KINH DUY MA CẬT

Lời giảng : Tỳ Kheo THÍCH MINH ĐỨC.

Biên soạn : Cư Sĩ Phật tử NHƯ THÁNH.

Kinh Duy Ma Cật

(Luận Giải)

Phương danh Quí vị phát tâm ấn tống cúng dường

VỰA GẠO VIỆT LINH

( Tân An – Long An )

1. PHẠM NGỌC DIỆU LINH

PD : NHƯ HUỆ

2. NGUYỄN THÀNH TÂM

PD : NHƯ HIỀN

Phước đức ấn tống kinh này hồi hướng cầu siêu cho :

1. Cha : PHẠM QUANG MẠNH

PD : GIẢI THÔNG, tuổi : Bính Tuất.

2. Mẹ : ĐỖ THỊ HOÀI, PD : DIỆU NIỆM.

3. NGUYỄN VĂN MY, PD : ĐỨC TRỌNG.

Và cầu nguyện Cửu Huyền Thất Tổ được tốc vãng mê đồ, siêu thăng Tịnh Độ, cùng pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Kính thưa quý đọc giả !

Kinh Duy Ma Cật là bộ kinh nói về Đại Thừa, Phật dùng pháp ẩn dụ chỉ đến sự tuyệt đối của Tự Tánh. Phật mượn hình ảnh Ngài Duy Ma Cật để chỉ dạy cho mọi chúng sanh tỏ ngộ tự tánh. Nhờ pháp là phương tiện do Đức Phật hóa hiện đặt danh từ có sự tướng để diễn tả tự tánh bằng hình ảnh đạo đức của cư sĩ có khả năng tuyệt vời để chỉ sự tuyệt diệu của Chơn Tâm, duy nhất có ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là Bậc đại trí huệ. Văn là văn tự, kinh nghiệm của Phật, thù là thù thắng tuyệt vời, sư là người thanh tịnh, thầy của các pháp lợi là lợi ích nên Bồ Tát đại trí Văn Thù Sư Lợi là trí huệ sáng suốt gìn giữ lời kinh của Phật trọn vẹn rất thù thắng, làm chủ, làm thầy các pháp. Dùng pháp bảo làm lợi ích cho chúng sanh bằng trí tuệ vô lượng là Đại trí. Dùng pháp vấn đáp làm sáng tỏ chơn lý, giác ngộ giải thoát kinh, kinh nghiệm cao siêu, không còn khả năng tư duy suy nghĩ bằng kiến thức thế gian mà hiểu biết hết được. Kinh nghiệm vấn đáp giúp tâm người tu học cởi mở không còn vướng bận điều gì thế gian cả, là kinh nghiệm tu chứng tại tâm sáng suốt hoàn toàn giải thoát không còn chướng ngại hoàn cảnh ở thế tục.

Phẩm kinh nầy Phật nói để dạy cho hàng Bồ tát và hàng đệ tử Phật tâm vô Thượng Bồ đề nghe. Tất cả chúng sanh nếu biết diệu dụng khả năng, biết dùng năng lực sẵn có tại tâm đoạn sạch vô minh, dứt trừ phiền não vọng tưởng, bỏ tà tri, tà kiến, tà niệm tức hiện tiền có thân Phật và cõi nước của tâm là Quốc độ Phật hiển hiện ngay tại tâm, tại cõi đời đang sinh sống. Kinh dạy quả diệu giác Bồ đề không là tư tưởng hi vọng kì hẹn mơ hồ ảo vọng, chờ đến khi bỏ thân tứ đại mới ngộ nhập cõi Phật, mà hiện tại ai ai cũng có sẵn đầy đủ khả năng lúc đang sinh thời đều có thể chứng quả bằng tự lực, trí huệ chính mình. Quả giác bất tư nghì ( không còn tư duy suy nghĩ ) vô thượng Bồ đề giải thoát là mục đích chánh yếu. Phật thuyết qua hình ảnh cư sĩ Duy Ma Cật là tướng của vị Bồ tát để chỉ vô số vô lượng tâm niệm đức độ bất tư nghì giải thoát, là chí đại nguyện từ bi dẫn dắt cho chúng sanh trở về Niết Bàn vô sở đắc. Tịnh độ ở ngay cõi Ta bà uế độ, khi tâm con người cư trần bất nhiễm. Đây là lời thuyết của Sư phụ Thượng Minh Hạ Đức, tại núi Bồng Lai Thiền viện Minh Đức dạy cho Khóa Tu An Lạc 7 Ngày vào mỗi tháng. Pháp hội có tất cả căn tánh trình độ, mục đích nâng sự hiểu biết cho người tu học Phật trở về sự giác ngộ giải thoát các pháp, lúc này có vô số tâm niệm, đang dự nơi pháp hội.

Khi Phật thuyết kinh, mượn tướng là nơi pháp hội có tám ngàn Tỳ kheo, Bồ tát là ba muôn hai ngàn vị. Tất cả số lượng là tên gọi, được nêu bằng danh từ của từng quả vị vì phật muốn chỉ rõ các tâm niệm của con người đang hội đủ bằng cách mượn tên các quả vị để chỉ các niệm tự giác tại tâm, tùy vào trình độ trí giác dạy trực chỉ vào tâm, các niệm sáng suốt cũng là quả giác. Nên phật nói có vô số người có mặt tại pháp hội, dùng tướng người, có tên gọi bằng danh từ làm ẩn dụ để chỉ đến cái vô tướng là vô số tâm niệm đã sáng suốt, thường lẫn quẫn nơi tâm nên nói “Tất cả mọi người đều quen biết”. Lúc nghe thuyết pháp mỗi người nơi đạo tràng có vô số tâm niệm là vô số chúng sanh tại tâm đang hội tựu để nghe giáo pháp, nếu niệm nào thanh tịnh giữ giới luật nghiêm hạnh gọi là Đức độ Tỳ kheo, niệm sáng suốt đạo đức thực hành pháp lục độ gọi là Bồ tát, là các niệm đã thành tựu đại trí và Bổn hạnh tự con người gầy dựng. Đức phật muốn chỉ đến quả giác nơi con người ai cũng có và sự tu tập thành tựu trí đức phải ngay nơi đời sống hiện tại.

Vì sứ mạng hoằng pháp lợi sanh, truyền đăng tục diệm, gìn giữ chơn lý mạng mạch Phật pháp Sư phụ đã dùng trí tuệ tu hành, khả năng sẵn có mà hết lòng giảng dạy cho Đạo tràng tu học. Nhận thấy đây là bài giảng có giá trị thâm sâu quý báu cho những ai có duyên học phật, nên dù sức tu hạn hẹp, nhưng tự nhận lời huấn từ thật cao thượng, không thể bỏ qua tôi nguyện đem hết tấm lòng ghi lại bài giảng mong gởi đến các bạn đồng tu gần xa đủ duyên, chia sẻ trên bước đường tu nhân học phật .

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

Cư sĩ Phật tử Như Thánh

Kính bút

Phẩm thứ nhất là phẩm Phật quốc theo ngài A-Nan-Thuật.

“Có một lúc Đức Phật ngụ tại thành Tỳ Da Ly trong vườn cây Am La với đại chúng Tỳ kheo là tám ngàn người đều có mặt, Bồ tát là ba muôn hai ngàn vị, mà người ta đều quen biết, những vị Bồ Tát ấy đều thành tựu Đại trí và Bổn hạnh”. Phật dùng thần lực hóa hiện để chỉ chúng Tỳ kheo nói đến quả vị hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát với số lượng rất lớn ba muôn hai ngàn vị con số rất đông “mỗi người ta đều quen biết”. Đây là ẩn ý, Phật mượn hình tướng có con người để chỉ vào tự tâm mỗi con người, Ngài muốn chiếu thẳng soi rọi vào từng niệm vào trong tâm ta hằng ngày, chỉ đến trình độ sự chứng ngộ tại tâm. Tổ dạy : “trong tâm có tất cả, trong tâm chứa muôn pháp”, những gì Phật nói đều là đại sự nhân duyên để chỉ cho ta thấy lại tánh giác chính mình, gọi là thấy tánh hay Tri kiến Phật Để hiện tại ngay trong cuộc sống hiện tiền được làm Phật, luôn luôn sống với tánh giác trong sạch, thông suốt nguồn tâm, không còn nhiễm ô vướng bận các pháp thế tục gọi là tâm buông xả. Cõi phật tại tâm người khi đã sáng suốt đoạn hết vô minh phiền não, các tâm niệm đều tỉnh thức, chơn lý là mạng mạch của đời sống, chơn lý là bản tâm trong sạch thường giác khi đối đầu cùng các pháp bản giác đó là Phật. Bậc giác ngộ ở nơi nào thì cõi phật nơi đó vì Phật tại tâm, cõi cũng tại tâm. Trong kinh ý Phật muốn chỉ tâm niệm mượn sự tướng bên ngoài là vô số Tỳ kheo, vô số Bồ tát để chỉ vào từng niệm giác ngộ tu chứng tại tâm của con người. Niệm thường lưu xuất gọi là tâm nên Phật nói tất cả ta đã từng quen biết mà từ lâu quên bỏ đó là các niệm Thinh văn, Duyên giác, niệm La hán, Bồ tát các niệm đều là Bồ đề quyến thuộc, Cửu huyền của ta từ lâu. Vì mãi đuổi theo ngũ dục, lục trần, ta quên bỏ nên Phật mới khai thị lại tánh giác “Phật” cho tỏ ngộ muôn vạn niệm là muôn vạn pháp thường lưu xuất nơi tâm, có tướng con người là có pháp, người tu trước hết phải quy y pháp, mới có thể vào được tự tánh vì tự tánh thường sanh ra muôn pháp. Trí tỉnh giác biết các pháp đều như huyễn nên ta không chấp vào pháp nào mà vào tánh giác chơn như là quy y Phật ( giác ). Phật mới nhìn thấy các tâm niệm, mỗi niệm là mỗi pháp, muôn ngàn niệm sáng suốt là muôn ngàn Bồ tát tại tâm, tất cả đều quen biết. Tánh giác sáng suốt là mỗi trình độ mà Phật tạm gọi bằng danh từ là Tỳ kheo tên gọi của quả Thanh văn, Duyên giác, La hán, Bồ Tát, là đạo hạnh đức độ, tướng tốt vẻ đẹp của người tu học Phật, danh từ có tên được gọi là quả diệu giác đã được tích lũy bởi những tâm Thiện hạnh sáng suốt, là tên gọi của những thềm thang bước dần đến Phật quả vô thượng Bồ đề. Đó là lý nơi tự tâm rất nhiều, vô số niệm sáng suốt thường ở tại nơi tâm ta nên phật nói là thường quen biết. Quen là thường biết rõ, số đông như trong kinh là dùng sự để nói lý chỉ Tạng pháp Như Lai tại tâm con người ( Như lai Tạng tánh ). Hạnh nguyện người tu mục đích duy nhất là giác ngộ giải thoát tại tâm, không còn vướng bận hoàn cảnh, tướng trạng nào vào tâm cả “nhược kiến chư tướng phi kiến tức kiến Như lai”, không thể còn chấp vào tướng mà nói vô tướng được. Những hình ảnh, danh từ, tên gọi được diễn đạt hoàn toàn là ẩn dụ, ẩn ý có tướng là phương tiện là pháp dẫn dắt chúng sanh trở về lý tánh chơn như .

Người học Phật phải hiểu biết pháp, chữ “Ma” là pháp, bất cứ điều gì hữu hình hay vô hình, tốt xấu lớn, nhỏ hữu vi hay vô vi, chơn thật hay hư vọng đều gọi chung là pháp. Pháp nghĩa rất rộng tất cả thế gian những gì biết được đều là pháp, là những hiện tượng được bao gồm gọi là vỏ trụ ( vỏ chứa các pháp thụ vào ). Tam thiên đại thiên thế giới gọi chung là hư không. Tất cả pháp giới trong hư không gọi chung là pháp. Pháp giới hạn bởi một tâm niệm trụ vào gọi là một pháp giới. Một cõi hay một Quốc độ tại tâm. Chử pháp thường dùng chỉ đến giáo lý nhà Phật gọi là Phật pháp. Con người có ba điều quý nhất là Phật - Pháp – Tăng, ba ngôi đều trọng kính như nhau. Hàng phật tử tại gia hay xuất gia thường đến quy y Phật chỉ biết tô vẽ hình tượng Phật, đến với pháp chỉ biết coi kinh, ấn tống nhưng không biết ý nghĩa xâu xa của pháp, cả ba ngôi đều thờ trọng như nhau. Tu thì ai cũng mong thành Phật, nếu không biết pháp, không sáng suốt hiểu pháp thì không thành Phật được. Tăng là người đại diện chơn lý hướng dẫn ta tu học, biết rõ pháp. Là người trung gian chỉ dạy ta biết pháp Phật, là Thiện hữu tri thức gần gũi hết lòng dẫn dắt chúng sinh trở lại chánh giác ( Phật ) để tìm hiểu Phật. Tăng phải hết lòng dùng trí tuệ sáng suốt giúp người giác ngộ mà lòng không mong gì lợi lạc cho cá nhân, chỉ vì pháp mà phục vụ, là người nhận sứ mạng gìn giữ chủng tử Như Lai, là Trưởng Tử Như Lai trì Như Lai mạng, tác Như Lai sứ, hành Như Lại sự, là việc trọng đại của người tăng lữ không cầu quyền lời chỉ thực hành vì bổn phận và trách nhiệm hoằng pháp lợi sanh.

Pháp của Đức Phật chia làm 3 thời kỳ :

Thời Phật còn tại thế là thời chánh pháp : Thời chánh pháp vì không có vật chất quyến rũ làm con người mê đắm, nên người người đều tôn trọng giữ gìn pháp, gọi là thời chánh pháp, vì không theo quyền lợi ham muốn vật chất thế gian.

Thời thứ hai là tượng pháp, cũng mường tượng giống như thời chánh pháp, nhưng ít người sống y chánh pháp, vì theo quyền lợi nên chênh lệch không chính xác như lúc Thế Tôn còn tại thế giống thời chánh pháp.

Lúc bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề là Di mẫu xin cho nữ phái xuất gia. Lúc đầu Thế Tôn không chấp nhận, nhưng do ngài A-Nan thương xót cầu xin, ngài A-Nan “Bạch Thế Tôn người nữ có thể đắc quả Thánh không?”. Thế Tôn trả lời “Tất cả con người đều đắt quả Thánh không phân biệt nữ nam”. Ngài A-Nan hỏi : “Như vậy tại sao Thế Tôn không cho người nữ xuất gia?”. Thế Tôn nói rằng “Nếu để người nữ xuất gia, giữ mạng mạch Như Lai, giữ chánh pháp thì chánh pháp sẽ mạc trước 500 năm”, vì ngài A-Nan hỏi nên buộc lòng Thế Tôn phải nói. Ngài A-Nan xin Thế Tôn nói những điểm yếu nên buộc lòng Thế Tôn mới cho các vị nữ xuất gia vì tâm nguyện xuất gia của họ rất lớn. Họ đã bỏ hết vương quyền, triều đình, danh dự, vật chất, giàu sang, đài các, bỏ hết bao nhiêu sự hưởng thụ sung sướng của thế gian quyết lòng xuất gia tu học. Trước khi đến gặp Thế Tôn các ngài đã tự cạo tóc đắp y, ôm bình bát đi chân đất đến nơi đức Phật mà xin xuất gia, vì những hoàn cảnh xúc động mà đức Phật bằng lòng theo lời cầu xin của ngài A-Nan, những hành động này cũng giống như đức Phật ngày xưa khi đi tu đã tự buông bỏ giải thoát tất cả trần duyên.

Thời mạc pháp cách xa Phật mấy ngàn năm mà thời hiện nay chánh pháp không còn được tôn trọng vì con người tham danh lợi, mượn chánh pháp tạo dựng quyền lợi, danh vị cho lớn mạnh, không còn y pháp gọi là mạc pháp.

Thời đức phật Thích Ca hưng thịnh cho đến 500 năm sau, nhờ nghe Phật thường thuyết pháp, nhờ thần lực của Phật nên cũng có người đắc quả. Chánh pháp ảnh hưởng chung vào số lớn, còn mạc pháp cũng là số chung để nói. Phật dạy “Vạn pháp đều do tâm sanh, nhất thiết do tâm tạo”, nếu tâm người nào chân chánh không lay chuyển theo quyền lực, vật chất bởi ham muốn cám dỗ, ngũ dục cư trần bất nhiểm, dù thân ở thế gian mà tâm không nhiễm bụi thế gian. Người tâm tỉnh giác thanh tịnh, vô nhiễm thì thời nào cũng là chánh pháp, không nói là mạt pháp. Nên cũng có các vị Tổ sư, Thiền sư người giác ngộ ứng hóa thân ra đời, có vô số Bồ tát, cư sĩ ẩn trong chúng sanh tìm đủ mọi cách duy trì Phật pháp, giữ gìn và xiển dương giáo pháp.

Thời tượng pháp của đức Thích Ca còn tương tợ, không còn chánh, 1000 năm kế tiếp vì xa Phật nên người tu khó đắc quả, xong vẫn còn một phần hành đạo chánh nên từ thời Đức phật về sau chỉ truyền thừa có 33 vị Tổ cách nhau chỉ vài trăm năm.

Thời mạt pháp của đức Thích Ca là cuối cùng từ 1.500 năm sau con người vì xa cách lâu nên khó tu đúng cách. Số người vì dãi đãi, sa ngã, đắm chìm trong ngũ dục lục trần ủy phạm thì nhiều, số người tinh tấn rất kém. Thỉnh thoảng có người hành đạo chánh nhưng rất ít, người tu trong tham vọng chỉ thích tu cảm ứng, không còn tu theo Giới Định Huệ. Chạy theo bên ngoài, theo tư tưởng, suy tưởng riêng tư, không tự lực tự độ, tự giác, tự thấy các niệm chính mình khi sinh khởi. Không thấy những suy nghĩ âm mưu tính toán, loạn động của tâm để chấn chỉnh tâm niệm rõ ràng, sáng suốt, tu đúng chánh pháp, đúng chơn lý. Tất cả các pháp môn không cho là khó hay dể chỉ tùy thuộc vào căn tánh do con người mà tự quy y pháp.

Kinh kim cang Phật dạy các Tỳ kheo đối với pháp chớ nên chấp có cũng chớ chấp không. Pháp Đức Phật thuyết cho tất cả chúng sinh chẳng khác chiếc xe để đưa người đến bờ giác, ngộ pháp rồi thì chẳng nương vào pháp nữa, tại sao ? Khi tâm đã an định thì một pháp cũng không, một tâm cũng không, đã xả bỏ được các pháp, pháp do duyên sanh. Kinh pháp cú dạy “Phật pháp còn phải bỏ huống chi là là phi pháp”

Vạn pháp do tâm sanh, nếu tâm không sanh thì không có pháp nào cả, hiểu được pháp sẽ không còn cố chấp vào pháp cho là thật. Nếu tự cho là pháp đúng sai, phải, quấy, chánh tà là còn điên đảo, não loạn, là còn chấp pháp, là còn khởi tâm niệm. Suốt ngày niệm vào mê muội như sống chung với kẻ thù, không được như ý, sanh tâm ích kỷ hẹp hòi, cố chấp.

Pháp phân làm ba :

1. Hữu vi pháp.

2. Vô vi pháp.

3. Bất khả thuyết pháp.


1. Pháp hữu vi có thể nghe thấy hiểu biết được.

2.Vô vi pháp là tịch lặng chẳng vướng bận vì đó là tự tánh sáng suốt.

3. Bất khả thuyết pháp là không còn nghĩ bàn, không suy nghĩ gọi là pháp tổng trì, chỉ còn trí tuệ thông suốt chơn chánh duy nhất. Không nói không bàn gọi là chơn như, hiểu được ba pháp này thì thông tất cả pháp.

Bất khả thuyết pháp là lúc ngài Duy Ma Cật cư sĩ đối đáp với Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là bậc Bồ tát hiểu rành các pháp, biết mọi sự mọi vật đều như mộng ảo, người sống với tâm não loạn điên đảo vì lầm chấp cho pháp là thật. Ta đang có thân ngồi trong hiện tại cũng là pháp. Pháp thì sanh diệt, chợt đến chợt đi nhưng lầm chấp mãi cho pháp là thật. Pháp có hữu tình giác, pháp hữu tình là con người có tánh giác, là trí huệ, là các Bồ tát thấy biết mọi sự vật chung quanh, nhận định rõ ràng hoàn cảnh chợt đến chỉ là giấc mộng, trò ảo biến hóa không thật. Biến hóa như tiếng vang dội, như lằng điện chớp không nắm bắt giữ lấy được, như ảnh lộ ra mờ ảo luôn thay đổi. Sắc thân ta cũng vậy sẽ tan biến trong chốc lát. Nếu giác biết như vậy là đã được trí tuệ đạo Bồ tát đủ căn bổn sáng suốt được thọ ký thành Phật. Hữu tình pháp phải quán triệt sâu sắc các pháp thế gian là vô thường không thật, chấp nhận sự thay đổi của cuộc đời mà không đau khổ là thành Phật đạo đã đầy đủ cơ duyên. Tất cả pháp đều như không có một niệm tưởng suy nghĩ, cát như vậy, đất như vậy, cỏ cây như vậy, vạn vật như vậy, nhân như vậy, quả như vậy nếu ta khởi niệm trí huệ thì cõi Phật tại tâm như vậy. Khởi niệm vô minh thì địa ngục tại cõi tâm như vậy, tất cả các pháp đều như không có tánh loạn động, không ham muốn đòi hỏi, thích thú pháp không là của ai. Vô ngã vì không sở hữu, không ai sửa đổi pháp được. Người thông hiểu sử dụng được pháp bằng tâm thanh tịnh là pháp chủ, pháp chỉ đến đi nhất thời. Trong những đời làm Bồ Tát của Phật Thích Ca đã từng hy sinh cuộc đời để cầu pháp mặc dù pháp như mộng huyễn, bào ảnh, không thật nhưng rất khó biết. Thông thường mọi người chỉ biết cầu Phật mà không biết pháp, chỉ nghĩ điều lợi cho mình lạy để cầu Phật ban cho. Cầu được thần thông, ban phước sợ họa, cầu tuổi thọ, người cầu học pháp rất hiếm hoi. Thời mạc pháp có nhiều người tu vẫn lạm dụng pháp để tư lợi cá nhân. Tiền thân đức Phật muốn cầu pháp ngài bằng lòng đem thân hiến cho thần Dạ xoa để cầu đổi pháp. Ngài hứa với Dạ xoa sau khi nghe được pháp ngài sẽ nạp mình để cầu pháp, nguyện lấy câu sanh tử đổi ra Niết bàn, thần Dạ xoa thuyết ra bốn câu pháp.

