tịch là hào quang trí huệ, là Phật lực chiếu sáng khắp 10 phương thế giới trùm các cõi bất khả tư nghì. Chỉ có người niệm Phật nhất tâm mới về cảnh giới này. Phải có trí huệ Bát nhã là không vướng mắc vào tứ tướng, sống bằng chơn như,sáng suốt gọi là thật tướng. Bát nhã là thế giới của tánh không, cõi Tịnh độ có ba đức quý báu là thường, tịch và quang.

Thường là không bị thay đổi ( không vô thường sanh diệt ), không lệ thuộc vào trạng thái buồn, vui, thương, giận, sanh diệt đổi thay, các pháp chỉ thành tựu một thời. Thường là không bị các pháp thế gian làm cảm nhiễm, lôi cuốn bởi tiền tài, sắc đẹp, ái nhiễm nên gọi là thường. Thế giới của Phật là thế giới của thường tịch, là tịnh không biến động.

Quang là sức mạnh chiếu sáng trùm khắp pháp giới mười phương, không ô nhiễm đó là cảnh giới Tây phương Cực lạc có thật tại tâm mọi người, là hữu dư Niết Bàn, đó là chánh nhân của chánh báo, y báo sẽ có là chánh quả là vô dư y Niết Bàn, đúng theo nhân mà có quả không thiếu không dư. Khi đã thanh tịnh hằng soi sáng các cảnh giới đó là thường tịch quang như lai.

Như vậy Tự tánh Di Đà nơi mỗi người tu hành giác ngộ liễu thông các pháp là thường tịch quang Như Lai. Mặt trời, mặt trăng là nhật nguyệt cũng không sáng bằng vì còn bị chướng ngại bởi mây che nên gọi Tự tánh Di Đà là siêu nhật nguyệt quang Như Lai không vật gì che lấp cả.

Cõi Tịnh độ không hình sắc chỉ là chơn tâm. Trong kinh diễn tả có tướng chỉ là hình ảnh do đức Phật hóa hiện dùng sự tướng, là pháp tượng trưng mà trong Kinh Pháp Hoa gọi là hóa thành dụ mượn phương tiện, là danh từ các hóa Phật làm tên gọi hóa Bồ Tát chúng để chỉ từng tâm niệm đã giác nơi tự tâm mỗi con người. Từ thần thông đức Phật hóa hiện có pháp tướng, có cảnh, dùng tướng dạy lìa tướng, mượn cảnh dạy lìa cảnh, nói có vọng tâm để chỉ chơn tâm, chỉ cảnh Cực lạc để độ người có tâm tham mà lìa Địa ngục, Ngạ quỷ. Tất cả đều do Phật biến hóa mà chỉ dạy, ta phải biết đó chỉ là ẩn dụ “phàm chư sở hữu tướng giai thị hư vọng”, những gì còn có hình tướng đều là hư vọng. Như khi tâm ta có lúc thật vui, hay có lúc thật buồn, dù biết đang vui hay buồn nhưng không có hình tướng vui buồn nào cả, vì các pháp vốn tánh không, không thật. Cảnh giới Tây phương là cõi của chơn tâm, là thường tịch quang bất tư nghì có sẵn trong lòng ta, không hình tướng, màu sắc, không lớn nhỏ, dài ngắn. Có sự tướng, có cảnh là do đức Phật dùng phương tiện cho chúng sanh, vì cõi dục giới nơi Ta bà chỉ sống bằng hình tướng, hoàn cảnh nên đức Phật tùy duyên biến hóa theo căn cơ trình độ của con người, dùng tướng ẩn dụ mà giáo hóa. Nói cõi Cực lạc là hoa sắc xanh, hoa sắc đỏ, hoa sắc vàng, có ao thất bảo, có cây Thất Trùng hàng thọ, có đền đài nguy nga đó là phương tiện có tướng mà giáo hóa. Thật ra các pháp bảo được Phật diễn tả chính thực là hào quang tươi thắm là hoa trí huệ sáng suốt của các Bồ Tát Huệ Biện Tài, Bồ Tát Thần Thông Hoa, Bồ Tát Quang Anh, Bồ Tát Tín Huệ, Bồ Tát Nguyện Huệ, Bồ Tát Hương Tượng, Từ bi hỉ xả, Tứ diệu đế, Tứ vô lượng tâm, Thất bồ đề phần là thất trùng hàng thọ, tất cả là hoa trí huệ đủ sắc màu tại tâm mỗi con người hiện ra sẵn.

Thất bồ đề phần, Bát chánh đạo phần là đền đài nguy nga tráng lệ, là những pháp báu. Mà những người muốn về thế giới Cực lạc cần phải có tại tâm là tài sản của đức Phật để lại mà người tu là đệ tử, là con Phật phải hết lòng gìn giữ, không để tàn hoại tại tâm. Nếu ta giữ được tài sản quý báu thì mới có cơ hội mà thọ hưởng Cực lạc tại tâm, có nhân quả đều do năng lực tu hành mà thành tựu. Ta không nên chấp theo phương tiện là tướng cảnh mà bỏ quên đức tánh là cứu cánh, là giác ngộ, giải thoát. Có các danh từ được gọi Bồ tát là chỉ đến từng niệm trong sạch của con người đã giác ngộ.

Chơn là sự chơn thật còn lúc vui, buồn, ghét, thương, hờn giận, đau khổ là pháp sanh diệt, không thật đó là vọng tâm.

Chơn tâm là thường sáng suốt trí huệ. Bản thể chơn tâm là tánh viên giác diệu tâm thường chiếu soi và thanh tịnh là chơn giác đầy đủ thường sáng là thường tịch quang Tịnh độ. Nếu chứng được cảnh giới này thì thân và Tịnh độ không hai, vì đã thấy thật pháp không còn chấp thật thân. Nếu tâm thường là thế giới Cực lạc thì tâm chơn là cảnh giới của chính ta, là quốc độ tại tâm ta, tâm ta là Tịnh thổ, là đất tâm an ổn của ta, không chạy theo tướng nào cả vì dĩ kiến sắc cầu ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhơn thành tà đạo, bất năng kiến Như Lai. Nếu mãi theo hình tướng âm thanh sắc tài mà tìm kiếm Phật là hành tà đạo không thể thấy Phật.

