KINH ĐỊA TẠNG

KINH ĐỊA TẠNG THÂM MẬT NGHĨA
Thuyết Giảng: ĐĐ Thích Minh Đức
Biên Soạn: Cư Sĩ Phật Tử Như Thánh

Kính thưa Quí độc giả !

Nhờ có duyên lành trong kiếp này, hiện nay được tu học và nghiên cứu Phật Pháp, được nhân duyên sống với giáo pháp thừa hưởng tha lực nơi kinh nghiệm tu hành mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tuyên dạy, để làm hành trang cho những người có chí tu học, hầu nương theo giáo pháp đúng chơn lý, đó là tam tạng kinh điển.

Với sự hiểu biết bình thường, tôi nhận biết rằng tất cả lời Phật dạy trong kinh đều là phương tiện để dẫn dắt cho ta trở lại nguồn tâm, tức là ngộ nhập tri kiến, là đại sự nhân duyên mà Đức Phật đã tuyên thuyết trong kinh Pháp Hoa ở Hội Linh Sơn. Phần Kinh A Di Đà, Phật nói về người muốn tu giác ngộ, nếu căn tánh nhẹ nhàng về nghiệp lực, Ngài chỉ về thế giới Tịnh Độ là cõi Tây phương Cực Lạc. Còn người cang cường Ngài nói về các ác nghiệp do tâm chiếu cảm mà chỉ về tam ác đạo. Những cõi khổ não, bức ngặt Ngài dạy về Kinh Địa Tạng mục đích vì chỉ muốn chúng ta quay lại tự tánh chính mình. Vậy hiện nay dù trí tuệ còn hạn hẹp, nhưng nhớ lời Phật dạy, dù một việc làm nhỏ được lợi ích cho mọi người cũng không bỏ qua. Với tập sách nhỏ này xin được ghi lại những điều tu học, ngõ hầu tâm sự với các bạn đồng tu. Xin nhận mọi ý kiến đóng góp cho tập sách thêm phần hoàn hảo tốt đẹp hơn.

NAM MÔ HOAN HỶ TẠNG BỒ TÁT

MA HA TÁT.

Cư Sĩ Phật Tử NHƯ THÁNH

Kính thưa bạn đọc !

Từ khi có duyên cầm được quyển kinh Địa Tạng đọc tụng, tôi có hai phần nghi vấn và tự hỏi lại chính nơi mình.

Trong cái tin mù mờ có địa ngục là thật, đối với tôi sự tin này rất sợ hãi và khổ sở.

Trong sự lưỡng nan, lo lắng không biết nên tin có hay không cũng mù mờ không tự quyết được, đây cũng là tâm lý chung đến với nhiều người.

Nói về hình thức sự tướng của Bồ Tát Địa Tạng có những trạng thái không đồng nhau.

Ta tin là có Bồ Tát Địa Tạng, đã phát nguyện cứu độ các vong linh ra khỏi chốn u minh địa ngục nên cứ sống mãi với tâm độc ác, tranh giành, thù hận lẫn nhau, giết hại muôn loài. Vì cứ đinh ninh rằng với lời nguyện của Ngài, nếu địa ngục chưa trống, thề không làm Phật. Ta luôn ỷ lại rằng, dù có khổ sở gì cũng có Bồ Tát giúp đỡ nên không lo tu hành, mãi lao và lục đạo. Cứ nghĩ là Ngài có thể dẫn tất cả vong linh vào được cõi Cực Lạc vì có gậy vàng, bảo châu sẽ phá cửa ngục để cứu các tội vong mà không ai cản trở. Cứ nghĩ rằng dù tội lỗi gì, bỏ tiền làm lễ trai Tăng, nhờ người xuất gia cầu siêu thì sẽ được Bồ Tát Địa Tạng dẫn ra khỏi địa ngục. Đó là sự mê lầm, luôn trông cậy vào quyền lực nhưng Phật giáo rất bình đẳng không quyền lực, chống trái lẫn nhau, phải sống thật tự do. Mãi nương tựa vào những tư tưởng không thật mà trong Kinh Duy Ma Cật gọi là cất nhà trên hư không.

Cũng có người nghĩ rằng, Phật đã dạy chơn lý tuyệt đối trên cõi đời này nếu có nhân thì phải có quả, đó là luật nhân quả tự nhiên không ai có quyền sửa đổi được. Nếu cứ nghĩ tin vào cúng kiến van nài mà được tha tội, xóa nghiệp thì không có chánh tín, đó là sự bất công.

Vậy trong Kinh Địa Tạng hàm chứa đầy đủ ý chỉ của Đức Phật, là Tạng Kinh thâm sâu, miên mật. Phật muốn dùng sự tướng của Bồ Tát Địa Tạng để chỉ đến một chơn lý tuyệt diệu, sâu mầu nơi Như Lai Tạng Tánh có đầy đủ các cõi là mười phương quốc độ tam thiên đại thiên thế giới. Từ Phật Thánh, Bồ Tát, A La Hán, Duyên Giác, Thinh Văn, Người, A Tu La, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh v.v… Trong kinh Lục Tổ nói :

“Không ngờ trong tâm có tất cả, không ngờ trong tâm chứa muôn pháp”.

Bồ Tát Địa Tạng không là con người thật có giống như Đức Phật Thích Ca trong lịch sử, mà là nhân vật có được bởi sự tượng trưng để chỉ đến sự tuyệt diệu của tự tánh. Vì ai cũng có sự nhất tâm tinh tấn vượt lên các cõi đã tự tạo, do lòng tham lam, sân hận, si mê vì bởi dính mắc trụ vào sáu căn, sanh tâm ưa thích nên phiền não, mê muội theo nghiệp ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục. Tự tánh thanh tịnh sáng suốt có khả năng đập vỡ được vô minh. Tượng trưng cho sự sáng suốt là ngọc minh châu, như ý. Gậy vàng tích trượng tượng trưng cho tâm vàng rắn chắc, y pháp ( tự chơn ) không chen lẫn một niệm vô minh, vọng tưởng do ý khởi sinh tâm niệm làm ô nhiễm. Sự thanh tịnh chính nơi ta, Địa Tạng Bồ Tát dùng gậy dộng ba cái vào cửa ngục liền mở toan, là sự thanh tịnh từ tự tánh sáng suốt, chiếu soi sẽ phá được ba cửa ngục tham, sân, si tức là ba ngục mê muội, ngạ quỷ, súc sanh. Phá tan được nhờ ánh sáng chơn lý chiếu soi thoát được vô minh, nhập vào cõi Tây phương Tịnh Độ.

Bồ Tát Địa Tạng là tự tánh sáng suốt là Bổn Tôn, đủ năng lực dẹp phá vô minh, trực tiếp cứu vớt con người ra khỏi ngục đen tối, dầy mịt là đại thiết vi - ngục lớn bằng sắt rất kiên cố, ra khỏi vòng đau khổ, vượt mọi tội lỗi thấp hèn, dẫn dắt cứu vớt tự nơi con người ta cùng cực trở nên an lạc ( Cực Lạc ). Sự thanh tịnh quý báu là trực chỉ chơn tâm kiến tánh thành Phật, trực vãng Tây phương. Nghĩa là các niệm trần lao tham, sân, si, hờn, giận, ghét, thương, tự cao, ích kỉ, danh lợi v.v… Đó là các niệm trong lục đạo luân hồi. Nhờ có ngọc minh châu, gậy như ý tự tâm phá tan xiềng xích, gông cùm, đã trói buộc con người chịu luân hồi đau khổ nhiều đời, nhiều kiếp bởi những tâm niệm mê lầm trong sáu nẻo, mãi quẩn quanh vì lầm tưởng vọng niệm trần lao là thật.

Trong kinh dạy rằng, Địa Tạng là đất tâm, chỉ sự chắc chắn, bất diệt, sâu rộng, vô lượng, không có niệm nào, pháp nào, bỏ ra ngoài cả, đó là quảng hàm tàng, là như lai tạng tánh, vô lượng thọ, chơn không diệu hữu, không ai có khả năng phá vỡ được tâm.