Vì người yêu thích nên lo

Vì người yêu thích làm cho sợ sùng

Ai mà dứt mối yêu thương,

Chẳng còn lo lắng chẳng vương sợ sùng.

Ý bốn câu kệ nói đến vô ngã không có pháp, có người, không có niệm vào pháp yêu thương, gìn giữ lo sợ nên pháp là vô lượng rộng lớn. Tất cả pháp là phương tiện từ trí tuệ Phật, Ngài tạo dựng có sự tướng cư sĩ Duy Ma Cật cũng là pháp tướng dùng sự đối đáp và pháp cho chúng sinh hứng thú mà tu học.

Nếu không có sáu căn thì không có pháp. Sáu căn là sáu cửa sanh pháp, sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Vậy ta đã biết pháp từ đâu mà có, từ con người mà sanh ra pháp. Có người mới có đạo. Đạo từ tâm người sanh, không do thiên nhiên mà có đạo “vạn pháp do tâm sanh”. Pháp từ sáu căn lưu xuất, sự thấy nghe từ tự tánh ( giác ) là chơn như nhận biết sự vật đặt tên bằng nhiều danh từ khác nhau,có khi pháp đến làm ta vui, hay buồn là ta đả sanh niệm duyên theo pháp nên có tâm buồn vui, thương ghét các tâm này là vọng trần sanh tâm là niệm vô minh, vọng động làm che mờ phủ kính chơn tâm ( tự tánh ) từ đó pháp được duyên càng sanh thêm nhiều pháp nên nói là pháp. Pháp pháp hà tằng pháp, một pháp sanh ra muôn pháp. Người tu cần tỉnh giác sống bằng chánh niệm không phan theo duyên trần mà bỏ quên tánh giác. Cảnh nào cảnh có đeo sầu, tâm buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Cảnh vật là pháp vốn như không có vui , buồn, do niệm khởi tâm sanh mà có các pháp. Sự thấy nghe là chơn như hằng sáng không hề ô nhiễm, nhìn bằng trí giác biết vạn vật chỉ là vọng, là pháp, ta phải sáng suốt biết rành pháp không còn chấp thật, đó là đạo Như Lai, là chơn thấy, chơn nghe. Tâm không an ổn chỉ vì chứa đầy vọng huyễn nên bất an. Chơn như lúc nào cũng như tùy nhiên niệm như thế nào thì pháp như vậy. Niệm như thế nào cõi tâm như vậy, không dư không thiếu nên kinh dạy nhân là hữu vô dư y Niết Bàn thì quả như là vô dư y Niết Bàn đều y như pháp mà hiển đạo chơn như lặng yên tịch lặng. Nếu đã mất tâm, mất vọng thì còn lại sự an ổn, bình thường tự nhiên của chơn tâm, Tổ dạy “Tâm bình thường thị đạo”. Có lần Tổ Huệ Khả vì có nhiều tâm nên bất an, đến cầu Tổ Đạt Ma cho pháp an tâm. Tổ Đạt Ma dạy “Con đem tâm ra ta an cho”, Tổ Huệ Khả xoay vào trong để tìm tâm không có. Có tâm chỉ là khách, vọng trần là pháp từ cảnh mà sanh nên không thật chợt đến, chợt đi, vì cố giữ nên động loạn. Nên chơn tâm không diệt, không sanh, không mất. Người sắp chết thì mắt mờ, không thấy vạn vật, chỉ còn chơn Tâm tự tánh. Nếu giữ được sự an ổn bình thường, không sợ sệt, bình yên không khởi vọng niệm là đạo tâm còn, tâm không loạn. Nếu khởi niệm phan duyên nhớ chồng, vợ, con, người thân, của cải, vật chất, tài sản đó là còn niệm nhớ còn nghiệp dẫn sanh lại tiếc nuối vọng tưởng, quanh lại niệm vào luyến ái từ đó tâm đã tự tạo trụ vào thế giới ưa thích, có các cõi, tùy tâm niệm mà trụ vào tùy xứ gọi là nghiệp dẫn. Niệm tham ái, ham muốn sẽ dẫn vào lục đạo hay luân hồi vào tam ác đạo. Phải thường tỉnh giác nơi tự tánh sáng suốt sẵn thấy, sẵn nghe sẵn biết, tự tạo cho mình biết không nhờ vả vào quyền lực hộ trì của ai được cả. Còn nuôi dưỡng tư tưởng hi vọng vào nghi thức cầu xin hay bất cứ điều gì dù được hay không cũng là pháp hư giả, huyễn ảo, không thật, chỉ là mơ mộng, thức giấc tỉnh lại thì mộng không còn, Chơn như vốn thật từ vô thủy hằng chiếu soi vạn pháp.

Người tu phải thường sống với pháp thân, vậy pháp thân như thế nào ?

Nếu có sắc thân cũng vì nương theo pháp mà có. Pháp thiện thì thân mang nghiệp thiện. Thân được xây dựng bằng chất liệu tốt đẹp thiện lành, chất liệu xây dựng cũng là pháp tạo thân gọi là dùng pháp làm thân. Pháp ác do nghiệp ác từ vô minh mà tạo thân, thân xấu tốt tùy nghiệp tùy pháp mà thành tựu các pháp, hình tựu bởi nhân duyên. Chơn như là pháp thân mãi mãi không mất, chỉ vì vô minh che phủ mê bỏ pháp thân, cứ lo bồi đắp cung phụng, phục vụ nô lệ cho sắc thân phàm tục huyễn tạm. Người học phật Như Lai không nô lệ cho thân phàm tục, chỉ nương vào thân huyễn hóa mà tu tập, phục vụ chúng sinh. Phật dạy do căn tiếp xúc vào thế gian mà có ý, đó là chơn lý. Khi căn tiếp xúc vào trần cảnh mà ý khởi pháp lung tung, loạn động vì lẽ đó mà ý không thanh tịnh. Khi giác ngộ biết rành các pháp là hư huyễn , chỉ nhất thời có rồi mất thì ý căn mới thanh tịnh. Với sắc thân có khi vì cảm thọ trần cảnh, có lúc nghe lâng lâng, khỏe khoắn đó chỉ là các trạng thái nhất thời. Những thay đổi của pháp, pháp sanh diệt, phải thường sống với các pháp thanh tịnh, không chi phối bởi những trạng thái nhất thời tạm đến, không đòi hỏi trạng thái nào của thân, không niệm duyên theo vọng trần, như đang bắt bóng, bọt vì tất cả chỉ là pháp trần ảo hóa.

Hết thảy các pháp đều như, không quý không tiện. Người sáng suốt trí tuệ, biết dùng pháp, dùng đúng thì khỏi bệnh, dùng sai pháp thì bệnh nặng thêm nên dùng pháp phải cẩn thận. Pháp là thuốc của Phật nếu dùng thuốc sai rất tai hại. Mọi người đều có tâm trí huệ sáng suốt sẳn có nơi Như lai tạng tánh đầy đủ Pháp bảo nên quay vào thỉnh mời cho được Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai là hào quang Như lai, là hào quang chiếu diệu tại tâm mà chọn thuốc pháp, chỉ có đức độ Dược Sư mới trị được tâm bệnh cho chúng sanh khỏi điên đảo não loạn.

Ngũ uẩn vốn không, Ngũ uẩn là Sắc Thọ Tưởng Hành Thức. Có sắc là do căn tiếp xúc đối diện với trần mà có tâm, có các cảnh, có các trạng thái là sắc uẩn ( cái có ). Uẩn là tích chứa từ vô lượng kiếp, pháp mê muội khổ đau phiền não gọi là uẩn. Cảm thọ là những trạng thái vui, buồn, ưa thích, ấm no, nóng lạnh, hạnh phúc, nhẹ nhàng, thư thái hay bực bội, phiền phức, tức tối đều là do căn và trần tiếp xúc. Nếu cứ đòi hỏi mong muốn vào cảm thọ, có như không được như ý muốn thì sanh bất bình, bất mãn, bực bội như lúc thời tiết quá nóng hay quá lạnh, hoặc tiếp xúc mùi vị không như ý thì khó chịu đó là ảnh hưởng của sự cảm thọ của pháp. Pháp tự đến tự đi. Vui buồn cũng vậy, tùy duyên đến tùy duyên đi. Hạnh phúc, khổ đau cũng từ cảm thọ, đều không thật. Ta không tìm kiếm hay xua đuổi được, pháp không ở mãi theo ta, chỉ là trạng thái sự cảm thọ.

Tưởng uẩn là sự tưởng tượng, nghĩ tưởng từ tiếp xúc nghĩ nhớ về tương lai hay quá khứ. Người học Phật phải hiểu thế gian là sự kết hợp tạm giả, thời gian và không gian cũng không thật. Không gian là chỗ tích chứa tất cả vạn vật thường thay đổi liên tục giống như sự sanh tử của con người, thời tiết thay đổi lúc mưa, lúc nắng, lúc nóng, lúc lạnh, vạn vật đều biến đổi vô thường không gì bền chắc. Thân ngũ uẩn cũng là pháp trong vạn pháp, cũng là vật trong vạn vật thay đổi tùy duyên mà biến hay hiện.

Thời gian cũng không thật, có số giờ cũng là phương pháp là phương tiện do tâm người đặt ra giờ, phút, giây, khắc cho có thời hạn. Thời gian không gian vốn là pháp vô tình, tự nhiên xoay chuyển không cố định, không thật trụ, mọi tư tưởng con người từ không gian vô hình cũng không thật. Những ý nghĩ phát xuất từ giác quan sanh khởi nhiều tư tưởng huyễn hoặc nên mọi hành động việc làm ở thế gian bằng tư tưởng điên đảo tạo ra có pháp trần. Vì chấp tư tưởng là ý của ta ( ngã ) chấp thật nếu có người cản trở quấy rầy liền khởi tâm hận thù, phiền não. Tu theo chơn lý Phật phải có niệm buông xả thọ tưởng, bỏ dần các thói quen, những tập tục huyễn vọng, thường sống bằng trí giác biết ngũ uẩn giai không. Mạng sống hiện tại có sắc thân có tướng con người chỉ là duyên tan hợp của các pháp gọi là tứ đại. Con người hiện sống bằng ngũ uẫn, đang sống bằng cảm giác của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sống bằng tánh giác biết, sắc, thọ, tưởng, hành, thức không trường tồn, không chắc chắn, không vĩnh viễn, chỉ có chơn tâm tự tánh vô tướng mãi mãi đời đời trường tồn bất hoại. Tại sao chơn tâm tự tánh là vô tướng?

Như cái thấy của ta là sự thấy rõ ràng nhưng ta không thể thấy được vì cái thấy là vô tướng. Mọi vật đều thấy nhưng không thấy được cái thấy. Cái thấy rất linh hoạt, linh diệu, nhanh lẹ nhận biết được mọi vật, mọi điều nên tánh thấy là chơn như vô tướng, pháp như thế nào chơn thấy là y như vậy. Ta thường sống với chơn biết, chơn nghe nhưng cũng không thấy được cái biết cái nghe vì đó là chơn như vô tướng. Sự cảm thọ của ngũ uẩn vẫn liên tục nhưng vô hình, ta phải biết ngũ uẩn bằng trí tuệ, nhận rõ chơn giả mà ứng dụng vào cuộc sống, đừng vì mê lầm chấp thật mà quên bỏ chơn tâm. Sáu căn tiếp xúc nhận sáu cảnh nên ngũ uẩn có các trạng thái hạnh phúc, thỏa thích, khổ đau, phiền não, bực bội đó chỉ là trạng thái nhất thời không trường tồn. Khổ vui sẽ đi qua khi hết duyên vì có các pháp là do duyên tan hợp.

Thế gian là hữu tướng mà phật dạy “phàm chư hữu tướng, giai thị hư vọng”, những gì có tướng hình đều không thật. Lúc ngồi thiền mà thấy có tướng, có cảnh, có Phật, Tiên, Thánh, Thần chỉ dạy hay nghe tiếng chỉ là ảo tưởng, phải tự nhắc nhở tại lòng bằng tánh giác “phàm chư hữu tướng sanh trụ dị diệt”. Các pháp đều không bền không chắc, ta không cần xua đuổi pháp đi đâu, chỉ biết pháp là không thật, đó là trí giác đã phát hiện, là tà vọng đang đến nhưng tỉnh thức biết không chạy theo đó là đang sống với tâm giác tỉnh thức. Nếu tự cao ngã mạng cho những hình ảnh hiện có bằng tư tưởng chấp là thật, đã chứng đắc, sẽ tẩu hỏa nhập ma vì các hình ảnh mờ ảo đó là ma vọng tưởng. Người tu phải thường tỉnh giác, sống bằng trí huệ chính mình không nghe theo bên ngoài bàn tán, thêu dệt, vẽ vời. Khi sử dụng pháp tu tự nghe lại cõi lòng có an ổn, giải thoát, tự tại, sáng suốt mới là đúng pháp. Dù thấy Phật Thánh Tiên chỉ dạy cũng không nghe theo, chỉ là ảo hóa. Trong kinh Tổ dạy “phùng phật sát Phật, phùng ma sát ma”, gặp Phật giết Phật gặp ma giết ma. Phải tự tin Tánh giác chính mình, sống với tánh giác tu ngay tánh giác. Phật dạy “ẩm thủy lảnh noản tự tri” uống nước lạnh nóng tự biết. Tu là trở lại bổn lai diện mục chính mình, thấy lại tâm Phật chính mình, tin tâm mình có sẳn Phật ( giác ) vì Phật tức tâm. Phước báu lớn nhất của con người là thấy được tự tánh gọi là tri kiến Phật. Thường sống với cái thấy, nghe, biết của chính mình, không thấy, nghe, biết vào pháp thế gian là thường giác ( thường sống với tánh Phật ), lìa tất cả tướng mới là chơn thật tướng. Không sống với các tướng bên ngoài vì có tướng là khách trần khách đến rồi sẽ đi. Thường sống với tánh giác là chủ chơn ông ( ông chủ tâm ), không phan duyên theo pháp tạm bợ thế gian, người này không thể biết cho người khác được. Phật dạy rằng “Các ông hãy tự đi bằng đôi bàn chân của mình, ta chỉ cho các ông tự trở về với bổn Tánh chính mình, tự làm chủ lấy bản tâm cho trong sạch, bằng tự giác”. Pháp có khả năng vô lượng, pháp có thể làm cho con người khổ vui hay hạnh phúc hoặc chán bỏ dù pháp đến chỉ trong nhất thời. Khi cảm thọ như ý thì hạnh phúc vô cùng. Nếu cảm thọ bất như ý thì chán ghét, chối bỏ vì khổ đau. Tất cả khổ vui chỉ là pháp, phải sáng suốt nhận định để không lầm pháp. Cần ráng giữ gìn tâm ý thanh tịnh. Lúc đối diện với pháp sử dụng bằng trí tuệ hiểu biết, khi thấy, nghe, biết phải chánh kiến nhận định rõ ràng bằng chơn lý, biết rõ pháp đang đến có chơn thật hay huyễn ảo mà tự quyết định, nếu mê lầm sẽ gặt lấy khổ đau. Chỉ một niệm mê sinh khởi sẽ lầm lạc đến vô lượng kiếp. Tu là thường cảnh giác thấy, nghe, biết mà ứng xử khi đối với các pháp. Nếu sáng suốt biết ngũ uẩn giai không là biết ngả, biết pháp chỉ là huyễn tạm không còn chấp thật, biết rõ pháp là đã có chìa khóa trong tay đưa hành giả vào kho tàng pháp bảo.

Các Bồ Tát đều thành tựu pháp làm chủ pháp gọi là Đại trí. Đại là rộng lớn không cùng tận, không chỗ đến. Trí sáng tột cùng không giới hạn gọi là đại trí ( siêu nhật quang Như lai ), trí giác sáng hơn mặt trời và mặt trăng. Trong kinh Phật muốn nói ngài Duy Ma Cật là Phật ( giác ) trí tuệ tột cùng. Sự vấn đáp của ngài Duy Ma Cật chính là lời vấn đáp của Đức Phật cùng với thập đệ tử v.v…. Tướng là người cư sĩ nhưng tánh là quả diệu giác của chính Đức Như Lai, kim khẩu Phật đang giáo hóa chúng sanh. “Bổn hạnh” là nói đến đạo đức bổn hạnh, đức hạnh của hàng Bồ tát, hàng Thanh văn, Duyên giác chỉ dùng trí, bậc Bồ Tát dùng trí và đầy đủ đức hạnh. Bổn là gốc, hạnh là đức hạnh. Nếu chỉ có tài trí mà không có đức hạnh không phải là Bồ tát vì còn thiếu bổn hạnh. Bậc đầy đủ trí đức và bổn hạnh mới cứu độ được chúng sanh. Chúng sanh thường thiếu hai mặt là trí và đức nên thường sống trong phiền não, đau khổ trầm trọng. Thinh văn, Duyên giác có trí mà thiếu đức. Bồ Tát đầy đủ trí đức mới có khả năng độ khắp chúng sanh nên Bồ Tát phải vào Nhất sanh bổ xứ, thường giáo hóa chúng sanh đầy đủ công đức mới viên thành Phật đạo. Nên trong tâm mọi người cũng có đức độ sáng suốt, thường cứu chúng sinh tại tâm khi các niệm mê muội còn khổ đau sinh khởi, tất cả niệm từ sáng suốt đến mê muội đều ở tại đất tâm, ngay tạng tánh mỗi người. Kinh dạy niệm sáng suốt trí huệ có tên là Bồ Tát Địa Tạng tại tâm. Con người cần phải phát nguyện rằng “Địa ngục tại tâm ta chưa trống không thệ không thành chánh giác”. Nếu tâm địa ta vẫn còn một niệm si mê nghĩa là tại tâm còn niệm vào cõi đau khổ gọi là cõi địa ngục. Là còn một chúng sinh đau khổ ( một niệm khởi là một chúng sinh ) thì tự ta phải là Bồ Tát Địa Tạng tự giáo hóa cho chúng sinh lầm mê tại tâm ( tại địa ngục ) được trống không nên các niệm trong đều giác ngộ, giải thoát khỏi thế gian, được chuyển đổi cho đạo tâm con người được chơn chánh, không còn vào một tư tưởng bất an, xây dựng lại đạo đức con người cho tốt đẹp. Hàng Thanh văn, Duyên giác chỉ tự tu cho mình vì rất sợ tâm ô nhiễm, điên đảo, ham muốn của chúng sinh, chỉ tu cho riêng mình an ổn, không chịu cực nhọc như Bồ Tát, luôn luôn có tấm lòng phục vụ chúng sinh mỗi thời, mỗi lúc, mỗi nơi “phục vụ chúng sinh tức cúng dường chư phật”. Cúng dường chư Phật là lập công đức bằng trí. Chư Bồ Tát là các tâm niệm sáng suốt thường nuôi dưỡng, dỗ dành chúng sinh mê vọng. Biết cách nuôi dưỡng, dỗ dành, giáo hóa chúng sinh là pháp ( phương pháp ). Hành động từ bi trí tuệ sanh ra pháp lành xuất phát từ đức hạnh cao thượng sẽ sanh ra chư phật ( vô số niệm giác tại tâm ). Đức hạnh Bồ tát càng lớn thì trí huệ Phật càng mênh mông trùm khắp pháp giới, càng tạo thêm hạnh phúc cho chúng sinh, đó là tự đem hạnh phúc cho tâm ta. Chính nơi lòng ta có hạnh phúc là gốc mới đem hạnh phúc đến cho chúng sinh được “Oai thần chư Phật gầy dựng được” năng lực khắc phục được tà ma, yêu tinh hữu hình là tướng. Có tướng tà ma, yêu tinh là phương tiện chỉ đến tâm dục vọng, tà vọng tại các niệm của chúng sinh. Lý tánh vọng niệm là các nghiệp cám dỗ của thế gian. Các Ngài tinh tấn chịu đựng vượt qua, không mê nhiễm, đức độ cao thượng uy dũng an định đối trước gió bát phong, núi báo trí tuệ chẳng lung lay. Oai thần Bồ Tát đồng như chư phật, Bồ Tát là chư Phật tương lai. “Mà chư Phật đã gầy dựng được”, chư Phật đã thường gầy dựng cho các Bồ tát Trí đức và Oai thần. Oai thần là hạnh đức sáng suốt ( đức trọng quỷ thần kinh ), “chư phật nương vào đó mà hộ vệ thành trì đạo pháp”. Bảo vệ là không phải người giữ chùa hay giữ đạo tràng mà Phật nhắc mỗi người con Phật có sứ mạng tác Như lai sứ hành như lai sư. Phải là bậc đại trí thường sống với bổn hạnh, oai thần, đức độ mới giữ gìn bảo vệ được chơn lý là đạo tràng. Bảo vệ bằng đạo hạnh gương mẩu sáng suốt sống với đời phạm hạnh. Pháp cao thượng vô nhiễm, khép mình trong giới luật, tâm không còn ham muốn, không còn tìm kiếm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, bên ngoài chặt đứt lòng tham, xa lìa dục vọng “thành trì” là tâm kiên định ngăn chặn, che chắn mọi đam mê cám dỗ trần tục, bảo vệ pháp bảo, người đầy đủ đạo hạnh. Ngồi nơi nào, ở nơi nào thì thành trì giới luật rất kiên cố ở đó kinh pháp Hoa dạy rằng “khi chư Bồ Tát ở đâu thì chư thiên ở các cỏi trời đều bảo vệ, khi phật thuyết đại thừa thì hoa mạn-đà-la, mạn thù sa đổ xuống tán thán cúng dường đó là bổn hạnh, đại trí, oai thần. Những bậc giác ngộ sống đời phạm hạnh, thiểu dục tri túc sáng suốt trí tuệ là chư Bồ tát bảo vệ thành trì đạo pháp nên có các Thiền sư, chư Tổ ẩn mình nơi non núi tu hành cứu độ chúng sinh. Người bảo vệ thành trì đạo pháp, giữ vững lòng thanh tịnh, tâm không cấu nhiễm “các ngài thọ lãnh giữ gìn chánh pháp”. Nói đến chư Bồ tát là Phật dạy đến Bổn hạnh, đức độ oai đức người giữ gìn Đạo tràng. Ta cũng không có ý chê bỏ pháp Thanh văn, các Ngài cũng độ chúng sinh bằng nghi lễ qua hình thức cho người sơ cơ, biết hướng tâm nhưng không độ họ thành Phật ( học làm Phật được ) vì mới chứng quả La hán, còn thiếu Bổn hạnh. Các Ngài thọ lãnh giữ gìn chánh pháp bằng đức hạnh chơn chánh gương mẫu cho mọi người học theo đức tánh Từ, Bi , Hỷ, Xả, xem chúng sinh như các Ngài hết lòng thương yêu giáo hóa, giữ gìn chánh pháp. Các Bồ tát là vô ngã, vô pháp. Từ thọ lãnh vì giáo hóa mà bảo vệ xiển dương, không gì là ta, không hoàn cảnh nào của ta. Chúng sinh thì chấp chặt vào pháp tôi đẹp, tôi sang, tôi hạnh phúc, tôi buồn, tôi đau khổ, tôi giỏi, tôi là ngã. Hoàn cảnh là pháp nên ngã và pháp là vật trói mãi con người trong sanh tử. Bởi các pháp sanh diệt vô thường còn ngã chỉ là tứ đại mang sắc thân do ngũ uẩn hợp thành, khi đủ duyên có thể thuyết pháp hùng hồn như sư tử hống. Hùng hồn không phải là la hét lớn tiếng mà là âm diệu phát xuất ra từ trí tuệ của sự tỉnh giác, vững chắc chánh chơn như thật, oai thần đức hạnh trí tuệ cao tuyệt không dời đổi, cảm hóa được tà niệm, vọng tâm, các ác nghiệp, tất cả đều cuối đầu khuất phục, không còn sinh khởi. Những niệm si dại không còn cơ hội tái sinh, ẩn mình thinh lặng vì khiếp sợ. Chánh pháp ra đời phá tà tâm gọi là sư tử hống. Khi có tiếng gầm của sư tử các loài nhỏ nhoi đều khiếp sợ, pháp Phật đến đâu tà ma ngoại đạo đều trốn tránh “danh tiếng các Ngài khắp mười phương”. Hương là mùi thơm, Giới hương, Định hương, Giải thoát giải thoát tri kiến hương, là hương thơm trí huệ, giác ngộ bay khắp thập pháp giới, tam thiên đại thiên thế giới. Hương thơm này có thể bay ngược gió nên khi nghe đến bậc giác ngộ trí tuệ mọi người đều kính phục “chẳng đợi người ta thỉnh cầu giúp đỡ mà các Ngài tự an ủi chúng nhơn”. Chúng sanh khổ con nguyền tự độ, ví tham lam sân hận ngập trời. Bồ tát thấy chúng sanh khổ vì mê lầm tự giúp đỡ không đợi thỉnh nhờ. Tấm lòng quảng đại từ bi vốn sẵn sàng từ lòng Bồ tát không ngại khó. Trước khổ nạn chúng sanh các ngài coi sự khổ như chính mình, đó cũng chính là tâm niệm của Phật. Quả diệu giác ở tại tâm, Ngài diệu dụng đem ra mà thuyết giáo chỉ dạy cho ta. Ba đời chư Phật : Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai đều y như vậy, sẵn lòng an ủi chúng nhơn khi họ bị đọa đày không nơi nương dựa. Bồ tát là chỗ quy ngưỡng của mọi người. Người tu phải thị hiện đức Bồ tát, thị hiện bằng tâm niệm làm lợi ích chúng sanh, bằng hạnh đức hành đạo Bồ tát mà đền ơn chư Phật đó là bậc đại hiếu. Hiếu với đại chúng, khắp hết thảy chúng sinh vì tất cả chúng sinh nhiều đời đã từng là cha mẹ, thân bằng quyến thuộc của ta từ nhiều đời kiếp từng quanh lộn luân hồi, đó mới thật là báo hiếu trọng ân, đền ơn phụ mẫu. Trọng ân không phải Phật chỉ dạy hiếu với cha mẹ chỉ một đời hiện tại này thôi mà là đại hiếu, hiếu với tất cả chúng sinh mới là đền ơn chư Phật, phải đền ơn chúng sinh mới là hàng Bồ Tá. Kinh dạy :

