KINH LƯỢC GIẢI

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

I. CHÁNH VĂN

Sau khi Đức Thế Tôn thành đạo, Ngài suy nghĩ rằng : "Ly dục và thanh tịnh là tối thắng, an trú trong Đại thiền định mới hàng phục được chúng ma."

Ở tại vườn Lộc Uyển, Ngài chuyển bánh xe pháp về 4 chân lý độ cho 5 anh em Kiều Trần Như đều chứng được đạo quả .

Mỗi khi có thầy Tỳ kheo nào nêu lên những điều chưa rõ, cầu Phật chỉ giáo, Đức Thế Tôn giảng giải làm cho tất cả đều được khai ngộ, chắp tay cung kính theo lời Phật dạy .

II. ĐẠI Ý

Giới thiệu con đường tu tập của Phật là Giới, định, tuệ và giải thoát .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Chú thích các từ ngữ, thuật ngữ :

Thế Tôn : Người được thế gian tôn kính, là một trong 10 danh hiệu của Đức Phật. Tiếng Phạn là Bhagavat, Trung Hoa phiên âm là Bạt Già Phạm .

Thiền định : Thiền, tiếng Phạn gọi là Dhyana, Trung Hoa dịch là Tư duy tu hay Tịnh lự, có thể dịch là Quán chiếu; Định, tiếng Phạn là Samadhi, nghĩa là tập trung tâm vào một đối tượng, không bị phân tán và dao động; Thiền định nói chung là phương pháp định tâm và tư duy bản chất của đối tượng. Trong CHÁNH VĂN gọi là Đại thiền định là để phân biệt Thiền định của Phật với Thiền định của ngoại đạo và các loại Thiền định đương thời .

Tứ đế : 4 chân lý, là bài thuyết pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển, cũng là bài pháp nền tảng của Giáo lý Phật giáo. Gồm có: KHỔ ĐẾ là chân lý về sự khổ (Dukkha), nói lên bản chất của đời sống là bất an, khốn đốn, vô thường, giả tạm…;TẬP ĐẾ (Samudya, samudaya) là chân lý về nguyên nhân của sự khổ, chính là vô minh và lòng tham ái ; DIỆT ĐẾ (Nirodha) là sự chấm dứt khổ, hay là chấm dứt vô minh và tham ái ; ĐẠO ĐẾ (Marga, magga) là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ. Bát chánh đạo được coi là tiêu biểu cho Đạo Đế .

2. Giải thích nội dung :

Như phần đại ý đã nói, bài kinh này khái quát nội dung giáo lý Phật Đà và tiến trình tu tập gồm có GIỚI - ĐỊNH - TUỆ và GIẢI THOÁT. Qua kinh nghiệm tu chứng, Đức Phật thấy rõ ly dục là con đường đưa đến sự thanh tịnh, và thiền định là con đường khắc phục phiền não .

a) Giới : Giới thường được hiểu là "Phòng phi chỉ ác" tức là ngăn ngừa các điều xấu, đình chỉ các việc ác. Các điều xấu, điều quấy đều xuất phát từ sự ham muốn bất thiện. Như vậy, mục đích của Giới là ly dục, ly bất thiện pháp. Nhờ từ bỏ tham dục và hành động bất thiện, tâm lý mới ổn định, làm nền cho sự phát triển tâm linh để đạt đến chỗ giải thoát. Sự náo động của tâm thức do sự đun nóng của tâm tham dục. Ly dục là rút củi ra khỏi bếp đang đun sôi nồi nước . Chỉ có ly dục mới làm cho tâm yên tĩnh, nên Đức Phật dạy : "Ly dục tịch tịnh thị tối vi thắng"

b) Định : Phần Định được tiêu biểu ở câu kinh : "Trú đại thiền định hàng chư ma đạo" cũng là kinh nghiệm của chính Đức Phật. Trong quá trình tu tập, Ngài thấy rõ chỉ có tâm an trú sâu sắc và hoàn mãn trong thiền định thì các phiền não vô minh vi tế mới có thể được đoạn trừ; chính trong Thiền định này trí tuệ mới sắc bén. Như đã nói, Thiền định của Phật giáo luôn bao hàm trí tuệ, tuệ quán là Thiền định, do đó mới hàng phục các loại ma. Sự khác biệt giữa thiền định Phật giáo và thiền định ngoại đạo ở chỗ :

  1. Thiền định Phật giáo luôn quân bình chỉ và quán không rơi vào thuần túy định tâm (chỉ), mà định tâm là điều kiện tốt cho sự quán chiếu sâu vào lòng sự vật .
  2. Vì vậy, Thiền định Phật Giáo không dừng lại ở các trạng thái của định mà luôn luôn vượt qua, không vướng vào các giai đoạn của tâm định .
  3. Thiền định Phật giáo gắn bó với đời sống thực tiễn và nó có công dụng cải hóa cá nhân và xã hội, Định với Tuệ là một .

Do vậy mà gọi là Đại Thiền Định có công năng hàng phục chúng ma .

c) Tueu> :Tiêu biểu cho phần Tuệ là đoạn gần cuối của kinh : "Ở nơi vườn Lộc Uyển chuyển pháp luân Tứ Đế…". Tuệ, theo Phật giáo là sự hiểu rõ bản chất của cuộc sống, được diễn tả đầy đủ trong 4 chân lý. Ai thấy được 4 chân lý này người ấy giải thoát. Tứ Diệu Đế được coi là giáo lý căn bản và bao trùm toàn bộ kinh tạng Phật giáo. Trong kinh Tượng Tích Đại Dụ Kinh (Trung bộ kinh), Xá Lợi Phất đã đưa ra nhận xét sau : "Chư hiền giả, ví như tất cả dấu chân của mọi loài động vật đều bị nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này là lớn nhất trong tất cả dấu chân. Cũng vậy, chư hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Tứ Thánh Đế". Đức Phật thuyết giảng về Tứ Thánh Đế suốt cuộc đời hoằng hóa của Ngài. Cho đến nay, Tứ Thánh Đế vẫn là giáo lý căn bản, biểu tượng cho trí tuệ siêu việt của một Thánh giả. Đức Phật dạy : "Này các Tỳ kheo, ai thấy khổ người ấy cũng thấy nguyên nhân của khổ, thấy khổ được đoạn diệt và thấy con đường đưa đến khổ diệt" .

d) Giải thoát : Phần cuối cùng của bài kinh trình bày việc đệ tử của Đức Phật đã theo Ngài và tất cả những ai quyết học hỏi tu lập đều được khai ngộ. Điều này nói lên tính hiệu quả của giáo lý, ai có tu có học và có nỗ lực đều đạt đến mức độ cuối cùng là giải thoát. Đó cũng là mục đích của giáo lý Phật giáo, là niềm ước mơ của bao hành giả Phật tử .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Phần mở đầu giới thiệu cho bộ kinh. Phần này đã giới thiệu 3 ngôi Tam Bảo đầu tiên của Giáo hội Phật giáo gồm có Đức Phật, Giáo pháp của Ngài là Tứ Đế, đệ tử đầu tiên là 5 anh em Kiều Trần Như . Lời mở đầu này ở trong bản cũ không có, bài này được thêm vào sau .
  2. Giới thiệu con đường tu tập mà chính Đức Phật đã kinh nghiệm, gồm có : Giới tức là ly dục tịch tịnh, Định là trú Đại Thiền định hàng phục phiền não, Tuệ là pháp Tứ Đế, Giải thoát là hiệu quả của sự liễu ngộ pháp Tứ Đế .
  3. Từ những giới thiệu trên cho ta thấy tiến trình tu tập truyền thống là GIỚI – ĐỊNH - TUỆ và mục đích cuối cùng là GIẢI THOÁT được coi là cốt lõi của bộ Kinh Tứ Thập Nhị Chương. Đây là tiến trình tu tập chung nhất cho các hệ tư tưởng Phật giáo.

CHƯƠNG I

I. CHÁNH VĂN

Từ giã Cha Mẹ đi xuất gia học Đạo, thấu rõ nguồn tâm, hiểu vô vi pháp, được gọi là bậc Sa môn. Thường giữ gìn 250 giới, sống đời thanh tịnh, thực hành 4 chân đạo, thành tựu quả vị A La Hán .

Vị chứng quả A La Hán có thể phi hành, biến hóa, kéo dài mạng sống, ở đời động cả đất trời. Thứ đến là quả Anahàm. Vị chứng Anahàm, khi tuổi thọ hết, thần thức sẽ sinh lên cõi trời thứ 19 thì chứng quả A La Hán. Thứ đến là quả Tư Đà Hàm, người chứng quả Tư Đà Hàm, một lần sinh lên cõi Trời, một lần sinh xuống cõi Người thì chứng quả A La Hán. Kế đến là quả Tu Đà Hoàn, người chứng quả Tu Đà Hoàn phải 7 lần sinh, 7 lần tử mới chứng quả A La Hán. Người chứng quả A La Hán là người đã đoạn tận ái dục, như chân tay bị chặt không thể sử dụng trở lại được .

II. ĐẠI Ý

Chương này nói về tiêu chuẩn và công hạnh của một vị Sa môn, nói về 4 Thánh quả mà 1 vị Sa môn nỗ lực và khéo tu tập có thể đạt được .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Chú thích các từ ngữ, thuật ngữ :

Xuất gia : ra khỏi nhà để đi tu, có 3 ý nghĩa :

  1. Xuất thế tục gia
  2. Xuất phiền não gia
  3. Xuất tam giới gia

Trong kinh Tăng Chi có 3 hạng xuất gia :

  1. Thân xuất gia, tâm không xuất gia
  2. Tâm xuất gia, thân không xuất gia
  3. Thân và tâm đều xuất gia

Sa môn : (Samana; Sramana) Hán dịch là Cần giả : người nỗ lực tu tập, Tức giả : người dứt phiền não, Bần giả : người nghèo, tu hành là nghèo, ví dụ như xưng là bần đạo…. Sa môn là từ ngữ chỉ cho tu sĩ ở Ấn Độ nói chung ; về sau chỉ cho tu sĩ Phật giáo. Cư sĩ Thuần Đà sau khi cúng buổi cơm cuối cùng đã hỏi Đức Phật có mấy loại Sa môn. Phật dạy có 4 loại Sa môn .

  1. Thắng đạo Sa môn : Sa môn chứng A La Hán.
  2. Thuyết đạo Sa môn : là hữu học Sa môn, hiểu rõ Giáo lý, khéo thuyết giảng cho mọi người được lợi ích .
  3. Hoạt đạo Sa môn (hay Mạng đạo Sa môn) :chưa được chứng quả nào, còn phàm phu, tuy nhiên vẫn sống đúng theo giới luật, nỗ lực tu học .
  4. Ô đạo Sa môn (hoặc Hoại đạo Sa môn) : Sa môn không giữ giới luật, không chánh tín, lười biếng, làm ô uế đạo .

Pháp vô vi : pháp không tạo tác, không sinh diệt, không biến đổi, không có điều kiện. Ở đây muốn nói đến Niết Bàn hay Diệt đế .

Chân đạo : 4 Thánh đạo (4 Diệu đế), cũng có thể là 4 niệm xứ .

2. Giải thích nội dung : Chương 1 định nghĩa về Sa môn, và nêu lên tiêu chuẩn của một vị Sa môn là biết tự tâm và ngộ pháp vô vi còn nêu lên mục tiêu của người xuất gia là chứng 4 Thánh quả, nêu lên những điều kiện để chứng các Thánh quả, nhất là quả vị A La Hán. Điều kiện đó là giữ giới (250 giới), để cho đời sống được thanh tịnh và tu tập Tứ đế thì thành tựu quả vị A La Hán .

Quả vị A La Hán được coi là quả vị cao nhất theo kinh tạng nguyên thủy ; quả vị này đoạn trừ được 10 kiết sử : Thân kiến, Giới cấm thủ, Nghi, Tham, Sân, Sắc ái, Vô sắc ái, Mạn, Trạo cử, Vô minh. Đức Phật đôi khi cũng được gọi là bậc A La Hán. A La Hán chữ Phạn là Arahat có 3 nghĩa :

  1. Ứng cúng : xứng đáng cho thế gian tôn kính và cúng dường .
  2. Sát tặc : giết hết giặc phiền não .
  3. Bất sinh : đã thoát khỏi sinh tử luân hồi .

Sau quả vị A La Hán là quả A Na Hàm, tiếng Phạn là Anagamin dịch là Bất lai, tức là không có tái sinh ở dục giới nữa mà an trú ở cõi Trời thứ 19 tức là Tịnh cư Thiên thuộc Sắc giới, tiếp tục tu hành để chứng quả A La Hán. Từ quả vị A na hàm trở xuống gọi là Thánh hữu học. A La Hán được gọi là Thánh Vô học. Đạt được quả vị A na Hàm phải đoạn trừ 5 thượng phần kiết sử là Thân kiến, Giới cấm thủ, Nghi, Tham và Sân .

Sau quả Anahàm là quả Tư đà hàm, tiếng Phạn gọi là Sakrdagamin, dịch là Nhất lai, nghĩa là một lần sanh lên cõi Trời Dục giới, một lần xuống cõi Người mới đắc quả A La Hán. Người chứng quả Tư đà hàm phải đoạn trừ Thân kiến, Giới cấm thủ, Nghi và làm yếu đi Tham và Sân .