Bát Nhã là trí huệ, là như lai tạng tánh nên tam thế Phật y đàng Bát Nhã ( quá khứ, hiện tại, vị lai ), ba đời chư Phật đều sáng suốt thanh tịnh bởi tự tánh trí huệ này. Nên chư Phật thảy đồng khen ngợi, tán thán chư Bồ Tát đều qui ngưỡng, đây là pháp đồng đẳng, là chơn thật tánh.

Chơn tâm là chơn lý bất sanh, bất diệt, không thể quên được. Mê muội chạy theo vọng trần gọi là vô minh. Nếu khởi niệm tăm tối thì không thực hành được đức hạnh của Phật và công hạnh Bồ Tát. Ta nhờ biết có chơn tâm là tự tánh thanh tịnh, luôn sống với sự sáng suốt trùm khắp này, là thường sống với tánh giác ( Phật ), an trú qui ngưỡng cùng chơn tánh tự qui về tạng tâm ( Địa Tạng tâm ) là trở lại chính mình.

Tích trượng, gậy như ý là pháp bảo tượng trưng cho khả năng, ý chí cương quyết của tự tánh. Một pháp tinh tấn nhất quyết bẻ xích xiềng, phá ngục tù của những người tự giác trở lại được với chơn tâm, đó là năng lực vô hình vi diệu, là diệu hữu của chơn tâm, diệu dụng được tất cả, vì mê muội do niệm trần, tâm sanh chạy theo lục đạo, thì nơi chơn không này cũng có thể diệu dụng sáng suốt trở lại sự thanh tịnh thể nhập pháp giới vào tịnh thổ của Đức A Di Đà. Vậy tại sao ta không chọn A Di Đà Tây Phương Tịnh Độ để an dưỡng, lại lầm chọn tam ác đạo để tâm mãi mãi nhận lấy sự đau khổ, mang nghiệp trả vay luân hồi trong sáu nẻo.

Trong tay đã sẵn gậy vàng

Dộng tan cửa ngục cứu toàn chúng sanh

Tay cầm châu sáng tròn vìn

Hào quang soi khắp ba ngàn đại thiên.

( Kinh Địa Tạng )

Gậy vàng và minh châu sẵn trong tay, là tự tánh sáng suốt, ý trong sạch, có đủ nơi mỗi người. Hào quang là tự ta quán xét lại nơi lòng, sẽ thấy được tất cả nghiệp. Tức là từng tâm niệm thiện ác chứa đầy đủ trong tạng thức ( a lại da ). Tự tánh có tất cả nhưng ta phải lưu ý giữa Phật đạo và ma đạo, ta phải quyết tâm nhất định làm Phật, nghĩa là không tranh đấu lợi quyền, oán hận, ghét, ưa, ngã mạn, tham ái, hẹp hòi phải ra khỏi vô minh, dục vọng, ngược lại còn dính trụ những tâm niệm này là ma đạo. Tuy nói là hai nhưng căn bản vẫn là một vì nó lưu xuất từ tạng tánh mà ra, do mê hay ngộ. Chỉ vì sử dụng khác nhau do chánh kiến hay tà kiến mà đưa ta vào an lạc hay đọa lạc. Chỉ một tạng tánh này mà ta biết tu hành, thương yêu, làm lợi ích muôn loài, từ, bi, hỷ, xả thiện lành, không hơn thua, ganh tỵ. Cũng từ nơi tạng tánh này sanh ra độc ác, bất nhân bất nghĩa, sát hại lẫn nhau tham lam, ích kỷ, hờn giận, ân oán, cũng từ đây mà sanh khởi. Tổ dạy rằng :

Niết Bàn do tâm tạo, địa ngục tại tâm sanh. Từ nơi ý niệm sanh ra lời nói, nếu sử dụng lời nói thiện lành là nói ra làm người nghe sáng suốt, hoan hỷ, cảm thông hạnh phúc. Nhưng cũng từ ý niệm phát ra lời nói làm người nghe phải đau khổ, phiền não, bức xúc, bất an. Tất cả đều chứa nơi tạng tánh của mọi người mà lưu xuất, thiện trí thì lưu xuất hạnh lành, ác trí ; lưu xuất tà hạnh, ác hạnh.
Vậy ta nên trạch pháp là dùng sự sáng suốt chọn lựa các pháp từ trong tự tánh mà sử dụng pháp nào là phương tiện giác ngộ giải thoát, pháp nào mê lầm, sa đọa, đưa ta vào địa ngục. Ta nên sáng suốt nhờ đèn trí huệ ( vô lượng quang ) mà chiếu soi vạn pháp.

Đại trí huệ là trí Bát Nhã, là ngọc minh châu, là vô lượng quang rực sáng trùm khắp chiếu soi khắp 3.000.000 thế giới mười phương. Sự sáng suốt này vốn sẵn có nơi mỗi con người, linh ứng vô cùng. Nơi nào cũng thấy biết, không hề chướng ngại, thường chiếu khắp hằng sa thế giới. Như vậy Phật đã dùng sự tướng là ngọc minh châu quí báu, thanh tịnh, chiếu soi để chỉ cho ta thấy được chơn tâm, diệu dụng sâu mầu nơi mỗi con người.

Địa Tạng chính là tâm địa chính nơi mình, vì chỉ tại nơi ta hiểu tâm ta hơn ai hết. Những tội lỗi đã làm ta đều nhớ hết, không hề sai chạy một tơ hào. Dù cho luật Pháp thế gian phân xử cũng không bằng chính lương tâm ta tự xét.

Địa Tạng là biểu trưng vua cõi Diêm La, đại diện chính bản tâm trên đài cao ( Tâm Vương ) mà phán xét rõ ràng tội trạng. Nếu muốn tự biết nghiệp thiện ác của chính ta thì hãy quay lại quán xét tự đáy lòng. Đó là tấm gương sáng suốt, gọi là gương lòng, chiếu hết cho ta nhận thấy. Gương ấy là chơn tâm, là pháp bảo.

Địa Tạng gọi là nghiệp cảnh đài vì chơn tâm rất sáng suốt là vị quan tòa, là tự tánh, tượng trưng Diêm Chúa tự xét tội rất công bằng, ta không thể chối tội với chính ta được, vì chơn tâm chiếu soi, sáng suốt thật rõ ràng. Chơn tâm là người chứng kiến, ghi chép điều lành, dữ, thiện ác do ta đã tạo.

Vậy nên Địa Tạng nơi mỗi con người đã chứng minh và định đoạt cho chúng sanh cõi Nam Diêm Phù Đề, là cõi ta bà thế gian rất trung thực không hề thiên lệch.

“Diêm Vương trước điện chẳng hiền

Đài cao nghiệp cảnh soi liền nội căn

Địa Tạng Bồ Tát thượng nhân

Chứng minh công đức của dân Diêm Phù”.

( Kinh Địa Tạng )

Địa Tang là chơn tâm, như lai tạng tâm, đó là căn bản, diệu dụng, là nơi lưu xuất tất cả Thánh, Phàm, chư Bồ Tát, chư Phật tự tánh, vốn sẵn có đầy đủ vô cùng. Vì vậy tất cả mọi người trong cõi Ta Bà nếu tự giác biết quy y chơn tâm thì sẽ ra khỏi vô minh nghĩa là sẽ được cứu khổ giải thoát khổ đau như trong kinh đã dạy ngoài tâm, không có pháp mọi duyên sự đều không ngoài tâm. Mọi vật, mọi cảnh đều do tâm. Tâm tạo thiên đàng Cực Lạc ; tâm sanh địa ngục ngạ quỷ, súc sanh, ba cõi do tâm, mười cõi cũng là tâm. Tất cả vạn pháp do tâm tạo, từ vô hình cho tới hữu hình không ngoài tâm. Không gì ngoài tâm, ngoài pháp không tâm, vui buồn, thương ghét oán hận ơn nghĩa đều là tâm. Không gì ngoài tâm cả, có chúng sanh thọ khổ, có địa ngục do nơi tự tâm. Thế nên, có Bồ Tát Địa Tạng cứu độ cũng do tâm, vì ngoài tâm không có chúng sanh, có địa ngục nào khác. Khi tiếp duyên, tiếp vật, lục căn tiếp lục trần chấp nhận có, thức biến hiện sanh tâm ái dục muốn ưa thành tâm ô nhiễm.