Một thuở nọ thế Tôn an trụ

Xá Vệ thành kỳ thụ viên trung

Chư tăng câu hội rất đông

Tính ra đến số hai muôn tám ngàn

Lại cũng có các hàng Bồ tát

Hội tại đây đủ mặt thường thường

Bấy giờ Phật lại lên đường

Cùng hàng đại chúng nam phương tiến hành

Đáo bán lộ đành rành mắt thấy

Núi xương khô bỏ đấy lâu đời

Thế Tôn bèn vội đến nơi

Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng

Đức A-nan tủi lòng ái ngại

Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương?

Vội vàng xin Phật dạy tường

Thầy là từ Phụ ba phương bốn loài

Ai ai cũng kính thầy dường ấy

Cớ so thầy lại lạy xương khô?

Phật rằng trong các môn đồ

Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công

Bởi chưa biết đục trong chưa rõ

Nên vì ngươi ta tỏ đuôi đầu

Đống xương dồn dập bấy lâu

Cho nên trong đó biết bao cốt hài

Chắc cũng có ông bà cha mẹ

Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sinh

Luân hồi sinh tử, tử sinh

Lục thân đời trước thi hài còn đây

Ta lễ bái kính người tiền bối

Và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa

Đống xương hỗn tạp chẳng vừa

Không phân trai gái bỏ bừa khó coi . . .

Bồ tát Mục Kiền Liên, Ngài xưa cũng đền phụ mẫu cúng dường 100 pháp là thức ăn 100 món, ngũ quả vị là trái cây 5 màu, là quả Thanh văn, Duyên giác, La hán, Bồ Tát, Phật. Bồ Tát phải đem năm thành quả sáng suốt thanh tịnh chứng ngộ tại tâm mà soi sáng dẫn dắt chúng sinh trở về tánh giác để đền ơn đáp nghĩa cho đại chúng đầy đủ hạnh đức mới là đại hiếu, sẵn lòng vì đại chúng, Bồ Tát là bậc giác ngộ độ chúng sinh. Vậy Bồ Tát Mục Liên là mắt hoa sen trong sạch, mắt trí tuệ thấy được tất cả pháp, dùng pháp là có tâm thiện hạnh từ đạo đức trí giác con người, sống với pháp thân được tích lũy bằng pháp bảo là tạng thân Bồ Tát. Phục vụ khắp chúng sinh nói về tánh là những ác niệm tích chứa tại tâm thường sanh diệt vì tự tánh thường sanh muôn pháp. Nếu pháp thường sanh mà được các niệm sáng suốt là các Bồ Tát nuôi dưỡng giáo hóa bằng từ bi trí tuệ, đạo đức thì tất cả các niệm si mê sẽ trở nên sáng suốt. Buông bỏ mê lầm các chúng sanh u mê đã chết không sanh lại các niệm si mê gọi là vãng sanh Tịnh độ. Tâm đã an lạc thanh tịnh, cõi tâm lúc đó là cực lạc. Cùng cực an lạc là cõi Phật vì tất cả niệm đều giác ( thành Phật ). Tịnh độ có sẵn tại tâm, Niết bàn do tâm tạo, Địa ngục do tâm sanh, đó là bậc đại hiếu đã cúng dường các niệm mê muội chuyển thành các chư Phật khắp 10 phương. Nên câu chuỵên bà Thanh Đề khi được Bồ Tát Mục Liên giảng giải 100 pháp làm món ăn tinh thần bà đã no đủ giáo pháp, biết rành chơn lý tâm hoàn toàn xả bỏ tham sân si, các niệm đó là nghiệp của thói quen đã chết (vãng sanh), không luân hồi sanh diệt nơi tâm bà nữa, tất cả đều quá vãng, cùng lúc đó cũng vô số niệm tức là vô số chúng sanh hiện ở tâm bà bừng tỉnh ngộ, tâm không còn là địa ngục vì đã thông suốt năm quả vị là ngủ quả của đại hiếu Bồ Tát Mục Kiền Liên cúng dường cho bà nghe, bà đã sống lại với niệm giác (niệm Phật), không còn niệm vào các niệm sai quấy là tà vọng, sân hận, phiền não, kiêu căng, độc ác, ích kỷ, hẹp hòi ... tất cả đều chuyển hóa thanh tịnh đồng sanh lên cõi trời vì tâm không còn đau khổ. Bồ Tát đối với chúng sinh là ân trọng, sau khi nghe Phật dạy các Ngài than rằng :

Bọn ta quả thật tội nhơn

Xưa nay chẳng rõ không hơn người mù

Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc

Ruột gan dường như nát như tan

Tội tình khó nổi than van

Làm sao trả dặng muôn ngàn ân sâu.

Bồ tát tâm nguyện chơn chánh là tự giác, giác tha độ khắp chúng sinh thì giác hạnh đạo đức Bồ tát mới viên mãn. Cho nên người tu giới Bồ tát đạo rất quan trọng và cần thực hành mới đúng con đường tiến về Phật quả. Muốn hành đạo Bồ tát phải trở lại tự tánh Di Đà duy tâm Tịnh độ.

“Tiếp nối mà làm hưng thịnh Tam bảo”. Nếu Tam bảo tại tâm không được các vị Tổ, Thiền sư ra đời thì không ai gìn giữ bảo vệ, đã mất từ lâu. Xuất thế gian Tam bảo là đức hạnh cao thượng của bậc xa lìa cấu nhiễm. Hạnh giác ngộ đạo đức trí tuệ sự thanh trong là Phật bảo.

Pháp bảo : là phương pháp xây dựng nên thành quả tu hành, công đức đưa ta và mọi người trở về tánh giác ( Phật ) là pháp bảo.

Tăng Bảo : là các chư Tổ, Thiền sư giữ lòng thanh tịnh, trí tuệ siêu phàm cứu độ chúng sinh, ba ngôi Tam bảo xuất thế.

Các vị xuất gia giữ gìn chùa chiền, hành nghi thức, nghi lễ trang trọng là trách nhiệm gìn giữ Thường trụ thế gian Tam Bảo, cũng nương pháp để dẫn dắt chúng sinh. Nhưng còn pháp thực hành ở nhân gian chưa dẫn chúng sinh vào hạnh Bồ tát trí tuệ nên không giác ngộ trở về tự tánh tri kiến Phật, chưa ra khỏi niệm thế gian, chưa biết pháp để tự giác giải thoát được.

Tam Bảo xuất thế được gìn giữ nhờ các vị Bồ tát tiếp nối với nhau làm hưng thạnh Tam bảo. Nếu ta chấp thật vào tướng Niết bàn còn nuôi dưỡng tư tưởng tu sẽ đắc quả vào Niết bàn, Cực lạc để được ở an ổn. Hưởng thụ là niệm vào sự riêng tư, như vậy sẽ không còn ai gìn giữ, xiển dương giáo pháp, hộ trì Xuất thế Tam Bảo.

Thế nên các Bồ tát thường lẫn lộn vào trong chúng sinh để giữ gìn Tam bảo. Hàng Bồ tát không luận xuất gia hay tại gia , ai cũng có khả năng hộ trì Tam bảo, tự phát nguyện không vì điều kiện hay quyền lợi danh vị.

Cư sĩ là danh từ chỉ đến người tu Phật sống theo chơn lý, cư trú tạm ở thế gian mà cư trần bất nhiễm, vô ngã, vô pháp vì biết ngã chỉ là ngũ uẩn, do duyên hợp lại mà thành ( ngũ uẩn giai không ), không là ai cả. Ngũ uẩn là chung của thế gian, nếu không có thân là không có pháp, pháp cũng không của riêng ai, pháp vốn trùng trùng duyên khởi cũng là của thế gian.

Địa ngục do tâm sanh, Niết bàn do tâm tạo. Nếu cứ mãi tạo Niết bàn bằng tư tưởng là sự tưởng tượng không thật, thì niết bàn bằng ảo tưởng sẽ sụp đổ vì còn chấp trước “các Ngài khiến cho Tam bảo lưu truyền chẳng dứt”. Bổn hạnh chư Bồ tát đều giống Bổn hạnh Bồ tát Địa Tạng, nguyện độ hết chúng sanh mê muội cho địa ngục tại tâm là các niệm si mê tại tâm trống không, tâm không còn niệm vào đau khổ nữa thì bổn nguyện Bồ tát mới viên thành. Các Bồ tát tiếp nối lưu truyền Tam bảo chẳng dứt, lúc nào chư Phật cũng hiện hữu. Bồ tát hiện hữu cùng khắp chúng sinh, không hề mất, không sanh diệt, Bổn hạnh là đức độ vô tướng, thể hiện qua hành động đạo đức, trong sạch việc làm nào cũng vì mọi người, không mong cầu chỉ vì bổn nguyện độ sanh.

Tự tánh vốn thường hằng không sanh diệt, chỉ vì niệm khởi nên có pháp sanh diệt nên gọi các niệm sanh diệt đó là chúng sanh. Vô số niệm gọi là chúng, thường sanh khởi gọi là chúng sanh. Bản thể chơn tâm thị hiện sự sáng suốt gọi là Bồ Tát, gồm ba thân: pháp thân, báo thân, ứng hóa thân hay còn gọi là hiện thân. Pháp thân sẵn có, chỉ vì lẫn lộn vào niệm tham, sân si, ham muốn, đòi hỏi .. nên gọi là tục thân. Pháp thân lúc nào cũng thường trụ, chỉ vì mê nhiễm niệm vào cuộc đời mà quên bỏ pháp thân. Pháp thân là nơi tích lũy công đức trong pháp giới sáng suốt chiếu soi, là chỗ trở về của chúng sinh khi đã hết vô minh phiền não.

Báo thân là sự quý báu cao thượng của công đức tu tập, luôn sống với chân lý. Phật dạy pháp thân là chơn như, tựa như ánh sáng của mặt trăng, thường chiếu soi nên thấy được chân lý. Ứng thân hay hiện thân ta vẫn thấy rõ ràng nhưng chỉ là bóng trăng in hình dưới nước, không có ánh sáng, mặt trăng là có thật, dù không nhìn vào trăng nhưng cũng thấy có ánh sáng chiếu soi. Mặt trăng dưới nước cũng giống như thật nhưng chỉ là ứng hóa mà có, chính pháp thân chơn như mới là chơn thật. Báo thân giống như pháp thân nhưng chỉ là kết quả của pháp thân, đều từ sự sáng suốt trí tuệ nên ba thân cũng chỉ là một. “Hàng phục được oán tặc tà ma” chúng sanh mê muội bị ngũ dục bên ngoài cám dỗ đó là ma vọng. Khi mê loạn ma là chúng sinh, cũng là Phật khi ma đã giác. Tà vọng bên ngoài là ngoại ma như: dục vọng, ái yêu, sắc đẹp gọi là ma nữ ; tiền tài, sắc đẹp, địa vị, danh lợi … là ngoại ma. Bồ Tát nhờ Bổn hạnh đại trí và oai thần nên đầy đủ đức độ hàng phục được ma oán.

Nếu bên trong cắt đứt được tham sân si, hờn buồn, thương ghét đó là Bồ tát vì đã hàng phục được nội ma. Bồ Tát lúc nào cũng sử dụng ánh sáng trí tuệ. Dù bụi trần là không thật nhưng cũng có khi mặt trời trí tuệ bị che khuất vì ngoại ma là thập kiết sử đưa ta vào Thập pháp giới “chế ngự được ngoại đạo”. Ngoại đạo là chạy theo pháp thế gian bằng những suy nghĩ bởi ý tưởng điên đảo, ham cầu,tự tìm phương pháp phải tu cách nào để được nhiều người theo gọi là ham chúng sinh, thành lập vật chất vì danh lợi cho to lớn để nuôi dưỡng tự ngã ; mong chờ sự lo lắng của người khác cho thân sung sướng là nuôi dưỡng các pháp thế gian vẫn là mê thế gian, còn tu theo ngoại đạo vì không giác nhớ đến các pháp thế gian đều như huyễn hóa, không thật “các Ngài đã trở nên thanh tịnh”. Vậy thanh tịnh là gì ?

Là trong sạch, tâm vô nhiễm, không vướng bận vào thế gian. Bồ Tát phải thường quán xét lại tâm có thanh tịnh trong sạch chưa ? Không nhiễm, không mê thế tục, tâm không trụ vào ba cõi, vào cõi dục giới là lòng còn ham muốn. Phải bỏ những gì có sắc đẹp, êm ả đó là sắc giới, vô sắc giới, là không còn sống với tư tưởng, tưởng tượng vào hình sắc. Thanh tịnh không phải là ngồi yên một chỗ, thân không đứng dậy, mà chính là tâm không lay động vì chỗ vui, thương ghét “lìa hẳn các phiền não, che phủ, quấn quýt”. Vì không sáng suốt luôn nghĩ nhớ bên vực cho ngã, ngã sở rất lớn như người thân của ta, con cái, vật chất , tiền bạc, nhà cửa của ta. . . những gì chung quanh liên hệ đều có ý là của ta, nếu mãi chấp ngã là còn phiền não.