Quả vị Thánh thấp nhất là Tu đà hoàn, tiếng Phạn gọi là (Srotappanna, Srotappanni) dịch là Nhập lưu hay Dự lưu (vào dòng Thánh hay dự vào dòng Thánh) cũng gọi là Thất lai, 7 lần sinh 7 lần tử mới chứng quả A La Hán. Người chứng quả Tu đà hoàn phải đoạn trừ 3 kiết sử : Thân kiến, Giới cấm thủ và Nghi .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

    1. Chương này đưa ra định nghĩa về Sa môn theo tiêu chuẩn khá cao là chứng Thánh vị mới gọi là Sa môn .
    2. Đưa ra mục tiêu của người xuất gia là các Thánh quả cần phải đạt được .
    3. Trong 4 Thánh quả, quả vị Tu đà hoàn được coi là giai đoạn "Kiến Đạo", quả Tư đà hàm, Anahàm coi là giai đoạn "Tu Đạo", chỉ quả A La Hán mới được coi là "Chứng Đạo".
    4. Chỉ có quả vị A La Hán, ái dục mới thực sự được đoạn trừ như một người chặt dứt tay chân không có thể sử dụng lại được nữa .

CHƯƠNG 2

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Người xuất gia làm Sa môn thì phải từ bỏ ái dục, biết được nguồn tâm, thấu triệt giáo pháp của Phật, hiểu pháp vô vi. Bên trong không có cái để được, bên ngoài không có chỗ để cầu. Tâm không chấp thủ nơi Đạo, cũng không hệ lụy bởi nghiệp, không có suy tưởng, không có tạo tác, không có tu, không có chứng, chẳng cần trải qua các Thánh vị mà tự thành cao tột, gọi đó là Đạo" .

II. ĐẠI Ý

Phật dạy về tiêu chuẩn của một vị Sa môn, về công hạnh tu tập để thấu suốt chân lý và đạt đến chỗ tột cùng của Đạo .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Giải thích các từ ngữ, thuật ngữ :

Nguồn tâm :Tâm sinh ra vạn pháp (nhất thiết duy tâm tạo) ; về mặt hiện tượng mà nói, nguồn tâm là vọng tâm là vô minh ; về mặt bản thể mà nói thì nguồn tâm là chân tâm, là Phật tánh, tánh thanh tịnh vắng lặng thường trụ của tâm. Biết được nguồn tâm ở đây, có thể là hiểu biết rõ và làm chủ tâm lý của mình .

Sở đắc, sở cầu : Chấp thủ các tiến bộ tâm linh gọi là có chỗ được, ví dụ chấp thủ vào các trạng thái thiền chứng như Sơ thiền, Nhị thiền… có các đối tượng để mong cầu đạt được gọi là có chỗ để cầu (sở cầu), ví dụ mong ước tu hành để được lên thiên đường …

2. Giải thích nội dung :

Trong chương 1 đã nói đến tiêu chuẩn của một vị Sa môn là biết được nguồn tâm và ngộ pháp vô vi. Chương này cũng nói đến tiêu chuẩn ấy, nhưng bổ sung thêm dứt bỏ ái dục và thấu triệt giáo lý của Đức Phật, để hoàn bị hơn về tiêu chuẩn của một vị Sa môn. Về mặt công hạnh tu tập của một Sa môn, thì chương 1 cho rằng giữ gìn 250 giới, sống đời thanh tịnh và thực hành 4 chân lý là Khổ, Tập, Diệt, Đạo, hay 4 niệm xứ là Thân, Thọ, Tâm, Pháp, để chứng đạt được quả vị cuối cùng trong 4 Thánh quả là quả vị A La Hán. Nhưng qua chương này, công hạnh tu tập của một Sa môn có khác là nội tâm không có sở đắc, ngoại cảnh không có đối tượng để mong cầu… Qua đó, ta thấy sắc thái của tư tưởng Bát Nhã và Thiền Học được sử dụng, tức là mang màu sắc tư tưởng Đại thừa, trong khi đó chương 1 mang màu sắc tư tưởng Nguyên thủy. Với công hạnh như vậy, sẽ đạt được chỗ cao tột của Đạo, không nói là quả vị A La Hán, ta có thể hiểu đó là quả vị Phật Đà. Như vậy, chương này cũng nói về tiêu chuẩn, công hạnh và mục tiêu của một vị Sa môn, nhưng nói theo quan điểm của Đại thừa, bổ sung cho hoàn chỉnh theo 2 hệ tư tưởng Phật học là Nguyên thủy và Đại thừa .

Kinh Bát Nhã nói rõ "Thị chư pháp không tướng", tướng của các pháp là vô tướng, vì vô tướng nên vô đắc vô cầu. Các pháp tồn tại tương đối, được mất, có không, thiện ác… là những khái niệm tương đối, thay đổi không ngừng, không có gì cố định. Vì vậy, tinh thần vô chấp là phù hợp với thực tại khách quan, là con đường vượt qua sự trói buộc của nhị nguyên, các khái niệm về các cặp phạm trù đều là giả tạo, là mê cung huyễn hoặc. Những lời dạy tiếp theo như không ràng buộc nơi Đạo, không kết nghiệp, không suy tưởng, không tạo tác, không tu, không chứng… chỉ triển khai thêm tinh thần vô tướng mà thôi ; trên tinh thần đó, các vị Tổ sư cũng đã từng nói : "Đoạn trừ phiền não trùng tăng bệnh, xu hướng chân như tổng thị tà". Nghĩa là đoạn trừ phiền não chỉ làm tăng thêm bệnh, theo hướng chân như vẫn là tà đạo .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

    1. Chương thứ 2 này cũng đưa ra tiêu chuẩn của 1 Sa môn, bổ sung cho hoàn chỉnh tiêu chuẩn Sa môn của chương 1. Điều bổ sung là dứt bỏ ái dục, thấu triệt giáo pháp Phật Đà. Chữ thâm lý ở trong nguyên văn ám chỉ giáo pháp Đại thừa .
    2. Về công hạnh của 1 vị Sa môn, chương này lấy 3 pháp ấn của Đại thừa làm căn bản. Đó là Không - Vô Tướng - Vô Tác (Vô Nguyện) .
    3. Quả vị hay là mục tiêu của một vị Sa môn ở chương này hàm ý quả vị Phật Đà, chứ không phải là A La Hán như chương 1 .
    4. Qua nhận xét trên cho thấy công hạnh và mục tiêu của một vị Sa môn theo quan điểm Đại thừa có khác với Nguyên thủy. Tuy nhiên, dù theo quan điểm nào, thì vị Sa môn cũng phải dựa trên nền tảng chung là Giới hạnh thanh tịnh, thấu rõ nội tâm, thông suốt ngoại giới và mục tiêu là thoát ly sinh tử .

CHƯƠNG 3

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy: "Cạo bỏ râu tóc để trở thành một vị Sa môn, lãnh thọ giáo pháp của Phật thì phải xả bỏ của cải thế gian, mong cầu vừa đủ, giữa ngày ăn một bữa, dưới gốc cây ở một đêm, cẩn thận không trở lại lần thứ 2. Điều làm cho người ta ngu muội là ái và dục" .

II. ĐẠI Ý

Phật dạy về hình thức và sự sinh hoạt của 1 Sa môn .

III. GIẢI THÍCH NỘI DUNG

Những chương trước nói về nội dung của 1 Sa môn. Chương này nói về hình thức và sinh hoạt của 1 vị Sa môn. Về hình thức của 1 vị Sa môn là phải cạo bỏ râu tóc, ngoài ra ăn mặc của vị Sa môn cũng khác biệt thế gian. Mục đích của sự khác biệt này là để xả bỏ trang phục đẹp đẽ ; và để phân biệt với người thế gian như Cảnh sách có dạy : "Người xuất gia phải tâm hình khác tục". Nếu không khác với người thế gian thì dễ hòa lẫn với thế gian, sự hòa lẫn ấy sẽ sinh ra các phiền não lậu hoặc, trở ngại cho con đường tu tập chánh đạo. Câu "Thọ lãnh giáo pháp" ở đây hiểu là theo giới pháp, như thọ Tỳ kheo giới để trở thành vị Tăng thực thụ. Xả bỏ của cải để trở thành Sa môn, vì nghĩa của Sa môn là Bần giả : người nghèo, biểu hiện sự buông xả đầu tiên của người cầu giải thoát. Sự mong cầu vừa đủ nghĩa là nhu cầu của 1 vị Sa môn đủ để sống mà tu hành. Trong kinh Phật dạy 4 nhu cầu của 1 vị Sa môn là y phục, thực phẩm, chỗ ngủ, thuốc men. Đối với 4 nhu cầu này không cầu nhiều và cầu tốt. Giữa ngày, ăn 1 bữa là ăn vào giờ Ngọ. Ăn như vậy đủ để sống mà tu tập, ăn nhiều bữa và ăn ngon làm cho người ta bị lệ thuộc vào món ăn, bị ràng buộc vào món ăn thì khó mà giữ được khí tiết của một nhà tu hành. Dưới gốc cây ngủ một đêm là không lệ thuộc vào nhà cửa, phòng xá, chùa chiền ; lệ thuộc vào đâu cũng phương hại đến công hạnh tu tập giải thoát, sự không lệ thuộc cao đến nỗi ở gốc cây cũng không quá 1 đêm, e rằng sẽ lệ thuộc vào gốc cây đó.

Cách thức sinh hoạt của 1 vị Sa môn như vậy là hết sức đạm bạc và cao thượng. Mục đích của lối sống đơn giản ấy là để có điều kiện hỗ trợ công phu đoạn trừ ái dục, thực hiện hạnh nguyện của một vị xuất gia như chư Tổ đã dạy : "Hủy hình thủ khí tiết, cát ái từ sở thân, xuất gia hoằng Phật đạo, thệ độ nhất thiết nhân", nghĩa là :

Bỏ hình giữ khí tiết,
Lìa ái, xa người thân,
Xuất gia truyền Phật Đạo.
Nguyện độ hết chúng nhân .

III. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN :

Chương này Đức Phật dạy về hình thức của một vị Sa môn, sự sinh hoạt của một vị Sa môn. Các chương 1 và2 nói về nội dung của một Sa môn. Hình thức và sự sinh hoạt của một vị Sa môn có 6 điều :

    1. Cạo bỏ râu tóc .
    2. Lãnh thọ giới pháp .
    3. Xả bỏ của cải .
    4. Nhu cầu vừa đủ .

5. Ăn đúng ngọ.

6. Gốc cây ngủ 1 đêm .

Mục đích của lối sống ấy là để hỗ trợ cho công phu tu tập đoạn trừ ái và dục .


CHƯƠNG 4  

I.CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Chúng sinh do 10 điều mà thành thiện, cũng do 10 điều mà thành ác. Mười điều ấy là gì ? Thân có 3, Miệng có 4, Ý có 3. Thân có 3 là : Giết hại, trộm cắp, dâm dục. Lưỡi có 4 là : Nói 2 lưỡi, nói độc ác, nói dối trá, nói hoa mỹ. Ý có 3 là : Tật đố, sân hận, ngu si. Mười điều ấy không phù hợp với con đường của bậc Thánh, gọi là hành vi ác. Nếu 10 điều ác này được đình chỉ thì gọi là 10 điều thiện vậy".

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy về 10 điều ác và 10 điều thiện .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Chú thích các từ ngữ, thuật ngữ :

Chúng sinh : Tiếng Phạn là Satta (Tát đóa, Bộc hô Thiện Na), dịch là hữu tình (thường gọi là sinh vật). Mỗi một chúng sinh là một tập hợp của 5 uẩn, đều trải qua nhiều lần sinh tử nên gọi là chúng sinh (chúng đa sinh tử). Có 4 phương thức tái sinh : Thai sinh, Noãn sinh, Hóa sinh, Thấp sinh. Theo chủng loại, chúng sinh được phân biệt ra làm 6 loài : Trời, Người, Atula, Súc sinh, Ngạ quỷ và Địa ngục. Trong bài này chúng sinh chỉ cho loài người. Theo Đạo Phật, tất cả chúng sinh dù thuộc loài nào thấp hay cao đều có Phật tính .

Thiện : tiếng Pali là Kusala, nghĩa là lành, tốt có đạo đức .

Ác : tiếng Pali là Agha, tức là xấu, độc, dữ .

Định nghĩa truyền thống thiện và ác trong Phật giáo như sau : Điều gì đem đến lợi ích cho mình, cho người ở hiện tại và tương lai gọi là Thiện. Ác thì ngược lại .

2. Giải thích nội dung :

Chương này nói về hành vi Thiện Ác để phân biệt con đường nào đưa đến hạnh phúc, con đường nào đưa đến khổ đau. Sự hiểu biết và phân biệt Thiện Ác đối với Đạo Phật được coi là có Trí tuệ, có mắt sáng. Trong kinh Tăng Chi Phật dạy : có 3 hạng người :

    1. Hạng mù cả 2 mắt : là hạng người không có khả năng sinh sống về mặt vật chất, và cũng không hiểu biết được pháp nào thiện, pháp nào bất thiện .
    2. Hạng người chột mắt : là hạng người có khả năng sinh sống về mặt vật chất, nhưng không có khả năng hiểu biết pháp nào thiện, pháp nàp bất thiện .
    3. Hạng người đủ hai mắt : là hạng người đủ khả năng đem đến cho mình đời sống vật chất sung túc và cũng hiểu biết rõ pháp nào thiện để hành trì, pháp bất thiện để từ bỏ.