Vậy ta nên trở lại chính nơi mình thật lòng sáng suốt rằng ngoài tâm không có pháp vì vạn pháp do tâm tạo.

Không có Địa Tạng nào ngoài tâm mà đi phá ngục dẫn vong nào khác cả. Đây là sự mầu nhiệm chơn tâm, rất linh thiêng mật thiết, cần phải dùng tích trượng gậy vàng là thánh ý vô tận, thật sáng suốt, thanh tịnh cương quyết vượt lên mọi ý nghĩ thấp hèn, là cơ hội phá vỡ vô minh đã chịu luân trầm từ vô lượng kiếp để tự độ, độ tha hãy dùng Bồ Tát Địa Tạng sáng suốt trí huệ của tự tánh mà chiếu soi, cứu độ tất cả chúng sanh của tự tâm chính mình còn đang trầm luân khổ ải nơi sông sầu biển khổ.

Nơi đó có cả rừng mê, lửa phiền não, lửa nóng giận sân si, lửa tham dục, lửa hận thù cá nhân, hờn oán mà trong kinh điển đã diễn tả bằng các cửa ngục nơi chúng tội nhân bị đày đọa khổ đau. Ta phải trực nhận rằng vì có chúng sanh thọ khổ điạ ngục nơi tự tâm thì Địa Tạng Bồ Tát tự tâm cũng cứu độ trong tự tâm, vì ngoài tâm không có địa ngục chúng sanh nào khác cả.

Hãy thỉnh mời ông Địa Tạng Bồ Tát tự tánh mà cứu độ chúng sanh mê đắm của tự tâm, tất cả đều sẵn có diệu dụng không lường. Đó là ta đã biết tự quy y Phật tự tánh của nơi ta. Hãy quán tự tại Bồ Tát mà nhận lại chính mình. Trong kinh Tổ Dạy đạo ở ngay trước mắt chúng ta.

Ta hãy tự tin ở nơi mình, tất cả đều có sẵn. Bồ Tát tự tâm sẵn sàng dùng ngọc minh châu tự nơi trí huệ sáng suốt chiếu soi vạn pháp, phá vỡ vô minh trừ tất cả chướng nạn đen tối, mở tung tâm niệm mê lầm, phá ngục tham sân si ái v.v…

Ta không cầu ai xa lạ xa xôi vọng tưởng nghi ngờ không chắc thật. Không mang tính cách nương cậy thần quyền, mơ hồ lầm lạc. Với niềm tin thật sự vững chắc, phải chánh tín nơi mình có đủ công hạnh, năng lực là vị Bồ Tát tự cứu lấy chính mình. Cho nên mình phải biết thương, lo lắng cho mình mới có thể thương yêu, làm lợi ích cho mọi người được.

Tự tánh có tất cả, có từ quan tòa đến tội nhân. Ta hãy tự làm người xét xử, dùng ngọc minh châu ( là tự tánh sáng suốt ) chiếu soi gương nghiệp. Xem xét từng dấu nét tự cõi lòng còn ẩn khuất, thì chắc rằng sẽ cải hóa, chuyển ác ra lành, đổi đen ra trắng, tối sẽ ra sáng.

U MINH GIÁO CHỦ BỔN TÔN ĐỊA TẠNG BỒ TÁT MA HA TÁT.

Con người ai cũng có sẵn tâm ( bổn tôn ) là căn bản, là giác, là chủ ( Giáo chủ).

Tâm đứng đầu ngầm chứa vạn pháp.

Tâm là giáo chủ là Địa Tạng Vương.

Tâm tạo ra ác nghiệp, tâm cũng chuyển hóa được ác nghiệp. Mê cũng tâm, ngộ cũng tại tâm này, Phật cũng tâm làm nên, ma cũng do tâm xây dựng, tâm cũng làm trở nên người tu.

Về Thiền Tông, là phương pháp chỉ nhìn vào tâm mà quán xét tự nơi tâm, luôn luôn nhờ vào việc tham thiền. Nhờ vị giáo chủ Địa Tạng ( ngọc minh châu ) dẫn đường xem xét tội nghiệp tự tâm mà tu sửa, biết đâu là giả, đâu là chơn. Nghe lời vị Bồ Tát Địa Tạng tự tâm mà gạn lòng trong sạch. Vị giáo chủ Địa Tạng là chơn tâm, là trí huệ dẫn đường cho người biết tu sửa bỏ nghiệp luân hồi trở về cõi tự tại Tây Phương Cực Lạc, nơi Tịnh Thổ để an dưỡng tu hành.

Như vậy các nghiệp đau khổ nơi tự tâm nhiều đời trong vô lượng kiếp vì mê lầm do ta tự tạo. Ta nhờ có duyên lành biết được vị giáo chủ cõi u minh là Bồ Tát Địa Tạng, tự tâm cứu độ cho ta, phải hết lòng qui ngưỡng, tự quy y nơi ngài, là quy về vị Bồ Tát cứu độ ta ra khỏi tối tâm u ám.

“Duyên khởi đài sáng chói

Trùm đến vô biên cõi

Xông khắp các chúng sanh

Xa lìa các nghiệp vọng

Trọn nên đạo vô thượng”.

( Kinh Địa Tạng )

Người biết tôn trọng sống với chơn tâm, lúc nào cũng giữ gìn làm cho tâm tốt đẹp, trang nghiêm Tịnh Thổ.

Bổn Tôn Bồ Tát Địa Tạng là giáo chủ cõi vô minh, luôn luôn xem xét hành động việc làm trước khi tác ý ( ý là gậy vàng tích trượng ). Giác biết được thiện ý hay ác ý mà sử dụng trong đời sống ( Phật Pháp bất ly thế gian giác ). Ý chí này lúc nào cũng gắn liền với Phật Pháp. Địa Tạng là đất cứng rắn, sâu dầy, ngầm dung chứa tất cả muôn loài, vạn vật, vô lượng, vô biên, không giới hạn, là tượng trưng cho tâm địa. Bất cứ hạt giống thiện ác, bất nhân, bất nghĩa hoặc nhân từ, đức độ đều chiêu cảm được. Nếu bỏ giống vào đất hạt sẽ nảy mầm không kén chọn bất cứ hạt nào.

Người trí huệ thì gieo giống bồ đề thiện lành, còn mê muội thì gieo giống ngạ quỷ, súc sanh. Tất cả đều do con người gieo giống và nuôi dưỡng, không hề sai sót. Vì tâm không hình tướng, không ngăn mé, người tu thiền muốn dùng gươm trí huệ đào sâu đến bao nhiêu cũng được, đất sâu dày rộng lớn ngầm dung chứa tất cả “quảng hàm tàng”.

Nếu quán được tâm là chủ thì sẽ giải thoát, không nhận được bổn tâm “bổn tôn” thì chìm đắm nơi sông mê biển khổ. Tất cả những suy nghĩ ý niệm chấp vào thế gian, dù lành hay dữ đều hướng vào lục đạo. Nếu biết cuộc đời là khổ, lo tu, không màng thế sự là độc giác. Cứu độ chúng sanh, hết lòng thương yêu là Bồ Tát. Giác ngộ hoàn toàn là Như Lai. Tất cả đều do tâm mà sanh, vì các cõi không ngoài tâm lượng. Vô lượng vô biên trùm pháp giới là tâm địa. Tâm là Phật, Phật tức tâm, tâm chứa tất cả, Địa Tạng cũng tại tâm. Tâm chúng sanh thì chưa thanh tịnh, nhưng biết chuyển đổi khi nghe giáo pháp Phật dạy là Thanh Văn. Nhận biết vì vô minh mà sanh ra hành động chấp vào sáu trần. Nếu sáng suốt nhận biết đó là do duyên gá hợp các pháp tùy duyên đến tùy duyên đi, an ổn tu hành là duyên giác. Xét lại bản tâm đã trong sạch không khởi niệm ưa thích thế gian, tâm thuần sạch là A La Hán. Tu tịnh nghiệp giúp đỡ chúng sanh, tùy duyên giáo hóa là Bồ Tát ; giác ngộ hoàn toàn viên mãn là Như Lai, Phật. Như vậy, nơi tâm thức tỉnh từng phần mà giác ngộ sâu hay cạn, tùy theo duyên tu học của từng người. Trí huệ sâu hay cạn còn tùy thuộc vào phước báu.