Tất cả phải buông xả, sống bằng trí tuệ Bát nhã là vô sở đắc cố bồ đề tát đỏa ta bà ha. Trong cuộc sống ta không được gì, không gì là ta, của ta, thì tâm an lạc vô cùng, đó là phiền não tức Bồ đề, vô cùng giải thoát. Người tu buông xả pháp là điều quan trọng, nếu nghe trong tâm còn khổ, còn phiền não là biết ta đang chấp ngã, lập tức phải buông bỏ. Người sống với tâm phiền não giống như mặt trời bị mây che, u tối vô cùng, gọi là mây phiền não che phủ quấn quýt, mây thế gian ràng buộc người tu lúc nào cũng niệm nhớ ta là người xuất thế, tâm không bận rộn thế gian, Bồ Tát dẫn chúng sinh rất khó, nên trong kinh phật nói rằng “dẫn một con trâu qua lổ kim dể hơn dẫn người nhà giàu đi tu” vì của cải tài sản luôn quấn quýt trói buộc, vướng víu. “Lòng hằng trụ nơi giải thoát”, giải thoát là thân vẫn ở thế gian mà đối với các pháp trong cuộc đời tâm vẫn tịch lặng không đắm nhiễm, không chối bỏ thế gian hay sanh lòng chán ghét. Vẫn ở tại gia đình mà tâm đã giải thoát, nên ngài Duy Ma Cật thị hiện tướng cư sĩ tâm vô nhiễm, không vướng bận, mà ngài có khả năng dời cả núi báu Tu-di vào nhà, nghĩa là người tâm đã trong sạch vẫn ở tại gia đình mà lòng không bị trở ngại trói buộc vào các pháp. Tuy ở trong tài sản của cải mà tâm vô ngại, tự tại mà không ô nhiễm tùy pháp mà sử dụng. Người tu dù cho mọi người có tôn trọng, khinh ghét hay khen chê tâm vẫn tự tại không vui mừng hay đau khổ, phiền não. Ta tu mà còn chờ nghe được khen tặng là cầu danh, còn bị sắc tài danh lợi cám dỗ, phải ghi nhớ dũng mãnh để tinh tấn vượt qua, lúc đối diện với pháp liền nhớ lời phật dạy, trí nhớ như Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rất kiên cố dù một pháp nhỏ cũng không bỏ qua. Tâm Định là trạng thái yên ổn, định là tâm vô ngại giải thoát, ăn thế nào cũng được, ở đơn giản không đòi hỏi phương tiện, tiện nghi đầy đủ, bằng lòng mọi hoàn cảnh không khởi tâm niệm buồn, vui, thương ghét là định kiên cố “Tổng trì đà La Ni tài biện thuyết chẳng gián đoạn”. Tổng trì là giữ gìn tất cả pháp bảo, bất tư nghì. Sử dụng một pháp chơn chánh có khả năng làm chủ tất cả pháp, giữ gìn lời Phật dạy gọi là tổng trì. Biện thuyết chẳng gián đoạn vô ngại là trí tuệ viên mãn sáng suốt tự có sẵn pháp thiện lành không sai. Nói pháp chơn thật không pha trộn chướng ngại vào các pháp tướng thế gian gọi là biện thuyết chẳng gián đoạn. Tụng kinh, niệm Phật, niệm chú, ngồi thiền tự chọn một pháp thực tu chuyên trì gìn giữ chánh niệm, không còn vọng tưởng tà niệm. Không khởi niệm mong cầu, tâm hoàn toàn trong sạch, vắng lặng hết mọi tham muốn thường sống cùng tánh giác. Dùng một pháp tu bảo hộ, chuyên trì gìn giữ tâm không ô nhiễm là pháp tổng trì đà la ni. Một pháp trì thâm nhập sáng suốt tất cả pháp, giữ lại lời Phật dạy bảo trì tuyệt đối, không quên bỏ ghi nhớ vào tâm thực hành cho cuộc sống chẳng gián đoạn, giữ gìn tất cả tâm thiện lành của chư Phật và chư Bồ tát thường giáo hóa. Kinh A Di Đà Phật nói về thế giới Cực lạc là sự cùng cực an lạc, an vui tại tâm người. Phật nói lên những sự vui để nói những sự khổ thế gian, vì chúng sanh thường sống với các điều khổ nên khi nghe nói đến sự vui, an lạc cùng cực ai cũng muốn đi tìm. Nếu sử dụng bằng trí giác, biết buông bỏ các niệm khổ, tâm không còn vướng bận, Cực lạc tại tâm liền hiển lộ, lìa khổ sẽ có điều vui vì bỏ tâm phiền não tức có tâm Bồ đề. Đất tâm là Tịnh thổ, cõi tâm là Cực lạc, trách nhiệm của chư Bồ tát khi nghe khổ nơi đâu cũng đi tìm gọi là Quán âm tầm thinh cứu khổ nguyện. Quán âm là quán sát tự tại nơi tâm mà cứu độ các chúng sinh là các niệm si mê, tham sân si, phiền não, ngã mạn, tự cao, danh lợi, hận oán ... Ở tại tâm nếu nghe lời giáo hóa của các niệm sáng suốt tự tâm là Bồ tát tự chuyển hóa buông xả các niệm mê lầm thành niệm từ bi hỷ xả, đã bố thí hết các niệm u mê nhờ pháp Quán Tự Tại (tại tự tâm ta) nên tâm trống không (vô quái ngại) là pháp hành thâm Bát nhã, thấy không còn là ta, chỉ là ngũ uẩn (vô ngã) (chiếu kiến ngũ uẩn giai không) nên đã vượt qua mọi khổ ách. Ngài A-Nan nói, nếu ta không vào địa ngục vậy ai vào để cứu chúng sinh. Các ngài vui lòng vào địa ngục để gánh các sự khổ khó của chúng sinh. Ngài A-Nan là biện tài đa văn đệ nhất, trong tâm ta vẫn có các niệm sáng suốt trí tuệ, biết thương yêu giúp đỡ mọi người ( mọi người là vô số chúng sanh tại tâm ). Nên khi khởi lên các niệm u mê, tánh giác phải phát hiện giáo hóa các niệm u mê. Tánh giác vốn đầy đủ các biện tài đa văn là Bồ tát dạy dỗ chúng sinh tại tâm chuyển tất cả đều an lạc giác ngộ. Nên trong kinh Phật nói rằng “Bồ Tát nguyện độ tất cả chúng sinh, mà không thấy chúng sanh nào được độ” hay “chúng sanh vô biên thề nguyện độ, phiền não vô tận thề nguyện đoạn”. Bồ tát tại tâm phải thường Quán xét nghe bằng Âm thanh tiếng kêu cứu của các chúng sinh trong cõi địa ngục ( cõi tâm ) đang đau khổ vì tam độc tham sân si hoành hành. Độ cho tất cả chúng sinh là niệm mê lầm tại đất tâm (tâm địa) được siêu thăng vào cõi Tịnh độ (Tịnh thổ). Tất cả niệm mê đồng vãng sanh, đồng giải thoát. Trong kinh dạy, muốn cõi tâm là Cực lạc thì lòng không điên đảo chư duyên, cũng không trìu mến chuyện tình thế gian nên Bồ tát gánh hết các sự khổ khó, nguyện lấy cho mình nghiệp khó khăn. Người tu theo hạnh Bồ tát không than phiền, buồn khổ, không mong điều lợi nào cho mình cả. Với trí tuệ chiếu soi các Ngài biết tất cả, biết rất rõ các pháp thế gian không thật như huyễn, như hóa, không muốn được gì thế gian cả, lòng rất hoan hỷ gánh vác hết nghiệp tội khó khăn, nặng nề của chúng sanh gọi là pháp tổng trì đà la ni. Lòng không chướng ngại, thường hành thâm Bát nhã, biết tất cả pháp cũng như ngũ uẩn đều không “các ngài đầy đủ đức bố thí vô ngại”. Sự bố thí của Bồ tát không giống sự bố thí của chúng sanh. Thí của cải gọi là tài thí, có hành động thí mà vẫn không mong còn hy vọng đời sau sẽ hưởng phước, tâm thí đó còn đòi lại phước thế gian, chưa giải thoát, đức độ Bồ Tát coi tất cả hành động đều là pháp. Phật dạy trong tất cả pháp, pháp thí là quan trọng nhất. Bậc đã giác ngộ khi cầm tài vật để bố thí dù nhiều đến bao nhiêu cũng nhìn vật thí là pháp. Trí xuất thế sử dụng pháp nhãn, biết việc đang làm, vật đang thí là phương pháp để cứu độ chúng sinh, độ được cho chúng hữu tướng được đỡ khổ giây phút tạm thời, còn độ được chúng sanh trong tâm người là các tâm niệm bỏn xẻn, ích kỷ, hẹp hòi ... có cơ hội xả bỏ tâm niệm chấp vật chất tiền của là thật, nên bố thí bằng tấm lòng buông xả sẻ lợi ích cho người được thí và luôn cả người thí. Thí bằng niệm xả thì cả hai rất nhẹ nhàng, người nhận và người thí rất an ổn, không còn tâm coi nặng vật thí là to lớn hay ít nhiều. Hành động thí là phương pháp làm lợi ích và an ổn chúng sinh, nên không khởi niệm chấp thí là quan trọng, dù tiền tỉ hay một đồng để thí đều là pháp. Đã buông xả tâm niệm, phân biệt không nghĩ tưởng cho là lớn nhỏ, ích nhiều, quý hay tiện, tâm và niệm đều bình đẳng chơn như, đó là bố thí pháp bằng tâm vô ngại đại bi. Trì giới vô ngại là giữ Bồ tát giới hay Phật giới, luôn luôn ở trong sự giải thoát là giữ gìn Quốc độ an lành, Quốc độ đó tại cõi tâm, không đem một hành động buồn cho ai cả. Bồ tát không trụ vào nhà cửa, ruộng đất, vợ chồng, anh em, con cái, địa vị, danh lợi đều vô ngại. Biết người, biết ta, vật, cỏ cây, sông núi ... tất cả đều là pháp nên tâm rảnh rang sống đời giải thoát. Có 2 loại chúng sinh :

Vô tình chúng sinh là bụi, đất đá, cây, sông, nước v.v...

Hữu tình chúng sinh là loài người, loài vật. Vô tình chúng sinh vẫn làm lợi ích cho tất cả vì các pháp thành tựu có tướng trạng đều do nhân duyên hòa hợp hay tan ra. Bụi đất đá, cỏ cây cũng là Bồ tát vô tình. Đất giúp con người có nơi sinh, sống trồng tỉa đời sống an ổn là nhờ đất. Cây cối cũng là phương tiện xây dựng nhà cửa, bắc cầu. Sông nước cũng là Bồ tát, tạo cho đời sống tươi mát, ích lợi cho muôn loài, của các sinh hoạt cần thiết hoàn toàn phục vụ cho con người, vạn vật mà không cần gì riêng tư cả đó là Bồ tát vô tình. Từng cọng rau, cây cỏ cũng bảo vệ đời sống cho người, cho vật. Rau là thực phẩm cần thiết nuôi mạng sống người và vật, nên dù ăn cọng rau ta phải biết ơn. Cỏ có nhiều vị thuốc giúp con người phục hồi sức khỏe sau những cơn bệnh hoạn. Tất cả mọi chúng sinh hữu tình hay vô tình đều là pháp, thường sanh diệt biến đổi, khi làm thọ nhận điều gì nên nhớ tất cả là ơn trọng. Đến bóng cây che mưa nắng, bóng cây cũng là Bồ tát vô tình. Nhà ta đang ở cũng là Bồ tát vô tình đã làm lợi ích cho ta. Người sống bằng pháp nhãn đến đâu chỉ xây dựng, sửa chữa không có quyền hủy hoại. Đất cũng như mẹ nâng đỡ ta mọi lúc mọi nơi. Đất là từ mẫu, là nơi nương tựa của muôn loài mà không cần điều ân nghĩa. Người học Phật phải nhớ tứ trọng ân vì biết đâu đâu cũng là Bồ tát di bạn lữ, chung quanh đều là ơn trọng, tu làm sao có bạn không thù kinh Chơn lý Tổ Minh Đăng Quang dạy :




Đất đá cỏ cây cũng đồng thảy

Thảy đều đắc quả thành công.

Đức hạnh Bồ tát thậm thâm vi diệu, tất cả hạnh đức đều ở tại tâm nên Tổ dạy “trong tâm có tất cả”. Đức độ Bồ Tát càng to lớn thì trí huệ càng rộng khắp bao la không ngằn mé, không còn nói đến nhẫn nhục. Tâm các ngài đều như, vì những hoàn cảnh thế gian dù buồn khổ thế nào, cũng đều là thầy, là bạn, đã vô sanh. Nhẫn là đại Bồ tát, có pháp Lục độ là dạy Bồ tát sơ phát tâm mới bước vào hành đạo nên kinh dạy nhẫn nhục mà không nhẫn nhục mới thật là nhẫn nhục Ba La Mật. Tinh tấn là sức vượt qua mọi khó khăn, còn giúp chúng sanh vượt qua mọi hiểm nạn. Người tu phải tự xây dựng Bồ tát. Tâm là nhân mới thành tựu Bồ tát quả. Mọi chúng sinh đều có tánh Phật, nhưng nếu không hành Bồ tát đạo thì không thành Phật được. Bồ Tát vốn có sẵn tại tâm, đất tâm có sẵn, phải trồng cây báu là cây Bồ tát thì có quả y như vậy. Nếu không gieo vào đất tâm giống Bồ tát, giống Phật thì không có Phật quả. Kinh Vô Lượng dạy, ở cõi Cực lạc có sẵn Tịnh thổ mà muốn có Cực lạc phải xây dựng Cực lạc mới có đền đài nguy nga, tráng lệ, thất bảo.

1. Tín : là đức tin, chánh tín.

2. Giới : là giới hạnh trong sạch.

3. Tàm : lòng biết hổ thẹn.

4. Quý : biết lòng ô nhiễm.

5. Đa văn, biết nhiều hiểu rộng.

6. Trí huệ, sáng suốt thanh tịnh.

7. Xả ly là xả bỏ, rời khỏi các thói quen, trìu mến, ưa thích Thất Bảo còn gọi là Thất Thánh Trí, đó là tài sản, là chất liệu xây dựng đền đài lầu các. Cực lạc tại tâm chỉ có bậc giác ngộ là tấm lòng đại Bồ tát mới có khả năng xây dựng Cực lạc tại tâm bằng trí huệ. Nếu đã có sẵn giống Bồ đề mà không gieo trồng, mãi ngồi mong cầu, van xin trong tưởng tượng không thể có cây Bồ đề đại thọ được hạt giống vẩn nằm im lìm dù có van lạy cầu xin cách nào cũng không như nguyện được “ Luôn luôn phải ở trong thiền định”. Thiền định là dùng trí huệ quán, thu nhiếp tất cả pháp thế gian mà tâm không dính mắc. Kinh dạy “Phật pháp bất ly thế gian giác”. Ta phải nhìn trực chỉ vào tâm, lấy sự hiểu biết các pháp thế gian làm trí tuệ gọi là thiền định. Thiền không phải là ngồi yên nhắm mắt, mà phải dùng trí tuệ đại bi thấy thế gian ngập tràn đau khổ, tâm niệm sáng suốt của Bồ tát biết phải làm gì ? Phải biết thông cảm sự khổ của chúng sinh mà tu nhiếp, đó là trở lại nguồn gốc… giống như Thái tử Sĩ Đạt Đa ngày xưa, lần đầu thấy sự khổ thế gian liền ngồi thiền định tại lễ Hạ điền. Ngài nhập vào sơ thiền lúc 7 tuổi, thấy hoàn cảnh khổ của chúng sinh. Con người dùng sức mạnh, ác trí mà hành hạ loài vật, chim, bắt trùng dế qua những luống cày, giành giựt cấu xé nhau để bảo vệ sự sống riêng mình, đó là những sự khổ của thế gian. Ngài sáng suốt trong các pháp khổ, nhập qua thiền định vì biết rõ duyên nghiệp chúng sinh, nhìn các sự khổ thấy rõ tam cõi như hỏa trạch. Thiền định là trí tuệ sáng suốt quán chiếu các pháp, biết được sự chơn giả huyễn hư. Thiền ngoại đạo là tu tìm điều sung sướng, thần thông biến hóa, không thông thấu các sự khổ. Khi thu nhiếp được các sự khổ của chúng sinh, Phật rõ nguyên nhân, nguồn gốc Ngài tìm phương pháp an ủi, chỉ dạy chúng sinh được an ổn đó là Ngài sử dụng trí tuệ, biết nguyên nhân nào đưa đến khổ, tìm cách thoát khổ, đó là trí tuệ dẫn dắt chúng sinh ra khỏi luân hồi sanh tử. Người tu theo chơn lý Phật phải biết đâu là luân hồi, sống cách nào để giải thoát là điều cần thiết rất lớn. Không có tâm bận rộn cầu xin vì đó chỉ là pháp thế gian không cầu xin sự bình an, giàu nghèo, hạnh phúc “và sức phương tiện”. Pháp là phương tiện nên người tu phải biết tất cả pháp, ta ở mãi trong vòng sanh tử luân hồi không ra được vì không có phương tiện, không biết pháp, thiếu pháp. Hành đạo Bồ tát phải đầy đủ phương tiện thông thuộc pháp, phải nỗ lực, cần cố gắng tu học nên các Bồ tát tu mãi không thối chuyển, gọi là Bồ tát bất thối. Tâm ta có đủ tất cả niệm sáng suốt gọi là tạng tánh. Phải thường niệm thỉnh mời Bồ tát bất thối là thường Tinh Tấn Bồ Tát tại tâm mà hành đạo. “Các ngài đạt tới mức vô sở đắc” nghĩa là tu mãi không được gì của thế gian. Tu theo chơn lý xuất thế là hành động buông xả tất cả pháp huyễn gọi là vô sở đắc. Chỉ sống an ổn bằng lòng chấp nhận mọi hoàn cảnh trong trí tuệ sáng suốt không giới hạn mà tâm vô sở đắc. Không sở chấp nhìn pháp thế gian như huyễn. Dù biết các pháp như huyễn cũng dùng pháp huyễn làm phương tiện độ chúng sinh. Bồ tát có hai phương tiện cần thực hành : thứ nhất là không rời xa lời Phật, thứ hai là không bỏ chúng sanh, chúng sanh ở đâu có Bồ tát ở đó. Sức chịu đựng của Bồ tát, kinh gọi là Long Tượng cao như rồng mạnh như voi. Thường gần gũi chúng sinh để biết tâm niệm chúng sinh sanh khởi mà tìm cách giáo hóa. Vì chúng sanh là phương tiện của Bồ tát nên có câu tận thủy tri ngư, tận lâm tri mộc. Nghĩa là xuống tận đáy nước mới thấy được các loài cá, có vào tận rừng sâu mới biết các loài cây. Bồ tát độ tất cả chúng sanh không chê bỏ hạng nào vì các Ngài không còn tâm phân biệt. Trong đời số lượng người tu thật nhiều, nhưng phần đông tâm không xây dựng được cõi Phật. Nghe đến Đức Phật ai ai cũng cung kính tôn thờ, đều muốn gần bên Phật, nhưng đường về phật Quốc rất gai chông hiểm nạn, Cổ đức dạy :

Đường về Tây phương rất khó

Nhiều yêu ma đón ngõ chặn đường

Muốn làm chúng nó chạy tuôn

Phải có lòng Bồ tát, phải có gan anh hùng.

Bồ tát không phải là một tướng trạng được con người điêu khắc qua cốt tượng, hình vẽ. Con người không thể tạo Bồ tát bằng tướng được mà Bồ Tát là đức hạnh, công đức, trí tuệ tuyệt vời, đức kham nhẩn chịu khó, có lòng từ thương yêu mọi chúng sinh, thương yêu muôn loài vì tất cả mà hy sinh, bằng nhiều đức độ, hành động cao thượng. Bồ tát không mong vào Niết bàn để nghĩ, hưởng thụ cho sung sướng, vì đức độ trùm khắp vô sở trụ, vô sở đắc, không có Niết bàn nào bằng tư tưởng để trụ cả. Việc làm của Bồ tát là mãi mãi giống như dòng nước tuôn luôn chảy, thấm ướt mát mẽ cho chúng sinh, không chỗ nào khô cằn, luôn lấy đức độ che trùm cho chúng sinh được an ổn mát mẽ. “Tự thấy mình không chứng đắc chi cả” nếu tu thấy được chứng đắc là bị tà vọng lừa đảo, pháp Bồ Tát là lòng từ trải rộng độ chúng sinh không gằn mé.

Dấu Đức Phật đã đi rõ lắm.

Chân chúng sanh càng bấm đi theo

Muốn tu đừng có sợ nghèo

Muốn làm con Phật chớ đeo lòng tà.

Người tu thiền thường bị lạc vì ham cảnh Thánh, Người, thấy Tiên Thánh, thấy hình ảnh Phật, liền chấp thật cho là đã chứng đắc. Thấy tất cả pháp, ta có quyền thấy nhưng phải sáng suốt nhận định biết đó là pháp không thật, vì biết rõ đó là tướng hình, chỉ có đức hạnh từ lòng từ bi trải rộng vì chúng sanh mà có hành động cứu khổ ban vui, “Chẳng khởi lòng nhẫn nhịn với mọi sự vật”. Các Bồ tát lòng trong sạch, không hề khởi niệm phiền hà, buồn bực, tranh luận, tranh dành với một ai cả, nên không còn nói đến sự nhẫn nhịn. Nếu người chửi mắng cho đó là thầy ta, nhắc nhở đó là bạn ta, lòng chẳng buồn phiền, than oán, họ đối xử sao cũng được.

Sao sao sao cũng là sao

Sao sao cũng được, thế nào cũng xong

Tâm không vạn sự đều không

Tâm chơn vạn pháp thảy đồng quy chơn

Học đòi theo bậc Thánh nhơn

Phải trừ tâm vọng mới hườn bổn nguyên.

Nếu ta còn giận, còn buồn, còn trách móc, hờn dỗi, bực bội đó là tâm vọng. Việc gì cũng không vướng mắc, Bồ tát không bao giờ than khổ, biết tùy thuận chúng sanh, chẳng thối lùi quyết lòng chuyển bánh xe pháp, nếu còn tâm hờn buồn thì bánh xe pháp sẽ thụt lùi. “Biết tùy thuận căn cơ của chúng sanh mà quay bánh xe pháp chẳng cho thối lui, có tài nương theo chí hướng của người nghe mà thuyết pháp, đưa họ lên đường tiến hóa về đạo đức”. Bồ tát giảng pháp phải thấy được trình độ của người nghe (tha tâm thông) mà thuyết giáo, không ỷ tài của mình mà nói, là tùy thuận chúng sinh. Nếu thuyết không đúng trình độ căn cơ người nghe lập tức phải chuyển bánh xe pháp, là đổi pháp khác cho khế hợp, tùy thuộc căn tánh Đại thừa hay Nhị thừa mà khuyên dạy, bước lên con đường tấn hóa đạo đức, trở lại chơn tánh thanh tịnh ban đầu là sống được với tánh đức Bồ tát, biết chia sẽ sự khổ khó với chúng sanh. Không nói là bà Bồ tát hay ông Bồ tát mà là đức Bồ tát vô tướng, cũng như đức Phật, không phải là ông Phật. Tu là trau tỉa đức hạnh, không phiền hà một ai mà chuyển tâm quây bánh xe pháp độ chúng sanh lên bờ an lạc giải thoát. “Các ngài hiểu rành tướng trạng của các pháp”, người đến với đạo Phật thường nghĩ Phật là tuyệt đối mà không thông hiểu về tướng trạng các pháp. Nếu không biết quy y pháp thì không bao giờ biết Phật vì bụi, đất, đá, cây cỏ, gió, vi trùng, loài vật, loài người v.v... đều là pháp. Trời cũng là pháp, tất cả sơn hà đại địa sum la vạn trạng vô lượng đều là vô lượng pháp. Pháp không chỉ riêng một vật nào mà là tất cả gọi là hà tằng pháp. Nếu không biết được những điều nầy thì không độ được chúng sinh, không thực hiện hạnh Bồ tát được. Có lần Phật bảo các Tỳ kheo “Ông hãy ra rừng tìm loại cây nào là thuốc đem về cho ta”, các vị Tỳ kheo khi về không bẻ lá nào cả và “Bạch Thế Tôn không có cây nào không là thuốc cả”. Phật dạy “Nếu cây nào cũng là thuốc thì tìm cây nào không phải là thuốc đem về cho ta ?”. Các Tỳ Kheo “Bạch thế Tôn không cây nào không là thuốc cả”. Nên với tuệ nhãn nhìn các pháp phải rõ ràng đúng lúc mà dùng pháp. Tất cả pháp đều ích lợi, nếu dùng không đúng sẽ là đọa. Đại Bồ tát dùng pháp Lục Độ Ba-la-mật mà dạy hàng tân Bồ tát mới phát tâm. Chúng sinh thì dạy ngũ giới, Thanh văn, Duyên giác không dạy pháp lục độ được. Tất cả tâm niệm cũng đều là pháp nhưng phải biết tùy thuận, tùy trình độ mà thuyết, tùy bệnh mà cho thuốc. Tất cả pháp đều là thuốc, mà cũng không phải thuốc, phải sáng suốt sử dụng cho đúng, nếu không dùng đúng pháp là hại chúng sinh. “Hiểu rõ căn tánh của chúng sinh”, tất cả chúng sinh Phật tánh đều giống nhau, nhưng căn tánh thì khác nhau, tâm ý thì khác nhau “các ngài che chở cho đại chúng được sự không sợ sệt chi cả”. Nếu ta tu mà còn sợ chúng sinh, sợ pháp chưa phải là Bồ tát. Sợ sệt là tâm niệm tại lòng ta, là vọng tưởng của tâm niệm giao động bất an. Bồ tát là lòng vô ngại tự tại đại bi không hành động làm tư lợi cho riêng mình nên không sợ mất mát. Khi đã hiểu biết giác ngộ tâm không còn sợ sệt, bất an. Độ chúng sinh là đi vào nhà lửa nhưng dù ở đâu, hoàn cảnh nào cũng đều là pháp. Còn tâm sợ sệt là chưa thực hành Bồ tát đạo. “Các ngài tu tâm mình bằng công đức trí tuệ”. Hàng Tiểu thừa thì còn tu tâm sửa tánh, còn gạn lọc quán sét từng tâm niệm. Chư Bồ tát thì sống bằng trí tuệ, đức hạnh, tự xem xét việc làm thuần thiện, thuần quen với đức sáng suốt, tự thấy hành động có phải là công đức hay không? Dùng trí đức mà độ chúng sinh, các ngài đã qua khỏi tham sân si, không còn phiền não ai cả, tâm hoàn toàn thanh tịnh thuần khiết nên không cần tu như hàng Thanh văn Tiểu thừa nữa mà chỉ tạo lập công đức bằng trí tuệ sáng suốt đưa tất cả chúng sinh vào thế giới an lành, yên vui, giải thoát. Đức Bồ tát tự khó với chính mình, không dễ duôi, dãi đãi, chịu cực chịu thua sụt đối với thế gian, đem thân mình, đem đức độ rộng khắp làm gương mẫu cho chúng sinh học hỏi. Bồ tát không chỉ nói bằng miệng ( khẩu giáo ), thân giáo bằng hành động, chịu khó, chịu cực, gian nan chấp nhận tất cả cho mọi người an lạc hạnh phúc.