Sự cúng kiến qua nghi lễ là phương tiện tạm thời bước đầu đưa tâm vào Đạo, không phải là cứu cánh giải thoát. Bố thí là tập bỏ bớt lòng tham. Phóng sanh là buông bỏ nghiệp sát, giết hại vật. Tụng kinh không thể thành Phật nhưng phải nhờ tụng kinh mới thâm nhập hiểu biết chơn lý mà tu sửa. Phật pháp bất khả cầu, nếu cầu được thì đức Phật không nhọc nhằn, tu hành làm gì. Nếu không sáng suốt trí tuệ, cứ bảo thủ theo tư tưởng sai trái, mãi cầu khẩn van xin sẽ lạc ra ngoài ngoại đạo. Những việc làm còn vướng vào tướng thì không phải là cứu cánh giác ngộ. Kinh Tịnh danh có chép về nhân quả viên mãn, sự thành tựu diệu giác sẽ có cõi thường tịch quang nghĩa là phải tu chơn.

Vậy tu chơn là gì ? Tu với ai mà gọi là tu chơn? Tu ngay chính tại lòng mình mới gọi là tu chơn. Không tu cho người thấy vì danh, bố thí cúng dường bằng hình tướng bên ngoài che đậy sự sai trái của tâm là thiếu sáng suốt còn tà niệm tại tâm đó là tu cho người bên ngoài thấy. Tu chơn là tự ta xét lấy tại tâm biết những điều sai trái, độc ác, tự sửa lấy đó là tu chơn. Nếu cứ chạy theo người là cho thầy này hay thầy kia giỏi chỉ thấy của người mà không lo tu sửa tâm mình, tu với mình, hỏi tự lòng có chơn không Phải tự sáng thông mà buông bỏ các vọng niệm, tạp nhiễm dần dần tâm sẽ trong sạch gọi là tâm chơn.

Ta phải nhìn vào thật báo trang nghiêm Tịnh độ là nhìn vào tâm ta, cảnh giới tại tâm có phải là thường Tịch Quang Như Lai hay không? Nếu thấy sáng suốt thanh tịnh, không còn vướng bận vọng trần đó là thật báo trang nghiêm Tịnh độ tại tâm, là thế giới luôn làm lợi ích cho mọi người, tâm thật không ăn gian, nói dối, hết lòng với mọi người là Tích công dồn đức, được nhiều công đức do đã huân tu ở nhiều đời kiếp cõi tâm hiện tiền là thật báo trang nghiêm Tịnh độ vì tích lũy công đức rất dày.

Cảnh giới Tịnh độ này là báo thân của Chư Phật. Kinh Quán Vô Lượng Thọ lời sớ sao có chép rằng, tu tập phải chơn thật, phải tu cho đúng theo chơn lý Phật, không vì buồn chán cuộc đời mà tu, không vì danh mà tu, không chọn sự sung sướng được mọi người xá lạy cung dưỡng mà tu, tu vì lợi ích chung muôn loài, vì giác ngộ cuộc đời là vô thường mà phát nguyện tu hành. Nếu xét thấy tâm còn giả dối, không phải là thật báo trang nghiêm thì tâm đã sanh vào cõi của ác báo, nếu tu tập chơn thật sẽ có quả báo tốt đẹp.

Có tu chơn thì đạo mới chơn

Tu chơn thì đạo đừng sơn bên ngoài.

Hữu dư Tịnh độ là phương tiện đi dần đến cứu cánh rốt ráo. Đây là Tịnh độ của hàng Nhị thừa, khi đã dứt được kiến hoặc tư hoặc của cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới, gồm vô minh hoặc là các sự buồn phiền khổ sở, còn trần sa hoặc là chưa hoàn toàn đến cứu cánh vì thấy thế gian còn nhiều đau khổ, nên tâm chán nản đó là phương tiện hữu dư Tịnh độ, hạ phẩm hạ sanh.

Phàm Thánh đồng cư độ, đây là cõi của Đức Phật A Di Đà, ở Tây Phương gọi là Tịnh Độ hay Cực Lạc. Nơi đây đã đủ đức trang nghiêm không còn bốn thú, không có noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh và thai sanh ; không có Ngạ quỷ, Súc sanh, A Tu La ; không có cõi Địa ngục vì cõi này không là thế giới của người có tâm tham sân si, người có tâm này không thể vào được. A Tu La là tâm người vẫn làm phước, bố thí cúng dường, nhưng nếu gặp hoàn cảnh không như ý thì nổi sân, bực bội, nóng giận, la hét, tức tối, không còn nhớ đến tội lỗi đó là A Tu La. Nếu còn tâm này thì niệm Phật không thành tựu, những người còn tâm này không được vào cõi Phàm Thánh đồng cư độ.

Tân Bồ Tát, chư Thiện nhơn cùng các chúng sanh mới vãng sanh chưa chứng đươc Thánh quả gọi là Phàm thánh đồng cư. Nếu không sát sanh, không gian dối, tham lam, dâm dục, chè rượu, không chửi mắng, nói lời độc ác thì dược vào thế giới Tây phương nhưng còn ở Hạ phẩm hạ sanh, vẫn ở đời đời kiếp kiếp nhưng không có khổ, đợi đến khi nghe Phật Di Đà thuyết pháp ( nhớ lại Tự tánh Di Đà tại tâm ) hay nghe Thiện tri thức thuyết pháp bước lên từng bậc là các hàng Thanh Văn, Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát, thông suốt từng phẩm vào bậc chứng ngộ đẳng giác mới đến quả vị Phật.

Chúng ta tu niệm Phật, giữ thập giới mong về Tịnh độ, đây là thế giới phải được gìn giữ trong sạch, sẽ vào cõi này. Cõi Cực Lạc có đền đài pháp bảo là chỗ Phàm Thánh đồng cư có Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đều qui tụ. Căn cứ theo giới pháp trong sạch của tâm mà có từng bậc khác nhau. Các cảnh giới được diễn tả đều tại tâm người, tùy vào trình độ căn cơ công phu thực hành của phương pháp buông bỏ và giữ gìn giới luật mà có sai khác ở cõi Phàm Thánh đồng cư độ.

1. Cảnh giới là Thường Tịch Quang Tịnh Độ : tâm phải thường tịch sáng suốt không ô nhiễm, không lầm chấp vô thường cho là thật.

2. Thật báo trang nghiêm tịnh độ : là người làm tất cả công đức như bố thí cúng dường, làm phước, giúp người, hiếu thảo với cha mẹ, chồng vợ chung thủy, anh em thuận hòa, làm tất cả công đức đối với xã hội, luôn đem của cải tài sản giúp đỡ mọi người, gọi là tích lũy công đức là Thật báo trang nghiêm Tịnh độ.