Thân có 3 điều bất thiện là giết hại, trộm cướp và dâm loạn. Dâm loạn nghĩa là tà dâm, và dâm dục quá độ, bừa bãi. Đối với người xuất gia thì chỉ sự dâm dục. Miệng có 4 điều bất thiện : nói 2 lưỡi tức là nói lời kích động khiến hai bên đấu tranh chém giết lẫn nhau. Tục ngữ Việt Nam nói : "Đâm bị thóc thọc bị gạo" là ý này. Nói hung ác hay độc ác là nói những lời thô bạo ác độc như : "Đánh cho mày bể sọ", hoặc nguyền rủa : "Kiếp sau mày làm thân chó"… bình thường hơn thì chửi thề… đều là ác khẩu. Nói dối gạt : có nói không, không nói có để làm cho kẻ khác phải bị tán gia bại sản, thân thuộc chia lìa… Nói lời hoa mỹ có nghĩa là nói lời chải chuốt, hay ho nhưng nội dung không có gì, mang tính phù phiếm đưa đến tác hại cho kẻ khác. Những lời nịnh bợ cũng thuộc điều này. Kinh Tăng Chi, Phật dạy có 3 hạng người :

    1. Hạng nói như phân : là hạng nói ra điều nào đều có tác dụng đau khổ, phiền muộn cho kẻ khác, luôn gây bất hòa, đi đến đâu gây rối đến đó .
    2. Hạng nói như hoa : nói những lời chân thật không dối gạt .
    3. Hạng nói như mật : là những người trước khi nói luôn suy nghĩ. Điều này có đáng nói hay không, có những sự thật nói ra chẳng lợi ích cho ai thì vẫn không nói, là người luôn nói ôn hòa, êm dịu, dễ nghe .

Ý có 3 : tật đố, sân hận, ngu si. Theo Phật giáo tất cả những hành vi bất thiện của thân và miệng đều bắt nguồn từ tâm ý. Bởi vì tâm mới là chủ của hành vi. Kinh Pháp Cú Phật dạy : "Trong các pháp, Tâm dẫn đầu, Tâm làm chủ, Tâm tạo tác tất cả. Nếu đem Tâm ô nhiễm để nói năng hay hành động thì quả báo khổ đi theo, như bánh xe lăn theo chân con vật kéo xe…".

Thường thì Ýó 3, dẫn đầu là THAM, nhưng trong chương này nói là Tật đố thay cho tham. Tật đố là ganh ghét đố kỵ, nhất là đố kỵ sự thành công của kẻ khác. Có lẽ muốn nhấn mạnh về mặt biểu hiện vi tế của tham, để cho người tu hành cần tránh. Người Sa môn đối với tham, thông thường có thể vượt qua, nhưng đối với tật đố khó vượt qua hơn, tật đố gây sự khó khăn cho đời sống tập thể hơn .

Lòng sân là mặt trái của lòng tham. Lòng tham không thỏa mãn thì sinh sân tâm, bất mãn, bực bội. Lòng tham có khuynh hướng ôm giữ, lòng sân có khuyng hướng đẩy ra. Lòng sân mới là chủ nhân của đau khổ, tàn phá và đổ vỡ. Cho nên Cổ đức dạy "Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai" (một niệm sân hận khởi lên, trăm ngàn cửa nghiệp chướng đều mở ra) .

Tâm si là tâm mờ tối, không nhận rõ bản chất của sự vật, do tâm lý mê mờ mà Tham và Sân có mặt. Nếu tâm hồn được ổn định sáng suốt thì những tâm lý tham lam, sân hận sẽ được chế ngự hay hóa giải, Cổ đức có dạy : "Bất úy tham sân khởi, duy khủng tự giác trì" (Không sợ lòng tham khởi lên, chỉ sợ sự sáng suốt không có mặt). Si là tên khác của vô minh, mà vô minh là cội nguồn của sinh tử luân hồi, của đau khổ .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN :

  1. Trong 10 điều bất thiện chia thành 3 nghiệp : Thân, Miệng và Ý, nhưng ý nghiệp là quan trọng nhất.
  2. Trong 3 điều của Ý, Si là quan trọng nhất .
  3. Chỉ cần chấm dứt 10 điều ác thì gọi là 10 điều thiện, chứ không phải là làm 10 điều thiện mới gọi là thiện .

CHƯƠNG 5

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Người có lầm lỗi mà không tự sám hối để mau chấm dứt tâm tạo tội ấy, thì tội lỗi càng chồng chất vào thân như nước chảy về biển, dần dần trở nên sâu rộng. Nếu người có tội mà tự nhận biết tội, bỏ ác làm lành thì tội lỗi tự diệt, như bệnh được đổ mồ hôi dần dần sẽ khỏi bệnh" .

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy người có tội phải sám hối thì tội mới tiêu diệt .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Chú thích từ ngữ, thuật ngữ :

Sám hối : Sám là âm của chữ Sanscrit là Ksamayati. Ksamayati dịch là hối lỗi. Chữ Hối là chữ Hán, nghĩa là ăn năn về tội đã phạm. Ghép 2 chữ Phạn và Hán thành chữ Sám hối. Trong Phật học giáo khoa thư, Trung Hoa thường dịch là Sám ma (Ksama), nghĩa là Hối quá (hối lỗi), thực ra Ksama là thứ lỗi, tha thứ .

2. Giải thích nội dung :

Đã là người thì không ai không có lỗi, điều quan trọng là người ấy có thấy được cái lỗi của mình và ăn năn hối lỗi hay không. Phật dạy có 2 hạng người cao thượng ở đời là : 1 - người không có tội lỗi ; 2 - người có tội mà biết hối lỗi. Có lỗi mà không biết hối lỗi thì tội lỗi càng tăng trưởng, bởi vì khi không biết hối lỗi thì mình yên chí mà tiếp tục lầm lỗi, còn biết lỗi thì hành vi tội lỗi sẽ dừng lại .

Như đã nói ở chương 4, ác nghiệp có 10 điều nhưng đều xuất phát từ ý nghiệp tức là từ tâm thức. Nếu ý được chuyển hóa thì thân và miệng sẽ chuyển theo. Tội đã do tâm tạo thì cũng do tâm mà diệt. Đây là điều quan trọng và đặc biệt của Phật giáo. Tội lỗi là do con người tạo ra và cũng do con người diệt trừ, không do đấng thần linh nào có thể xóa tội cho con người .

Sám hối trong Phật giáo là điều tự giác tự nguyện và thay đổi tận gốc rễ, chứ không phải sám hối là để xóa đi lỗi cũ, mà cứ tạo thêm tội mới. Một người gây nên tội lỗi mà không sám hối về mặt tâm lý sẽ bất an, dẫn đến bất an về sinh lý và hoàn cảnh. Kinh Tăng Chi nói lên lộ trình của tâm thức của một người gây tội mà không hối lỗi như sau:

  1. Có một người nghèo khổ .
  2. Do nghèo khổ nên mắc nợ .
  3. Mắc nợ không trả nổi nên tiền lời gia tăng .
  4. Tiền lời gia tăng chưa trả nên chủ nợ hối thúc .
  5. Bị hối thúc mà vẫn chưa trả nên chủ nợ phải theo sát gót, sợ con nợ bỏ trốn .
  6. Cuối cùng, không có khả năng chi trả nên bị bắt trói .

"Người nghèo khổ" dụ cho người không biết Chánh pháp, Tà pháp điều nào thiện, điều nào ác. "Mắc nợ" tượng trưng cho người vì không biết tu thiện mà làm 10 điều ác. "Tiền lời gia tăng" nghĩa là khi làm ác, tâm muốn che giấu để đừng ai biết, tâm càng nặng nề thêm. "Bị thúc hối" bị mọi người xung quanh chỉ trích, xã hội ruồng bỏ. "Bị theo sát gót" nghĩa là chính nội tâm của mình ngày đêm bất an, lương tâm cắn rứt. "Bị bắt trói" nghĩa là bị hình phạt của xã hội hay bị hình phạt của địa ngục .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Người có tội lỗi mà tự biết tội để sám hối, đó là hạng người tốt .
  2. Tội do ý nghiệp sanh, chuyển ý nghiệp thì tội diệt .
  3. Oscar Widle : "Sự khác nhau giữa ông Thánh và kẻ phạm tội là mỗi ông Thánh có một quá khứ, mỗi kẻ phạm tội có một tương lai".

Điều quan trọng là biết Sám hối thì tâm thức sẽ thăng tiến, đạo nghiệp sẽ thành tựu .


CHƯƠNG 6

I.CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy rằng : "Người ác nghe nói ai làm điều thiện thì đến để phá hoại. Khi gặp người như vậy, các ông phải tự chủ, đừng có tức giận trách móc. Bởi vì, kẻ mang điều ác đến thì họ sẽ lãnh thọ điều ác đó" .

II. ĐẠI Ý

Phật dạy đừng giận trách những người phá hoại thiện pháp của mình .

III. GIẢNG NGHĨA

Giữa điều thiện và ác, giữa người thiện và người ác có một khoảng cách rất xa như sự chết với cái sống, như đau khổ với hạnh phúc, như chiến tranh với hòa bình. Trong kinhTăng Chi Phật dạy :

"Xa thật là xa giữa trời và đất,
Bờ biển bên này và bờ biển bên kia,
Chỗ mặt trời mọc và mặt trời lặn,
Xa hơn hết là pháp của người thiện và pháp của người bất thiện" .

Người ác thường muốn phá người thiện vì nhiều lý do. Lý do về tâm lý là người ác không chịu được người khác nghịch ý của mình, nhất là nghịch 180o . Mặt khác, họ dù là ác vẫn bị mặc cảm tội lỗi, sự hiện diện của các thiện làm cho tâm lý của họ bị dao động hơn. Về lý do xã hội, người thiện càng nhiều thì người ác càng bị lộ diện, và người thiện càng rõ thì người ác càng bị lên án. Muốn cho điều ác được coi là bình thường thì những người xung quanh phải ác .

Vì những lý do đó, nên người ác luôn tấn công người thiện. Người làm điều thiện sẽ được mọi người thương yêu, kính mến; bên cạnh những người đồng cảm với mình, có khá nhiều người đang rình rập, chờ sơ hở của mình mà tấn công. Nếu người thiện buồn phiền giận trách thì thiện pháp tổn giảm, nếu trả đũa thì mình trở thành người như họ. Theo luật nhân quả, ai gieo gió thì gặt bão; người ác phá mình họ sẽ tự hại bản thân họ.

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Người ác luôn phá hoại thiện pháp của người hiền.
  2. Người hiền thật sự là người không phẫn nộ khi bị người ác phá hoại, không ghét người ác .
  3. Người làm ác sẽ bị quả báo ác .

CHƯƠNG 7

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Có người nghe ta giữ đạo, thực hành tâm đại nhân từ, nên đến mắng ta ; ta im lặng không phản ứng. Người kia mắng xong, ta liền hỏi : "O⮧ đem lễ vật biếu người khác, người kia không nhận thì lễ vật ấy trở về với ông không ?". Đáp : "Về chứ" . Ta bảo : "Nay ông mắng ta, ta không nhận thì tự ông rước họa vào thân, giống như vang theo tiếng, bóng theo hình, rốt cuộc không thể tránh khỏi. Vậy, hãy cẩn thận, đừng làm điều ác" .

II. ĐẠI Ý

Phật dạy : "Không nên phản ứng khi gặp người mắng chửi" .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Giải thích từ ngữ, thuật ngữ :

Đại nhân từ : lòng thương rộng lớn, một từ khác của chữ Từ Bi, hay Đại Từ Bi. Chỉ cho lòng thương của bậc Giác ngộ đối với chúng sinh .

2. Giải thích nội dung :

Đức Phật dạy đệ tử không nên mắng lại kẻ mắng mình. Và Ngài minh họa ý đó bằng trường hợp cụ thể của mình. Lời dạy của Ngài ở đoạn cuối là cảnh cáo những kẻ làm ác, thường ưa mắng chửi người khác sẽ gặt lấy tai họa .

Kinh Tương Ưng I (trang 352) mục Phỉ báng, có câu chuyện tương tự chương này : Đức Phật đang ở tại rừng Tre, thành Vương Xá. Bà la môn Akkosaka Bhàradvàja rất bực tức khi thấy một số vị Bà la môn trong dòng họ mình đã từ bỏ gia đình để theo Đức Phật .Ông ta phẫn nộ đến gặp Đức Phật và phỉ báng, mắng nhiếc Ngài thậm tệ. Đức Phật vẫn bình thản rồi hỏi ông ta rằng nếu có khách đến nhà ông, ông có tiếp đãi cơm nước không ? Đáp : Có. Nếu họ không nhận thì món ăn về ai ? Đáp : Về lại chúng tôi. Cũng vậy, này Bà la môn, nếu ông phỉ báng chúng tôi, mắng nhiếc chúng tôi, gây lộn với chúng tôi nhưng chúng tôi không thâu nhận sự mắng nhiếc từ ông. Vậy này, Bà la môn sự việc ấy về lại ông. Này Bà la môn, nếu ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, mắng nhiếc lại khi bị mắng nhiếc, gây lộn lại khi bị gây lộn, như vậy, người ấy đã hưởng thọ, đã san sẻ với ông, còn chúng tôi không cùng san sẻ, hưởng thọ sự việc ấy với ông thì sự việc ấy về lại ông .

Chương này triển khai rộng hơn ý của chương 6, người ác luôn luôn muốn hại người hiền. Thái độ của người hiền là không nên phản ứng lại .

Thông thường, người ta khi bị chửi mắng thì nổi nóng mắng lại, đó là điều dễ hiểu và thông cảm. Nhưng đối với người Phật tử tu tập thì phải làm chủ tâm lý của mình, đừng phản ứng theo thói thường. Sự khác nhau giữa người tu tập Thánh đạo với người thường là ở chỗ đó .

Người ta mắng mình, khiêu khích mình là mong cho mình bị đau khổ, phiền muộn thì người mắng mình đã thành công, nếu mình không mắng lại, không tức tối thì họ thất bại. Kinh Tăng Chi nói về 7 pháp mà kẻ thù của ta ưa thích .