Người tu học phải thấm nhuần chơn lý cũng là chơn như, chơn tánh ta không thay đổi giống như tánh nước dù ở trạng thái đông đặc thành đá, thành băng tuyết, lạnh nóng đang sôi mà thật tánh của nó là nước, không bao giờ mất tánh nước, đó là sự thật đúng lý tánh của nó vốn thật là nước, không thay đổi tánh. Sự tan rã của đất thành bụi gọi là vi trần, khi đủ duyên nhiều vi trần hợp lại thành đất, đá, núi đồi, dù cho có duyên hợp đóng thành khối, nhưng vốn của nó vẫn là đất, là bụi, dù nghiền nát lẫn vào nước “cặn” cũng là bụi. Bụi có bay lên hư không nó cũng là bụi đất, tánh của đất không hề thay đổi.

Tánh gió là không khí, hơi cũng không mất đời đời là như vậy, hư không vẫn là hư không. Tánh lửa mãi mãi không thay đổi, nên đất nước gió lửa và hư không tồn tại không thay đổi. Khi có trạng thái khác là do duyên tan hợp. Tự do ta nhận định mà đặt danh từ tên gọi. Thân tứ đại gọi là con người, tùy nơi nhân duyên mà có hợp có tan đó là chơn lý, là sự thật chắc chắn trong vũ tru. Phật nói với ngài A-Nan “các pháp là như vậy”. Bậc trí tuệ giác ngộ chơn lý nên cuộc sống rất an ổn, tự tại vì biết các pháp vô thường thay đổi tự nhiên, chúng sanh mê lầm cho là thật nên nói là “tu” để sửa chữa lại những ý tưởng sai lầm mê muội. Bậc giác đã thấm nhuần chơn lý không còn bận bịu việc tu sửa nên “tu vô tu mới thật là chơn tu” đó là hàng trí tuệ bậc nhất, sáng suốt chơn lý không bận rộn khi các pháp thay đổi, không khổ đau dành giựt hơn thua vì chơn lý là chánh mạng của bậc xuất trần, bình thản trước cái chết, đói đau, nghèo, bệnh tật ... Đó là những điều mà chúng sinh rất lo sợ, thường cầu khẩn, van xin cho pháp dừng lại khi duyên đến tốt đẹp đáp ứng cho tâm vọng thỏa mản vừa lòng, đó chỉ là loạn tâm vọng tưởng điên đảo. Danh từ Phật nói như vậy, muốn chỉ các duyên gió là như vậy, đất là như vậy, nước là như vậy, lửa là như vậy. Nếu không thông suốt nhân quả, mãi sống với tâm quấy ác thì chịu đón nhận theo nhân quả đúng như vậy. Khi sáng suốt biết sự thật của nhân duyên thì tâm sẽ an ổn không bực tức, buồn phiền, bất bình, bất mãn, đau khổ, oán than. Nắm giữ toan tính, lo âu, cuộc sống sáng suốt không vướng bận mà nhà Thiền gọi là thỏng tay vào chợ, dù ở giữa chợ đời đầy đủ vật chất mà vẫn thỏng tay, buông xuôi không nắm giữ bởi sự quyến rũ của vật chất, lòng không mê muội tham đắm. Tâm là tự do, tự tại, vào chợ nhưng không ham muốn dính mắc vào vật, đó là pháp nhãn thông suốt biết tất cả pháp là tạm bợ, như huyễn, tâm không ái nhiễm, trói buộc vào ưa thích. Thỏng tay là buông xuống, vào chợ mà không dính vào vật nào. Chợ là thế gian không cho vật nào là của “tôi” cả, không nắm lấy, nếu nắm pháp nào là vướng pháp nấy. Người sống tại thế gian mà thỏng tay gọi là cư trần bất nhiễm, là bậc Thánh nhơn, vô nhiễm ; là nhân trong sạch thanh tịnh, giống như lá sen dù đổ bao nhiêu nước lên lá sen cũng tuông xuống, không dính nước vào lá dù một giọt cũng không có. Tâm vô nhiễm đồng như chư Phật, đây là duyên của bậc hành Bồ tát đạo, tu Bồ tát pháp, giới Bồ tát đắc Bồ Tát quả, muốn tế độ chúng sinh phải trọn thành phật đạo. Ba đời chư Phật đều phải hành đạo Bồ tát, phải thị hiện đức Bồ tát mới đủ công hạnh độ được Trời , Người. Tiền thân Đức Phật cũng là Bồ tát Hộ Minh. Nếu chối bỏ đạo Bồ tát không thể có Phật quả được. Như ở thế gian trước khi thành Bác sĩ, người đó phải là học trò, là sinh viên thực tập, học hành mới thành Bác sĩ được ; phải có tâm Bồ đề, phát nguyện thành Phật để cứu độ chúng sinh, đó là các ngài sống bằng công đức từ bi trí tuệ. Khi chúng sinh khổ các Bồ tát tự thấy mình có trách nhiệm cứu khổ, ban vui. Bồ tát phải bảo vệ chơn lý, dẫn dắt chúng sanh bằng chơn lý là công đức. Thường rèn luyện trí tuệ, Bồ tát giống như vị Bác sĩ khi phát hiện có vi trùng bệnh lan tràn làm khổ chúng sinh phải vì trách nhiệm hết lòng nghiên cứu thuốc mới để trị cho bệnh nhân. Bồ tát thì trị bệnh tâm, tìm mọi phương pháp ứng hiện cứu chúng sinh thoát khổ. “Những tướng chánh quý và những tướng phụ tốt tô điểm thân thể, làm cho dung sắc hình tướng các ngài đẹp đẽ bậc nhất”. Bồ tát phải trang nghiêm từng tâm niệm bằng công đức trí tuệ, niệm nào cũng là pháp bảo quý báu, trong sạch, thanh tịnh, đẹp đẽ, chơn chánh. Thân khẩu ý đều tốt đẹp, giữ giới Bồ tát thì thân phải trang nghiêm, không múa hát lả lơi, miệng không đùa giởn, bỡn cợt, lời nói chắc thật, ý trong sạch, thường nhớ nghĩ đến tướng tốt của Bồ tát thị hiện. Như tướng Phật gương mẫu cho chúng sanh từ lời nói đến việc làm đều phát xuất từ trí tuệ sáng suốt, tự kiểm tra tại lòng còn sơ sót điều gì không ? Tự sửa chữa đến khi còn ít lỗi lầm không sơ sót được toàn vẹn, đó là đẹp đẽ bậc nhất. “Các ngài chê bỏ mọi trang sức thế gian như vàng, bạc, lụa là gấm vóc mà trang sức bằng giới đức trí tuệ, đồ trang sức của Bồ tát là từ, bi, hỷ, xả. Tứ nhiếp pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đó là bổn hạnh của đại Bồ tát, còn phải độ dẫn dắt cho Bồ Tát sơ phát tâm bằng đức và trí, khi đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, mặc, phải tự kiểm tra từng tâm niệm không để tâm bong long, phan duyên phóng túng “danh tiếng các ngài rất cao, xa vượt khỏi núi Tu Di”của giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát, giải thoát tri kiến hương. Nếu đầy đủ hương này dẫu ở ngược gió hương thơm vẫn bay xa, luôn luôn chánh niệm chơn chánh đức hạnh cao lớn như núi Tu Di là oai lực của người hạnh đạo Bồ Tát”. Đức tính các ngài ăn sâu vững chắc, dường như chất Kim Cang” đó là chơn chánh đại hùng, đại lực, đại từ bi, gan dạ, can đảm không sợ sệt, nhút nhát, mà mạnh mẽ đi vào thế gian. “Món quý là pháp của các Ngài soi sáng khắp nơi và tuôn xuống như chất Cam lồ”. Tất cả hành động phát xuất từ đạo đức được thể hiện đều là pháp. Pháp làm cho chúng sanh nghe và thấm sâu làm sáng tâm sanh trí tuệ, hiểu biết sáng suốt mở rộng trí tuệ mát mẻ, tâm hoan hỷ an lạc giống như Cam lồ ( Nam Mô Cam Lồ Vương Bồ Tát ) được uống nước mát làm tinh thần khỏe khoắn, quang minh đó là món quý của các Bồ Tát. “Tiếng nói các ngài vi diệu đệ nhất”, vi diệu không phải như thần thông tưởng tượng ham muốn của thế gian, mà sự thật chắc chắn chơn lý. Tiếng nói phát ra dẫn chúng sanh tỏ chơn lý chánh pháp, mở trí huệ gọi là vi diệu. Biết rõ tướng trạng của vũ trụ. Nếu mọi người đều sáng tỏ chơn lý thì vi diệu vô cùng nên nói Chơn không mà Diệu hữu. Chơn lý là điều khó biết mà Bồ tát dùng trí tuệ truyền lại cho mọi người được sáng tỏ. Chơn lý khó biết, khó nghĩ, khó bàn, khó nói mà Bồ tát nói được, nghĩ bàn được đó là vi diệu bậc nhất. Vì trí tuệ chư Bồ tát đồng với chư Phật nên nói nghe hiểu biết đều đồng đẳng, “Các ngài thấu nhập sâu xa tới chỗ phát khởi của nhân duyên.

Ta phải biết các pháp từ đâu đến ? Đều do duyên mà đến. Duyên lành thì pháp lành, duyên ác thì pháp ác, duyên giải thoát giác ngộ trí huệ thì sống với pháp thân là giác ngộ, trí huệ, giải thoát, chơn lý, Bồ Tát duyên là chơn lý pháp tự đến đó là định luật tự nhiên. “Chặt đứt các ý kiến tà vạy và ý kiến hai bên”, khi phát ra lời nói tự biết nói sai chơn lý lập tức phá bỏ ngay, không nuôi dưỡng tà ý là sử dụng Thiên nhĩ thông, nghe được tất cả pháp dù nhĩ căn có tiếp xúc âm thanh của người khác khoe khoang tài ba lổi lạc, nhưng với thiên nhĩ thông sử dụng bằng tuệ giác của tánh nghe chơn chánh, nhận ra được đó là chánh pháp hay tà pháp, không lầm lẫn, biết đó là ngoại đạo hay chánh đạo, không nghe theo. Đã đầy đủ khả năng quán xét ý kiến hai bên, không phân biệt phải quấy, tốt xấu, đúng sai vì nó là chơn lý chánh thực cũng như tự tánh hằng hữu là chơn lý, không đúng sai dù có luân hồi vô lượng kiếp, gặp phật hay đọa địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, hay gặp người thần thông quảng đại tự tánh cũng không hề thay đổi chơn lý là sự thật vô phân biệt. Nếu còn tâm phân biệt là hàng chúng sinh nhị thừa Thanh văn, Duyên giác không phải là Bồ tát. “Có và Không”, chơn lý thì chẳng có chẳng không, không hai bên. Chơn lý là như vậy, nếu nghiêng một bên là biên kiến lọt vào thập kiết sử ( thập ác ), “các ngài không thiên về bên nào”. Phật dạy rằng: “Các ông theo học đạo Ta đến khi xét thấy không còn nghiêng về bên nào mới là trung đạo”. Nếu còn tâm thích đạo này sẽ chán ghét đạo kia nên chỉ sống với chơn lý là sự thật (đạo vô đạo mới là phi thường đạo). Chẳng nói có và không, chẳng thiên vị bên nào cả, bên nào cũng là pháp, mà các pháp thế gian đều không thật, không bên nào đúng cả, chơn lý không hề mất, chấp vào có không chỉ do trình độ căn cơ, tu là tự cố gắng bỏ tham sân si tùy thuộc vào trình độ khả năng duyên nghiệp mà thực hành, không bắt buộc phải tu theo pháp Thanh văn, Duyên giác hay Bồ tát, tùy vào Quốc độ tại cõi tâm mà lập hạnh gọi là “tùy xứ kiết tường”. Ta không khởi ý phải tu như thế nầy, thế kia ; tu sao là đúng, là sai, bắt buộc theo ý mình. Không thể được vì căn tánh Thanh văn là như vậy, tất cả đều tùy thuộc nhân duyên. Không chê bỏ ai, Thanh văn thì đầy đủ nghi lễ, nghi thức sự tướng hẳn hòi, dạy chúng sanh tập sự tu hình tướng bên ngoài dần dần giác ngộ pháp dẫn vào lý tánh. Bồ tát không chấp vào nghi thức, lễ nghi bên ngoài sự tướng, nhưng các ngài vẫn phục tùng lễ nghi, không chê bỏ vì biết đó là sự tướng phương tiện dẫn dắt người sơ cơ. Hạnh Bồ tát ai dù có chửi mắng, nặng nhẹ vẫn giữ giới là nghi lễ tự tâm trang nghiêm không phạm. Năng lực đức trí Bồ tát rất thâm sâu huyền biến. “Các ngài không còn những thói quen xấu”, không còn khen chê toan tính lợi hại, phải quấy, cao thấp là tánh xấu, thế nào cũng dược cũng xong vì hiểu rành các pháp, tùy căn tánh chúng sanh mà sử dụng pháp nào Thanh văn, pháp nào là Bồ tát, pháp nào tùy chủng tánh mà dẫn độ. Các Bồ tát rất an ổn không ô nhiễm pháp nào, luôn có lòng phục vụ chúng sinh không mệt mỏi, là hạnh báo hiếu trọng ân, coi tất cả chúng sanh như cha mẹ mình, bao nhiêu hiểm nạn ma chướng mà chư Bồ tát phải vượt qua để tiến về Phật quả. “Các ngài diễn giảng pháp giáo hóa một cách hùng hồn, không sợ sệt dường như sư tử hống”, khi thuyết giảng pháp dù trước hoàn cảnh có sự tướng nào cũng không sợ sệt vì các pháp vốn bình đẳng chơn thật bất hư, không ngụy tạo, giả dối, không lớn nhỏ, chơn lý đều như nhau vô phân biệt, không giai cấp. Đức Phật thị hiện vì muốn phá bỏ giai cấp từ nô lệ đến vua chúa. Khắp chúng sanh có dòng nước mắt đều mặn, máu đỏ, đều bình đẳng. Sinh ra ai cũng là con người, chỉ tùy vào duyên nghiệp mà hiện tướng cao sang hay thấp hèn. Tự tâm đặt để chơn lý bình đẳng không phân biệt, chánh pháp không khiếp sợ địa vị, danh từ đặt để của thế gian tạm gọi mà sanh lòng thối chuyển, quyết bảo vệ hộ trì chơn lý giữ gìn mạng mạch Như Lai, không hề khuất phục bởi uy quyền thế lực nào. Nếu bảo vệ quyền lực sẽ làm tiêu mòn sụp đổ chơn lý nên các Bồ tát có trách nhiệm rất cao, đứng trước uy lực thế gian gọi là sư tử hống (vàng thật không sợ lửa). Sư tử đến đâu thì các loài, kể cả loài người đều khiếp sợ, “Tiếng giảng pháp của các Ngài vang dội như sấm dậy”. Sấm là lớn sét là ánh sáng tột cùng, tượng trưng tiếng giảng nói các Ngài sáng suốt, vang dội khắp 10 phương thế giới, phá tan các hầm hố vô minh của chúng sanh, đưa ánh sáng chơn lý chuyển hóa mê muội hết thảy chúng sanh đang đọa đày đau khổ trong biển nghiệp trầm luân, nơi nào có chánh pháp là nơi đó vang dội. Ngày xưa dù đức Phật hành đạo giữa rừng sâu vẫn có nhiều người tìm đến quy y thỉnh giáo. Kinh nói, khi Thế Tôn giảng pháp các Vua Trời, Dạ xoa, Quỷ Thần đều hộ trì, sau này đệ tử Phật thuyết giảng đến đâu đều có Hộ pháp Long thần hộ trì. Chánh pháp ở đâu chư Thiên Hộ pháp hổ trợ đến đó. Người phát tâm tu là tìm chánh pháp, nhưng khi gặp chánh pháp không biết đành dang dở đời tu. Có duyên xuất gia tu học mà không có phước tiếp nhận giáo pháp chơn chánh ( không thể đong lường, quá số đong lường, của báu là pháp, mà các Ngài thâu góp được nhiều như châu báu mà các vị đạo sư thu hoạch ở biển cả ). Đạo sư là người dẫn đường cho đời sống tinh thần. Tiếng thuyết pháp vang dội quá số đong lường, không thể nói hết cùng tột được, rất thâm sâu. Vị Đạo sư pháp báu rất nhiều, biển là nơi chứa của báu, vị Đạo sư là Bồ tát đã chứng ngộ lũy vô số công đức pháp bảo của Như Lai. Khi chúng sinh đau khổ các Ngài dùng pháp bảo nghĩa lý sâu xa mà chỉ dạy cứu khổ an vui. Pháp Phật không chỉ ăn ở hiền lành mà biển pháp là biển trí tuyệt vời vô lượng, phải hiểu nghĩa lí thâm mật huyền diệu sâu xa của các pháp.

Kinh dạy :

Vòi vọi không trên pháp thẩm sâu

Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu

Con nay nghe được chuyên trì niệm

Nguyện giải Như Lai nghĩa nhiệm mầu.

Ta không giải Như Lai bên ngoài, mà như Lai là bản giác chơn như, chơn tâm thanh tịnh hằng chiếu soi tại tâm của mỗi chúng sinh. Ta tu là tìm lại Bổn Lai diện mục. Bổn lai là căn bản, diện là mặt, mục là mắt. Tìm lại căn bổn mặt, mũi, mắt là Bổn tánh chơn như chính ta ( Như Lai ) mới là nguyện giải Như Lai chơn thật nghĩa. Ta không tu, không giải quyết cho Phật Thích Ca mà tu giải quyết chính ta có sáng suốt, giải thoát mọi kiến chấp thế gian, chính tâm ta thành Phật tự độ tịnh ngay nơi tâm tánh ta, giải thoát giác ngộ cho ta. Uy nghi oai dũng chiến thắng ma quân là các tà niệm, tà vọng tại tâm như ngày xưa đức Phật đánh thắng ma quân là những tà niệm dục vọng nơi tâm Ngài chiến thắng oai hùng dưới cội Bồ đề giữa rừng thanh vắng. Ngài tự phá bỏ mọi pháp cám dỗ của thế gian bằng trí tuệ chơn thật, chứng quả diệu giác Bồ đề tự tâm giác ngộ các pháp thành Phật. Pháp thế gian hằng hà sa số vô lượng vô biên không thể đo lường hết được. Nên Phật nói chính mắt Phật ( Phật nhãn ) cũng không đếm hết được, chỉ biết nó là vô lượng pháp như biển cả sông lớn vô cùng. “Các ngài biết rành chỗ đã qua và chỗ sẽ đến của chúng sinh, cùng hành động trong tâm trí họ”. Dù nhà khoa học, bác học nghiên cứu cũng không biết được chúng sanh từ đâu đến, chỉ có Phật biết rõ chúng sinh có mặt là do duyên nghiệp mà sinh.