3. Phương tiện hữu vô Tịnh độ : là tâm người cũng giữ giới làm lành, làm phước nhưng còn niệm phiền não chưa đầy đủ sáng suốt. Cũng buông bỏ lục trần, vẫn còn thương ghét phân biệt nên gọi là phương tiện hữu dư Tịnh độ, còn non nớt chưa hoàn toàn.

4. Phàm Thánh cư độ : dành cho cõi người, ta không chấp vào tướng nam nữ, giàu nghèo, sang hèn, nếu còn kẹt vào tướng thì tâm không an lạc được. Phải nhìn vào pháp tu chuyển hóa không để vướng kẹt vào pháp trần, giữ gìn giới luật là căn bản của người tu, phải trạch pháp thấy rõ đúng pháp hay sai pháp mà thực hành. Rốt ráo là tâm buông bỏ tất cả pháp, tâm còn chướng ngại vì “Phật pháp còn phải bỏ huống chi là phi pháp”, căn bản là phải gìn giữ Tam quy, Ngũ giới.

1. Quy y Phật : là phải quay về sống với sáng suốt. Căn bản của sự quy y là tự quy y Phật, sống được với Tánh giác hạnh viên mãn. Quy y theo Phật là theo sự sáng suốt, trí tuệ Phật Tánh chính mình.

2. Quy y Pháp : là trở lại sống với pháp Chơn chánh, không quy y pháp bằng cách chấp vào thân tướng ai cả.

3. Quy y Tăng : là không theo hình tướng mà theo sự thanh tịnh của Tăng vì đã gìn giữ giới luật, giới pháp. Nếu có hình tướng là Tăng mà không gìn giữ được giới thì không gọi là Tăng. Vì không giữ giới Phật là ma mượn tướng Phật để ẩn vào, là ẩn dương nương Phật nên Kinh Kim Cang Bát Nhã dạy, không chấp vào tướng nhân, mà ta tu học là nương vào người đã gìn giữ giới luật sáng suốt, trí tuệ, là quy y vào pháp giới đã được gìn giữ của Chư Tăng. Không theo tư tưởng lầm lạc mới thoát khỏi địa ngục vì mê muội, sống với trí tuệ sáng suốt tâm mới yên ổn an lạc vào Thế Giới Thường Tịch Quang Tịnh độ.

Cổ đức dạy :

Đường về Tây Phương rất khó,

Nhiều yêu ma đón ngõ chặn đường

Muốn làm chúng nó chạy tuôn,

Phải có lòng Bồ Tát, phải có gan anh hùng.

Lòng Bồ Tát là thương yêu khắp chúng sanh, gan anh hùng là dám buông bỏ tất cả dục vọng, là thói quen ở thế gian trở về tâm xuất thế ; bỏ những lỗi lầm độc ác xưa nay ; bỏ những đam mê huyền ảo đó là người có gan anh hùng đã bỏ trần duyên luân hồi sanh tử để ra khỏi thế gian, để trở về cõi Thường Tịch Quang Tịnh độ. Cõi đó có sẵn nơi đất tâm Tịnh Thổ của mỗi con người, sẵn sàng chờ đợi người quyết lòng bỏ bến mê qua bờ giác ngộ giải thoát.

Khi khởi niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là ta đang bày tỏ lòng thành kính nhớ Đức Bổn Sư, là niệm nhớ đến công đức Phật đã thị hiện ra đời để giáo hóa chúng sanh, nhớ công hạnh, nhớ công ơn, nhớ Đức độ người đã để lại chơn lý giáo lý dạy cho ta tu học. Còn niệm A di Đà Phật, không phải là Bổn Sư mà A Di Đà Phật là niệm nhớ đến tự tánh Phật. Niệm nhớ lại tự tánh Phật chính là niệm nhớ bản tánh nơi ta. Bổn Sư là tôn xưng Đức Phật đã đến cuộc đời, là vị Đạo Sư đã thị hiện giáo hóa chúng sanh, ta cần phải hiểu như vậy.

Đức Phật dạy rằng chúng sanh thường lấy pháp giới làm thân, nên mỗi khi ta tưởng nhớ Phật là nhớ đến nơi an trụ của tánh giác, nơi ta thường an trú mà chính ta niệm, ta tự chọn. Như pháp thế gian, ta suy nghĩ niệm vào nhà là nhớ tới nhà, niệm xe nhớ xe, niệm con cái vợ chồng thì nhớ đến con cái vợ chồng, niệm pháp nào liền đến pháp đó, lo cho pháp đó, cố gìn giữ cho tốt đẹp. Chồng vợ thì cố giữ cho riêng mình, nên thường sanh tâm ghen tuông, giận hờn, buồn vui đầy ấp, tất cả đều là pháp. Nếu lo cho con thì tâm là thế giới của con, lo cho chồng vợ thì ở trong thế giới chồng vợ, lo tiền bạc thì ở trong thế giới tiền bạc nên gọi là pháp giới.

Kinh Phật nói rằng Như Lai lấy pháp giới làm thân, nếu ta cứ lấy vợ chồng, nhà cửa, vật chất, người thân làm thân thì đó là thân phàm tục, là tục thân. Ta đang ở trong tục thân, muốn ra khỏi tục thân thì mỗi khi tưởng nhớ Phật, niệm Phật, phải buông bỏ tất cả niệm của thế giới phàm tục, chỉ nhớ đến 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Đức Phật. Vậy 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp là bỏ tất cả việc thế gian không còn vướng bận giận hờn, ghen ghét, thù hận, không ích kỉ, hẹp hòi, gian lận, lừa đảo, nếu làm được đều này là có được những công hạnh tốt đẹp, nếu biết bỏ những niệm mê muội là hiện tướng tốt. Niệm phật là sàn sảy bỏ tất cả niệm xấu ác, chỉ còn lại những niệm thiện lành, sáng suốt, gạn lọc cho sạch là còn lại 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp. Tâm đã tốt đẹp vì trong sạch thì tâm này tức Phật, nếu tâm đã có phật thì niệm phật mới thành công. Tâm thanh tịnh là Tịnh Thổ, là Thế giới của Phật nên ta đã thỉnh Phật trụ thế. Nếu đất tâm không dọn dẹp được an lành thì Phật tại tâm sẽ tịch diệt vì tâm đã bi vô minh tràn vào nên thường tăm tối. Các đức Phật là Chánh biến tri, Chánh biến tri là tìm thấy lại thể tánh sáng suốt giác ngộ hoàn toàn, biết rõ sự biến đổi của mọi sự vật bằng sự thật là chơn thật. Biết tất cả thế gian, con người, trời đất như thế nào, đều thông suốt đó là người đã biết niệm Phật. Còn như vô minh đối với mọi vật thì niệm Phật không được sáng suốt vạn vật muôn loài hiện có ở thế gian đều vô thường như huyễn. Muốn về Thế giới Cực Lạc A Di Đà phải biết thế gian đều như huyễn, không thật, trí nhận biết đó là tuệ mà trí tuệ mới xây dựng được Cực Lạc.