Bồ Tát Địa Tạng là tượng trưng cho ngọc như ý minh châu, là chơn tâm sáng suốt giác ngộ hoàn toàn vắng lặng, các pháp thế gian, biết thế gian là vô thường có, không, chẳng phải có, chẳng phải không, là đã sử dụng được trí huệ Bát Nhã. Chư Phật ba đời đều y Bát Nhã “Tam thế Như Lai đồng tán ngưỡng”, ta hãy trở về nương tựa đại trí huệ này mới xa rời lục đạo trần lao được. Muốn tu đúng theo lời chư Phật, chư Tổ dạy phải tự quy y tâm, vì nơi tâm có sẵn đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả.

Công đức của tâm là vô lượng vô biên, cũng như A Di Đà là vô lượng quang, vô lượng thọ, vô lượng công đức được chư Bồ Tát đồng tán dương. Những mê vọng cũng phát xuất từ tâm, nhưng đó là lục dục thất tình, là tâm đọa lạc. Ta phải sáng suốt, giác biết không nên lầm lạc, muôn pháp đều do tâm tạo tác.

Ta tu là để tự mình phá các cửa ngục, nghĩa là phải cương quyết dùng tâm dẹp sạch mê mờ. Tâm là pháp bảo như ý đập phá ngục môn, phải đại hùng, đại lực đại từ bi với một ý chí cứng chắc như kim cang mới đến bờ giải thoát được.

Địa Tạng Bồ Tát là ngọc minh châu chiếu soi tam thiên đại thiên thế giới, hằng hà sa số quốc độ, không hề chướng ngại, thông suốt, thấu tất cả tự tâm là bảo châu vô giá.

Tâm là diêm chúa ngồi yên trên ngai cao, tra xét tội ta làm, chỉ có tự ta rõ tội ta hơn ai cả. Vậy ta phải tự cứu lấy ta thoát khỏi địa ngục a tỳ tăm tối.

Phật dạy rằng mỗi người hãy tự đi bằng đôi chân của mình, nghĩa là phải tự độ, tự cứu vớt lấy ta.

Nếu như có vị Bồ Tát Địa Tạng bằng hình tướng xuống địa ngục đập phá cứu tội vong thì luật nhân quả cũng không còn giá trị nữa và Phật không cần phải nói, “trong đêm tối chúng sanh phải tự thấp đuốc mà đi” hay là “Ta không ban phước giáng họa cho ai cả”.

Sống được với tâm thanh tịnh trong sạch vô nhiễm là chánh báo là nhân quả là y báo thể nhập tự tánh Như Lai, Cực Lạc vãng sanh Niết Bàn tự tại giải thoát.

Vì vậy Địa Tạng Bồ Tát tại tâm là phương pháp tự cứu lấy ta thoát ly địa ngục tham, sân, si ; thoát những sự thống khổ do thân, khẩu, ý sanh ra, đã được chuyển đổi thanh tịnh, sáng suốt từ bi, tâm đã biết tự xét lấy tội nghiệp tự nơi ta.

Kinh Địa Tạng do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết trên cung trời Đao Lợi cho mẹ đã chết nghe và trước vô số chư Phật, Bồ Tát, Thiên Long Bát Bộ, quỷ thần đều nghe. Nên nghe hiểu được kinh này phải là người có duyên sâu dày với Phật, còn phàm nhân không chấp nhận nỗi kinh này.

Trong kinh Phật nói chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Đề này rất can cường, Phật là đại trí huệ dùng tất cả phương tiện tuyên thuyết nhưng vì chúng sanh không nghe nỗi nên Phật phải dùng phương pháp Địa Tạng Bồ Tát vào địa ngục cứu chúng sanh ( chúng sanh nơi tự tâm ) phải tri kiến tự tánh.

Ta phải biết nghe lời dạy dỗ của chơn tâm, quy về chơn tâm, kính trọng chơn tâm, hy sinh cúng dường chơn tâm, phải biết bố thí tất cả vì chân tâm.

Trong Kinh Địa Tạng nói đến Thánh Nữ Quang Mục là cô gái Bà La Môn ( người nữ tượng trưng những tâm niệm yếu đuối thấp hèn ) có đức độ đó chính là Địa Tạng Bồ Tát.

Vì muốn biết tội nghiệp nên cần có sự dẫn dắt thì cô gái này phải ngồi thiền nhập định, tư duy như lời Phật Giác Hoa chỉ dạy ( Giác Hoa là hoa trí huệ ). Phải quán xét lại tự nơi tâm là mẹ ( mẹ là tượng trưng nghiệp tại tâm từ vô thỉ ). Không quy y Tam Bảo ( là trong tâm còn những tâm niệm can cường sa đọa ) ; không tin vào chân tâm nên không chánh kiến, chánh tín ; không thấy được sáng suốt của chân tâm nên bị đọa địa ngục ; không tin nhân quả phải đọa ngục vô gián nghĩa là mãi chịu khổ não trong vô minh tăm tối triền miên. Vì chìm nổi nơi biển nghiệp thân, khẩu, ý luôn luôn nấu nung sân hận, bức ngặt vì đau khổ, tâm niệm hung ác là thú dữ luôn cắn xé, ray rức trong tâm, bất an. Con người bị giam nhốt trói trong ngục tối thiết vi, do nghiệp vô minh chất chồng kiên cố như núi cao ( rào chung quanh chất liệu bằng sắt gọi là thiết vi ). Ngục này chỉ có người mang tâm thọ nghiệp ác tự dẫn tự vào. Người tâm trong sạch thức tỉnh như bậc Bồ Tát vì muốn cứu chúng sanh thọ khổ nên tình nguyện vào để hóa độ hết thảy chúng sanh.

Nghiệp ở tại biển thức vì sanh tâm ô nhiễm nên niệm niệm chất chồng tạo thành biển nghiệp. Đây là nơi thọ nhận đau khổ, ta phải tự giác nên Phật Giác Hoa mới dạy phương pháp thiền định mới được định tự tại ( định tự tại nơi tâm ta ). Tuy pháp môn khác nhau nhưng Phật đều diệu dụng phương tiện y cứ trên căn bản về thiền định, mục đích là thấy tánh thành Phật, vì trong thiền định sẽ thấu suốt liễu đạt được rõ ràng nguồn gốc vô minh. Vô minh là đầu mối của sanh tử gây nên đau khổ, vì vô minh nên sanh tâm địa ngục.

Tất cả là một, trong kinh Phật nói, lúc đó những phân thân Địa Tạng Bồ Tát từ các địa ngục của trăm ngàn muôn ức thế giới nhiều không thể nghĩ bàn, không thể ước lượng, không thể nói hết đều đến tập hợp tại Cung Trời Đao Lợi (các thiện nghiệp gom lại).

Địa Tạng tượng trưng cho tâm nên một phân thân Địa Tạng là một phần của chơn tâm ( tâm niệm của chơn tâm ). Như chỉ một mặt trăng cũng có thể chiếu soi phân ra thành nhiều mặt trăng, khi in xuống tất cả biển, sông, ao, hồ, kênh, rạch, lu, hủ, vũng, mương, rãnh, tô, chén, có chứa nước. Chỉ có một mặt trăng in chiếu mà ra muôn ngàn mặt trăng khi tỏa xuống, nhưng tất cả chỉ là một. Tự tánh chiếu soi tất cả tâm niệm nhưng chỉ lưu xuất một chỗ mà ra. Nên vạn pháp chỉ quy về một tâm, vô số mặt trăng in chiếu chỉ là một mà thôi. kinh nói phân thân Địa Tạng hợp trở thành một hình. Vậy cách giải thích này thì Như Lai và vô số chúng sanh là một, vì mỗi phân thân Địa Tạng là mỗi tâm niệm chúng sanh.