Vậy nghiệp do đâu mà sinh ? Từ nơi ý mà sinh. Nguồn gốc của nghiệp từ ý nghĩ, nếu một pháp sinh thì vạn pháp đều sinh. Pháp này có pháp kia có, pháp này diệt pháp kia diệt tất cả điều như vậy. Nếu ý nghĩ ham mốn sanh khởi thì nghiệp từ duyên của ý nghĩ đó sanh khởi. Chứng quả vô sanh là ý dừng không sanh không khởi niệm là vô sanh pháp nhẫn. “Cùng mọi hành động trong tâm ý của họ”, Bồ tát phải thường thấy ý của mình mà thu nhiếp. Ý của Bồ tát phải hợp cùng ý Tổ, ý Phật mà Tổ và Phật đều không ý. Nếu cùng ở chung mà không ai sanh ý niệm nào, ý kiến riêng tư thì mọi chuyện đều thanh tịnh. Nếu phát sinh ý kiến thì ý niệm sanh khởi sẽ đảo lộn hoàn cảnh. Sở dĩ có nhiều sự buồn phiền là quá nhiều ý kiến, ý niệm. Mỗi người là một lò lửa, nhiều người là nhiều lò lửa hợp lại sẽ là hỏa diệm sơn. Lửa Sắc đang cháy, lửa Thọ, lửa Tưởng, lửa Hành, lửa Thức đang cháy đó là ngũ uẩn. Núi lửa tích chứa, mỗi người có năm lò lửa nhiều người hợp lại là núi hỏa diệm sơn bốc cháy. Nên kinh dạy, phải nhìn vào tâm thấy tam cõi như hỏa trạch gọi là tam thiên đại thiên thế giới.

Dương chi tịnh thủy

Biến thái Tam Thiên

Tánh không bát đức lợi nhơn thiên

Diệt tội tiêu khiên

Hỏa diệm hóa hồng liên.

Chơn lý là cam lồ tịnh thủy, rưới mát tam cõi trong tâm sẽ mát mẽ nhờ tám đức là con đường bát chánh đạo sáng suốt, diệt hết mọi oan khiên mê vọng, lầm lỗi, làm ích lợi cho Trời Người. Tâm nóng nảy, sân si là hỏa diệm sơn, khi sáng suốt buông xả các niệm sai lầm thì hỏa diệm sơn sẽ biến thành sen hồng ( phiền não tức Bồ đề ). Người tự giác vẫn ở trong tâm ý hòa hợp vì biết ngũ uẩn giai không nên chẳng sanh phiền não, loạn động. Vì Phật và Tổ thì không ý mà chúng sanh thì quá nhiều ý kiến nên không thể hiểu được ý các Ngài, không ý nào riêng của ai cả, “Các ngài gần tới mức huệ tự tại của Phật mà không ai sánh bằng”. Huệ tự tại là sự sáng suốt tại nơi ta, sống ở thế gian mà tâm không hề trở ngại bởi các pháp, tự đến tự đi, đều do duyên nên các Ngài không vướng bận gọi là huệ tự tại. Dù thấy cuộc đời đầy phiền não vô thường, sanh tử, trước các pháp tan hoại, chết chóc tan rã tâm Bồ tát vẫn tự tại vì các ngài vô ngã vô pháp “huệ ấy bao gồm những đức, mười trí lực lòng chẳng sợ”. Trí Phật chứng ngộ các pháp là huyễn tạm, tâm Bồ tát vững chắc không hề khiếp sợ với già chết, đói khổ, khen chê, đau bệnh, lòng thấy tự tại vì biết rõ nguyên nhân thành, trụ, hoại, không, sanh, lão, bệnh, tử của muôn vạn pháp, nên vững chắc như Kim Cang, bất hoại. Trước sự thạnh suy tâm không biến động, loạn cuồng đó là sức mạnh trí lực vô úy không sợ “mười tám món bất cộng, chẳng dung với hai thừa”, hoàn toàn không sơ hở một pháp nào, điều nào, dù thân ở thế gian mà trí tuệ không cộng sự vào việc đời, là những tâm nhỏ nhen, ích kỷ, ham muốn. Tất cả tâm niệm đều toàn vẹn không sơ suất là thập bát bất cộng. Nên Bồ tát cần tu tập không sơ hở “các Ngài đóng bít các cửa của những nẻo dữ địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh”. Các Bồ tát không bao giờ còn các cửa tham, sân, si, mạn nghi, ác, kiến, tà kiến, thân kiến, kiến thủ, giới cấm thủ là lò cửa thập kiết sử đã hoàn toàn đóng bít, đóng luôn cõi nhơn, giải thoát qua khỏi năm giới cấm, chỉ sống với chơn lý, không mang tư tưởng làm chư Thiên, cõi Trời, vì trong tâm có tất cả chúng sinh, ngạ quỷ, súc sinh, điạ ngục, Người, Trời, Thánh, Bồ tát, Phật đều còn trong Thập pháp giới. Có các cõi đều tự tâm tạo, từ ý niệm con người mà có. Tánh giác không trụ nơi nào cả, tất cả do tâm sanh mà có các cõi. Nếu còn trụ vào cõi nào là tâm đang vướng mắc vào cõi đó, vì còn niệm nhớ vào cõi đó nên chư Phật, chư Bồ tát chẳng trụ cõi nào mà dạo khắp 10 phương vì bản thể chơn như trùm khắp, thường giác. Khi dạo khắp 10 phương, ta không phải là Trời, Người, Thần, Thánh, Dạ xoa, Xúc sanh, Ngạ quỷ ... mà ta là tất cả, tất cả là ta. Trí tuệ sáng suốt hằng giác chiếu soi vào các cõi đó là Phật ( giác ) nên bậc giác ngộ tâm không phải Trời Người, Chúng sanh, Thần Tiên, Thánh mà là Bổn giác chơn như, là tất cả, là Như Lai, không sanh diệt. “Làm Đại y vương, các Ngài trị lành các thứ bệnh, tùy bệnh cho thuốc. Các Ngài khiến người ta uống cho bệnh, các Ngài thành tựu vô lượng công đức”. Bệnh chúng sanh rất nhiều nhưng Bồ tát tùy bệnh mà cho thuốc, cho loại thuốc đở đau, hoặc thuốc dứt bệnh, muốn hết bệnh phải uống thuốc đắng mới dã tật. Thuốc ngọt dể uống là cõi Người ; hơi chát là cỏi Thanh văn, Duyên giác ; thuốc đắng cay là sơ Bồ tát tùy căn cơ, căn bệnh của tâm mà cho thuốc pháp. Nên pháp không quý tiện, tùy vào bệnh mà bốc thuốc, nặng hay nhẹ mà điều trị cho đúng pháp. Thuốc ngọt dể uống là dạy bố thí, làm phước, cúng dường, dựa vào nghi lễ, nghi thức nương dựa pháp thế gian, mong đến đời sau mà hưởng phước là thuốc ngọt dễ uống “các Ngài khiến người ta uống thuốc cho lành mạnh tạm thời hay dứt bệnh”. Phương pháp nào đi nữa thì mục đích đều làm cho chúng sanh an ổn tạm thời hay đưa đến sáng tỏ chơn lý “vô lượng đều được các ngài làm cho trang nghiêm thanh tịnh”. Khi đi đứng nằm ngồi gọi là tứ oai nghi, tâm niệm đều nằm trong chánh pháp không ô nhiễm. Những ai nghe thấy các Ngài đều được hưởng nhờ lợi ích Bồ tát là sứ giả Như Lai, tùy căn cơ trình độ chúng sanh mà làm lợi ích, không bắt buộc một ai mượn pháp thế gian làm phương dẫn chúng sanh vào trí tuệ giác ngộ. Dù vẫn hiện diện tại cuộc đời mà tâm không ô nhiễm thế tục, quyết dẫn chúng sanh vào các pháp thiện lành. Tổng trì là gìn giữ các pháp thiện không để pháp ác chen vào, dù cho có người đem pháp đấu tranh chém giết, oán thù Bồ tát vẫn dùng thiện pháp mà giảng dạy đưa chúng sinh vào tánh giác. Giác ngay đời sống, hoàn cảnh hiện tại. Khả năng giáo hóa của Bồ tát là tánh đức tự nơi công hạnh chính mình mới là bậc tự độ và độ tha giác ngộ khắp cùng chúng sinh. Độ chúng bằng tâm thiền biết tất cả pháp bằng chơn lý mới là chơn chánh độ chúng sanh không mưu cầu vì danh lợi “Những việc các Ngài làm chẳng phải là hoang đường đáng bỏ. Tất cả những công đức như vậy, các ngài đều có đầy đủ”. Mỗi hành động, việc làm đều phát xuất từ ý niệm sinh mà ra có hành động. Nên bậc giác ngộ mỗi tâm niệm là mỗi hành động, mỗi công đức, trí tuệ sáng suốt thiện lành từ trí tuệ phát xuất ra hành động chơn chánh, không hoang tưởng, ảo ảnh, tưởng tượng. Tất cả hành động việc làm đều là công đức sáng ngời vì tâm niệm không vướng vào tư lợi. Một niệm sáng suốt tinh tấn là đức độ tại tâm sinh khởi. Đức Thường Tinh Tấn Bồ Tát lòng luôn hoan hỷ dù hoàn cảnh có đến bất như ý đều bằng lòng, không vướng bận sinh khởi tâm đau khổ là Bồ tát đang sử dụng đến Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát. Tạng tâm có tất cả, tánh hoan hỷ là buông xả phát rộng lòng từ bi cũng ở tạng tâm. Tâm đã an định không dao động trước sự thạnh suy của các pháp tại thế gian là Thế Gian Định Tự Tại Vương Bồ Tát. Trước sự cám dỗ của các pháp ngay cuộc đời tâm vẫn định, vẫn tự tại, vẫn là vua làm chủ tất cả pháp tự tại mà quyết định bằng tánh giác. (trí tuệ) là pháp Thế Gian Định Tự Tại Vương Bồ Tát. Phật dùng tướng đặt danh từ có tên gọi làm phương pháp dẫn dạy chúng sinh, bằng pháp tướng Bồ tát để chỉ Tạng Pháp Bảo tại tâm mà trong Kinh Di Đà gọi là Bảo Tạng Tỳ kheo. Những tâm niệm là công đức tích chứa từ trí tuệ là Bảo Tích Bồ Tát. Các căn thanh tịnh vui vẻ, không cấu nhiễm là vô cấu Bồ tát v.v... Tất cả tâm niệm đều thanh tịnh là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. Có rất nhiều tâm và niệm sáng suốt tại Như Lai tạng tánh nên gọi là vô số Bồ tát mà mỗi chúng sinh đều có đủ không thiếu sót gọi là Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà. Tất cả chư Bồ tát bằng danh từ là vô số niệm ngay cõi tâm không xa mà trong kinh Duy Ma Cật nói con số những Bồ tát hội tụ nơi pháp hội là ba muôn hai ngàn vị. Có danh tướng Bồ tát đều là quả diệu Giác tại tâm con người. Phật diệu dụng phương tiện bằng sự tướng, danh từ tên gọi các Bồ tát là diễn bày các công đức của Bậc giác ngộ, thị hiện hành động bằng Bồ tát. Ngoài các Bồ tát còn có các Phạm Thiên Vương là một muôn từ các cõi tứ thiên hạ khác đến nơi pháp hội ( hội tất cả pháp ) đặng nghe pháp. Lại có một ngàn Thiên đế cũng từ các cõi tứ thiên hạ khác đến ngồi nơi pháp hội. Cũng có các chư Thiên oai lực lớn, Long thần, Dạ xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già... thảy đều ngồi nơi pháp hội. Chư Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-ba-di cũng đều lại ngồi nơi pháp hội. Lời kinh có hai nghĩa, Lý và Sự, nghĩa đen hay nghĩa bóng. Lý là có sự tướng nhưng vô tướng. Tại Đạo tràng nơi Phật thuyết pháp, đức Phật quay vào bản tánh chơn như, Ngài diễn nói hết các tâm niệm sáng suốt trí tuệ tại lòng mà thuyết. Về Sự, Ngài dùng kinh nghiệm biết căn tánh chúng sinh vì vô minh thường chấp vào hình tướng nên Ngài mượn tướng là hữu vi pháp, chỉ thẳng vào tự tánh của chúng sinh có chứa tất cả các tâm niệm sáng suốt, tích lũy vô số công đức, ngầm ẩn chỉ vô số Bồ tát, chư Thiên, chúng Tỳ kheo, thiện Nam tín Nữ, dùng tướng mà nói bản thể, vô tướng mới là chơn thật tướng. Trong khi Phật thuyết pháp có đầy đủ các tâm niệm thường biến hiện tại tâm, các niệm ở tận hư không vì hư không là nơi chứa vô số niệm. Trong tâm có tất cả biến khắp pháp giới (Nam Mô Tận Hư Không biến pháp giới, chư Phật Tôn Pháp hiền Thánh Tăng thường trú tam bảo). Các niệm thanh tịnh khi có đủ duyên liền ứng hiện để cúng dường Tam bảo tại lòng người giác ngộ, đó là sự hiểu biết trí tuệ vi diệu của bậc đại thừa, lìa tất cả tướng để trở về trí chơn thật. Bồ tát không chấp pháp tướng, sự hiểu biết đều vô ngại, là vô ngại Quang ánh sáng không bị chướng ngại pháp thế gian, Vô Ngại Tự Tại Bồ Tát là đại Bồ tát.

Sự biết có tướng là tùy nơi căn tánh trình độ, duyên ngộ của chúng sanh. Nếu còn tư tưởng chấp tướng, đặt nặng tại lòng, tâm chưa lìa tướng còn vướng hữu vi pháp. Còn là căn tánh hàng Thanh văn, Bồ tát cũng không chối bỏ hạng nào, một lòng độ chúng sinh qua bờ giác ngộ, giải thoát, tùy nơi căn tánh mà lòng nuôi dưỡng sự tướng hay vô tướng. “Lúc ấy đại chúng là vô lượng trăm ngàn vị cung kính bao quanh đức Phật”. Như Lai là bản giác thanh tịnh hằng chiếu soi, ta nên biết rõ rằng Bồ tát chỉ là pháp, là công đức, công hạnh, là những hành động từ trí tuệ được tích lũy gọi là đức Bồ tát, Thanh văn Duyên giác cũng là pháp nên Tổ nói Tự tánh chứa muôn pháp. Pháp vô lượng, có sâu, có cạn, tùy vào căn tánh con người. Nên các danh từ tiêu biểu đại diện từng quả giác mà Phật tạm gọi để thuyết giảng chỉ rõ tự tánh ( tri kiến Phật ) vì tự tánh là mẹ thường sanh ra muôn pháp. Có đại chúng vô lượng trăm ngàn là trăm ngàn pháp bảo, vô lượng chúng sanh từ hư không biến khắp pháp giới nên Phật nói với nhãn quang Phật cũng không thể đếm hết được, chỉ tạm dùng danh từ vô lượng vô biên mà diễn nói. Đại chúng bao quanh đức Phật là các pháp bao quanh tự tánh vì tự tánh thường chiếu soi vào muôn vạn pháp. Tự tánh là trí tuệ thênh thang rộng lớn, bao trùm vạn loại, chẳng phân Thánh Phàm ( vô lượng quang ). “Ngài thuyết pháp cho họ nghe”, tất cả tâm niệm là tất cả pháp đều lắng nghe tánh giác ( Phật ) thuyết pháp, sự lắng nghe là ( thiền định ) sự diễn biến từ tánh giác sáng suốt chiếu soi để nhận định các pháp là chánh chơn hay tà vọng mà giáo hóa. Từ tự tánh chuyển biến ra các pháp, khi tánh giác chiếu soi giác ngộ tự sáng suốt nhận định (trạch pháp) các pháp qua những trạng thái chuyển biến của tâm Tỉnh Thức hay Mê Muội, tự lòng mà giáo hóa, phải nhận biết bằng trí giác. “Đức Phật dường như núi chúa Tu Di hiện rõ ra trên biển cả”, biển cả là biển pháp, biển thức là biển nghiệp của chúng sinh. Tánh giác là núi chúa bao trùm khắp to lớn vô cùng vô tận. “Ngài ngồi yên trên tòa sư tử, nghiêm sức bởi các báu, Ngài che trùm tất cả đại chúng nơi pháp hội”. Ngồi yên là tâm an định sáng suốt, thanh tịnh lòng không giao động, không vướng bận cấu nhiễm. Tòa sư tử là sức mạnh an định, vững chắc, tượng trưng sự dũng mãnh, muôn loài đều khuất phục, khiếp sợ vì chánh pháp ra đời phá tà tông, các loài nhỏ nhoi, thấp hèn tuông chạy, tâm địa còn hẹp hòi, nhỏ nhen sẽ không nghe được chánh pháp, giống như con rạch hay con sông nhỏ không thể chứa hết nước đại dương. Nếu đất tâm ( tâm địa ) còn hẹp hòi không thể chứa hết tất cả pháp lớn nên trong Hội Pháp Hoa khi Phật thuyết Kinh Diệu Pháp Liên Hoa có 500 vị Tỳ kheo đứng dậy ra đi vì những vị đó cõi tâm chỉ có hàng Thanh văn, là những trái đèo, hạt lép, trí tuệ chưa rộng lớn. Sông suối không thể chứa hết nước biển cả được. Họ không chê bỏ pháp nhưng sức lực không thể chứa được nên phải tự đóng các căn lại. Núi chúa là núi lớn nhất, nếu đã giác được tự tánh, thấy rất rõ các pháp gọi là vào biển pháp. Ta không đi tìm tự tánh mà tự tánh có sẵn như núi chúa Tu Di, hiện rất rõ khi đã giác ngộ. “Nghiêm sức bởi các báu”, các pháp bảo là công đức trang nghiêm rất thù thắng, không còn lo âu sợ sệt, công hạnh đạo đức đã sửa sang đức thiện hạnh làm chủ, thông suốt gọi là trang nghiêm các báu. Tự tánh có đủ Bồ tát, Thinh Văn, Duyên giác v.v... thảy đều có nơi pháp hội là hội đủ các pháp của tự tánh. Tự tánh trùm khắp pháp giới gọi là che trùm tất cả pháp hội. Nếu mãi còn niệm phân biệt sự tốt xấu của thế gian là mê lầm chạy đuổi theo pháp bằng mộng tưởng, ảo ảnh. Nếu sau khi chết thông suốt được tất cả pháp, làm chủ các pháp là tâm an định gọi là pháp chủ, mới đầy đủ đức tánh tự trang nghiêm Quốc độ cõi tâm nên danh từ Duy Ma Cật Phật đặt ra có nghĩa duy là duy nhất, ma là pháp, cật là cật vấn. Duy Ma Cật là duy chỉ có pháp vấn hỏi để thông hiểu rõ ràng vạn pháp. Phật dùng tâm lực trí tuệ đem quả giác tại tâm tạo ra sự tướng ngài Duy Ma Cật là có tướng thì những gì là sắc tướng chỉ là sắc pháp, là Ngũ uẩn hợp thành cũng thật là giai không. Phật tạo ra Duy Ma Cật bằng pháp Ngũ uẩn để chỉ tự tánh chơn thật của chúng sinh để lại đời đời cho người hữu duyên gặp được pháp mà tu học. Vậy kinh Duy Ma Cật do chính đức Phật Thích Ca Mâu Ni diễn nói, dùng địa danh tại thành Tỳ-Da-Ly nơi Ấn Độ, có một chàng con nhà trưởng giả, Ngài dùng danh từ Vua Chúa chỉ quyền lực là pháp lớn, trưởng giả là nhà giàu có, hai pháp này nói lên sự lớn mạnh giàu có, là phương tiện dùng pháp. “Con nhà trưởng giả Bảo Tích” nơi tích chứa pháp bảo ( tạng pháp ) quý báo nên đức Phật thuyết giảng 49 năm nhờ ngài A-Nan tích chứa bảo hộ bằng trí tuệ. Kinh này hàm ý Phật nói ngài A-Nan, ý nghĩa ngài A-Nan là nơi tích chứa nhiều pháp bảo đa văn đệ nhất. “Bảo Tích cùng 500 Trưởng Giả thảy đều cầm lọng báu”, lọng chỉ có người sang trọng uy quyền là vua quan mới sử dụng, tượng trưng uy quyền oai lực rất lớn. “Đến nơi Phật ngự, đầu và mặt làm lễ sát chân Phật” nói lên sự tôn kính vua chúa đầy thế lực uy quyền mà cũng chiêm ngưỡng trí tuệ Phật, đến quỳ sát chân Phật là bậc Tối Thượng Tôn. Tánh giác không hề khuất phục ham muốn, khiếp sợ quyền lực nào, không sợ pháp nào của thế gian, dù học cao hiểu rộng, sang trọng, oai quyền mà không biết tự tánh không sử dụng được trí tuệ, không giác cũng không làm gì được, không sống được với chơn lý. Các pháp đều quy phục tự tánh. Hàng Thanh văn nghe Phật dạy mà học pháp, nhưng chỉ sống được với pháp, chư Bồ tát cũng học pháp nhưng sống bằng Trí, bằng Tự Tánh, bằng đạo đức. Nếu tu mà còn tranh chấp hơn thua danh vị là Thanh văn chấp ngã, chấp pháp. Duyên giác không chấp ngã nhưng chấp pháp. Bồ tát bỏ ngã bỏ pháp chỉ vì lòng từ bi thị hiện, dụng pháp làm phương tiện cứu độ chúng sanh. Nếu còn chấp pháp đúng sai, phải quấy, hơn thua là Thanh văn còn ngã và pháp. “Oai thần của Phật khiến các lọng báu hiệp thành một cái duy nhất, che trùm cả thế giới Tam Thiên Đại Thiên”. Nếu 500 chàng trưởng giả sử dụng mỗi người một cái lọng, tượng trưng cho vật quý báu nhất của thế gian, nghĩa là pháp Nhân thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa. Phật dạy gom lại thành nhất thừa chỉ còn một cái lọng duy nhất gọi là nhất thừa hay nhất tâm. Nên pháp có thể nói 500 hay tám vạn bốn ngàn pháp nếu quy lại chỉ một tâm vì kinh dạy “vạn pháp quy tâm”. Chỉ có tự tánh tịch lặng chiếu soi là giáo chủ cai quản tất cả pháp Tam Thiên Đại Thiên thế giới cõi tâm. Phật chỉ thẳng vào Như Lai Tự Tánh bao trùm cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Các lọng báu hợp lại chỉ còn một cái lọng duy nhất, tất cả thừa hợp lại là Phật thừa. Phật thừa là tự tánh, tất cả đều từ tự tánh biến hóa ra trăm ngàn vạn công đức sáng suốt trí tuệ, là trăm ngàn vạn đức độ Phật (giác), trăm ngàn vạn Bồ tát gọi là chư Phật, chư Bồ tát không luận xuất gia hay cư sĩ. Không nói hình tướng mà chỉ rõ Bổn hạnh đức độ con người qua hành động đạo Bồ tát. Nói đến người sống tại cuộc đời mà cư trần bất nhiễm trần mới đủ năng lực hành đạo Bồ tát, ứng đối với trần mà tất cả pháp đều thông. Hàng Thanh văn, Duyên giác còn chấp nặng hình tướng, còn ẩn tâm vào các pháp thế gian là chưa ra khỏi luân hồi không thể giáo hóa dẫn độ chúng sinh đến bờ giác ngộ được. Nếu không phải là bậc cư trần bất nhiễm sẽ vấp ngã trước những pháp thế gian vì không thông thạo pháp, Phật gọi là bát nạn tám nạn lớn của người tu.