Sự sanh diệt của vạn vật vô thường từ vô lượng kiếp “tiền tiền vô thủy, hậu hậu vô chung” nghĩa là bao nhiêu đời trước, thế gian vũ trụ cũng biến đổi, cũng thiên tai thảm họa, cũng bệnh, cũng chết y như vậy. Vạn vật luôn biến đổi, đó là tướng thế gian mà Phật nói “phàm chư hữu tướng giai thị hư vọng” những gì có hình tướng đều tan hoại đó là lẽ thường của cuộc đời, ta không nên có tâm niệm sợ hãi. Đó là định luật tự nhiên giữa con người và vạn vật gọi là vô thường, huyễn hóa, ta chỉ quyết định tu hành cho được giác ngộ trí tuệ sẽ dẫn tâm ta đến chỗ thanh tịnh, bình an dù đang sống giữa bão tố của cuộc đời.

Như huyễn là không thật, cuộc đời không gì là thật có, không gì là bền chắc cả, tất cả chỉ là bọt bóng sẽ vỡ tan trong khoảnh khắc. Không thể gìn giữ được bọt bóng, dù đẹp nhưng chỉ là giả tướng. Sắc thân con người cũng giống như bọt nước trôi nổi phập phều ngoài biển khơi, tâm niệm ta cũng đang trôi nổi ngoài biển khổ Ta bà, nhưng nhanh chóng sẽ vỡ tan vì vốn nó là vọng huyễn. Cuộc đời cũng vậy, nếu ta tu niệm Phật mà còn ôm ấp vọng niệm của cuộc đời thì cũng như ôm ấp bọt bóng, nếu mãi mê lầm sẽ không thành chánh giác. Sự đời như huyễn, trời đất như huyễn nên dễ sụp đổ đó là chuyện bình thường, ta không vì vô minh mà hoảng sợ. Tu niệm Phật chỉ giữ chắc chắn niệm giác các pháp đều vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ, việc thế gian thay đổi là như vậy, không nên khủng hoảng vì người tu đã biết rõ định luật vô thường tự nhiên như vậy nên đã sẵn vững tâm an định, kiên cố, chấp nhận, rõ ràng biết tất cả việc đời đổi thay như bọt nước, như ảo ảnh.

Người niệm Phật không trụ vào ảo loạn, chính là sự xuất hiện hoa sen trong loài người. Người quyết lòng niệm Phật dù gặp trở ngại gì, hay điều lợi lạc gì của thế gian đều nhất tâm buông bỏ, chỉ chọn một pháp mà hành trì, lòng không còn vướng bận mới được nhất tâm, thường sống với tự tánh Phật, còn giữ được pháp thân phật. Nếu bỏ pháp thân Phật niệm vào pháp thế gian thì đã sống với thân thế tục. Phải nhận biết bằng trí huệ, nhận rõ thế gian là không bền chắc, để không bỏ niệm Phật mà niệm ma, là niệm vào hư huyễn. Nếu biết pháp thế gian không thật mà buông xả những pháp ô nhiễm khi mở miệng niệm Phật thì tâm đã trong sạch sáng suốt. Môi vừa hé niệm là cánh sen nở, tiếng nói là hương sen lòng là tâm sen, miệng là cánh hoa sen.

Miệng ta là cánh hoa sen,

Một khi hé nở, một phen thơm lừng,

Tiếng ta là gió mùa xuân,

Một cơn gió nhẹ muôn dân mát lòng (CLKC).

Đó là sen báu trong loài người, dù hoa sen sống trong bùn nhưng hương hoa vẫn thơm tho đậm nét, dù thân ở trong loài người nhưng tâm là sen báu. Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, đức Đại Thế Chí là bạn thù thắng của người có tâm sen, tâm đó là Tự tánh Di Đà vô biệt niệm tại tâm ta, là chúng Bồ Tát, đã là bồ Tát di bạn lữ tất cả tâm đều hòa hạnh Bồ Tát. Còn tâm mê nhiễm vật chất, tiền bạc, danh lợi, mê người, mê chúng sanh, mê sự thọ nhận, đó là tâm phàm tục không thể là bạn lữ của Bồ Tát được. Khi tự giác lìa bỏ những tâm ô nhiễm thì lúc đó Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là đại trí tuệ, là sự sáng suốt. Bồ Tát Quán Thế Âm là niệm sáng suốt, biết quán sát lắng những âm thanh tận đáy lòng, là bạn lữ vì tâm ta và tâm các Ngài đã đồng một bản thể, là bản giác thanh tịnh, là thường ở đạo tràng, sanh trong nhà các đức Phật, là nhà Như Lai, dù ở bất cứ nơi nào cũng là đạo tràng cả. Ta ngồi đâu thì có các vị Thanh Văn, Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát đều quay quần bảo hộ. Người niệm Phật chơn chánh lúc nào cũng có Thiên Thần vây quanh mà gìn giữ. Người nói kinh Long Thần Hộ Pháp khắp 10 phương đều đến ủng hộ Đạo tràng vì tâm là Đạo tràng chơn chánh đó là tâm giác, tâm Phật. Khắp 10 phương quốc độ đều là tịnh tướng “thường ở Đạo tràng mà sanh ra các Đức Phật”. Dù hoàn cảnh nào tâm vẫn trong sạch, tâm vẫn thường là Đạo tràng, không có một niệm thấp hèn, bần tiện nên thường sanh ra Đức Phật. “Nếu ai chăm lòng niệm phật”, nói về tướng là miệng luôn niệm Phật, về tánh là sáng suốt biết rõ các pháp thế gian là huyễn giả nên không hề nghĩ nhớ, chỉ một lòng niệm Phật, nhớ Phật, luôn luôn chăm sóc Phật, không còn nhớ đến các niệm tội lỗi, không còn nuôi dưỡng các ác niệm. Phật dạy trong thân con người chứa vô số vi trùng độc, trong tâm người chứa vô số niệm độc ác, niệm tội lỗi, tu là buông bỏ, ăn cũng trong chánh niệm, không tham ăn, không ăn trong đòi hỏi, ăn trong tâm vắng lặng, không vừa ăn mà nghĩ nhớ đến niệm giành giựt, tranh đua, đó là ăn trong chánh niệm. Ăn mà niệm Phật, ngồi trong chánh định, là đầu óc không nghĩ nhớ, lưng thẳng, đầu ngay ngắn, nghe hơi thở mà không nghĩ nhớ niệm vào danh lợi, tài sản, tiền bạc, giận hờn, yêu mến, tâm phải y như vậy, không tham đắm gọi là ngồi trong chánh định, quán tưởng vào sắc thân mà không niệm vào sự nghĩ nhớ tư tưởng.