Phân thân Địa Tạng chia khắp các cõi từ địa ngục đến hàng sa quốc độ, hợp lại cung trời Đạo Lợi, tượng trưng cho những người tâm địa còn vướng mắc, tâm niệm sanh nghiệp tham, sân, si, trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Những tâm niệm đó được sám hối, chuyển hóa cũng được giải thoát về cõi thiên, về Đao Lợi. Nơi này dành cho người có tâm niệm thiện lành từ thiện nghiệp mới gom họp về đến cung trời đạo lợi. Nên trong Kinh A Di Đà nói rằng, không phải ít căn lành phước đức mà về Cực Lạc được. Nơi đó là an dưỡng quốc ( đới nghiệp vãng sanh hội tụ chư Thiện nhân ). Những người đó có tâm thiện lành, được tu học tiếp, đến khi sáng tỏ giác ngộ, không còn tâm luyến ái thế gian, vọng tưởng trần lao đã thuần trong sạch, là Bồ Tát bất thối chuyển vì lòng từ bi vô lượng và chí thệ nguyện thâm sâu của Bồ Tát Địa Tạng nhất tâm tinh tấn, quyết lòng giải thoát phải điều phục tâm, bỏ tà quy chánh, phải hành trình trên con đường Bát Chánh Đạo. Chỉ có tâm mới làm chủ được tâm. Chỉ có Bồ Tát Địa Tạng tại chơn tâm mới tự độ tâm được.

Tâm lượng chúng sanh không đồng nên muốn tự độ thoát khỏi nghiệp không phải là điều dễ, phải có lòng kiên quyết chí lớn ( Đại Thế Chí ).

Người đầy đủ duyên lành nhạy bén nên trí sáng dễ khai tâm do thiện căn, sống được với chơn tâm sâu dày, đã thường tu nhiều đời, vừa nghe qua lời giáo dỗ của Phật ( trí huệ tại tâm ) là tin nhận ngay không thoái thoát.

Người tâm trí chưa được khai thông nhưng có được tâm niệm thiện lành, làm thiện nhân có thiện quả thì chính nơi tự tâm đã là nhân duyên, khuyến khích tìm đến chỗ sáng suốt, để thành tựu đạo nghiệp, đây là người đang tu phước.

Người u tối lờ đờ, chậm chạp, cần khuyên nhắc lâu ngày mà có thể bỏ được những tâm niệm xấu ác, thật khó khăn mới chánh tín nên phải chịu nhiều gian nan. khổ não. đau thương. Chịu nhiều đời có duyên gặp thiện tri thức, khai mở mới sám hối ăn năn, mới trở về được chân tâm. Nghe được cách dạy dỗ tiếng lòng tự nơi mình ( sám hối ), còn người nặng nề nghiệp chướng tham ái, sân si, không dễ thông thấu được. Đây là người không tin tưởng tôn kính một ai, không chỉ dạy được chỉ sống bằng tâm niệm phàm phu. Họ không nghe được tiếng nói của Phật, của chơn tâm vì vô minh đã che mờ không lối thoát ( chơn tâm giác ). Phật luôn luôn ở bên ta chờ đợi ta, từng giờ từng khắc, mỗi niệm sáng suốt là mỗi phân thân nơi tự tánh của Địa Tạng, chơn tâm thanh tịnh nơi mỗi người chính là Phật sẵn nơi tâm đó. Giáo hóa chính mình ( tự độ) còn có thể nhắc nhở chúng sanh ( độ tha ).

Ta quán xét lại tâm ( Quán Thế Âm ) khi đối diện tiếp xúc hoàn cảnh không vui, đau khổ, oán ghét, tranh chấp, mất mát không như ý, tâm sân si thì rõ ràng xuất hiện địa ngục tại nơi tâm, phải khổ sở như thọ nhận từng hình phạt. Quả báo nơi tâm có sai biệt không đồng, vì có quốc độ, không gian tham là không có ngạ quỷ. Quốc độ không có phiền não là tâm niệm không có súc sanh. Có quốc độ không có địa ngục vì không có những tâm niệm vô minh vì vậy các cõi quả báo không đồng nhau.

Ngục vô gián là tâm thường xuyên nhớ đến đau khổ không gián đoạn. Nói đến ngục tối không một ánh sáng lọt vào, nghĩa là trong tâm không hề hiểu biết chơn lý hay ánh sáng Phật pháp nào lọt vào cả.

Địa ngục có 18 sở là những trụ sở của sáu căn, duyên sáu trần duyên theo thức biến hiện là 18 pháp giới.

Chó sắt, rắn gan là tâm niệm giành giựt cứng như sắt, sự độc ác như sắt không chuyển đổi được.

Tội nhân nằm choáng cả giường là tâm mê muội là si mê vô minh choáng hoàn toàn bởi đen tối, khi nghiệp đen tối thì tâm hoàn toàn đen tối khổ sở vô cùng.

Vậy những cực hình khổ trong kinh là những sự đau khổ tại nơi tâm sự khổ vô cùng cực.

Phật dạy phương pháp thiền định vì muốn dạy ta phải quay về tâm mà nương tựa, quy y ngay Bồ Tát Địa Tạng chính nơi mình, soi xét tâm niệm gạn lọc thuần thục sáng suốt, nhận rõ các pháp biến hiện tại tâm vì Địa Tạng là hóa thân ngọc minh châu soi đường cho ta đến bờ giác ngộ giải thoát.

Ta phải nhận định rằng Bồ Tát Địa Tạng là hóa thân do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni diệu dụng làm phương tiện.

Trong kinh Địa Tạng phẩm Đức Như Lai An Ủi Ủy Thác Có đoạn như sau :

Bấy giờ Thế Tôn giơ tay sắc vàng xoa đảnh của Hóa Thân Địa Tạng Đại Bồ Tát trong trăm nghìn muôn ức bất khả tư, bất khả nghì …

Nếu sống mà sử dụng được trí Bát Nhã thì sẽ được độ thoát vì đèn trí huệ đã chiếu sáng, thì bóng tối không còn, không còn vô minh thì không có chiêu cảm ác nghiệp nữa. Nên đã tự độ không còn nghiệp đen tối thì tâm đã thanh tịnh hoàn toàn là Như Lai, vì Bồ Tát Địa Tạng nơi tự tánh ta chưa độ hết chúng sanh trong tự tâm ta, nên địa ngục trong tự tâm ta chưa trống không, sẽ không thành chánh giác.

Tất cả tội lỗi, thiện ác, sanh tử nghiệp duyên nhân quả tự ta thọ nhận, tự nơi mình tiếp xúc do cảnh duyên, tâm thọ nhận mà tạo nghiệp, thì tự nơi ta phải chấp nhận quả báo, tự ta chuyển hóa, chớ không một quyền lực nào xen vào để làm tội hay tha thứ, cứu giúp ta được. Ta hãy tự cứu lấy ta !

Trong kinh Địa Tạng phẩm thứ tư nói về nghiệp cảm chúng sanh, Phật nói với định tự tại Vương rằng vị La Hán đủ phước lành độ Quang Mục thuở đó chính là Vô Tận Ý Bồ Tát, thân mẫu của Quang Mục là Ngài giải thoát Bồ Tát, còn Quang Mục là Ngài Bồ Tát Địa Tạng đây vậy. Trong nhiều kiếp lâu xa về trước Ngài có lòng từ mẫn phát hằng sa lời thệ nguyện độ khắp chúng sanh như thế.

Quang Mục tượng trưng sự sáng mắt ( trí huệ sáng suốt ) nhận được pháp tu vô tận của Phật đã dạy.

Vô Tận Ý : Là ý sáng suốt chiếu soi vô tận pháp môn.

Giải thoát Bồ Tát : Là những mê lầm tối tăm được vãng sanh, không còn đau khổ, đã tự tại, nên gọi là giải thoát Bồ Tát.

Quang Mục : Là Địa Tạng Bồ Tát, đại biểu cho sự sáng suốt. Người trí huệ biết sử dụng từ tấm lòng từ bi của Bồ Tát,cương quyết phát nguyện chuyển hóa tất cả nghiệp lực của chúng sanh tự tâm, vì con người ai cũng có tâm, chỉ có tâm mới giải cứu nghiệp tại tâm mà thôi.