1.Nạn ngạ quỷ.

2. Nạn địa ngục.

3. Nạn súc sinh.

4. Nạn đui, què, điếc, câm, ngọng, sáu căn
thiếu thốn.

5. Nạn sanh nhằm nhà tà kiến.

6. Nạn sanh ra không gặp Phật ra đời hoặc Phật diệt độ rồi ta mới sanh.

7. Nạn sanh ra cõi Bắc Cu lô Châu.

8. Nạn sanh ra ở cõi Trời vô tưởng.

Hai cõi này không có Phật pháp, hết phước thì bị sa đọa.

1. Nạn Ngạ quỷ : Là tâm địa ích kỷ, tham lam
nhỏ hẹp.

2. Nạn Địa ngục : Là tâm niệm người vô minh,
si dại, tăm tối.

3. Nạn Súc sinh: Cõi tâm là phiền não, đau khổ bất an, điên đảo não loạn, tâm không có điều vui.

4. Nạn đui : Là không trí tuệ, không ánh sáng chơn lý rọi vào, không Phật pháp.

- Què : là không vượt lên, không đứng vững, không ra khỏi những tâm niệm vướng vào pháp tà vạy, tham sân si.

- Điếc : Vì không nghe được giáo pháp, không nghe tiếng thuyết pháp của tự tánh, không nghe chơn lý theo lời Phật dạy.

- Câm : Là không diễn nói được giáo pháp, không nói dược lời tốt đẹp, thanh cao, ái ngữ.

- Ngọng : Là không nói suông sẻ giáo pháp chơn lý, nói lời thô tục, quàng xiên. Nói giáo lý mập mờ, không vững chắc.

- Sáu căn thiếu thốn : Là chỉ biết sài sáu căn phàm tục vô minh tăm tối, không sử dụng được sáu căn linh động của tánh giác.

5. Sanh vào nhà tà kiến : là mang mải những tâm niệm tà tín, mê muội, chấp chặt tà vọng, không ra khỏi sự tin mù quáng.

6. Không gặp Phật ra đời : nghĩa là không thể tri kiến Phật, không thấy được phật tâm ( tánh giác ).

- Phật diệt độ : là tánh giác bị che phủ chỉ sanh những niệm mê lầm.

7. Sanh ở Bắc-cu-lô-châu : là rơi vào đam mê đắm chìm trong trụy lạc, vui chơi sa đọa, nơi không hề có thuyết giảng giáo pháp.

8. Nạn sanh ra ở cõi Trời vô tưởng : Chấp chặt vào những tư tưởng ảo hóa không thật, dù cho sang giàu vẫn sống với tâm niệm cầu xin, không tin vào chánh pháp, lòng mãi nuôi dưỡng tư tưởng ảo vọng, mê muội. Dù cho học hết kinh điển mà tâm còn đắm nhiễm thế trần cũng không thấy sự thanh tịnh của các pháp. Học kinh, tụng kinh mà tâm còn nhiễm thế trần, còn nhiễm pháp, không thâm nhập được chơn lý, nếu không biết tự tánh chỉ là ma thuyết pháp Phật vì không nói lên được tự tánh Phật. Đối với chơn lý nói không thông suốt là còn câm ngọng, nếu rõ được tự tánh là đã thấy Phật tại tâm. Bậc giác ngộ thường dùng pháp bảo quý báu làm thân gọi là thường sống với pháp thân tôn quý. Từ bi hỷ xả là pháp thân dùng pháp thật chấn chỉnh nơi mình mà chỉ dạy cho chúng sanh tự tâm mình là Bồ tát tự độ. Còn độ tha phải dùng thần thông tự chứng ngộ các pháp, hiểu rành các pháp đem ra độ chúng sinh. “Lại nữa các núi Tu di, Tuyết sơn, núi Mục chơn Lân Đà, Hương sơn, Hắc sơn, núi Thuyết Vi, núi Đại thuyết vi, biển cả, sông cái, sông con, rạch, suối nguồn, cùng mặt trời, mặt trăng, tinh tú, thiên cung, long cung, cung điện của các tôn thần thuộc cõi thế gian, Tam Thiên, Đại Thiên nầy thảy đều hiện ra ở trong lọng báu ấy”. ( Lọng báu là tự tánh ) nên Lục Tổ Huệ Năng nói : “Không dè trong tâm có tất cả, trong tâm chứa muôn pháp”. Như vậy tự tánh chứa tất cả pháp. Dù vật ở thế gian hay ở hư không đều là pháp, nên ta phải thường tự quy y pháp. Nếu một pháp tổng trì là chứa tất cả pháp “thảy đều hiện ra trong lọng báu”. Nếu ta không đủ duyên biết được tự tánh, cho rằng những gì Phật nói trong kinh hoàn toàn xa lạ kể cả Tam Thiên Đại thiên cũng không biết được, nhưng tất cả đều hiện ra trong lọng báu tức là không tìm kiếm tự tánh bên ngoài vì vạn pháp đều ở tại tâm. “Lại nữa chư Phật mười phương, chư Phật đương thuyết pháp cũng hiện ra trong lọng báu ấy”. Nói đến chư Thanh văn, chư Duyên giác, Bồ tát, mọi sự vật ở khắp sơn hà đại địa, mặt trời, mặt trăng đều từ tâm niệm mà ra tất cả “lúc ấy tất cả đại chúng thấy oai thần của Phật bèn khen là chưa từng có”. Người thế gian thường chạy ra ngoài tâm nhưng Phật đã dạy ngoài tâm không có Phật nào khác, ngoài tâm không có Quốc độ nào dù nhục nhãn có thấy nhưng nếu không có tâm thì không có gì cả, không tìm kiếm gì ngoài tâm mà có pháp. “Cùng nhau chấp tay mà lễ phật, mắt chẳng sao lãng” nghĩa là trở về cung kính Phật tánh, quy mạng lễ. Từ lâu vì mê muội bỏ Phật ( tánh giác ) chạy ra tìm Phật ngoài là Phật hư vọng, ảo huyền, cứ mãi cầu Phật ngoài mà không cung kính tánh giác là Phật tâm. Nên có câu không thờ Phật trong nhà mà thờ Phật Thích Ca ngoài đồng. Mắt chẳng sao lãng là mắt trí tuệ, định tỉnh, cung kính chiêm ngưởng sự soi sáng của Phật tánh, nhìn bằng Phật nhãn thanh tịnh, nhìn bằng bổn lai diện mục. Từ xưa nay là mắt hoa sen trong sạch là mắt trí huệ “Bảo Tích con nhà Trưởng Giả liền đối trước Phật tụng bài kệ tán thán. Lúc ấy con nhà Trưởng Giả Bảo Tích tụng những bài kệ rồi bèn bạch Phật rằng: Thế Tôn 500 chàng con nhà Trưởng Giả đây đều đã phát tâm A-nậu-đa-la tam miệu tam bồ đề”, 500 chàng trưởng giả là tự tánh có chứa công đức lớn, giàu có, đầy đủ đức hạnh là tài sản vô giá của đức Phật được tích chứa bởi công hạnh tu tập từ vô lượng kiếp, là những pháp tích lũy làm phương tiện cứu độ chúng sanh giác ngộ mới đúng tinh thần quyết lòng làm Phật. Hiện tại đã xả bỏ hết chấp ngã, pháp chấp riêng tư, cũng như Lục Tổ tìm đến gặp Ngũ Tổ mục đích chỉ cầu làm Phật. Nếu thành tựu được tâm phát nguyện làm Phật thì xem kinh sẽ có chữ. Nếu mục đích sai, tu mà còn mong cầu nhớ đến danh lợi thì xem kinh Phật vô chữ vì tâm còn chứa đầy đủ ác pháp, chưa xả bỏ hết các ham thích thế gian không khơi được đèn trí huệ vì pháp đăng vẫn mờ lu lạnh lùng. Sự tích chứa công đức trí tuệ gọi là Bồ tát Bảo tích là nơi chứa tạng pháp quý báu để làm Phật. Kho chứa pháp bảo gọi là Bảo Tạng. Người gìn giữ Bảo Tạng phải đầy đủ giới luật gọi là Bảo Tạng Tỳ kheo, là đệ tử Phật. Nếu phát tâm làm Phật thì phải xả bỏ lòng phàm phu thế tục, không còn tích chứa những pháp ham muốn tà vọng. Nếu giữ đời thì sẽ mất đạo, còn được đạo thì phải quên đời, phải xét kĩ mà chọn đường làm Phật, tạo ra sản phẩm bằng vàng, chỉ có vàng y mới chế biến ra vật bằng vàng, hình tượng sự vật bằng vàng, cây gỗ hay vật gì khác không thể chế biến ra đồ vật bằng vàng được. Nên muốn có tâm Phật phải bỏ tâm chúng sinh, thành Phật phải dùng tâm Phật mà xây dựng đạo tâm. Tâm vàng là không pha trộn sự ô nhiễm trần lao thì mới là vàng, đạo Phật là đạo vàng muôn thuở không pha trộn lợi danh, tham, sân, si nên thế giới tại cõi tâm là Cực lạc đất là Tịnh độ chỉ lót toàn là vàng rồng, có tâm vàng mới đổi được đạo vàng. Học Phật mà không có tâm Phật thì không bao giờ thành Phật, giống nào sẽ lên cây ấy nhân quả không hề sai. Còn tâm tiểu nhơn không thể thành Phật, phải phát tâm đại thừa, không đem tâm nhỏ mọn, ích kỉ, vào thế giới đại thừa được, phải xét lại cõi tâm có bằng lòng xả bỏ thế gian để làm Phật không ? Phật thì có thành chỉ tại người không biết sử dụng tâm Phật, các Bồ tát có lòng kiên quyết bằng lòng xả bỏ mới viên thành Phật đạo. “Nay muốn nghe được Quốc độ thanh tịnh của Phật, xin đức Thế Tôn giảng thuyết các hạnh tịnh độ của chư Bồ tát”, khi các Trưởng giả (người có lòng rộng rãi) phát tâm rồi muốn nghe Phật nói Quốc độ thanh tịnh của chư Phật. Phật dạy ngoài tâm không có Quốc độ nào khác, nếu tâm không thanh tịnh thì không thể tìm Quốc độ thanh tịnh nào khác cả. Các Bồ tát tâm hạnh rất thanh tịnh, cư trần bất nhiễm, nên gọi là Bồ tát tâm trong sạch, lành lặng, không rách rưới vì ô nhiễm. Phật nói : “Lành thay đó là Bảo Tích, ngươi đã vì chư Bồ tát hỏi Như Lai vì hạnh Tịnh độ, hãy nghe cho kỹ, hãy nghe cho kỹ, hãy suy nghĩ cho chính, ta sẽ vì người mà giảng thuyết”. Bảo Tích từ lâu đã tích chứa vô lượng pháp, nhưng vẫn muốn vì chư Bồ tát mà thưa hỏi đức Phật muốn mượn hình ảnh của Bảo Tích mà diễn dạy cho chúng sinh sáng tỏ các pháp. Phật pháp là thậm thâm vi diệu không thể biết hết được. Ngài dùng tất cả các thời pháp trong 49 năm hành đạo đã giảng vô số, vô số pháp đem kết tập lại gọi là Bảo Tích. Trí tuệ Phật đã tích chứa để dạy cho chúng sinh làm Bồ tát nên phải mượn hình tướng Bảo Tích để thưa hỏi, Phật nhắc nhiều lần hãy nghe cho kỹ, suy nghĩ cho chính. Nghe kỹ là hằng ôn luyện lời Phật dạy, nghe kỹ là nghe bằng thiền tịnh từ trí tuệ sáng suốt, không nghe bằng tâm hời hợt bên ngoài thế gian, miệng nói tai nghe cho chính chắn, tự xét từng nét dấu cho thông suốt các pháp không còn chướng ngại. Pháp này chỉ giảng cho người nghe kỹ, xét thật chính chắn, nếu không được vậy nghe cũng vô ích. Đọc kinh phải dò trước xét lui, hiểu rỏ từng ý kinh, lời kinh mà Phật đã dạy.

Lời Phật dạy cõi Phật là gì ? Cõi là xứ sơ, là nơi cư trú, cõi có chúng sinh gọi là hữu tình, cõi không có chúng sinh gọi là cõi vô tình. Phải thông suốt Phật là gì ? Tự giác giác tha, kinh Phật dạy dỗ cho ta là tha lực của Phật, các pháp mà chúng sinh vấp ngã bên ngoài giúp ta tự giác, tự tìm hiểu, tự đem tự tánh sáng suốt tìm phương tiện giúp ta giác ngộ là tự giác biết đem tấm lòng thương yêu giúp người hết khổ là giác tha. “Phật phán với Bảo Tích rằng, các loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ tát”. Tại sao vậy? Tất cả tâm niệm của chúng sinh là cõi Phật của Bồ tát, mọi tâm niệm ý nghĩ tại cõi tâm con người đều là những chúng sinh khi còn mê muội và sẽ là cõi Phật khi các tâm niệm mê lầm đã tự giác, sáng suốt. Tất cả niệm sanh diệt gọi là niệm chúng sanh (nhiều tâm niệm gọi chung thường sinh khởi vô số niệm gọi là chúng sinh). Ta tự độ tịnh tâm ta là chúng sinh vô biên thệ nguyện độ, hay độ hết chúng sinh mà không có chúng sinh nào được độ cả. Độ tất cả chúng sinh trong tự tánh đến khi thanh tịnh, vắng lặng không còn tham luyến ô nhiễm các pháp đó là cõi Phật của Bồ tát, là phát Bồ đề tâm, Bồ đề nguyện. Người hành đạo Bồ tát phải thương yêu từng tâm niệm chính tâm mình, phải bảo vệ, gìn giữ cho tâm niệm luôn sáng suốt. Các niệm tự giác là chất liệu nuôi dưỡng tâm niệm, nuôi bằng thức ăn, từ bi hỷ xả. Người mê loạn đảo điên sống trong vọng tưởng không biết thương yêu tâm niệm, vì mê lầm chỉ nuôi dưỡng bằng sự ô uế, sân si nên mỗi niệm từ trí tuệ, đức độ Phật phát ra đều được sáng suốt, trau chuốt, nâng niu sửa chữa từng tâm niệm được sự tôn kính của mọi người gọi là lời vàng tiếng ngọc. Các tâm niệm cao thượng từ trí tuệ từ bi hỷ xả của Ngài là những bậc cao quý đã được Ngài tự tu sửa bằng đức độ, tự giác Bồ tát đạo nên chúng sinh đã tu luyện trui rèn, dồi mài, nuôi dưỡng thành chư Bồ tát tại tâm. Danh từ Bồ tát tạm gọi cũng đi đôi với trí tuệ, nơi mỗi con người ai cũng có vì mê muội không biết nâng niu gìn giữ, bảo vệ, trân trọng các chúng sinh được sáng suốt tại tâm chính là các pháp bảo của chư Bồ tát, làm lợi ích cho mọi người nên chúng sinh là đệ tử của chư Bồ tát, đệ tử sáng suốt là pháp bảo của chư Bồ Tát. Tất cả pháp bảo của chư Phật đều trao truyền cho đệ tử để nuôi dưỡng chúng sinh nên các loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ tát. Khi mê lầm gọi là tâm tục, tâm là cõi phàm lúc giác ngộ cõi tâm hiện tiền là cõi Phật. Gậy vàng là gậy như ý, bảo châu ( tự tánh giác ). Đập vỡ ba cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới, tham sân si là ba độc tại tâm. Xây dựng lại cõi Phật là cõi Tịnh. Khi đã xây dựng cõi tâm là cõi Phật của Bồ tát thì những tâm niệm đều được trân trọng. Chúng sinh cõi tâm đều được giác ngộ là được tích lũy, bảo tồn, gìn giữ tạng kinh nghiệm của Bồ tát gọi là nuôi dưỡng Tạng Tánh. Xây dựng chúng sinh tại tâm là xây dựng cõi Phật tại tâm. Biết nuôi dưỡng chúng sinh là nuôi dưỡng Thánh Thai, mỗi chúng sinh là mỗi tâm niệm đã giác ngộ, là mỗi cõi Phật của Bồ tát “Bồ Tát tùy theo chỗ giáo hóa chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật”. Ta hằng nuôi dưỡng dạy dỗ tâm niệm tại tâm là giáo hóa chúng sinh, tự giáo hóa tâm niệm làm cho chúng sinh tâm ta được sáng suốt, mỗi niệm sáng suốt là một cõi Phật. Nếu niệm ta là ham muốn phàm tục thì tâm là cõi phàm Ta bà uế độ. Uế hay tịnh là tự nơi ta giáo hóa chúng sinh là giáo hóa tâm niệm nên các Bồ tát cần tu học trau chuốt, tự lắng nghe nơi lòng là Quán Tự Tại Bồ Tát, tự mà tu sửa cho cõi Phật tại tâm tốt đẹp sáng chói quang minh hay còn vô minh là tùy chỗ mà giáo hóa, do trình độ sáng suốt của Bồ tát tự giữ lấy cõi Phật rộng lớn hay eo hẹp. Cõi Phật tại tâm là cảnh giới của con người tỉnh thức, hoàn toàn giác ngộ chơn lý trọn vẹn không còn vô minh, phiền não, sống đúng bằng chơn lý thì tâm hiện tại của người đang hành thâm là cõi Phật. Nên Tịnh Thổ, Tịnh độ của đức Phật A Di Đà được tốt đẹp rất thù thắng như vàng rồng là do đức A Di Đà Phật giáo hóa, còn các cõi khác không bằng vì các Bồ tát dạy dỗ tâm niệm của chúng sinh không sáng suốt bằng đức A Di Đà. Bồ Tát Hộ Minh là tiền thân đức Phật Thích Ca vẫn còn hương thơm vang dội đến nay, vẫn được mọi người tôn kính, do Ngài đã khéo điều phục các chúng sinh trong tâm, tất cả đều thành chánh giác, tự nơi khả năng ngài điều phục giáo hóa mà thành đạo quả. “Tùy các chúng sinh nếu muốn dùng nước nào đặng vào trí huệ Phật, mà giữ lấy cõi Phật”. Có rất nhiều cõi Phật, tùy tâm niệm mà Quốc độ rộng rãi hay eo hẹp. Trí tuệ rộng lớn thì cõi Phật bao la, nếu trí huệ eo hẹp thì cõi tâm eo hẹp. Tùy căn cơ khả năng trí tuệ chúng sinh tu học mà xây dựng cõi Phật do nơi Bồ tát là tánh giác giáo hóa để đưa vào Quốc độ Phật. Nếu chúng sinh sáng suốt quang minh thì vào cõi Lưu Ly Quang Như Lai tùy trí tuệ mà chọn lấy cõi Phật, cõi Bồ tát Bảo Tích hay Nhiên Đăng cổ Phật tùy vào tâm niệm mà đặt tên có danh từ các cõi Phật. Chúng ta có vô số tâm niệm sáng suốt là có vô số Phật, vô số Bồ tát nên bà Vy-Đề-Hy được Thế Tôn giới thiệu vô số cõi Phật nhưng bà chỉ chọn cõi của đức A Di Đà là trí sáng vô lượng quang. Cõi Phật tại tâm tùy nơi Bồ tát tự giáo hóa. Cũng như người ở thế gian muốn tu học tự chọn vị thầy hạnh đức, hợp duyên mà quy y học hỏi. Tất cả do lựa chọn mà có các cõi tại tâm. Người tham lam thì tự chọn cõi Ngạ quỷ ; tâm sân si là cõi Súc sanh; si mê chọn cõi tâm là Địa ngục. Tất cả tùy ta chọn lấy, chọn bằng tâm niệm tự xây dựng mà có các cõi, vì Niết bàn do tâm tạo, địa ngục tự tâm sanh, ta tự giữ lấy cõi tâm. Tùy các chúng sinh muốn vào nước nào đặng phát khởi căn Bồ tát, mà giữ lấy cõi Phật tự tánh Di Đà pháp giới toàn thân tùy xứ hiện. Nếu tâm người nào thanh tịnh thì cõi nước Di Đà tại tâm đó tùy vào các chúng sinh tại tâm, tùy vào khả năng, sức lực trí huệ mà chọn. Nếu yếu kém thiếu tinh tấn thì không thể vào Quốc độ tinh tấn được. Thời đức Phật có Bồ tát Di Lặc vì còn tham danh lợi nên gọi là Bồ tát Cầu danh, vì còn thiếu tinh tấn nên cõi tâm không giống như Bồ tát Hộ Minh. Cõi tâm của Bồ tát Hộ Minh là Thường Tịch Quang Tịnh độ thường chiếu bản tánh sáng suốt tự nhiên, không hề có vô minh phiền não, tự thấy rất rõ mọi hiện tượng đang xảy ra trước mắt ngay cõi Ta bà mà tâm hiện ra cõi Tịnh. Tâm cõi này có sẵn giống như dòng nước cam lồ chỉ cần ta há miệng sẽ thưởng thức vị ngọt vi diệu của Cam Lồ ( Nam mô Cam Lồ Vương Bồ Tát ) tại tâm mỗi mỗi con người đều đầy đủ. Tâm dũng mãnh vượt qua mọi cám dỗ, gìn giữ hạnh xuất thế là cõi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tam cõi đều do tâm, tùy vào căn tánh chúng sanh mà giữ lấy Quốc độ, tự nơi căn tánh chúng sanh mà thành tựu các cõi. Tại sao vậy ?