Ngày xưa Đức Phật cũng như vậy giờ ta cũng như vậy. Trước kia ta là thân phàm tục, thích ăn uống, ngủ nghỉ, ham chơi, ham xa hoa, đủ thứ ham, đủ thứ tính toán. Bây giờ không còn mê đắm nữa, đã an lạc vì tâm chánh định. Xưa phật như vậy nên mọi người cung kính bái lạy, tôn kính hạnh đức là Phật thân. Ta cũng học hạnh Phật, cũng buông bỏ như vậy, giống như vậy, Phật thân trước và Phật thân sau không khác “Phật thân đều tợ lưu ly” y như vậy. Nên hiện tại tâm ta đã trong sạch cũng y như thân Phật vậy. Thân Phật, lòng Phật đều như vậy không khác. Ta không khác Phật nên ta không cầu khẩn, van xin, tìm kiếm ở đâu xa. Không ở non núi, ở hang động mà ở tại lòng trong sáng chính tâm ta, lắng nghe thân ta, tâm ta, hạnh ta giống y như Phật là đã có Phật thị hiện tại tâm vì Phật tức tâm. Đã mất hết tâm tham lam, ích kỷ buồn giận… nên thân Phật trước, thân Phật sau không khác. Tâm an lạc là có phật hiện tiền.

Tuy thân còn ở Ta bà nhưng không phiền não, sân si che lấp dù có lúc vẫn còn phiền não nhưng kịp giác biết mà không niệm theo. Phiền là buồn, não là khổ sở, nhứt đầu, não loạn, dù hoàn cảnh có đến nhưng người tâm trong sạch khác hơn thế tục là không bao giờ khởi niệm ác để trả thù, trả hận hay oán hờn, gim gút, quyết định niệm ác không sanh đó là người tu xuất thế. Phật nói sau này những người có đức hạnh như vậy họ sẽ rưới những trận mưa đại pháp, hòa giải được những cơn thịnh nộ sóng động mê muội đấu tranh của chúng sanh bằng những pháp thiện lành cao thượng. Mục đích tu là sửa tâm, rèn tánh. Niệm Phật là hỏi lại lòng coi niệm sanh khởi là thiện niệm hay ác niệm. Chính ta kiểm soát chính xác hơn ai cả, không nhờ vả vào đâu. Trì danh hiệu Phật là không có tâm niệm dua dạy hay khiếp sợ, niệm Phật phải có lòng thiện, biết nhân nào thì quả nấy. Có nhân thiện thì quả thiện, nhân ác thì quả ác. Đời này có nhân giúp đời, làm lành, lánh dữ thì nhất định đời sau sẽ có quả bình an, nhân ái. Vì không có nhân của quả ác nên người niệm Phật không hề sợ phạm vào luật pháp thế gian. Vì giữ giới luật nên không phạm pháp, sống không sợ pháp luật, chết không sợ sa địa ngục. Sống mà làm ác thì sợ luật pháp, chết sợ Diêm Vương, sợ Ngạ quỷ, sợ Súc sanh. Nếu chẳng nghĩ nhớ ác, nhớ quấy thì lòng đang có đức độ Phật ( giác ) đó cũng chính là thường lạy Phật, thường quán thấy Phật trước mặt vì Phật hiện đang tại tâm, nhắm mắt cũng thấy Phật, mở mắt cũng thấy Phật, ngồi cũng thấy Phật, thấy Phật chính là thấy được tánh giác thì nhất định sẽ sanh về cõi Phật.

Sáng suốt thông hiểu được kinh Phật thì lòng phải thiện lành giống tánh Phật, gọi là tương ưng cùng Phật, là Phật tánh. Nếu tánh ta khác với Tánh Phật, mà dùng văn chương chữ nghĩa diễn tả cũng không hiểu được lời dạy của Phật. Phật nói nếu xem kinh muốn có hào quang, có Phật thì tâm phải giống như Ta thì kinh sẽ có chữ. Nếu không có lòng giống như Ta thì kinh vô chư, càng đọc càng rối, càng tăm tối không có đường vào. Tâm phải tương ưng cùng Phật, phải coi lại lòng có giống Phật hay không? Chắc chắn sẽ sanh về Cực Lạc. Nếu còn tham sân si, phiền não, chất chứa, lưu trữ trong lòng thì niệm Phật không thông, Phật trí vô ngại. Người có trí giống như người có mắt, trên đường đi không sợ sụp hang hố, gai chông, rơi vào tà mị vì đã mở mắt trí.

Thực hành hạnh từ mẫn là dập tắt mọi phiền khổ, tham sân si, không chấp thân là thật, phải dẹp bỏ hết sở chấp mới sanh được lòng từ mẫn thương yêu cứu giúp chúng sinh, làm cho họ thoát khổ. Lòng từ mẫn là thầy, của Trời, Người, nếu người dẫn dắt chúng sinh mà không làm Thầy của Trời Người là không đủ khả năng. Vậy làm Trời người là gì ?

Giữ năm giới là đạo hạnh của con người, nếu Thầy của họ là không bao giờ phạm vào năm giới, phải thật sáng suốt tâm không còn nhơ bợn, không sát sanh, không tham lam, không nói dối, không tà dâm, không rượu chè không cờ bạc, nếu không phạm vào là xứng đáng làm Thầy của Người.