Những nguyên nhân tạo nên nghiệp báo chứa đựng nơi tâm không dứt được vì chưa sáng suốt rõ biết vô minh, tham, sân, si kéo dài nơi tâm thức mỗi con người bất đoạn, nên việc tu hành thức tỉnh cứu độ nơi tâm mỗi con người, cũng không ngừng được. Trong kinh Phật dạy, sự cứu độ chúng sanh vì chưa làm trọn nên thệ nguyện của Địa Tạng vẫn là Bồ Tát, tự tâm chưa thành Phật vì chưa chánh giác. Trong kinh nói về mẹ Quang Mục lúc sanh tiền thường ăn các trạnh. Kho hoặc chiên nấu, ăn đủ loại cá lớn hoặc cá nhỏ. Đó là nói đến tâm niệm sống với sự cá nhân, cạnh tranh cố chấp, cãi lẫy từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, mãi luân chuyển. Nấu tới, chiên lui không ngớt đó là luôn ở trong u minh, không ngừng là ở trong tăm tối chấp chặt cho là thật nên đau khổ.

Sở dĩ Phật dùng phương pháp Địa Tạng qua hình tướng đó là nguyên nhân Lý và Sự.

Người trí huệ biết rõ nguyên nhân gieo tạo đưa đến nhân quả, nghiệp báo là tự đã cứu và độ tự nơi mình rồi, đó là Lý. Sống được với chân tâm hằng sáng suốt không sanh tâm niệm mê lầm, từ, bi, hỷ, xả hằng sử dụng, làm điều thiện lành đem lợi ích sáng suốt giúp người mê lầm được giác ngộ, thương yêu muôn loài, biết rành sự biến đổi của vạn pháp không lầm lẫn đây là Lý.

Sựlà phương tiện của người quy ngưỡng nương dựa vào hình tướng của Bồ Tát Địa Tạng, tay cầm tích trượng, ngọc minh châu cứu chúng sanh nơi địa ngục đang chịu nhiều thống khổ vì lòng thương mẹ ( tức thương tự tâm ). Vì các pháp đều do tâm sanh, các pháp đều do tâm diệt, nên mới mượn pháp môn thiền định, nghĩa là quán lại chính tự tâm xem xét nghiệp lành dữ để tự giác mà chuyển hóa đến giải thoát ( vì mẹ khi giác ngộ rồi là Bồ Tát giải thoát ).

Chúng sanh nhiều vô lượng nên địa ngục hay vô minh của chúng sanh cũng vô lượng. Hình tướng của các địa ngục tượng trưng những sự ngu ngốc, si mê, tăm tối của mỗi con người, vô minh lớn lao không dứt gọi là cực vô gián khó thoát khỏi gọi là a tỳ ngục.

Vô minh vì tham ái ( tình, sắc, thực, dâm ) sanh tâm hận thù, tranh giành, mê đắm, loạn cang thường, ấu đả sát hại nhau, chém giết lẫn nhau bằng dao, gươm, mã tấu gọi là phi đao. Người bị đau đớn nhức nhối rên xiết như bị tên lửa bắn trúng gọi là hỏa tiễn. Bị dồn ép, bức ngặt là giáp sơn ; bị dao đâm là ngục thông thương ; bị xe sắt hành phạt là thiết xa ; nằm trên giường bị hành hạ bởi sốt lạnh, không yên là ngục thiết sàng ; bó chặt bởi vô minh, u tối, không thoát được, khổ sở theo sát bên mình mãi không rời gọi là thiết y. Người kêu la hốt hoảng là người mang tâm niệm thường nói ác, đâm thọc, chửi rủa là ngục bạt thiệt. Tâm niệm dơ bẩn, hôi hám là ngục phẩn niệu. Ngục này ra vào hầm dơ bẩn, nhiều thây chết chứa phân và nước tiểu. Có một thứ giòi tên là Nhương Cự Trá, giòi này ăn lủng qua da mà vào thịt họ, ghoét gân, phá xương mà ăn chất tủy đó là sự hành phạt của ngục phẩn niệu. Tâm niệm bị kềm kẹp bởi vô minh khóa chặt là ngục bồng tỏa ; tâm niệm bị nóng nảy sân hận hung đốt nặng nề, bức bách, cấu xé, không an là ngục Lưu Hỏa. Ngục thông sang là đâm thủng, thiết ngưu là trâu sắt, thiên nhận là ngàn mũi nhọn bén, thiết lư là lừa sắt, dương đồng là nước sôi, bảo trụ là ôm cột đồng, tỏa thủ là chém đầu, đạm nhãn là móc mắt ; tranh luận là cãi lẫy, đánh giết nhau. Đa sân là nhiều sân hận, hỏa tượng là voi lửa, hỏa thạch là đá lửa, hỏa ưng là chim lửa, Bác Bì là lột da, Ẩm Huyết là uống máu, Thạch Ma địa ngục là cối xay, cần phủ địa ngục là hành phạt bằng búa rìu, đó là những ngục lớn, còn vô số ngục nhỏ khác không sao kể hết được. Vô minh tối tăm mê muội là tâm địa ngục ; tham lam, ích kỷ, thấp hèn là tâm ngạ quỷ ; thường sử dụng thú tánh là súc sanh ; đều bị nặng nề đau khổ, ray rứt, nóng nảy như bị lửa đốt, đá đè chịu hết những cực hình do những khí cụ mà trong kinh miêu tả. Nguyên nhân xuất phát từ tâm này, do cảm thọ mê lầm mà chiêu cảm thành sự đau khổ. Vậy địa ngục tự nơi ta tạo, khổ não cũng tự dành phần cho ta, các sự khổ này đều bắt nguồn từ tự tâm lượng tự nơi tâm mà có.

Kinh Địa Tạng rất có lợi ích cho mỗi người. Địa Tạng có đầy đủ oai lực, khả năng rất huyền diệu, sâu mầu làm cho ta tin tưởng, tôn kính phải nghe theo từng tâm hạnh dạy khuyên ( thâm nhập khi tụng kinh để trở về tâm địa ), cải ác quy thiện, đó là oai lực tự tâm ; biết quay lại nhớ đến tâm, hy sinh, bố thí tất cả chỉ còn tâm, nghe lời dạy của tâm, sống thanh tịnh tự chơn tâm sẽ thoát tam đồ bát nạn.

Trong kinh nói đến các quỷ Vương là vua quỷ, ý muốn diễn tả những tư tưởng, hành động, ý niệm của mỗi người sống trong mê tối, lầm lạc, vô minh, hắc ám, không có ánh sáng chơn lý rọi vào. Tư tưởng diễn đạt bằng danh tướng địa ngục. Là quỷ vương nếu tâm ai ác độc thì là tâm niệm của ác độc quỷ vương ; tâm người nhiều ác là đa ác quỷ vương ; tâm tranh chấp là tâm đại trách quỷ vương ; tâm hung dữ muốn ăn tươi nuốt sống kẻ nghịch thù là Bạch Hổ, Huyết Hổ quỷ vương ; tâm cấu xé là Lang Nha Quỷ Vương ; tâm luôn nhớ đến ăn uống là chủ thực quỷ vương ; tâm chỉ nhớ đến tiền bạc là chủ tài quỷ vương … Quỷ thì ở nơi địa ngục, tăm tối vô minh như trong kinh đã nói. Đó là địa ngục tự tâm sanh.

Nhờ oai thần và sáng suốt của Địa Tạng tự tâm, nơi tâm địa có đầy đủ các niệm, những tâm niệm thiện lành nơi tâm địa đã được ăn năn sám hối, tượng trưng phân thân Bồ Tát Địa Tạng, được đăng thiện lên Cung Trời Đao Lợi nghe Phật thuyết pháp ; là cơ hội hợp tụ Bậc Thánh Nhân, do công đức Bồ Tát Địa Tạng đã dày công thệ nguyện, hóa độ nhiều đời, mới được giải thoát, nghĩa là ta phải tự mình kiên quyết ăn năn sám hối, tu hành nhiều kiếp, mới độ hết chúng sanh tự tâm, được giác ngộ giải thoát.