  1. Kẻ thù của ta mong cho ta trở thành xấu xí, nếu ta nóng giận nhan sắc của chúng ta sẽ xấu xí .
  2. Kẻ thù của ta mong cho ta ngủ một cách khổ sở, nếu ta giận hờn thì giấc ngủ của ta khổ sở không yên
  3. Kẻ thù của ta mong ta không đạt được lợi ích gì, nếu ta nóng giận thì ta chẳng đạt được lợi ích gì cả .
  4. Kẻ thù ta mong ta không có tài sản, nghèo hèn, nếu ta nóng giận sẽ khó có tài sản hay sẽ đánh mất tài sản trở nên nghèo hèn .
  5. Kẻ thù ta mong ta không có danh tiếng, nếu ta nóng giận thì ta chẳng có danh thơm tiếng tốt gì .
  6. Kẻ thù ta mong ta cô độc, không có bạn bè, nếu ta nóng giận thì ta sẽ cô độc không có bạn bè .
  7. Kẻ thù ta mong ta chết trong đau khổ và đọa vào địa ngục. Nếu ta thường nóng giận thì ta sẽ chết trong đau khổ và rơi vào địa ngục .

Người tu hành phải làm chủ tâm lý của mình, không phản ứng theo tự nhiên là đánh lại người đánh mình, chửi lại người chửi mình như những người bình thường khác .

Hơn nữa, người nào thường chửi mắng kẻ khác, họ tự đào hố chôn mình, ta không cần mắng chửi lại làm gì

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

    1. Chương này tương tự với bài kinh "Phỉ báng" trong kinh Tương Ưng bộ I (trang 352, Đại Tạng Kinh Việt Nam) .
    2. Chương này minh họa thêm cho chương 6 về người ác thường muốn hại người hiền. Thái độ của người hiền là không nên phản ứng theo thói thường khi bị người khác mắng chửi, phải làm chủ tâm thức của mình. Sự mắng chửi chỉ đem đến tai hại, chứ không đem đến một ích lợi nào .
    3. Người thường nóng giận mắng chửi kẻ khác sẽ gặt lấy hậu quả xấu .

CHƯƠNG 8

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Kẻ ác hại người hiền giống như ngước mặt lên trời mà nhổ nước miếng, nhổ không tới trời, nước miếng rơi xuống mặt mình. Ngược gió tung bụi, bụi chẳng đến người khác, trở lại dơ thân mình, người hiền không thể hại được mà còn bị họa đến bản thân" .

II. ĐẠI Ý

Kẻ ác muốn hại người hiền nhưng không thể hại được, mà còn nguy hiểm cho chính mình .

III. GIẢNG NGHĨA

Chương này một lần nữa nói lên sự đối chọi của người ác đối với người thiện. Nhưng đã thiện thì không có gì phải sợ, tâm lý và hành vi của mình trong sạch thì chẳng ai hại nổi. Bởi lẽ, chánh bao giờ cũng thắng tà. Sự chánh trực sẽ đem đến sức mạnh để chiến thắng cái tà vạy. Người tu hành thường bị ma phá hoại, nhưng trong lòng mình không có ma, thì chẳng có ma nào phá được .

Mặt khác, theo luật nhân quả, gieo nhân thì gặt quả. Hại người bất thiện có thể quả báo đến chậm; nhưng hại người hiền, quả báo đến nhanh hơn, bởi vì sự tai hại rộng lớn hơn, thậm chí quả báo đến ngay lập tức, như trong kinh văn đã thí dụ ngước lên trời phun nước miếng, nước miếng sẽ rơi xuống mặt mình, ngược gió tung bụi, bụi không đến người kia mà trở lại dính vào thân. Trong sách có kể câu chuyện : "Có một người thợ săn dắt bầy chó vào rừng săn bắn, gặp một vị Tỳ kheo. Sau khi săn, chẳng có con thú nào, thợ săn cho là xui vì gặp vị tu sĩ, nên người thợ săn xua chó cắn vị Tỳ kheo. Vị Tỳ kheo hoảng sợ trèo lên cây tránh bầy chó. Người thợ săn chưa hả tức, lấy cung tên nhắm vị Tỳ kheo mà bắn trúng vào bàn chân của vị Tỳ kheo. Vì hoảng sợ và đau, nên vị này đánh rơi tấm y xuống, chụp lên đầu người thợ săn. Bầy chó dữ thấy một người đang lúng túng trong tấm y vàng, tưởng là vị Tỳ kheo té xuống, liền tập trung cắn xé chủ mình cho đến chết

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

    1. Kẻ ác không thể hại được người hiền .
    2. Người hiền không nên sợ kẻ ác, không trách mắng kẻ ác, mà còn thương họ phải chịu hậu quả do chính họ gây ra .

CHƯƠNG 9

I.CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Học rộng, hiểu nhiều, đắm say đạo lý thì Đạo khó hội nhập. Kiên trì tâm chí thực hành thì Đạo rất lớn lao".

II. ĐẠI Ý

Muốn thành tựu đạo quả thì phải thực hành giáo lý, chỉ biết học rộng hiểu sâu thì đạo quả khó thành .

III. GIẢNG NGHĨA

Đạo Phật là con đường giác ngộ, đưa con người đến sự thoát khổ. Đạo Phật là đạo sống, chứ không phải là một hệ thống triết học thuần túy, cũng không phải là Đạo của sự mê tín. Nhiều người nhìn Đạo Phật về góc độ tín ngưỡng tôn giáo, người khác nhìn vào góc độ triết học, và họ thán phục triết lý cao siêu của Phật giáo. Nhưng họ chẳng thu hoạch được lợi ích gì cho bản thân của họ. Đến với Đạo Phật bằng tình cảm tôn giáo hay bằng tri thức, lý thuyết thì không thể nào đạt đến chỗ tinh túy của Đạo Phật. Vì vậy, kinh văn nói : "Học rộng hiểu nhiều, đắm say đạo lý thì Đạo khó hội nhập" là ý này. Hương Nghiêm, Đức Sơn là những thiền sư nổi tiếng về sự thông thái, cuối cùng nhận ra rằng sự thông thái đó chẳng ích gì cho sự giác ngộ chân lý, sự thoát ly sinh tử. Nói như vậy, không có nghĩa là học rộng, hiểu nhiều là vô ích. Học rộng, hiểu nhiều chỉ có giá trị khi nó được sử dụng để tu tập, để hành đạo, biến thành chất liệu sống. Mặt khác, ngôn ngữ lý thuyết, chữ nghĩa không thể diễn tả được chân lý. Sự hạn chế của nó là quá rõ, chấp thủ vào lý thuyết là tự nhốt mình vào trong vòng lẩn quẩn của cuộc đời. Đức Phật đã dạy : "Mỗi quan điểm lý thuyết là một bụi rậm, một mê cung…". Có nhiều nhà nghiên cứu, bác học về Đạo Phật, những công trình của họ thật là vĩ đại, nhưng phiền não không đoạn trừ, khổ đau vẫn tồn tại, sinh tử vẫn triền miên … Những người Phật tử làu thông kinh tạng, tông nào cũng biết, phái nào cũng thông, mở miệng là Phật, là Tổ, là Kinh, là Kệ, Đức Phật cho rằng đó chỉ là những kẻ hý luận mà thôi. Lão Tử nói: "Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn. Dĩ chí ư vô vi", nghĩa là : " Chạy theo sự học thì càng ngày càng thêm phiền toái, mà theo Đạo thì mỗi ngày mỗi giảm thiểu, giảm rồi lại giảm nữa, đến khi hội nhập vô vi". Con đường để thấy Đạo, chứng Đạo phải là con đường thực hành loại bỏ mọi tư duy khái niệm ngã tướng, đó là ý nghĩa "Kiên trì tâm chí thực hành Đạo thì Đạo rất lớn lao".

Trong kinh Di giáo, Đức Phật dạy rằng : "Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện", nghĩa là tập trung tâm ý vào một chỗ, thì không có việc gì là không thành tựu. Châu Lợi Đàn Bà Già là một Tỳ kheo dốt nổi tiếng, nhờ chí tâm hành đạo mà thành tựu Đạo quả. Có những bà già ngu dốt, chỉ chuyên niệm Phật đến chỗ bất loạn mà thành tựu sở nguyện … Những chuyện như vậy không kể hết được. Từ "Thủ chí" rất quan trọng, phương ngôn có câu : "Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền", lòng bền bỉ, nước chảy đá mòn đó là thủ chí. Người xuất gia ban đầu tâm Bồ đề rất mạnh, nếu tâm Bồ đề đó được giữ vững từ đầu cho đến cuối thì chắc chắn sẽ gặp Đạo. Nhưng phần lớn, sơ phát tâm mạnh, một thời gian nó giảm dần, nên độ bền không có, Đạo ngày càng xa, như ta vẫn thường nghe : "Nhất niên Phật tại tiền, nhị niên Phật tại thiên, tam niên Phật biến" .

Người xuất gia như một chiến sĩ ra mặt trận, phải có ý chí quyết thắng, phải có phương pháp chiến đấu thì mới mong chiến thắng mà trở về. Ý chí chiến đấu là Thủ chí hành Đạo, phải có phương pháp, đó là học rộng nghe nhiều. Sự hiểu biết và thực hành phải cân đối. Sự học hỏi phải đi đôi với sự học hành như một người có mắt để thấy, phải có chân để đi ,thấy mà không đi coi như không thấy. Đi mà không thấy sẽ đi vào chỗ tối tăm nguy hiểm. Giữa biết, nói và làm phải là một, như một triết gia Trung Hoa Vương Dương Minh chủ trương : "Tri hành hợp nhất". Đạo Phật là đạo cứu khổ, thoát khổ, cho nên rất chú trọng phần thực tiễn, thực hành. Do đó mà chương này có vẻ như coi trọng thực hành hơn lý thuyết .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

    1. Chương này nói lên sự hạn chế của tri thức và tình cảm, hai lĩnh vực này khó mà hội nhập Đạo được.
    2. Sự quan trọng của ý chí, của quyết tâm sẽ đạt được Đạo quả .
    3. Học và Tu phải song hành, lý thuyết và thực tiễn phải hợp nhất thì Đạo rất lớn .

CHƯƠNG 10

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy rằng : "Thấy người thực hành bố thí, hoan hỷ giúp đỡ thì được phước rất lớn". Có vị Sa môn hỏi Phật : "Phước này có hết không ?" Phật đáp : " Thí như lửa của một ngọn đuốc, hàng trăm hàng ngàn người đem đuốc đến mồi lửa về để nấu ăn hay để thắp sáng, lửa ngọn đuốc này vẫn như cũ. Phước của người hoan hỷ hỗ trợ cho người thực hành bố thí cũng vậy" .

II. ĐẠI Ý

Thấy người thực hành bố thí mà tùy hỷ hỗ trợ thì phước đức rất lớn .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Chú thích từ ngữ, thuật ngữ :

Bố thí : tiếng Phạn là Dàna (Đàn na), Hán dịch là Thí: cho, tặng. Bố thí là công hạnh tu tập của người Phật tử . Có 4 loại :

  1. Tài thí : cho tiền bạc của cải .
  2. Pháp thí : cho lời khuyên hay nói pháp cho người được lợi ích .
  3. Vô úy thí : cho sự không sợ hãi .
  4. Tùy hỷ thí : cho sự vui vẻ, đồng tình .

 

Phước (Phúc) : tiếng Phạn là Dunya, P : Pùnna, là việc tốt, cảnh vừa ý, điềm tốt lành, sung sướng. Trái với tội, tai họa, khổ sở. Biểu hiện của Phước là sự sang trọng, giàu có, sống lâu, đẹp đẽ, yên ổn …

2. Giải thích nội dung :

Chương này nói về hạnh tùy hỷ và hỗ trợ cho người thực hành bố thí, trái với hạnh tùy hỷ là cản trở chê bai người thực hành hạnh bố thí .

Người thực hành bố thí là người đang làm điều thiện. Sự phát tâm của họ thuở ban đầu còn yếu, nên gặp nghịch cảnh họ dễ dàng thoái tâm. Còn làm một việc thiện mà có sự tán trợ của người khác, niềm tin vào thiện pháp được tăng trưởng, họ mạnh dạn và vững chắc ý chí hơn trên con đường thực hành bố thí. Như vậy, nuôi dưỡng và tăng trưởng được tâm bố thí ở kẻ khác là một việc công đức rất lớn .

Sự tùy hỷ hỗ trợ này có 2 phần :

  1. Góp phần công đức bằng vật chất, ví dụ như có người đứng ra quyên góp để cứu trợ người gặp hoạn nạn, ta vui vẻ góp tiền bạc, gạo, quần áo…
  2. Góp phần công đức bằng tinh thần là khuyến khích, tán dương việc làm tốt đẹp ấy, làm cho người kia phấn khởi tinh thần, tâm bố thí càng mạnh .

Mặt khác, khi ta vui vẻ hỗ trợ cho người khác làm việc bố thí, một người làm sẽ tác động đến lương tâm của kẻ khác, họ sẽ noi gương bố thí, tiếp tục ảnh hưởng đến người khác nữa… tạo thành tác động dây chuyền. Việc bố thí trở thành nếp nghĩ, nếp sống của con người trong xã hội thì công đức tùy hỷ kia sẽ lớn lao vô cùng. Bố thí như vậy sẽ được lưu truyền từ đời này qua đời khác, biểu hiện tính chất văn hóa văn minh của con người, nên phước đức đó không thể hết được .

Tuy nhiên, tùy hỷ hỗ trợ kẻ bố thí phải có trí tuệ, vì giúp đỡ cho người bố thí vì danh lợi cá nhân, lấy lòng quần chúng để thực hiện ý đồ tăm tối nào đó, thì không những không có phước mà còn gây họa là đằng khác .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Vui vẻ giúp người thực hành bố thí làm cho người bố thí tăng thêm niềm tin vào thiện pháp, tâm họ được tăng thượng nên công đức rất lớn .
  2. Tạo nên tác động dây chuyền làm cho hạnh bố thí được phổ biến thành nếp nghĩ, nếp sống của con người, lợi ích sẽ lớn rộng, nên công đức rất lớn .
  3. Cản trở là dập tắt lòng bố thí, đẩy người ta vào bóng tối, mình cũng đi theo vào bóng tối .