Cõi Trời có 10 giới là tu Thập Thiện, là tâm trong sạch Thiện lành, biết cứu giúp mọi người, xứng đáng dạy cho Người dạy cho Trời, là hạnh Bồ Tát đã thường giáo hóa mình, giáo hóa xây dựng lỗi lầm của mình, còn xây dựng lỗi lầm cho người khác cho mọi người được giác ngộ là Thiên Nhơn Chi Đạo Sư. Nếu còn phạm giới, còn mê đắm thế gian vẫn còn là chúng sanh, không thể dẫn dắt ai được, phải xứng đáng người của Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo. “Nói pháp sư tử hống” là nói thẳng theo chơn lý, không ngăn ngại bởi kiên sợ pháp thế gian, không hướng dẫn sai giáo pháp. Chơn lý là sự thật nên tà ma khiếp sơ. Nghe đến chơn lý các cõi đều rung rinh chuyển động, tà ma ngoại đạo đều kinh khiếp đó là nói pháp Sư Tử Hống.

“Y như chánh pháp rộng độ các hữu tình” chỉ có duyên với người đủ duyên vì Phật Pháp là tùy duyên. Hữu tình gieo giống xuống, vô tình rút giống lên, đó là không chấp tướng, không vì ham muốn mà niệm vào tội lỗi, phải ra khỏi bốn tướng gọi là tịnh tướng vì còn tướng là còn vọng tâm.

“Viên mãn lời nguyện xưa” là 48 đại nguyện khi đã phát nguyện niệm phật phải thực hành cho viên mãn, thực hành đúng chánh pháp, sống đúng chơn lý, không nguyện cho qua, nhất định phải tròn xong.

“Tất cả đều thành phật”, nếu hiện tại ta niệm Phật, thực hành được 48 lời nguyện sẽ thành Phật tại thế gian vì phật pháp bất ly thế gian giác. Vì đã giác ngộ sự thành trụ hoại không, sanh già bệnh chết, là tất cả pháp thế gian.

“Nguyện này nếu đặng quả”, nếu có người niệm đúng như vậy, thực hành lời nói, ý nghĩ y như vậy, thì kết quả cảm động thần kỳ, Trời đất, chư Thánh, chư Thiên, chư Bồ Tát đều rơi nước mắt, mắt tai mũi lưỡi thân ý sáu món đều chuyển động rung rinh gọi là chấn động sáu cách ( thanh tịnh ).

“Đại thiên đều cảm động, hư không có các Thiên Thần sẽ rải hoa cúng dường” là hoa trân diệu do phát 48 đại nguyện kiên cố, thọ trì nhất định viên mãn, thì tam Thiên đại Thiên đều cảm động. Trên hư không các Thiên Thần rải hoa trân diệu là pháp bảo để cúng dường. Hoa đó là hoa Trí huệ, hoa Vô ưu, hoa Từ Bi Hỷ Xả, hoa Giới Định Huệ, hoa Giới hương, hoa Định hương, hoa Giải thoát, Giải thoát tri kiến hương, đó là các loài hoa xuất thế, là tinh ba thơm ngát, ngạt ngào của vô lượng công đức từ nơi Tánh giác Thanh Tịnh chiếu soi.

Tất cả được thành tựu đều do ở pháp, nên nhân và pháp gắn liền, Phật pháp không hai, pháp không chấp vào có không, có tưởng là do sự hóa hiện tưởng tượng mà có pháp tướng. Ngài Pháp Tạng Tỳ kheo được tích lũy bởi nhiều pháp do trí sáng suốt gọi là Bồ Tát Trí Tích, tích chứa nhiều gọi là tạng pháp. Người giữ giới đức viên mãn gọi là Pháp Tạng Tỳ kheo. Tỳ kheo là phá ác Bố ma chấp không chấp có rầy rà đến chừng vô chấp mới hòa thuận nhau.

“Mặt đất chấn động sáu cách”, sự chấn động của vũ trụ do ở con người từ tâm giận hờn, sân si, bừng bừng lửa giận từ nơi tâm con người mà chấn động bên ngoài và tâm địa. Nếu nhiều người giận hờn, tức tối, thì nhiều thế giới trong tâm người cùng chấn động. Sở dĩ nói bên ngoài cũng chấn động vì ảnh hưởng trực tiếp từ tâm con người. Người và vạn vật đều là tứ đại mà có. Thân con người thuộc về tứ đại. Đất nước gió lửa cũng là chung của vũ trụ hợp lại mà thành. Khi con người nỗi cơn thịnh nộ thì đất nước gió lửa đều rung rinh chuyển động, đó là sự chuyển động của tứ đại cùng chung thuộc về con người, vũ trụ, vạn vật, tất cả vốn đồng nên người thịnh nộ, nóng giận thì tất cả tứ đại đều thịnh nộ, nóng giận. Tâm chấn động thì trời đất chấn động, nếu có tâm thương yêu thì tất cả an ổn, bình yên hòa quyện trong thương yêu. Tâm bình thì tất cả đều bình, nhân thiên trời đất đều không khác nên kinh nói tất cả là một, một là tất cả. Nếu sắc thanh hương vị xúc pháp chấn động thì mắt tai mũi lưỡi thân ý cũng chấn động. Người và Trời đều chấn động vì tất cả sự biến hóa đều do tâm tạo.

“Tự nhiên hư không trỗi lên tiếng nhạc cùng lời tán thán quyết định tất thành vô thượng chánh giác”. Nói đến hư không là chỉ đến nỗi lòng chúng sinh, vì các niệm đều từ hư không có sanh có diệt. Tự tánh vốn bao trùm vạn loài, từ người, thú cầm, cả hư không, Thánh Phàm đều trùm khắp. Khi các niệm mê lầm đã tự giác thì tất cả đều chấn động vì những đền đài yêu mị sụp đỗ tiêu diệt, nói đến sự cùng cực an lạc niềm vui hoan hỷ, tất cả trời người hân hoan trong hỷ lạc, quyết định tất thành Chánh giác đã thành tựu đức nhẫn, mọi sinh hoạt trong đời sống đều thanh tịnh, ăn mặc, ham muốn, ngủ nghỉ đều nhịn đó là tích công dồn đức là vô lượng công đức.

Người giảng pháp lúc nào tâm cũng hoan hỷ (diệu hỷ) mới đem vui vẻ, an lạc cho mọi người. Nên Tam tạng kinh Phật đều do Ngài A Nan kết tập, mở đầu Phật thường gọi tên ngài A Nan. Phật đặt tên cho Ngài A Nan là Diệu Hỷ, là đức tánh dịu dàng, hoan hỷ, không cộc cằn, nóng nảy, không bực dọc, rất hoan hỷ. Trí tuệ là học rộng hiểu nhiều, đa văn biện tài đệ nhất. Đệ tử đức Phật đi đến đâu thì có Pháp bảo đến đó. Đến đâu cũng đem sáng suốt, an lạc cát tường cho mọi người là diệu cát tường.