Những vọng tưởng thiện ác vốn không thật là vô thường không cố định, từ nơi tâm ta phát sanh mà tạo ra, quỷ nó sẽ trở lại ủng hộ nhau làm hại ta. Nhưng cũng tùy thuộc ở ta mà các tâm niệm độc ác chuyển hóa nên hiền lành, không còn chiêu cảm quả báo đau khổ ; phước đức sẽ tự đến cũng do sức mạnh của tự tâm ta, không nương cậy, van cầu ở ai đem lại cho ta cả ( nhất thiết do tâm tạo ).

Người sống được với chơn tâm thanh tịnh là sự cao quý của đạo, là minh châu rực sáng ở thế gian không có vật nào bằng rất thù thắng, gọi là bảo thắng.

Nếu ta theo hạnh Bồ Tát, chư Phật tu thiện nghiệp xây dựng vô lượng công đức, là tự tâm có Đa Bảo, tu nhiều đức hạnh trang nghiêm sáng suốt hiện bảo tướng. Trí huệ tuyệt diệu là trí thắng, không mê đắm danh lợi tâm trong sạch ; không vướng bận tâm niệm hữu hình hoặc vô hình là tịnh danh ; nhờ trí huệ mà giác ngộ là trí thành tựu ; giác ngộ hoàn toàn sáng suốt là giác ( Như Lai ).

Về hình tướng, danh từ hoàn toàn là sắc pháp là pháp hữu vi, tất cả đều là phương tiện, màu sắc của mắt thấy tai nghe, ta tín ngưỡng tôn trọng thành tâm lần lần phải vào chánh định, nhập tự tánh bước sang cõi vô vi chơn không, diệu hữu chơn thật của chơn tâm ; thế giới tâm linh vô hình, vô tướng nhưng là thật tướng.

Vì tập đế con người quen sống mắt thấy tai nghe, luôn luôn theo cảnh vật bên ngoài nên bị vật chất làm chủ, khó xa lìa, khó sống được với tự tâm thanh tịnh, không thể chuyển sang cảnh giới vô hình, vô tướng. Vì mãi nghe thấy bằng mắt, bằng tai phàm phu, cho nên Phật phải mượn phương tiện về sự lợi ích nói về Địa Tạng Bồ Tát và để sách tấn địa ngục, hầu khuyên nhũ tu tập. Bên ngoài dựa vào sắc tướng, như nhất tâm quy ngưỡng, chiêm bái cúng lạy hằng ngày, lòng không nhớ nghĩ việc gì, tâm hoàn toàn không nghĩ đến chuyện thế gian ; nhất tâm buông bỏ các vọng niệm, tụng kinh, niệm chú, niệm Phật, tu thiền vì tâm chuyên chú nhờ những phương pháp này lần hồi tâm được an định, gọi là nhập vào định.

Nếu được tâm niệm phát sinh hành động bố thí cúng dường là phương tiện xả bỏ chừa bớt tâm tham, thoát được chấp ngã, chấp pháp, xả bỏ được những gì lầm chấp là của ta. Càng tu tập sâu thì giới luật càng thanh tịnh, sâu dày, từ đó nhận biết được thế nào là sống phạm giới ( phạm pháp ), nhận hiểu đâu là chơn giả, mê muội, sáng suốt đó là đã sử dụng được trí huệ.

Hiểu qua lời dạy của Đức Thế Tôn thì oai lực, từ bi, trí huệ, khả năng vô lượng của Bồ Tát Địa Tạng bất khả tư nghì. Bồ Tát Địa Tạng tượng trưng cho chơn tâm đại hùng, đại lực, đại từ bi. Nếu thấy là thật có tâm, thì mới thấy được chính nơi ta, mỗi người đều có nguồn sáng tâm linh, có đủ mọi đức tính từ bi, hỷ, xả, nơi đó là kho tàng vô tận đầy đủ phước báu vô lượng vô biên, hàm chứa vô số đức tướng tuyệt diệu. Như vậy ta đã có đủ điều kiện phương tiện tự chuyển hóa tự cứu lấy ta, vì đã sẵn tấm lòng thiện lành, sáng suốt soi rọi giả chơn, ma, Phật, đầy đủ sức lực giải quyết mọi nghi ngờ. Với những phước báu này, Phật mới gởi gắm vào Bồ Tát Địa Tạng tự tâm gìn giữ nghĩa là giao ta cho chơn tâm chăm sóc, luôn cảnh giác để không rơi vào cõi lạc lầm ( ba đường ác ). Vì tâm không định nên bị mê lầm, lúc thì tu, lúc dừng lại. Ta phải biết rằng, khi gieo giống nào vào đất tâm là đã gieo nhân, mà nhân nào thì quả đó. Địa Tạng tự tâm sẽ giữ gìn chăm sóc hột giống đó không bao giờ mất, nên khi khởi ý sanh tâm niệm ác thì phải dừng lại (định). Hãy nghĩ đến Phật, niệm hồng danh Phật, nhớ đến pháp thì Bồ Tát Địa Tạng tự tâm sẽ phá nát địa ngục. Cần cảnh giác sự lạc lầm tăm tối, khi tâm niệm vừa phát sanh để tránh điều ác. Nếu nghĩ đến sự tu hành, nhớ đến điều thiện lành, như lễ Phật tụng kinh, tu thiền, làm lợi ích cho mọi người thì ngay đây đã có nhân lành phước báu là nguyên nhân đưa ta đến con đường Phật đạo, ta phải tự phát lòng thệ nguyện.

Như chỉ nói Bồ Tát Địa Tạng chỉ là ở tự tâm chớ không là Bồ Tát thật có, thì ta phải nên tiếp tục lễ bái, chiêm ngưỡng, cúng dường Bồ Tát Địa Tạng không ? Ta vẫn phải tiếp tục và thêm một tinh thần mới mẽ, một tâm niệm mới nữa, thêm vào việc lễ bái đọc tụng kinh Địa Tạng, ta nên tư duy cho sâu, đặt vào nơi tâm sự sáng suốt thông thấu những lời Phật dạy để thực hành những gì ta chưa thực hành được.

Mật ý của bậc Đạo Sư là huyền biến câu chuyện Bồ Tát Địa Tạng làm phương tiện nói lên sự tai hại, khuyến cáo cho hậu quả của những tâm niệm độc ác, tạo nghiệp chẳng lành, chỉ dạy cách trừ khử ác nghiệp. Vậy nên khi lễ bái chiêm ngưỡng phải có niềm tin tư duy, tìm hiểu cho sâu, để thâm nhập giáo pháp của Phật về luật nhân quả nghiệp báo, thiện ác nghiêm minh. Ta cần nên thực hành phương pháp tu sửa đã học trong kinh, nếu muốn thoát ly khỏi địa ngục tự ban cho mình phước lạc mà Phật đã tuyên thuyết và hứa khả.

Niết Bàn do tâm tạo, địa ngục tại tâm sanh, thiên đường, địa ngục đều do tâm mà ra. Tâm làm ra, tâm phá được. Chỉ có Địa Tạng tự tâm chúng ta mới phá ngục thiết vi do ta đã tạo và sẽ hoàn trở lại cảnh giới thanh tịnh sáng suốt giải thoát tự tại.

Qua sự trình bày về Bồ Tát Địa Tạng, đại ý là ta nên trực chỉ vào tâm, thấy lại sự trong sáng, thuần khiết của chơn tâm chính nơi mình, ngỏ hầu không còn sai lệch thâm ý, của Đức Đạo Sư, ta phải lìa các tướng, mới là chơn thật tướng.

Dĩ kiến sắc cầu ngã

Dĩ âm thanh cầu ngã

Thị nhơn hành tà đạo

Bất năng kiến Như Lai.

Địa Tạng : Địa là đất, tạng là trùm chứa. Bồ Tát lập đại nguyện tế độ tất cả chúng sanh tượng trưng như đất hàm dung chứa muôn sự vạn vật muôn loài nên gọi là Địa. Tuy Bồ Tát hiện thân ở hằng sa số thế giới, độ vô số chúng sanh mà không một thế giới hay một chúng sanh nào ra ngoài tự tâm Ngài, nên gọi là Tạng.

Là lời dạy của Phật hơn 2550 năm, vậy ta cần chiêm nghiệm, tư duy lại cho kỹ, trong quá trình tu học.