CHƯƠNG 11

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Cho một trăm người ác ăn không bằng cho một người thiện ăn. Cho một ngàn người thiện ăn không bằng cho một người thọ ngũ giới ăn. Cho một vạn người thọ ngũ giới ăn không bằng cho một vị Tu Đà Hoàn ăn. Cho một trăm vị Tu Đà Hoàn ăn không bằng cho một vị Tư Đà Hàm ăn. Cho một ngàn vạn vị Tư Đà Hàm ăn không bằng cho một vị A Na Hàm ăn. Cho một ức vị A Na Hàm ăn không bằng cho một vị A La Hán ăn. Cho mười ức vị A La Hán ăn không bằng cho một vị Bích Chi Phật ăn. Cho một trăm ức vị Bích Chi Phật ăn không bằng cho một vị Phật ba đời ăn (Tam thế Phật). Cho một ngàn ức vị Phật ba đời ăn không bằng cho một vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng ăn".

II. ĐẠI Ý

So sánh công đức bố thí nhiều hay ít tùy vào đối tượng bố thí .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Giải thích từ ngữ, thuật ngữ :

Bích chi Phật : dịch âm tiếng Phạn Pratryka Buddha Trung Hoa dịch là Độc Giác Phật hay là Duyên Giác Phật tức là người tu hành vào thời kỳ không có Phật pháp, không gặp Phật pháp, tự lực giác ngộ nhờ quán chiếu nguyên lý duyên sinh .

Tam thế chư Phật : chư Phật 3 đời : quá khứ, hiện tại, vị lai. Thường thì Đức Phật Di Đà tượng trưng cho Phật quá khứ, Đức Phật Thích Ca tượng trưng cho Đức Phật hiện tại và Đức Phật Di Lặc tương trưng cho vị lai. Ở chương này muốn nói đến ứng hóa thân của chư Phật trong chúng sinh giới, cụ thể là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni .

Vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng : Ở đây muốn nói đến vị Phật thể tánh, sự thanh tịnh tuyệt đối của bản thể. Phật này là vô tướng Phật, pháp thân Phật .

2. Giải thích nội dung :

Chương 11 này nói về sự sai biệt của công đức bố thí tùy theo đối tượng bố thí. Ở trong A hàm và Nikàya có 2 kinh tương đồng với chương này đó là kinh Cù Đàm Di số 180 (Trung a hàm) và kinh phân biệt cúng dường (Trung bộ kinh 3). Đại ý như sau : Bà Mahapajapati Gotami dâng cúng Đức Phật chiếc y do chính bà cắt may, Đức Phật không nhận, khuyên bà nên cúng y ấy cho Tăng chúng công đức rất lớn. Sau đó ngài dạy về 14 đối tượng cá thể cúng dường được phước :

  1. Bố thí cho bàng sinh được trăm phần công đức .
  2. Bố thí cho phàm phu ác giới sẽ được ngàn phần công đức .
  3. Bố thí cho người giữ (5) giới được trăm ngàn lần công đức .
  4. Bố thí cho ngoại đạo ly dục được trăm ngàn ức công đức .
  5. Bố thí cho vị đang hướng về quả Dự lưu được công đức vô lượng .
  6. Bố thí cho vị đã chứng quả Dự lưu được công đức vô lượng .
  7. Bố thí cho vị đang hướng về quả Nhất lai được công đức vô lượng .
  8. Bố thí cho vị đã chứng quả Nhất lai được công đức vô lượng .
  9. Bố thí cho vị đang hướng về quả Bất lai được công đức vô lượng .
  10. Bố thí cho vị đã chứng quả Bất lai được công đức vô lượng .
  11. Bố thí cho vị đang hướng về quả A La Hán được công đức vô lượng .
  12. Bố thí cho vị đã chứng quả A La Hán được công đức vô lượng .
  13. Bố thí cho vị Độc giác Phật được công đức vô lượng .
  14. Bố thí cho vị Như Lai được công đức vô lượng .

Sau đó Đức Phật dạy thêm 7 đối tượng tập thể nếu bố thí công đức cũng vô lượng .

  1. Bố thí cho Phật và hai chúng Tăng Ni .
  2. Bố thí cho chúng Tăng và Ni sau khi Phật qua đời .
  3. Bố thí cho Tăng chúng .
  4. Bố thí cho Ni chúng .
  5. Bố thí cho vị Tăng Ni đại diện cho Tăng Ni chúng
  6. Bố thí cho vị Tăng đại diện cho Tăng chúng
  7. Bố thí cho vị Ni đại diện cho Ni chúng .

Như vậy so sánh giữa Kinh Tứ Thập Nhị Chương và A Hàm, Nikàya như sau :

  1. Kinh Tứ Thập Nhị Chương không đề cập đến bố thí cho hạng bàng sinh .
  2. Kinh Tứ Thập Nhị Chương không có bố thí cho hạng tiên nhân, ngoại đạo ly dục. Ahàm và Nikàya đặt hạng người này chỉ thấp hơn Tu Đà Hoàn .
  3. Kinh Tứ Thập Nhị Chương không có 4 hạng Tu đà Hoàn hướng, Tư đà Hàm hướng, A na Hàm hướng, A La Hán hướng .
  4. Kinh Tứ Thập Nhị Chương lại đưa thêm một vị được coi là cao hơn Phật là vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng, đây là tư tưởng thiền tông Đại thừa sau này thêm vào.
  5. Về số lượng, đối tượng, Kinh Tứ Thập Nhị Chương có 10; A Hàm và Nikàya có 14 - Đặc biệt A hàm và Nikàya khi ngang mức Tu đà Hoàn trở lên không tính số công đức mà gọi chung là công đức vô lượng

Trong toàn văn kinh phân biệt cúng dường và kinh Cù Đàm Di, Đức Phật dạy cho Mahapajapati Gotami gồm 14 đối tượng cá thể và 7 đối tượng tập thể, ngoài ra còn đề cập đến công đức bố thí hoàn hảo phải nhờ vào đối tượng bố thí và người bố thí đều thanh tịnh. Như vậy nội dung rất rõ và hợp lý .

Kinh Tứ Thập Nhị Chương chỉ trích ngang một đoạn nên có vẻ khập khễnh. Chỉ chú trọng đối tượng bố thí mà không quan tâm đến người bố thí. Nếu người bố thí là kẻ trộm thì đồ vật ăn trộm đem bố thí công đức không thể lớn được .

Dựa trên cơ sở nào để so sánh bố thí cho đối tượng này ít hoặc nhiều công đức hơn đối tượng kia .

Đối tượng bố thí có trình độ đạo đức càng cao thì công đức càng lớn bởi lẽ sự có mặt của một người thiện sẽ có tác dụng tích cực cho những người xung quanh, họ có thể đem lại bình an cho nhiều người. Vì vậy, bố thí cho họ không chỉ đem đến lợi ích cho cá nhân họ mà còn đem lại lợi ích cho số đông, cho nên công đức bố thí ấy lớn hơn công đức bố thí cho người bình thường .

Về mặt tâm lý, khi bố thí cho một người đạo đức Thánh thiện, sự Thánh thiện ấy tỏa ra từ đối tượng bố thí làm cho tâm lý người bố thí chuyển hóa mạnh mẽ, tạo ấn tượng sâu sắc làm cho tăng trưởng niềm tin, sự hoan hỷ phát sinh nên công đức người bố thí càng lớn .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này có xuất xứ trong Kinh Trung A Hàm và Trung Bộ Kinh (Kinh Cù Đàm Di và Kinh Cúng Dường Phân Biệt ).
  2. Đối tượng Tam thế Phật và vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng là được thêm vào sau này, nguyên bản cũ không có .
  3. Bố thí cho người có trình độ, đạo đức và tâm linh càng cao thì công đức càng lớn . Bố thí là pháp môn tu tập của người Phật tử , qua đó làm cho tâm thức của mình được thanh thoát, xả ly .

CHƯƠNG 12


I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Làm người có 20 điều khó : Nghèo nàn bố thí là khó, Giàu sang học đạo là khó, Bỏ thân mạng quyết chết là khó, Thấy được kinh Phật là khó, Sinh vào thời có Phật là khó, Nhẫn sắc nhẫn dục là khó, Thấy tốt không cầu là khó, Bị nhục không tức là khó, Có thế lực không dựa là khó, Gặp việc vô tâm là khó, Học rộng nghiên cứu sâu là khó, Diệt trừ ngã mạn là khó, Không khinh người chưa học là khó, Thực hành tâm bình đẳng là khó, Không nói chuyện phải trái là khó, Gặp được thiện tri thức là khó, Thấy tánh học Đạo là khó, Tùy duyên hóa độ người là khó, Thấy cảnh tâm bất động là khó, Khéo biết phương tiện là khó" .

II. ĐẠI Ý

Phật dạy 20 điều khó làm đối với một con người .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Chú thích từgữ, thuật ngữ :

Vô tâm : không để tâm, không chấp trước vào công việc, không dính mắc và bị lôi kéo bởi công việc .

Ngã mạn : ỷ tài mình, khinh khi lấn át kẻ khác .

Tâm bình đẳng : bình đẳng, tiếng Phạn là Sama, nghĩa là không phân biệt, không thiên vị. Tâm bình đẳng là tâm không phân biệt, không thiên vị, coi tất cả mọi người như nhau .

Thiện tri thức : tri thức là sự hiểu biết, người hiểu biết. Thiện tri thức là người bạn tốt, giúp đỡ ta trên đường đời cũng như trên đường Đạo. Có 3 hạng Thiện tri thức :

  1. Ngoại hộ Thiện tri thức : giúp đỡ các nhu cầu vật chất .
  2. Đồng hạnh Thiện tri thức : đồng tu, đồng học, khuyến khích sách tấn ta tu học .
  3. Giáo thọ Thiện tri thức : người dạy dỗ ta, cho ta kiến thức, sự hiểu biết để tu tập .

Kiến tánh : là thấy tánh, là một từ ngữ của Thiền Tông

Trong bài kệ của Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói : "Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật" . Thấy rõ bản chất của tâm, của vật là không sinh, không diệt, không thiện, không ác, vượt ngoài đối đãi… gọi là kiến tánh .

Tùy duyên : thuận theo hoàn cảnh, điều kiện, nhân duyên mà xử sự. Trong kinh nói : "Tùy duyên bất biến". Thuận theo hoàn cảnh mà xử sự, nhưng không đánh mất bản tính của mình .

Phương tiện : tiếng Phạn là Upàya, cách xử trí khôn khéo để dẫn dắt chúng sinh vào con đường Đạo. Thường gọi là phương tiện pháp môn, là phương pháp tu tập theo căn cơ trình độ của chúng sinh, làm cho được giải thoát .

2. Giải thích nội dung : 20 điều khó làm là :

1% Nghèo nàn bố thí là khó : người nghèo, đời sống thiếu thốn, bức bách , luôn mong cầu có cái để ăn, để mặc, đã có rồi thì phải lo giữ phòng khi bất trắc, nên tâm lý luôn co cụm, không muốn xả ly, nên khó mà phát tâm bố thí. Nếu họ phát tâm bố thí, thì công đức rất lớn vì phải có tâm địa hoan hỷ đến mức cao mới bố thí. Kẻ giàu cũng có tâm lý bảo thủ nên họ cũng khó mà bố thí .

Người Phật tử cần phải hiểu rằng, bố thí trước hết là mở rộng lòng mình (Tâm) . Tâm đã phát thì có cái để cho. Bố thí như đã nói ở chương trước chính là cái Tâm, chứ chưa hẳn là vật chất, nên không ai nghèo cả. Nghèo ở đây là nghèo về mặt tinh thần. Kinh Tăng Chi nói nghèo là không có lòng tin, không có sợ hãi những điều tội lỗi, không có tinh thần đoạn trừ điều ác, và không có trí tuệ. Như vậy, có những kẻ giàu có về mặt vật chất nhưng vẫn cứ "nghèo" như thường. Khi đã không có lòng tin vào Tam bảo và Thiện pháp thì làm sao mà bố thí được. Nghèo nhưng có đời sống tinh thần cao thì nghèo mà "Giàu" .

Truyện Phật giáo có ghi chép hàng loạt những người nghèo mà phát tâm bố thí đem lại công đức lớn cho mình, như chuyện bà già cúng dầu, chuyện bán nghèo, chuyện hai vợ chồng nghèo cúng chiếc áo duy nhất… chứng tỏ sự nghèo mà không nghèo, và cái khó ấy cũng đã có nhiều người vượt qua .

2% Giàu sang học Đạo là khó : người giàu có thường dựa vào của cải, và yên tâm trên của cải, họ không có gì phải lo sợ nên họ không cần phải học Đạo làm gì. Mặt khác, công việc doanh thương đòi hỏi họ phải mưu toan, phải tranh đấu, phải lạnh lùng, ác nhiều hơn thiện, nên càng ngày càng xa với Đạo. Hình như trong kinh Thánh có nói: "Người giàu lên Thiên đường khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim". Và nhà Nho cũng nói :"Vi phú bất nhơn". Hơn nữa, người giàu thường thích hưởng thụ các lạc thú, tìm cầu lạc thú, nên khó mà học Đạo. Bởi vì học Đạo là học con đường xả ly, xả tham sân, si, là con đường tâm linh thanh thoát, từ, bi, hỷ, xả, là con đường đi ngược dòng đời .

Tuy nhiên, không phải ai giàu cũng khó học Đạo. Người giàu mà có trí tuệ, có sự tỉnh thức, họ có thể thấy cái mong manh của tài sản, có thể thấy con đường hạnh phúc thực sự là con đường tu tập Thánh đạo. Trong sử truyện Phật giáo cũng có hàng loạt những triệu phú biết tu học và đắc đạo như Cấp Cô Độc, Vi Sa Kha …

3% Bỏ thân mạng quyết chết là khó : Người hay sinh vật nói chung đều tham sống sợ chết. Bản năng sinh tồn luôn chi phối con người bảo thủ cái thân mạng, cái ta ; cho nên nó xoay sở tìm cách để tồn tại, có khi phải làm điều ác như giết người để người khỏi giết mình. Ít khi vì lý tưởng nào đó mà hy sinh thân mạng, nên gọi là bỏ thân mạng quyết chết là khó .