“Tỳ Kheo Pháp Tạng ở trước như thế tự tại vương”. Như Lai là bất khứ bất lai, không từ đâu đến cũng chẳng đi đâu. Cũng như con mắt vốn là sự thấy không dời đổi, nếu có dời đổi là do hoàn cảnh, cảnh vật từ có con người tới lui, chớ mắt là tự nhiên của sự thấy, rất yên lặng, không dời đổi bởi chuyển động của một vị trí nào cả. Chơn Như là bản thể của tự tánh, bất nhị không có hai không sanh diệt. Nếu còn thay đổi sanh diệt là còn luân hồi mà Như Lai là thể tánh tịnh minh, sáng suốt, bất động trùm khắp. Thế Tự Tại Vương là thể tánh sáng suốt tự tại, trùm khắp thế gian, không thay đổi, gọi là thường thấu suốt, chiếu soi các pháp thế gian nhưng vẫn tự tại không ô nhiễm, bất khứ, bất lai, bất tăng, bất giảm, bất tịnh, bất cấu nên nói Pháp Tạng Tỳ Kheo ở trước Như Lai Thế Tự Tại vương là ở trong bản tánh Như Lai tùy duyên bất biến, bất biến mà tùy duyên.

“Trong hàng Trời người hoằng thệ nguyện kia đã phát nguyện rồi trụ huệ chân thật”. Huệ là gì? Có hai loại : Tà huệ và Chánh huệ.

Chánh huệ : là học rộng, hiểu nhiều, có tu là chánh huệ. Chánh huệ là không còn tà kiến, ác kiến, biên kiến, thân kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, biết thế gian là sự biến hiện tùy duyên của các pháp vô thường sanh diệt, không thật tánh, như ảo mộng, huyễn hóa, vì vạn pháp tánh không, chỉ là nhân duyên tan hợp, không tự thể.

“Dũng mãnh tinh tấn” người thực hành 48 đại nguyện phải gan dạ, đói không than, nghèo không sợ, không lo phiền, vẫn giữ được tâm bình an mới là dũng mãnh, vượt qua mọi phiền muộn, khổ ách của thế gian nên gọi là dũng mãnh tinh tấn. Nếu vẫn ở trong pháp tu thiền, niệm Phật mà không dũng mãnh tinh tấn chỉ là phước hữu lậu, phước chỉ có giới hạn, bớt được một phần phiền não tranh giành là bớt trong giới hạn. Nhưng không có phát tâm thành chánh giác, đời sau có sanh được là người giàu có, là sanh Thiên nhưng vẫn luân hồi, vẫn chịu khổ vì không dũng mãnh tinh tấn.

“Nhất chí chuyên chú trang nghiêm cõi diệu”. Trang nghiêm là làm cho tâm trong sạch, không còn ô uế. Cõi diệu là cõi Phật, gọi là cõi diệu hỷ vi diệu.

“Sở tu cõi phật, khai mở rộng lớn” là pháp tu nhất định, quyết lòng, không thối chuyển.

“Vượt thắng tuyệt đẹp, dựng lập thường nhiên, không suy biến”, ý muốn nói tâm rất kiên cố, vững chắc.

“Ở vô lượng kiếp vun chứa đức hạnh”. Nói vô lượng kiếp không tính thời gian thọ mạng của thân, tất cả đều lìa tướng mà chỉ nói về tâm kiên cố, không thay đổi, không suy sụp, không sanh diệt, lúc nào cũng thường giác là vun chứa đức hạnh.

“Chẳng khởi vọng tưởng tham muốn, sân si, không dính sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp” nghĩa là không nhiễm sáu trần biết sự thật đó là cảnh hiện luôn luôn chứa đức hạnh, không sanh vọng tưởng, chẳng khởi lòng tham, cũng không muốn về thế giới Cực lạc. Không thể muốn mà chắc chắn là phải tu, là tự xây dựng Cực Lạc tại tâm bằng đức độ.

“Chỉ nhớ niệm chư Phật quá khứ”. Phật quá khứ là Tự tánh A Di Đà ở nơi tâm con người từ vô lượng kiếp. Còn Phật Thích Ca là Phật hiện đại đang giáo hóa chúng sanh.

“Tu các căn lành, hành hạnh tịch tịnh”. Hạnh là hành động, tịch là vắng lặng, tịnh là yên lặng sáng suốt trí huệ không nhiễm dơ bẩn, không có đua tranh, không nô lệ của ma Ba Tuần ( ma tam cõi ), không bị sai sử của các pháp thế gian. Ma Ba Tuần là tuần hườn vòng quanh trong tam nghiệp, là tam độc tham sân si, là ba tuần, xe cộ, tiền tài, sắc danh thực thùy, vui buồn, thương, giận, mến thương, hận oán là ma Ba Tuần. Người tu cần tỉnh thức mà tự giác biết, gọi là thường giác, để xây dựng các căn lành đều là Tịch Tịnh.

“Xa lìa mọi hư vọng” nghĩa là khi hành động gì, làm gì phải hỏi lại tâm, pháp đó thiện lành hay độc ác, có vì tư lợi mà làm hại người phải buồn phiền đau khổ. Nếu xét thấy được còn các điều này tại cõi tâm là còn niệm vào ác đạo thì phải xa lìa, không chạy theo vì đó là vọng chấp.

“Nương cửa chân đế, nương vào sự thật, trồng các căn lành, chặt đứt vô minh, ít muốn, biết đủ”. Tu là ở ăn sống đạm bạc, không quan trọng chỗ ở, không quan trọng việc ăn mặc. Ngày xưa Đức Phật chỉ ở các gốc cây lớn mà tu. Ăn là đi khất thực, có gì ăn nấy, không toan tính, lo nghĩ, niệm nhớ, để sắp đặt gì cho việc ăn, chuyên lo nghiên cứu vào tâm để phát sinh trí huệ mà tu học, biết rõ tự bản thân, biết tâm và biết sự thật biến chuyển của vạn pháp tự độ mình và độ khắp chúng sanh.

“Chuyên cầu Pháp lành lợi ích quần sanh”. Làm gì cũng nên hỏi lại tâm, việc làm có lợi ích cho đại chúng, tâm có rộng lớn cứu giúp cho mọi người không? Luôn phục vụ cho muôn loài tất cả việc làm vì chúng sanh.