Phật nói rằng trong 49 năm ròng rã thuyết pháp, ta không nói gì hết, nghĩa là tất cả đều là phương pháp làm phương tiện mà Ngài muốn dạy ta kiến tánh, thấy lại tạng tánh chính mình. Tất cả đều là pháp, nên trong kinh nói đến tự tánh, pháp giới tạng thân, Như Lai tạng tánh, tự tánh Di Đà vô biệt niệm, Như Lai tạng, tất cả đều là một kho chứa pháp vô hình, cũng có năng biến hóa đến hữu hình, là sự vi diệu của mỗi con người sẵn có.

Nếu tâm người độc ác sau khi thọ nghiệp mà cho rằng có Bồ Tát Địa Tạng cứu vớt thì Phật không dạy ta tu tâm làm gì, không nói đến nhân quả, không chỉ thiện ác vì đã có Bồ Tát Địa Tạng để chúng sanh nương nhờ, nếu có lợi thì Ngài giải quyết đưa lên Cực Lạc như vậy thế giới Cực Lạc là người mang toàn tâm địa xấu xa về đó hay sao ? Như vậy Tịnh Thổ sao gọi là thanh tịnh được ? Vì Tây phương Cực Lạc không có người mang tâm xấu ác, vậy Phật tức tâm, tâm tức Phật. Ta hãy nên sửa chữa tự tâm ta, nếu tự tâm đã trong sạch không nhờ ai vớt, vong ta vẫn an nhiên tự tại giải thoát, sống với quốc độ an lành, đúng y như luật nhân quả không hề sai chạy. Như vậy mới không còn mang tâm niệm vọng tưởng mê mờ, không còn sống với tâm sợ hải địa ngục, vì tâm thanh tịnh sáng trong là phước báu vô lượng, vô biên, không cầu mà tự có ( phước họa tự tâm sanh ).

Bài viết này thành tâm chia sẻ cùng chư thiện hữu đồng tu. Qua những ý kiến còn hạn hẹp kính mong chư Tôn Đức Tăng Ni hoan hỷ những gì còn sơ sót, vì chỉ là một cư sĩ năng lực còn khiêm tốn nhưng sống ở thế gian ăn cơm nhờ có canh tu hành nhờ có bạn nên tôi tạm mượn quyển sách này làm bạn với thiện hữu gần xa. Mong được sự đóng góp trí tuệ thêm vào kho tàng vô tận. Đây chỉ là một hạt bụi nhỏ góp nhặt hiểu biết, nguyện đem sự lợi ích đến cho nhiều người, cùng quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp đồng chia sẻ.

NAM MÔ CÔNG ĐỨC LÂM BỒ TÁT MA HA TÁT

NAM MÔ PHỔ CÚNG DƯỜNG BỒ TÁT MA HA TÁT

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Địa Ngục Chưa Bỏ Không Thề Không Thành Phật Quả Chúng Sanh Khi Độ Hết Mới Chứng Đạo Bồ Đề Cuộc nhân thế chỉ là ảo mộng

Gẫm cuộc đời quá đỗi kinh hoàng

Vì mê tưởng Phật ngỡ ngàng

Được thua danh lợi bàng hoàng rừng mê

Hữu duyên trên bước đường về

Ngộ nơi tánh Phật thoát mê tỉnh trần

Sử kinh tháo gỡ bao lần

Ôn kinh chẳng biết phân trần cùng ai

Bởi vì giáo pháp Như Lai

Thậm thâm vi diệu nhờ ai chỉ dùm

Duyên trần khách tục rối tung

Hành trang trĩu năng mịt mùng đường xa

Ngâm nga âm điệu nhu hòa

Tiếng chư Phật Thánh chan hòa lạc an

Tâm bình thế giới sẽ an

Trần gian là trọ chớ than, chớ phiền

Dắt dìu tánh hạnh cần chuyên

Tự tâm tháo gỡ mới yên tấm lòng

Nơi tâm tự tại thong dong

Đoạn lìa tham ái chẳng mong sang giàu

Xả ly việc khắp trần lao

Minh châu chiếu diệu còn ao ước gì

Sửa sang tánh hạnh từ bi

Gươm thiêng trí huệ thoát ly nạn trần

Tỉnh mê đau khổ bao lần

Vì tâm vướng bận phong trần chẳng yên

Vô minh ngập lụy xích xiềng

Ngu mê diệu vợi thuyền từ còn xa

Giác tâm lòng nở đầy hoa

Hương hoa trí tuệ tự ta sẵn dành

Tâm từ chiếu diệu tinh anh

Khắp xông pháp giới nơi nơi an hòa

Nhập vào ngôn hạnh Thích Ca

Tự tâm phước báu hà sa sẵn rồi

Tự lòng vun đắp tô bồi

Y đàng Bát Nhã phục hồi bổn lai

Địa Tạng hoan hỷ trên đài

Dắt dìu sanh chúng miệt mài bảo châu

Chẳng còn đau khổ âu sầu

Ngục là pháp đó tâm là chơn như

Mỗi người phước báu thừa dư

Tự tư duy lại, tự soi tại lòng

Khắp xông pháp giới đại đồng

Quang minh bủa khắp ba ngàn đại thiên

Nào là pháp bảo hữu duyên

Nào là điên đảo trần miền khổ đau

Quay vào tự tánh cho mau

Quán cho minh mẫn vàng thao tự lòng

Hỡi ai còn ở trong dòng

Luân hồi lục đạo mê mờ đọa sa

Ai người thấy lại tánh ta

Khêu cao đuốc huệ thoát ra nạn trần

Vô lượng kiếp phong trần dày dạn

Mãi đùa vui bóng huyễn hình ma

Mê lầm nhận đó là ta

Càng đi càng bước càng xa xa lần

Quên rồi ngọc báu tinh anh

Ngẩn ngơ sự thế đua tranh lợi quyền

Thôi thì buông bỏ vạn duyên

Sống cùng tánh Phật phỉ nguyền từ bi

Nương vào chơn tánh hành trì

Tạng tâm diệu lý oai nghi nhiệm mầu

Ta không khẩn cũng không cầu

Vô biên vô lượng còn cầu chờ ai

Tâm thanh chẳng lụy trần ai

Như Lai Tạng tánh tự ngay nơi lòng

Quán Âm xem xét đục trong

Tỏ tường Phật Thánh tại lòng không xa

Thắm nhuần giáo pháp Thích Ca

Hóa thân Địa Tạng giúp ta giải nàn

Tâm an là chiếc gậy vàng

Minh châu rực sáng muôn ngàn tuệ đăng

Hoa trí huệ chính tâm đăng

Chiếu soi vạn vật liễu tri thường hằng

Cúi đầu thệ nguyện tin rằng

Hạnh lành Địa Tạng sẵn dành tự tâm

Từ bi giáo pháp thậm thâm

Tịnh lòng nghiệm xét gẫm suy tỏ tường

Tu sao cho khỏi lầm đường

Tâm là tức Phật, Phật là tức tâm./.

Thành Kính Cúng Dường

NAM MÔ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT MA HA TÁT.

NAM MÔ THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG BỒ TÁT MA HA TÁT.

Cư Sĩ Phật tử Như Thánh

Viết ngày 17 tháng 11 năm 2010 ( Canh Dần )

Tại Long An.

ĐỊA TẠNG KINH THÂM MẬT NGHĨA

Lời giảng: Tỳ Kheo Thích Minh Đức.

Biên soạn: Cư sĩ Phật tử Như Thánh.

TỔ IN ẤN VÀ PHÁT HÀNH KINH SÁCH THỰC HIỆN

Địa chỉ: PHOTOCOPY SĨ PHÚ, Tổ 3, Khu 1, Thôn Phước Thành, Xã Tân Hòa, Huyện Tân Thành, Tỉnh BR-VT.

Điện thoại: 0972. 008727

Chịu trách nhiệm xuất bản :TK. THÍCH MINH ĐỨC

Biên tập :CƯ SĨ PHẬT TỬ NHƯ THÁNH.

Sửa bản in :CHƠN MINH.

Trình bày :CHƠN MINH.

Bìa : TÂM PHÚC.