Bồ tát tự giữ lấy Tịnh Quốc thảy đều vì muốn giúp ích cho chúng sinh, nếu Bồ tát muốn giúp cho chúng sinh an lạc mà chúng sinh không tinh tấn, không khả năng chịu đựng, Bồ tát phải tùy thuận theo sở thích căn cơ chúng sinh mà giáo hóa làm cho chúng sinh được hạnh phúc, mục đích của Bồ tát làm cho mọi người được an lạc. Kinh dạy, nếu chúng sinh khổ thì Bồ tát khổ, chúng sanh bệnh thì Bồ tát bệnh. Bồ tát phải tìm cách cứu chúng sanh tại cõi tâm cho an ổn, tìm thuốc ( pháp ) tùy bệnh mà chọn thuốc trị lành bệnh, thuốc phải đúng bệnh mà dùng thuốc. Bồ tát phải thông suốt tất cả pháp, biết rõ tâm niệm chúng sanh mà giáo hóa “tỷ như người ta muốn lập cung điện, nhà cửa trên đất trống, họ tùy ý mà lập cung điện nhà cửa trên đất trống, họ tùy ý mà tạo lập, không có chi ngại”. Nếu Bồ tát muốn xây dựng nhà cửa cung điện trên đất trống phải chọn chỗ không hầm hố gai chông thì xây rất dễ, đây là nói đến căn tánh nghiệp quả của chúng sanh, nếu căn cơ chúng sanh sáng suốt thì sự giảng dạy tiếp độ rất dễ vì đất tâm họ bằng phẳng tốt đẹp, lanh lẹ, dễ tiếp nhận giáo pháp chơn lý “nhưng nếu họ muốn xây cất nơi hư không thì không thể nào xong”. Bồ tát giáo hóa chúng sanh bằng tâm niệm trí huệ vững chắc thì thực tế, không dưỡng nuôi ảo vọng trừu tượng phàm phu, không để chúng sinh tư duy bởi tư tưởng mơ hồ, tưởng tượng mộng mơ vào các pháp không thật, mông lung, điên đảo gọi là cất nhà trên hư không, “Bồ tát cũng như vậy vì muốn giúp cho chúng sanh được thành tựu, cho nên nguyện giữ lấy Phật Quốc”. Người tu phải biết tâm nguyện của Phật, Bồ tát, tâm nguyện chính mình và các chúng sanh tại tâm. Tất cả đều phải sáng suốt đem lợi lạc hiểu rõ bằng trí huệ. Không tu bằng cách chấp rằng tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền là đủ, tu cho lấy có mà phải biết rõ rằng các pháp môn, sự công phu là làm sáng trí huệ Phật, hiểu biết các trạng thái tại tâm nguyện chính mình hiện là Quốc độ nào, cõi nước nào mà gìn giữ xây dựng cho tốt đẹp thành tựu cõi Phật là cõi Tịnh. Tịnh độ tại tâm có trí huệ Phật là thấy người nghèo khổ đều do nhân quả đó là một niệm giác, chính ta là người trụ tâm niệm ăn chơi, ta là người đang vướng vào pháp sân giận, tham lam, phiền não, ích kỷ, danh lợi v.v... Mỗi niệm sai lầm mà tánh giác là Bồ tát đều thấy rõ làm kinh nghiệm tự giác ngộ giáo hóa cho chính mình. Mỗi niệm là mỗi Bồ tát nên kinh dạy là hóa Bồ tát chúng vô cùng vô biên, vì Phật pháp bất ly thế gian giác. Tánh giác không rời các pháp thế gian, lúc nào cũng hằng giác nên Lục Tổ bạch với Ngũ Tổ rằng : “Bạch Thầy, trong tâm con thường sanh trí huệ” là thường giác. Việc làm phải thành tựu sáng suốt chắc chắn trong hiểu biết, không tu bằng cách tin vào mơ hồ, ảo tưởng, danh lợi ; không tu bằng vọng tưởng là cất nhà trên hư không. Tu hành có hai đường tự chọn là thế gian và xuất thế gian. Bồ tát phải tự chọn hướng mà đi khi trí phát sinh, nếu còn theo thế gian là ác trí, ác hạnh, không phải thiện trí thiện hạnh. Phải đi con đường Bát chánh đạo, trước tiên là chánh Kiến là thấy đúng, chơn thật ; chánh tư duy là suy nghĩ đúng; chánh ngữ nói đúng ; chánh tinh tấn là vượt lên đứng lên trước các pháp ; chánh mạng là mạng sống, là pháp bảo từ bi hỷ xả ; chánh định là tâm vững chắc lòng không sao lãng ; chánh huệ là trí chơn chánh thiện lành. “Bảo Tích nên biết rằng lòng ngay thẳng là trực tâm là Tịnh độ của Bồ tát”, vậy ai giáo hóa chúng sinh, chúng sinh là ai ? Chính là những niệm từ trí sáng suốt là Bồ tát, chúng sinh là niệm mê muội còn não loạn cả hai đều ở tại tâm. Trí sáng sáng suốt là Bồ tát giáo hóa các niệm mê lầm là chúng sinh tại tâm, gọi là tu trực tâm, là trung đạo, không nghiêng bên nào, không phải quấy đúng sai, không chấp hai bên gọi là trở về tự tánh. Không vướng kẹt ý vì Tự Tánh sáng suốt là Thầy của chúng sinh, thầy của Trời Người, vị thầy trí tuệ giáo hóa các niệm mê si chuyển hóa trở thành thiện lành thông suốt. Bồ tát chính là vị Bổn Sư thanh tịnh minh minh bạch bạch, thường cứu giúp chúng sinh là các niệm mê tại tâm, gạn lọc cho lòng ngay thẳng trong sạch. Trời tại tâm ta, Người ở tâm ta, Chúng sinh tại cõi tâm ta. Bồ Tát tại tâm, giác (Phật) tại tâm đó là trực tâm “ khi Bồ tát thành Phật những chúng sanh chẳng nịnh bợ sanh lại nước mình”. Chúng sinh hiện tại tâm ta, nịnh bợ là gì ? Các Bồ tát không quỳ lạy van xin khẩn cầu vào danh từ tên gọi ( vị ) nào cả dù cho là Phật ( giác ). Ta chỉ lạy Phật bằng tâm tôn kính, vị Thầy vô cùng cực nhọc hy sinh buông bỏ tất cả để tìm chơn lý cho ta tu hành. Ta không nuôi dưỡng tâm niệm vào sự cầu xin vì Phật đã nói “Ta không ban phước, giáng họa cho ai cả”. Nếu còn tâm nương dựa vào cầu xin thì tâm sinh ra lười biếng dãi đãi, không có lực phấn đấu vươn lên, không tinh tấn. Tự ta sáng suốt giáo hóa dạy dỗ các chúng sinh là niệm niệm tại tâm ta, không nhờ vả vào ai được cả. Nếu còn xin xỏ van lạy cầu cạnh, cầu cho an ổn, được ban ơn, được hạnh phúc là còn tâm niệm còn chúng sinh não loạn tại tâm, còn nịnh bợ, còn muốn được ban ơn cho phước hay vay mượn, phải trực chỉ vào năng lực, khả năng của tâm, tự lực bằng niềm tin ánh sáng trí tuệ dẫn đường, là tâm ngay thẳng không còn niệm lợi dụng nhờ vả. Nếu cầu xin mà không được như ý muốn thì sanh tâm phiền não sân hận vì mê si. Phật dạy : “Nếu các ông ở sát bên Ta mà không tự giữ gìn chơn lý, giới hạnh thì cũng như còn cách xa ta nghàn dặm, Ta không ban cho gì của thế gian cả”. Trong tâm Quốc độ cõi nước tại lòng ta không còn sanh lại các niệm cầu xin vì các chúng sinh đã sáng suốt bằng lòng nên chẳng còn tâm niệm nịnh bợ của chúng sinh sanh lại cõi nước tại tâm mình, không còn sinh khởi ảo tưởng cầu xin ai cả vì đã biết rằng tất cả là ta, ta là tất cả. Phật (giác), Trời, Thánh, Tiên các cõi tại tâm ta, là do ta tự tạo nên không còn niệm nịnh bợ sanh khởi trụ vào cõi tâm (tâm địa) của chính ta, cõi nước Quốc độ ta nữa. Vì Bồ tát đã sáng suốt thấy biết rõ ràng nên không chấp nhận các sự muốn ham, nịnh bợ, cầu xin, bằng trí tuệ cương quyết vững chắc thành bại đều do khả năng của ta, phải khéo léo đào tạo huấn luyện xây dựng tâm niệm “lòng sâu vững thâm tâm là Tịnh độ của Bồ tát”. Tại tâm có các niệm Bồ tát sáng suốt, có khả năng khuyên dạy đào tạo cho các niệm là chúng sinh mê muội còn yếu đuối, phát nguyện bằng lòng sâu vững, chí kiên cố, nguyện cứu tất cả chúng sinh đều trọn thành Phật đạo. Trí tuệ đức độ tự lực không còn nương dựa nơi nào là lòng sâu vững chính tại tâm mình. Khi Bồ tát thành Phật, với kinh nghiệm Bồ tát thường giáo hóa chúng sinh thuần thục các chúng sinh cũng sẽ là Bồ tát nên đức Bồ tát càng lớn thì trí tuệ càng trùm khắp, kinh nghiệm rộng lớn trùm pháp giới là thành Phật. Cũng như vị bác sĩ phải thường dạy cho sinh viên thực tập, sau này sinh viên sẽ là bác sĩ, còn vị bác sĩ thường chuyên cần dạy sinh viên sẽ thành Giáo sư Bác sĩ, Tiến sĩ, hay Thạc sĩ, Bác học. Nên kinh dạy các Bồ tát muốn thành Phật phải chấp nhận hành đạo Bồ tát mới đầy đủ cơ duyên do kinh nghiệm thâm sâu để thành Phật. Các Bồ Tát đủ kinh nghiệm đều thành Phật gọi là Chư Phật hay vạn Phật hay hằng hà sa số chư Phật, vô số vô biên Phật. “Khi Bồ Tát thành Phật những chúng sinh đầy đủ công đức sanh lại nước mình”, khi Bồ tát thành Phật thì tất cả chúng sinh sáng suốt, đã đầy đủ công đức. Nếu như cha đã làm vua thì con là Hoàng Tử Công Chúa không thiếu món nào cả, đầy đủ uy quyền phẩm vị, vật chất là vô lượng công đức, Bồ tát đầy đủ năng lực rộng lớn chắc chắn là Phật đã thành. Trí tuệ con người không tìm đâu xa mà chính nơi miệng ( chánh ngữ ) từ hạnh đức, hành động đức độ từ lời nói tủa ra, từ tâm ý là các tâm niệm của chúng sinh tại tâm đã sáng suốt, hiểu biết thông suốt các pháp mà sinh ra khiến người nghe tâm được mát mẽ, hỷ lạc, an ổn lạ lùng chưa từng có, bậc chưa từng có là xuất thế gian là Phật ( tánh giác ). Đức Phật ngày xưa tự chiến thắng ma quân dưới cội Bồ đề nên ngày nay khi đệ tử Ngài đến đâu mọi người đều tôn kính thương mến “tâm Bồ đề là Tịnh độ của Bồ tát”. Tánh giác của Bồ tát là sự tỉnh thức, giác ngộ các pháp, luôn có niệm cảnh giác. Khi đối diện các pháp, thức tỉnh là không khởi niệm ham muốn, còn đắm mê gọi là chìm trong ngũ dục. Bậc giác ngộ không nô lệ cho niệm ưa thích hay chán bỏ trước mọi hoàn cảnh không sa đọa, sa ngã rơi vào lục dục vì tâm Bồ đề đã kiên cố. “Khi Bồ Tát thành Phật những chúng sanh đại thừa sanh lại nước mình”. Đại là pháp lớn, pháp giải thoát, giác ngộ ; thừa là xe, xe chở pháp lớn để cứu chúng sinh trở về với tự tánh khi tâm không còn nhỏ mọn, ích kỉ, hẹp hòi. Khi bất giác có niệm thương, giận buồn phiền là tâm nhỏ hẹp, nên những chúng sinh đại thừa trí huệ rộng lớn, cõi tâm Bồ tát vô cùng rộng lớn vì lòng thương yêu độ khắp muôn loài. “Bố thí là Tịnh độ của Bồ tát”, bố là ban, thí là cho, bố thí là buông xả cho tâm trong sạch không còn ô nhiễm, thanh trong là cõi Tịnh độ của Bồ tát. “Khi Bồ tát thành Phật những chúng sinh có thể bỏ tất cả, sanh lại nước mình”. Bồ tát không còn cố chấp, chấp trước, thường sống bằng lòng thí xả, bỏ tất cả tham, sân, si, phiền não, ích kỉ, ham muốn, tranh giành, buồn vui, yêu thích, xả tất cả pháp là đại bố thí, bỏ hết quyền lợi riêng tư bảo thủ cho cá nhân mình, vì chúng sanh mà làm lợi ích. Bồ tát thường quán xét cõi tâm, xét coi những chúng sinh tại tâm nếu còn mê muội thì hết lòng giáo hóa. “Trì giới là tịnh độ của Bồ tát”, tùy vào căn tánh chúng sinh, giới tiểu thừa khác giới Bồ tát “khi Bồ tát thành Phật những chúng sanh hành thập thiện đạo, tròn nguyện sanh lại nước mình”. Giới thập thiện là không còn niệm nhớ vào thập kiết sử, mười niệm tham, sân, si, mạn nghi, ác kiến, thân kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, khi 10 niệm này đã chết, không còn niệm nghĩ nhớ là niệm mê đã chết. Không còn niệm nghĩ nhớ là đã hoàn thành buông bỏ 10 niệm mà kinh Vô Lượng Thọ dạy, muốn về Cực lạc phải bỏ từ một cho đến 10 niệm này, tất cả 10 niệm đã chết gọi là vãng sanh, niệm ác không còn hồi lại, không còn sanh khởi gọi là quả vô sanh vì bất thối nên chuyển liền 10 niệm này là điều nguyện thứ 18, nếu buông bỏ thì sẽ vãng sanh, đã tu Thập Thiện đạo vì đã tròn nguyện thứ 18 chứng quả vô sanh ( không còn sanh khởi niệm không còn niệm nhớ hồi lại gọi là không luân hồi ), dù cho chúng sinh có làm ta đau khổ vẫn giữ tròn tâm nguyện vững chắc, an định Quốc độ cõi tại tâm không thối chuyển, không buồn phiền, khởi ý niệm vào sự trả thù là tròn nguyện Bồ tát. Phải hành thâm trọn nguyện, tâm là đại Bát Nhã Kim Cang bất hoại mới đủ nhân duyên thành Phật. Quốc độ tại tâm là thế giới Phật, mới dẫn độ chúng sanh về an dưỡng Quốc Cực Lạc. Bồ tát phải tự giữ gìn bảo vệ Quốc độ, giữ cõi nước tại tâm thanh tịnh tự tại mới độ khắp chúng sanh đều trọn thành Phật đạo./.

Thi Kệ

Nguồn tâm ở tại lòng ta

Vì theo vật chất làm ma vọng trần

Đời đời luân chuyển xoay dần,

Ái yêu thương ghét phong trần trả vay,

Làm thân khách tục đường dài,

Đuổi theo huyễn cảnh lạc loài rừng mê

Bỏ quên chơn tánh lìa quê,

Như Lai cách biệt vì mê bụi trần.

Ai là kẻ ân cần hiếu thảo,

Quay trở vào tìm lại tánh linh

Quán Âm xem xét tầm thinh,

Nghe bao sanh chúng vướng mê nạn sầu.

Đạo tâm huyền dịu thâm sâu,

Tâm yêu, tâm khổ, tâm sầu, tâm ham

Tâm danh, tâm lợi tánh phàm.

Diệu minh tâm sáng tâm vàng quang minh

Tâm này thông suốt vẹn gìn,

Cứu tâm phàm tục ngục hình thoát ra.

Diệu Minh ( Bồ Tát ) chính ta,

Phàm tâm cũng tại nơi ta niệm đời

Mãi theo ảo tưởng xa vời

Quên ân Bồ tát tuyệt vời oai linh.

Sông sầu biển ái rộng thinh

Di Đà Tánh Phật thuyết minh tại lòng

Nghiệm suy tâm xét đục trong

Phật là (giác) tánh quả công đủ đầy.

Là ngày gặp chủ gặp thầy,

Dẫn đường sáng suốt sum vầy Phật gia

Lam cầu bắt nhịp tự ta,

Ngục sầu, Lạc Quốc do ta tự bồi

Trang nghiêm chiếu diệu hằng soi

Thanh trong tánh Phật tham đời tánh ma.

Phật ma bởi tại lòng ta

Kìa chư Bồ tát chờ ta mỏi mòn

Sang giàu, gác ngọc, lầu son

Cũng già, bệnh, chết, cũng nhân luân trầm.

Ai ơi!!! Vạn pháp chớ lầm

Diệt sanh, tan hợp, khách trần đến đi

Quay vào thâm hạnh từ bi

Quán Âm soi xét cố tri tại lòng.

Hỡi ai! Còn vướng trong vòng

Còn tâm đọa lạc, còn lòng huyễn mê

Theo đời tâm chịu thảm thê

Làm thân lữ khách mỏi mê sự đời.

Mượn văn thi tạm đôi lời

Mau mau thì lại phục hồi tánh chơn

Tâm an còn cõi nào hơn

Tâm bình vạn pháp thảy đồng quy chơn.

Vì tâm còn tính thiệt hơn

Nên lòng vương lụy nhiều cơn hiểm nghèo

Còn tham Ngạ quỷ mãi theo

Sân, si là nghiệp thường đeo bên mình.

Si mê địa ngục như in

Tam đồ khổ, não ngục hình nào vơi

Cuộc đời dầu dãi đua bơi

Mỏi mòn khách tục rả rời chơn tâm.

Ngược dòng tìm bạn tri âm

Gặp chư Bồ tát thậm thâm diệu huyền

Từ bi, hỉ xả kết duyên

Cứu tâm đau khổ trần miền hồi quê.

Đường về vạn khổ Sơn Khê

Nhờ đèn trí huệ biển mê thoát nàn

Phật (giác ) tâm là ánh đạo vàng

Hào quang soi khắp ba ngàn đại thiên.

Hữu duyên giữa chốn trần miền

Ta bà biển khổ cần chuyên tu hành

Tu thời xả bỏ giựt dành

Tham sân si ái, học rành chớ quên.

Tại tâm Bồ tát kề bên

Thường Tinh Tấn hiệu mà ta quên rồi

Tâm tu xây dựng đắp bồi

Đức lành huyền diệu phục hồi bổn lai.

Nghiệm suy hôm sớm chiều mai

Biết đời huyễn tạm chuyển ngay tánh phàm

Chắc chi bận rộn muốn ham

Pháp đời trả lại Già Lam ta về.

Diệu Minh Bổn Tánh là quê

Hào Quang soi khắp đường về cho ta

Dù cho ngạ quỷ, tà ma

Cũng là pháp huyễn do ta tạo thành.

Tâm chí quyết nguyện thực hành

Con đường Bát Chánh bước rành từ đây

Chẳng còn mộng tưởng tà tây

Tứ hoằng thệ nguyện dựng xây Lạc thành.

Tâm Cực Lạc Phật dạy rành

Niết bàn tâm tạo, ngục hình tự xây

Đôi lời dẹp vén thang mây

Cùng chư thiện hữu dựng xây đaọ lành.

Tâm tự tịnh, tự thực hành

Tại tâm tức Phật học rành đừng sai

Nam mô Quán Âm Như Lai

Từ bi độ khắp chúng sinh thoát nàn.

Chiếu soi gặp ánh đạo vàng

Trí minh Bát nhã Cam lồ Diệu quang

Sen lòng tinh khiết vạn an

Chẳng còn đau khổ gian nan ngục sầu.

Địa Tạng mới hết dãi dầu

Chúng sinh an ổn ngục hình trống không.

Chúng sinh vô biên thề nguyện độ

Phiền não vô tận thề nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thề nguyện học

Phật đạo vô thượng thề nguyện thành./.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

Cư sĩ Phật tử Như Thánh

Viết tại Long An

Ngày 07 tháng 08 năm 2011

Tân Mão

KINH DUY MA CẬT

( Luận Giải )

Lời giảng : Tỳ Kheo Thích Minh Đức.

Biên soạn : Cư sĩ Phật tử Như Thánh.

TỔ IN ẤN VÀ PHÁT HÀNH KINH SÁCH THỰC HIỆN

Địa chỉ : THIỀN VIỆN MINH ĐỨC, PHOTOCOPY SĨ PHÚ, Tổ 3, Khu 1, Thôn Phước Thành, Xã Tân Hòa, Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Điện thoại : 0972. 008727

Chịu trách nhiệm in ấn : TK. THÍCH MINH ĐỨC

Biên soạn : CƯ SĨ PHẬT TỬ NHƯ THÁNH.

Vi tính : PT. NGỌC VÂN và THIỆN TẤN.

Sửa bản in : CHƠN MINH.

Trình bày : CHƠN MINH.

Bìa : TÂM PHÚC.
THÔN PHƯỚC THÀNH-XÃ TÂN HOÀ-HUYỆN TÂN THÀNH-BÀ RỊA VŨNG TÀU