“Chí nguyện không mỏi, thành tựu sức nhẫn”. Nhẫn là bao nhiêu cố gắng, bao nhiêu công đức, công hạnh nhất định phải làm được.

Ta tu cần lưu tâm cẩn thận vì pháp Như Lai là không hình tướng. Vô tướng là tịnh tướng rất khó liễu tri. Tu là sửa vì tâm ô nhiễm nên tìm thuốc Phật để trị gọi là tìm Dược Vương Như Lai. Phải chọn đúng thầy, đúng thuốc mới có kết quả. Đức Phật dạy rằng “Sau này thời mạt Pháp tà sư hiện ra nói pháp nhiều như pháp sông hằng” vậy ta nên tìm Dược Vương Như Lai mà nhận thuốc, đừng theo tư tưởng sai lầm gặp tà sư chuyên cho thuốc mê. Ta vì tăm tối cứ tin mù quáng, uống mãi thuốc này, cứ ngủ mãi không tỉnh giác, thì thật là nguy hại cho một đời tu học, đó là tin trong mê muội gọi là mê tín thuốc là pháp chơn chánh chỉ có ở Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mới là linh diệu, là linh dược mới cứu được chúng sinh thoát Ta bà trầm luân biển khổ.

MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC GIỚI DI ĐÀ HẢI HỘI QUANG NHƯ LAI.

Viện chủ Thích Minh Đức

giảng giải tại Thiền viện Minh Đức.

Miệng ta thường niệm Di Đà.

Thì tâm thường hiện Di Đà Quang minh.

Miệng tu tâm sáng vẹn gìn

Miệng là nhân niệm quả lành tại tâm.

Tu là quán xét thậm thâm.

Tâm là hạnh nguyện thanh trong xuất trần

Giác là tự tháo lần lần

Xa lìa tâm vọng chuyển lần từ bi

Cuộc đời nào có bền gì

Vì mê nên nghiệp kéo trì nào vơi

Kìa thuyền Bát Nhã ra khơi

Nếu là con Phật chèo bơi tại lòng.

Xa rời ác niệm long bong,

Nhất tâm chánh niệm quy y tự lòng

Phật xưa cũng ở trần hồng,

Trí minh buông niệm thoát dòng trần duyên

Đời là ngàn vạn đảo điên,

Chỉ cần sáng suốt thiện duyên rất gần

Vô thường sanh tử xoay vần,

Diệt sanh, sanh diệt phong trần là đây

Mê lầm mộng tưởng tà tây,

Đem tâm đày đọa bùn lầy nào hay

Di Đà vẫn niệm hằng ngày

Mà Trần vẫn niệm nên đầy oan khiên

Mong đời đầy đủ thiện duyên

Thấy rành tánh Phật lụy phiền mới vơi

Tu thời tâm phải thảnh thơi,

Đời là quán trọ có rồi hườn không

Tâm càng sáng suốt lặng trong,

Chẳng vương danh lợi, chẳng mong sang giàu

Chẳng cầu cũng chẳng ước ao,

Phàm trần huyễn tạm ngày sau còn gì?

Niệm rành tánh Phật từ bi

Lòng không xao lãng chiếu soi sáng ngời

Tâm là Phật, Phật là tâm,

Còn tìm đâu nữa Phật ta tại lòng

Tâm an giữa chốn bụi hồng

Rõ ràng Cực Lạc nơi lòng chờ ta

Tham đời tâm niệm bôn ba

Tây Phương Cực Lạc hiện gần nơi ta

Trọn đời học đạo Thích Ca

Vãng sanh hiện tại Ta bà này thôi

Diệu tâm minh tánh chuyển rồi

Trang nghiêm đoan chánh là người Phật gia.

Minh tâm kiến tanh ôn hòa

Pháp là thanh tịnh, tâm là bình an

Muôn loài vạn pháp rõ ràng

Do tâm biến hiện hiển bày chính tâm

Hiểu rồi vạn pháp hà sa

Không là tri chướng làm ta mê mờ

Trí thông sáng suốt sẵn chờ

Chờ người quy ngưỡng kịp giờ đổi thay

Mê là căn bản lầm sai

Giác là Bồ Tát Phật ngay tại lòng

Thiền tâm tự tại thong dong

Huệ khai trí sáng liễu thông Thánh Phàm

Xả rồi vọng ngiệp muốn ham

Bồ đề tươi tốt hạnh lành Thiện Nhân

Nguyện tu tròn đạo tứ ân

Như Lai nguyện giải nghiã chân nhiệm mầu./.

Cư sĩ Như Thánh

Ngày 13 tháng 05 Tân Mão
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.
Nguyện cùng pháp lữ gần xa đều trọn thành
Phật đạo.



Phương danh Quí vị phát tâm ấn tống cúng dường

VỰA GẠO VIỆT LINH

( Tân An – Long An )

1. PHẠM NGỌC DIỆU LINH

PD : NHƯ HUỆ

2. NGUYỄN THÀNH TÂM

PD : NHƯ HIỀN

Phước đức ấn tống kinh này hồi hướng cầu an cho :

Cha là : PHẠM QUANG MẠNH

PD : GIẢI THÔNG, tuổi : Bính Tuất.

Được tai qua nạn khỏi, nghiệp chướng tiêu trừ, tăng long phước thọ.

CẶP KỲ SIÊU CHO :

Mẹ là : ĐỖ THỊ HOÀI, PD : DIỆU NIỆM.

NGUYỄN VĂN MY, PD : ĐỨC TRỌNG.

Và Cửu Huyền Thất Tổ được tốc vãng mê đồ, siêu thăng Tịnh Độ, cùng pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

CỰC LẠC Ở ĐÂU ?

Lời giảng : Tỳ Kheo Thích Minh Đức.

Biên soạn : Cư sĩ Phật tử Như Thánh.

TỔ IN ẤN VÀ PHÁT HÀNH KINH SÁCH THỰC HIỆN

Địa chỉ : PHOTOCOPY SĨ PHÚ, Tổ 3, Khu 1, Thôn Phước Thành, Xã Tân Hòa, Huyện Tân Thành, Tỉnh BR-VT.

Điện thoại : 0972. 008727

Chịu trách nhiệm xuất bản :

TK. THÍCH MINH ĐỨC

Biên tập : CƯ SĨ PHẬT TỬ NHƯ THÁNH.

Sửa bản in : CHƠN MINH.

Trình bày : CHƠN MINH.

Bìa : TÂM PHÚC.