Quyết chết có nghĩa là giữ vững khí tiết, giữ vững điều thiện hay lý tưởng cao cả như hy sinh cho mọi người … Có những người không muốn sống, họ đi tìm cái chết bằng cách tự tử ; đây cũng là quyết chết nhưng không phải vì lý do cao cả cho nhân quần xã hội, mà đó là cái chết vị kỷ, cái chết do bản năng hưởng thụ hơn bản năng sinh tồn, họ chết vì nghĩ rằng chết sướng hơn. Trong lịch sử Phật giáo có khá nhiều Thánh Tử Đạo, vì Đạo mà hy sinh, như Bồ Tát Thích Quảng Đức là gương sáng cho mọi thế hệ Phật tử Việt Nam. Có người vì giữ giới mà quyết chết, thà chết còn hơn sống mà phạm giới, đó cũng là những cái chết kiên cường. Chỉ có những con người đạt đến chỗ vô ngã mới có thể hy sinh bản thân cho lợi ích của số đông. Vì vậy, nói rằng bỏ thân mạng quyết chết là khó .

4% Được thấy kinh Phật là khó : trong kinh, Phật dạy : "Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn" nghĩa là thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Thấy hay nghe là một. Khó mà thấy nghe và hiểu biết kinh Phật, không phải vì nghèo không có kinh, hay ở chỗ biên địa không có kinh, trong thời đại tiến bộ như hiện nay chỗ nào cũng có kinh sách, thậm chí nhiều là đằng khác. Khó thấy đây là khó thấy chân lý. Con đường đó đi ngược với sở thích của con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, miệng… của mình, nên nghe mà không nghe, thấy mà không thấy, thậm chí không muốn thấy. Khổng Tử nói : "Sáng nghe Đạo, chiều chết cũng đành". Đấy là bậc Thánh nhân khát khao đạo lý. Phần nhiều con người đều khát khao tiền tài, tình ái, danh vọng, cho nên nói thấy được kinh Phật là khó .

5% Sinh vào thời có Phật là khó : Đức Phật như đóa hoa ưu đàm, ngàn năm mới nở một lần, thật hiếm hoi, thấy khó gặp . Theo kinh tạng nguyên thủy, trong một kiếp chỉ có một Đức Phật xuất hiện giáo hóa. Những người sinh vào thời có Phật, được Phật trực tiếp dạy dỗ, dễ dàng đắc Đạo. Phần lớn đệ tử của Đức Phật đều đắc Đạo, đó là sự thật. Tuy nhiên, có rất nhiều người sinh vào thời đó có Phật xuất hiện mà họ chẳng được ích lợi gì. Con số này là con số đông. Vậy thì ta hiểu thế nào về ý nghĩa sinh vào thời có Phật là khó ? Phật nói theo tiếng Phạn là Buddha, nghĩa là người giác ngộ, người tỉnh thức, có thầy, có bạn, cùng nhau sách tấn tu học, phát triển sự tỉnh thức để thực nghiệm chân lý. Với đời sống hằng ngày chung quanh chúng ta, biết bao cám dỗ, cạm bẫy, dối trá là môi trường của ma giới , cạnh tranh chà đạp lên nhau mà sống, làm sao mà gặp Phật được .

Từ môi trường giác ngộ tỉnh thức, chúng ta luôn sống trong ý thức giác tỉnh, nhìn cuộc đời một cách thanh thản, vô ưu, thay đổi cái nhìn từ chỗ u minh thành giác tỉnh, thì môi trường ma quái sẽ thành môi trường giác ngộ. Và như vậy gọi là gặp thời có Phật .

Tóm lại, luôn luôn sống trong tỉnh thức và giác ngộ thì "Sinh vào thời có Phật" là không khó. Ngược lại, dù Phật có ở trước mặt cũng khó mà gặp được .

6% Nhẫn được sắc dục là khó : Người đời gặp chuyện bất bình chịu nhẫn, không nổi nóng, gặp nghịch cảnh trái ý chịu nhẫn không phản ứng. Nhẫn được như vậy được coi là có trình độ cao về nhẫn rồi, nhưng chưa phải là nhẫn cao thượng. Được gọi là nhẫn xuất thế là kham nhẫn đối với sắc dục. Mắt thấy sắc không bị sắc lôi cuốn làm cho dao động và nô lệ cho sắc. Lòng ham muốn sắc dục rất mạnh, vì đó là bản năng của các loài sinh vật. Bản năng hưởng thụ luôn thúc bách con người tìm kiếm lạc thú ; lạc thú cao nhất là sắc dục. Phật dạy : "Nếu có thêm một pháp nào hấp dẫn như sắc dục, thì ta khó hóa độ chúng sanh" . Thói quen hưởng thụ sắc dục làm cho người luôn khao khát, luôn thiếu thốn, và điều quan trọng là sắc dục trở thành nhu cầu cao, rất khó nhẫn nhịn. Sự trói buộc của sắc dục rất đa dạng như vòi của bạch tuột. Kinh Tăng Chi đề cập đến sự trói buộc giữa người nam giới với người nữ giới hay nữ với nam là sự trói buộc qua nhan sắc, qua tiếng cười, qua lời nói, qua lời ca hát, qua nước mắt, qua áo quần, qua vật tặng, qua sự xúc chạm. Có nơi, Đức Phật dạy : "Ngay cả khi chết, người nữ vẫn còn hấp dẫn nam nhân". Vì vậy mà gọi là nhẫn sắc dục là khó. Nhẫn được sắc dục thì con đường Thánh đạo mở ra, nên gọi đó là nhẫn xuất thế .

7% Thấy tốt không ham cầu là khó : Thấy tốt tức là thấy người đẹp, vật tốt, công việc tốt đẹp, nói chung tất cả những đối tượng hợp ý, thích ý phù hợp với sở cầu của mình. Ai thấy tốt cũng mong ước cái tốt ấy sẽ là của mình, và ai cũng mong chiếm hữu nó. Chính vì ai cũng ham thứ tốt, nên thứ tốt là đối tượng tranh chấp, tranh đấu, chém giết lẫn nhau. Do mong cầu thứ tốt, nên khi gặp thứ xấu sinh ra bất mãn, bực tức, và đấu tranh để loại bỏ nó… cuộc sống trở nên rối rắm, bất an .

Người thấy tốt mà không ham cầu là người thấy rõ sự nguy hiểm của cái tốt, thấy được cái xấu của cái tốt và cái vô thường tạm bợ của cái tốt, nên họ không cầu cái tốt. Nhờ có trí tuệ thấy sâu sắc về sự vật nên họ mới làm chủ được tâm lý mong cầu của mình. Nhưng mấy ai có được trí tuệ để vượt thắng những cám dỗ thông thường . Thế nên gọi là thấy tốt không ham cầu là khó .

8% Bị nhục không tức giận tức là khó : Khá nhiều chương trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương đề cập đến sự nhẫn nhục, không phản ứng đối với người sỉ nhục mình, bởi vì nhẫn nhục là công hạnh tu tập quan trọng của người xuất gia hay người Phật tử . Làm chủ được tâm lý, tư tưởng của mình là đời sống tỉnh giác của đệ tử Phật . Sức mạnh của người tu hành không phải ở danh vọng, tiền tài hay vũ khí mà chính là tâm nhẫn nhục .

Có người bị người khác nhục mạ, sắc mặt vẫn điềm tỉnh bình thường, nhưng chưa hẳn là họ đang thực hành nhẫn nhục, mà có thể họ đang trù tính phải trả thù như thế nào cho có hiệu quả. Thánh nhân nói : "Kẻ mà ta nói cho họ tức giận mà họ không tức giận, nếu chẳng phải là người đại lượng thì chính là kẻ nham hiểm" .

Bị nhục là đụng đến lòng tự ái, lòng tự ái là tên gọi khác của tự ngã, nên không ai chịu nỗi nếu bị nhục. Chỉ có Thánh nhân mới đạt đến vô ngã, chịu được sự nhục mạ nên nói rằng bị nhục mà không giận tức là khó .

9% Có thế lực không sử dụng thế lực tức là khó : Con người luôn luôn có chỗ dựa thì họ mới an tâm, cho nên họ tìm kiếm chỗ dựa. Chỗ dựa đó có thể là tiền tài, là những kẻ quyền thế, là danh vọng, là uy tín, là quần chúng. Khi có chỗ dựa an ổn rồi, họ thường ỷ lại vào thế lực của mình để cầu lợi cho mình, làm thiệt hại cho kẻ khác, họ trở thành tự cao tự đại. Tục ngữ Việt Nam nói : " Chó ỷ thế nhà, gà ỷ thế vườn". Đó là thói thường của chúng sinh. Cuộc đời trở nên khốn đốn, bất an, vì tất cả chỗ dựa đó đều mong manh, không bền vững. Chỗ dựa lớn và vững chắc nhất mà họ ít quan tâm đó là chính mình

Người có trí tuệ, có thế lực mà không sử dụng thế lực, nên khi thế lực mất đi, họ vẫn bình thường. Hơn nữa, có thế lực mà không sử dụng thế lực thì không ai phá thế lực của mình làm gì, nhờ đó mà thế lực của mình tồn tại lâu dài. Khổng Tử dạy Tăng Tử : " Thông minh, tài giỏi nên bớt đi bằng cách ngu độn. Công nghiệp to lớn thì bớt đi bằng cách khiêm cung. Sức khỏe hơn người thì bớt đi bằng cách nhút nhát. Giàu có thiên tải thì bớt đi bằng cách nhún nhường. Đó là những cái bớt đi cho khỏi đầy quá. Không quá đầy thì khỏi đổ " .

Biết bao danh nhân thế giới đã chết vì quá chủ quan dựa vào thế lực mà mình có, chính nó làm cho mình tồn tại thì nó cũng làm cho mình sụp đổ. Thấy được điều đó rất khó, nên gọi là có thế lực mà không sử dụng thế lực là khó .

10% Gặp việc vô tâm là khó : Tâm phân biệt của con người rất rõ, phân biệt đâu là khổ, đâu là sướng, cái đáng ghét, cái đáng thương, tướng đối đãi ở đời được con người rạch ròi đôi ngả. Khi sướng thì vui mừng, khi khổ thì đau buồn, gặp phúc thì hớn hở, gặp họa thì héo tàn. Do đó, cuộc đời luôn luôn dao động, bất an và phiền muộn. Cái tâm : "Hữu phân biệt" làm cho con người khổ .

Nếu dùng trí tuệ quán xét cuộc đời là tương đối thôi, có và không, được và mất, hơn và thua chỉ là 2 mặt của một đồng tiền. Chuyện Tái Ông thất mã là một ví dụ. Người xưa thường nói : "Nước trong quá thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn" . Cái khổ của "Hữu tâm" là vậy .

Nếu được "Vô tâm" thì sướng. Vô tâm là vô phân biệt; vô phân biệt là thấy được tính tương đối của vạn vật vũ trụ nên không chấp vào tướng cố định nào, nên công việc của họ an bình hơn và thành công nhiều hơn. Đối với hạnh giải thoát thì vô phân biệt là điều kiện để tiếp cận chân lý. Vượt qua được tầm nhìn hạn hẹp của hữu tâm không dễ, nên gặp việc vô tâm là khó .

11% Học rộng nghiên cứu sâu là khó : Ở đây đặt nặng vai trò và giá trị của học rộng nghiên cứu sâu. Ở chương 9 nói học rộng khó đạt đạo, so với phần này không có mâu thuẫn gì, chương này nói những cái khó chứ không phải nói về cứu cánh của Đạo .

Xưa nay, người trí thức bao giờ cũng là thành phần thiểu số trong xã hội. Sự đóng góp của người trí thức vào công việc xây dựng xã hội phát triển rất lớn . Cái khó của sự học rộng nghiên cứu sâu là ở chỗ :

  1. Khó do hoàn cảnh không cho phép, như môi trường xã hội, tài chánh …
  2. Khó do điều kiện khả năng của bản thân như trí não hạn chế, bệnh hoạn …
  3. Khó do lười biếng , ham hưởng thụ, không có lý tưởng …

Học rộng nghiên cứu là để thấy rõ hơn, sâu hơn và đúng hơn về bản chất của sự vật. Ở đời thì nhờ nhớ sâu và rộng con người có thể giúp ích cho xã hội phát triển kinh tế, học thuật, chính trị… đối với người tu hành thì học rộng nghiên cứu để phát huy chánh pháp, để nhận diện chân lý của cuộc sống và đạt được sự giải thoát tối thiện .

Ngu dốt có 3 :

  1. Không biết những gì cần phải biết .
  2. Biết không rõ những gì đã biết .
  3. Biết những điều không nên biết .

Như vậy, những người có kiến thức sâu rộng đôi khi vẫn bị coi là ngu dốt như thường .

Học rộng, nghiên cứu sâu là điều kiện để vươn tới chân lý và đó là điều khó khăn thực sự .

12% Diệt trừ ngã mạn là khó : ngã mạn là một phiền não căn bản, ai ai cũng có phiền não ngã mạn này. Theo kinh A hàm, thì bậc Thánh A La Hán mới đoạn trừ dứt ngã mạn, có nguồn gốc là chấp ngã; biến tướng của nó rất phức tạp. Duy thức học chia ra 7 hình thức mạn :

  1. Mạn : mình bằng người hay hơn người, sinh lòng kiêu căng, khoái thích về sự bằng hơn đó .
  2. Quá mạn : mình bằng người cho là hơn, mình thua cho là bằng người .
  3. Mạn quá mạn : tranh phần hơn người, người ta hơn mình mà mình cho là mình hơn .
  4. Ngã mạn : ỷ vào mình, khinh chê người khác tự cao tự đại .
  5. Tăng thượng mạn : chưa được nói đã được, như mình chưa chứng Thánh quả nói rằng mình đã chứng Thánh quả .
  6. Ty liệt mạn : có đôi chút tài năng khoe khoang khoác lác là nhiều tài năng .
  7. Tà mạn : kiêu mạn vớ vẩn không có căn cứ, như mình chẳng có đủ đức hạnh mà xưng là có đức hạnh, coi thường Thánh hiền, khinh chê kinh sách…

Người có nhiều ngã mạn, giàu lòng tự ái, luôn làm khổ cho mình và người khác. Ý niệm về cái tôi quá lớn, cản trở con đường Thánh đạo, cuộc đời trở nên nặng nề, có những biểu hiện rõ rệt về mạn, và cũng có những biểu hiện vi tế rất khó diệt trừ . Cho nên, kinh nói là A La Hán mới đoạn trừ được hoàn toàn ngã mạn. Tục ngữ Ấn Độ nói : "Tỏ ra mình hơn người khác chưa phải là hay, cái chân giá trị là có thể nhận ra rằng : "Hôm nay mình đã hơn chính mình ngày hôm qua". Vậy nên gọi diệt trừ ngã mạn là khó .

13% Không coi thường người chưa học là khó : cái bệnh của người có học là coi thường người chưa học hay người ít học. Có học là có tri thức, có địa vị trong xã hội, hay ít nhất cũng được mọi người kính nể, nên thông thường người có học thì có tâm cao ngạo là lẽ thường. Tuy nhiên nếu không nhận ra sai lầm của mình, khinh khi kẻ chưa học thì tai hại lớn lao vô cùng. Một là chấp thủ vào tri thức học vấn của mình, cho đó là cao rồi, thỏa mãn rồi thì tức khắc kiến thức của mình sẽ dừng lại, vì không có tâm cầu học tiếp tục. " Sự học như thuyền chèo ngược nước, không tiến ắt sẽ lùi". Hai là mình không tiếp nhận được những cái hay, những cái đẹp, cái mới ; những điều hay đó ở chung quanh ta, chỉ cần ta tỉnh táo, mở rộng lòng thì sẽ tiếp nhận được. Người xưa thường nói : "Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư", 3 người cùng đi, chắc hẳn có người là Thầy mình, nghĩa là có cái hay cho mình học. Sự học là vô tận, học hoài vẫn chưa thấy đủ, càng học càng thấy mình dốt, có như vậy mới cầu tiến được. Nhưng do bản ngã luôn cho mình là trung tâm vũ trụ, ta đúng mọi người sai, đưa đến tâm lý coi thường người chưa học. Cái khó là ở chỗ đó .

14% Thực hành tâm bình đẳng là khó : tâm bình đẳng là tâm không thiên vị trong đối xử, coi trọng người này, coi khinh kẻ kia, thương người này hơn người kia… Người thân của ta, ta thương hơn, dành ưu tiên cho họ hơn. Người không thân với ta, ta không có gì phải thương, đối xử bình thường. Người thù của ta, ta phải cảnh giác đề phòng, nếu được thì cho nó "một bài học"… Đó là lẽ thường tình của đời sống con người. Người thực hành tâm bình đẳng là người có trí tuệ, thấy được cái tánh bình đẳng của mọi người như : "Ai ai cũng có Phật tánh, ai ai cũng có khả năng thành Phật", cũng thấy cái tướng bình đẳng của mọi người là : "Ai ai cũng có đau khổ, cũng mang nặng nỗi sầu bi" (Cuộc đời là khổ mà !) .

Người thực hành tâm bình đẳng phải thấy tự tánh của vạn pháp là vô ngã, an trú tam giãi thoát môn Không, Vô tướng, Vô tác, cho nên tự tại trên con đường cứu độ chúng sinh. Tâm không bình đẳng thì khóà cứu độ được chúng sinh nào ; ngược lại, họ bị chúng sinh lôi kéo phân thây ra trăm ngàn mảnh và đau khổ vô cùng. Thấy có chúng sinh để hóa độ thì họ chỉ độ một mình họ còn chưa xong .

Về mặt xã hội, nếu ở địa vị cao, chức quyền lớn mà không bình đẳng thì họ sẽ thất bại chua cay. Trong phạm vi gia đình, bạn bè mà không bình đẳng thì gia đình xáo trộn, bạn bè phản bội. Nhưng, mấy ai thấy rõ điều này, lúc nào cũng bị cái ta, cái của ta, cái đẹp, cái xấu … chi phối làm cho tâm trí mê mờ, không thấy được chân lý. Thật khó vô cùng .

15% Không nói chuyện phải trái là khó : bao nhiêu điều xảy ra xung quanh ta, chuyện này phải, người này hay, chuyện kia sai, người nọ dở… cuộc đời rối ren như cuộn chỉ.

Người hay quan tâm đến chuyện người khác, tìm cho được cái hay cái dở của người, họ chẳng được lợi ích gì. Phải là gì ? Trái là thế nào ? Tề vật luận của Trang tử chép : "Người ta ở dưới bùn thì đau ốm, cá trạch có vậy không ?… Cho nên, phải cũng là một lẽ vô cùng, quấy cũng là một lẽ vô cùng. Vậy thì phải quấy không thể tranh biện được. Ta với người tranh luận có sự thắng bại sao ? Ta cùng người có người phải, có người quấy, hay là cả hai cùng phải, cả hai cùng quấy ? Ta với người không hiểu biết được nhau thì người ngoài cuộc làm sao biết được ? Ta mượn ai làm chứng việc này ? Mượn người cùng đồng với ta làm sao chứng được, mượn người cùng đồng với người làm sao chứng được ? Mượn người khác người với ta, đã khác làm sao chứng được ? Vậy ta với người là người ngoại cuộc đều không biết nhau làm sao phân định phải trái ?" .

Chấp thủ phải trái, luôn nói chuyện phải trái làm cho mình bị đóng khung trong lồng kính ngột ngạt và làm cho cuộc đời thêm rối. Không nói chuyện phải trái là điều khó .

16% Gặp được Thiện tri thức là khó : trong Cảnh sách, ngài Quy Sơn có dạy : "Sinh ngã giả phụ mẫu, thành ngã giả bằng hữu". Nghĩa là sinh ta ra là cha mẹ, tác thành ta là bạn bè. Con người nên hay hư, phần lớn do bạn bè. Thiện tri thức là bạn lành, bạn tốt, những người bạn giúp đỡ ta làm điều lành tránh điều dữ, chỉ cho ta con đường đạo đức và hạnh phúc. Có những người bạn như vậy, cuộc đời ta sẽ ổn định, tương lai sẽ rạng rỡ. Không may gặp phải bạn bè xấu thì gọi là ác tri thức. Phần nhiều bạn bè đến với ta thường muốn thuận theo lòng ta, chiều chuộng ta khi ta ước muốn những thú vui thấp kém; hoặc họ thường xúi giục khích lệ ta vào con đường thấp kém đó. Nếu ta là người giàu có, đủ phương tiện để thực hiện cái thú vui đó thì bạn bè càng đông càng chí thiết, cuộc đời ta lún sâu vào tội lỗi mà không hay. Người bạn Thiện tri thức thì ngược lại, họ mong cho ta được hạnh phúc và giúp ta thành công ở đời .

Người Thiện tri thức còn có nghĩa là vị thầy dẫn dắt ta trên con đường giác ngộ. Gặp được minh sư thì con đường ta đi mới sáng sủa, mục đích dễ thành đạt. Gặp người dẫn dắt ta là người mù thì chắc chắn là đi con đường tối tăm nguy hiểm. Ở đời, thầy hay bạn tốt dễ gì gặp, và gặp làm sao phân biệt được. Một hôm, vua Pasenadi hỏi Đức Phật khi thấy 7 vị du sĩ đi ngang qua, rằng trong 7 vị đó, ai là người đã đắc đạo. Đức Phật dạy : "Phải thân cận lâu ngày với 1 người, sống với người ấy trong những hoàn cảnh khó khăn, nghe người ấy đàm luận, ta mới thấy được trí tuệ, đức hạnh và sự chứng đắc của người ấy" . Vì vậy, chúng ta phải sáng suốt chọn thầy lành bạn tốt thì công trình tu tập của ta mới thành tựu được, cuộc đời tu hành mới vững chắc .

17% Kiến tánh học Đạo là khó : người học Đạo thường giữ gìn hình thức, chiếc áo hoặc thời khóa kinh kệ hoặc học tập kinh điển, hoặc tu tập niệm Phật, ngồi thiền … Gọi chung là học đạo, mục đích là đạt được cứu cánh của Đạo. Nhưng chỉ câu nệ vào hình thức, chú trọng thời khóa, nghi thức thì khó mà đắc Đạo. Mục đích không đạt thì chỉ mệt công phí sức mà thôi. Như đã giải thích ở phần chú thích, kiến tánh là từ ngữ của Thiền, bắt nguồn từ Bồ Đề Đạt Ma. Ám chỉ cho trí tuệ soi thấu bản chất của sự vật, là không sinh, không diệt, không sạch, không dơ, không thiện, không ác, vượt ra ngoài mọi đối đãi, mọi hình thức. Khi tâm đã thể nghiệm thực tánh của vạn pháp thì vạn pháp tự thông, mọi tướng trạng đều rõ ràng không cần phải cố công vất vả nữa. Kiến tánh mà học đạo thì đạo đó là đạo cao tột. Cao tột mà như thấp vì ở đâu cũng là đạo, tâm đạo, vật đạo. Học đạo như vậy là khó .

18% Tùy duyên hóa độ người là khó : tùy theo điều kiện nhân duyên, căn cơ trình độ của mỗi người mà giúp đỡ để họ cải hóa tự tâm, thực hành đạo lý giác ngộ. Điều này không phải dễ, thường thì bản thân của vị thầy được giáo dục ở chừng mực nhất định, Kiến giải hạn chế, hoặc có thành kiến, thói quen nếp nghĩ của mình, bị chấp thủ hay dính mắc vào đó, yên trí rằng những kiến thức hiện có là chân lý, nên áp đặt lên quan điểm và trình độ của kẻ khác, trở thành không phù hợp, quên đi mục đích chính là độ người chứ không phải phổ biến quan niệm hay truyền đạt lối tu của mình. Có đủ trí tuệ và khả năng để tùy duyên là rất khó. Bồ Tát Quan Thế Âm có 32 tướng hóa thân để độ chúng sinh, có thể hóa độ cho mọi chúng sinh, sử dụng Tứ nhiếp pháp : Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự làm phương tiện hướng chúng sinh vào nghiệp thiện .

Tùy duyên mà không bị duyên làm thay đổi bản chất và chí nguyện của mình, thường gọi là tùy duyên bất biến. Có người nội lực non kém tùy duyên để rồi bị duyên trần lôi cuốn đánh mất bản thân của mình, không trở lại được. Cho nên, tùy duyên hóa độ là khó .

19% Thấy cảnh không động tâm là khó : Hư Vân Thiền Sư nói : "Kiến vật tiện kiến tâm, vô vật tâm bất hiện" nghĩa là thấy vật liền thấy tâm, không có vật thì tâm không xuất hiện Điều này xác định tâm và vật là một. Cảnh bên ngoài và tâm nhận thức bên trong là một, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Do đó, đừng nghĩ rằng khi gặp cảnh đừng khởi tâm thấy cảnh, vì nghĩa của động tâm là khởi tâm phân biệt tâm – vật chủ thể – đối tượng để rồi tham ái chấp thủ đối tượng và bị nô lệ trói buộc bởi chúng. Ngài Huệ Năng khi đến chùa Pháp Tánh, lúc ấy Ấn Tôn Pháp Sư giảng Kinh Niết Bàn, có 2 vị Tăng đang bàn với nhau về sự lay động của cái phướn. Một người nói gió động, một người nói phướn động; không ai chịu nhường ai. Huệ Năng nói: "Không phải gió động, cũng không phải phướn động mà do tâm các ngài động" .

Kinh căn tu tập ở Trung Bộ Kinh, Bà la môn Pàsàriya chủ trương tu tập các giác quan rằng, muốn cho các giác quan được tu tập thanh tịnh thì mắt không nên thấy sắc, tai không nên nghe tiếng… Đức Phật cho rằng như vậy thì người mù, người điếc lại đắc Đạo hay sao ? Chủ trương của Phật về tu tập giác quan là : "Mắt thấy sắc đẹp dễ thương hay không đẹp không dễ thương, người ấy biết rõ điều ấy. Biết rõ đối tượng ấy là vô thường biến hoại, không thật nên người ấy xả bỏ mau chóng tâm lý chấp thủ đẹp, xấu, dễ thương hay không dễ thương" . Thấy cảnh mà không động tâm là như vậy .

20% Khéo biết phương tiện là khó : phương tiện là phương cách tốt đẹp để thực hiện mục đích. Phương tiện là tương đối. Cứu cánh là tuyệt đối. Như vậy, biết phương tiện có hai mặt : một là biết phương tiện để sử dụng cho bản thân của mình, hai là biết phương tiện để hóa độ cho mọi người. Cứu cánh chỉ có một, phương tiện thì có nhiều (phương tiện hữu đa môn) . Như người phương Tây thường nói : "Con đường nào cũng về La Mã" . Nhưng biết chọn con đường dễ đi mau đến, đòi hỏi phải có trí tuệ cao. Đối với bản thân, thái độ chủ quan, thành kiến, tự mãn thì rất khó mà có trí tuệ, có điều kiện đủ để tìm cho mình một con đường sáng suốt chỉ tìm kiếm theo những dấu mòn xưa cũ. Đối với tha nhân không thấy được nhu cầu của con người, của thời đại. Nhìn tha nhân qua lăng kính của bản thân mình nên luôn áp đặt quan điểm, nhận thức của mình lên tâm tư của thiên hạ, làm sao có thể thành công được. Phương tiện thì nhiều, nhưng nhận ra được phương tiện nào có thể sử dụng được cho mình và cho tha nhân rất là khó. Phải cần có nhãn quan toàn diện và khách quan thấy được quá trình vận động của cá nhân hay xã hội thì mới tìm ra được phương tiện phù hợp .

Giữa tùy duyên và phương tiện có khác nhau ở chỗ là tùy duyên là thuận theo hoàn cảnh mà chuyển hóa mê thành ngộ, xấu thành tốt. Phương tiện là phương pháp để đạt được cứu cánh của sự giác ngộ chân lý .

Tùy duyên mà bất biến. Phương tiện mà không rời mục đích. Có người cứ vận dụng phương tiện, nhưng không biết rằng phương tiện là tương đối, không phải là biện pháp muôn đời. Nó có tính cách giai đoạn. Vận dụng phương tiện mà quên mục đích thì phương tiện ấy không thể gọi là phương tiện đúng nghĩa .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương 12 nói về 20 điều khó được, khó làm. Những điều khó này có lẽ đúc kết qua lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng, chưa hẳn là lời Phật dạy trong một kinh. Xét các điều khó xuyên suốt tư tưởng nguyên thủy cho đến Đại thừa, có tư tưởng thiền tông. Ta có thể xác định rằng những điều khó này được tập hợp từ các kinh và kinh nghiệm của những Tổ sư .
  2. 20 điều khó được sắp xếp thứ tự từ thấp cho đến cao, từ quan điểm Nguyên thuỷ cho đến Đại thừa (theo quan điểm của tác giả) .
  3. Nói lên 20 điều khó là nói đến hướng đi của một người tu tập, cần phải vươn tới và vượt qua. Hai mươi điều khó này cũng là phương thức xử thế, là nguyên tắc đạo đức, người tu tập có thể lấy đó soi mình, như những cách ngôn mà ta thường gặp .

CHƯƠNG 13

I. CHÁNH VĂN

Có vị Sa môn hỏi Phật : "Bởi lý do gì mà biết được đời trước ? Mà hội nhập được Đạo chí thượng?" .

Đức Phật dạy : "Tâm thanh tịnh, chí vững bền thì hội nhập Đạo chí thượng, như lau kính hết dơ thì trong sáng hiển lộ.(cũng vậy) đoạn tận ái dục, tâm không mong cầu thì sẽ biết được đời trước".

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy con đường tu tập để biết được đời trước và đạt đến chỗ chí thượng của Đạo .

III. GIẢNG NGHĨA

Chương này Đức Phật dạy 2 vấn đề :

  1. Cách tu tập để có khả năng biết được đời sống trong quá khứ, cách ấy là đoạn trừ tham dục, không có mong cầu .
  2. Cách tu tập để đạt được chỗ chí thượng của Đạo là thanh tịnh tâm tư và giữ vững ý chí.

Đối với vấn đề thứ nhất, đoạn dục và không mong cầu có nghĩa là đoạn trừ tham dục vị kỷ, những dục lạc tiêu biểu như sắc, thanh, hương, vị, xúc ; Không mong cầu là không cầu được các đối tượng tế nhị hơn, như cầu thần thông, quyền lực tâm linh hay đắc đạo. Mong cầu là biểu tượng của lòng tham dục, có tác dụng là làm khuấy động tâm trí, bất an nội tâm, không thể nào có khả năng biết được đời trước, giống như ly nước bị khuấy động không thể nào trong được. Ly nước phải lắng đọng mới trong, tâm trí phải yên lặng mới "trong" và có thể thấy được tiền kiếp. Túc mạng chính là túc mạng minh, 1 trong 3 minh mà 1 bậc giác ngộ chứng được. Ngoại đạo và bậc hữu học vẫn chứng được Túc mạng minh hay là Túc mạng thông, nhưng khả năng hiểu biết còn hạn chế. Như đã biết ở phần tổng khởi, đoạn dục hay ly dục mới có sự sáng và thấy được đời trước. Vô cầu vi tế hơn đoạn dục, nhưng cùng một gốc với vô dục và tác dụng cũng như nhau. Con người hữu cầu là con người sống cho tương lai, luôn hướng vọng về tương lai, đánh mất hiện tại. Tương lai thì chưa tới, do đó không sống thực được. Chân lý không nằm ở tương lai, mà ngay bây giờ và ở đây. Có triết gia nói : "Chúng ta chỉ chuẩn bị sống chứ không sống" là ý này vậy .

Vấn đề thứ hai, đến chỗ chí thượng của Đạo, CHÁNH VĂN chữ Hán là chí đạo, ở đây muốn nói là thành Phật. Muốn thành tựu được quả vị Phật Đà thì phải làm cho tâm thanh tịnh và giữ vững ý chí. Làm cho tâm được thanh tịnh tức là đoạn dục. Tâm thanh tịnh là nhờ ly dục, ly bất thiện pháp, nhờ tu tập an trú các trạng thái thiền định, lắng đọng bụi trần làm cho tâm trở nên trong sạch, trí tuệ hiển lộ. Con đường tu tập này đã được khái quát trong bài kệ : "Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo", nghĩa là đừng làm các điều ác, hãy làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời Phật dạy. Giữ tâm ý trong sạch là tịnh tâm, tâm được tĩnh lặng, không bị lục dục thất tình chi phối dao động như sóng biển. Do tâm tịnh mà được Túc mạng minh và Thiên nhãn minh .

Giữ vững ý chí, ở chương 9 đã nói rõ vấn đề : "Người hành đạo phải giữ ý chí thì Đạo rất lớn". Có ý chí mới giữ được tiến trình tu tập của mình. Tâm thanh tịnh mà không có ý chí, sự thanh tịnh đó không bền và không đi đến tận cùng của sự thanh tịnh, sẽ là "Đầu voi đuôi chuột" . Cho nên muốn thành tựu Phật Đạo phải có ý chí lớn. Điều đó cũng cho biết rằng trong ý chí có chứa sẵn cái trí tuệ. Ý chí và trí tuệ có liên quan mật thiết với nhau. Do có trí tuệ mà các lậu hoặc được đoạn trừ, đạt đến chỗ chí thượng của Đạo, cũng gọi là Lậu tận minh, mà ở thí dụ của chương nói là "Lau kính hết dơ thì trong sáng hiển lộ".

III. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này bắt đầu bằng sự thắc mắc của một vị Sa môn về 2 vấn đề : làm sao để đạt được Túc mạng minh và làm sao để đạt được Đạo .
  2. Đức Phật dạy con đường để được Túc mạng minh là đoạn trừ tham dục, lòng không mong cầu. Con đường để đắc Đạo là thanh tịnh tâm thức và giữ vững ý chí .
  3. Qua nội dung trên, vị Sa môn đã thắc mắc về con đường tu tập để đạt được quả vị tối thượng (bao gồm tam minh), Đức Phật đã chỉ cho con đường để thành tựu quả vị tối thượng ấy là con đường giới, định, tuệ .

CHƯƠNG 14

I. CHÁNH VĂN

Có 1 vị Sa môn hỏi Phật : "Điều gì là thiện ? Điều gì là lớn nhất ?". Đức Phật dạy : "Thực hành Chánh đạo, giữ sự chân thật là Thiện. Chí nguyện hợp với Đạo là lớn nhất" .

II. ĐẠI Ý

"Thiện"là sống theo đạo lý giữ đúng sự chân thật, "lớn nhất" là chí nguyện

III. GIẢNG NGHĨA

Chương này cũng bắt đầu bằng câu hỏi của 1 vị Sa môn về 2 vấn đề Thiện và Lớn nhất . Đức Phật dạy điều Thiện là thực hành chánh đạo, giữ sự chân thật. Điều gọi là Lớn là tâm chí ngang tầm với Đạo .

Đối với vấn đề thứ nhất, những gì gọi là Thiện ; có 2 phần :

  1. Thực hành Chánh đạo : là tu tập theo Chánh pháp, với người Phật tử tại gia phải giữ gìn 5 giới, thực hành 10 điều thiện. Đối với người xuất gia tu tập Giới, Định, Tuệ, lấy Bát chánh Đạo làm phương tiện tiến tu .
  2. Giữ sự chân thật : Tâm phải chân trực ngay thẳng, hành vi rõ ràng minh bạch, ngôn ngữ không dối gạt. Gọi là giữ điều chân thật .

Như vậy gọi là Thiện .

Vấn đề thứ hai, điều gì được gọi là Lớn nhất. Phật dạy Tâm chí phù hợp với Đạo là Lớn nhất. Đạo là con đường. Đạo là nguyên lý của cuộc sống. Đạo là bản thể tịch nhiên của vạn vật vũ trụ. Ở đây muốn nói Đạo là bản thể, là chân như. Vậy Đạo là vô lượng, vô biên. Đạo là lớn nhất (theo cách nói của phàm trần). Tâm chí phù hợp với đạo là nâng tâm thức của mình lớn dần vượt ra ngoài hạn chế của tư tưởng, ngôn ngữ, hành vi đối đãi, để tâm chí đạt đến chỗ vô lượng, vô biên ngang tầm với Đạo. Cái tâm chí phù hợp với đạo ấy thường gọi là Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi .

Như vậy gọi là Lớn nhất.

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này vị Sa môn hỏi 2 vấn đề : "Thiện và Lớn nhất" . Đức Phật dạy 2 vấn đề : Thiện là thực hành Chánh Đạo, giữ sự chân thật. Lớn là tâm chí phù hợp với Đạo .
  2. Sự vĩ đại của tâm chí chính là sự vĩ đại của Trí tuệ, như một Thiền sư nói : "Trí tuệ vượt tầm giới pháp, Từ bi thấm nhuận non sông" . Đạo và Lớn nhất chỉ ở tâm chí của mỗi con người .

CHƯƠNG 15

I. CHÁNH VĂN

Có vị Sa môn hỏi Đức Phật : "Điều gì là mạnh nhất ? Điều gì là sáng nhất ?" Đức Phật dạy : "Nhẫn nhục là mạnh nhất vì không chứa ác tâm nên tăng sự an ổn. Nhẫn nhục là không ác, tất được mọi người tôn kính. Tâm ô nhiễm đã được đoạn tận, không còn dấu vết gọi là sáng nhất, nghĩa là tất cả sự vật trong 10 phương, từ vô thỉ thuở chưa có trời đất cho đến ngày nay không vật gì là không thấy, không vật gì là không biết, không vật gì là không nghe, đạt được Nhất thiết trí, như vậy được gọi là sáng nhất" .

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy về nhẫn nhục là mạnh nhất và đoạn tận ô nhiễm của tâm là sáng nhất .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Chú thích từ ngữ, thuật ngữ :

Nhẫn nhục : tiếng Phạn là Ksanti, là một đức tính quan trọng của người Phật tử , tỏ rõ sức mạnh nội tâm, cũng là một trong 6 Bala mật của Bồ Tát hạnh. Nhẫn có 3 loại :

  1. Sinh nhẫn (chúng sinh nhẫn) như muỗi, kiến cắn không giận, không giết hại, không sân hận với người sân hận, không chửi mắng người chửi mắng mình, còn gọi là hữu tình nhẫn .
  2. Pháp nhẫn : nhẫn chịu sự áp bức của thiên nhiên như nóng, lạnh, mưa nắng… còn gọi là Phi tình nhẫn .
  3. Vô sinh pháp nhẫn : Nhẫn đạt đến cao độ trở thành đức tính tự nhiên, ra vào nghịch cảnh và thuận cảnh một cách tự tại .

Nhấthiết trí : còn gọi là nhấthiết chủng trí, là trí tuệ hiểu biết tất cả, không có gì là không biết. Thành ngữ này chỉ cho trí tuệ của Đức Phật và bậc Thánh A La Hán.

2. Giải thích nội dung

Nhẫn nhục là nhịn được những điều khó nhịn, mà tâm được an ổn. Nikàya sử dụng từ kham nhẫn, cả 2 ý nghĩa đều giống nhau. Nhẫn được điều khó khăn là biểu hiện sức mạnh của nội tâm. Chỉ có những người có trình độ tu tập cao, có sự kiềm chế lớn mới nhẫn nổi, nên gọi nhẫn nhục là sức mạnh. Nhẫn nhục không phải là hèn nhát như có người tưởng. Người ta mắng mình mình mắng lại, người ta hại mình mình hại lại, đó là phản ứng của động vật. Đạo Phật muốn đem đến cho con người sự hạnh phúc cao thượng, muốn con người văn minh, văn hóa hơn các loài động vật khác nên khuyến khích tu hành nhẫn nhục, là cách tu tập tự chủ, làm chủ tâm lý và hành vi của mình, không phản ứng tự nhiên như các loài động vật khác. Đức Phật dạy trong kinh Pháp Cú : "Tự chiến thắng mình là chiến công oanh liệt nhất". Kinh Tăng Chi nói có 8 loại sức mạnh:

  1. Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc .
  2. Sức mạnh của đàn bà là phẫn nộ .
  3. Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí .
  4. Sức mạnh của vua chúa là quyền uy .
  5. Sức mạnh của kẻ ngu si là áp đảo .
  6. Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa.
  7. Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát .
  8. Sức mạnh của Sa môn là nhẫn nhục .

Vì vậy, người Sa môn không dựa vào tiền tài, quyền thế hay tri thức mà chính là sự nhẫn nhục .

Như trong phần giải thích thuật ngữ, nhẫn nhục có 3 loại : Sinh nhẫn, Pháp nhẫn, và Vô sinh pháp nhẫn, kinh Tăng Chi cũng đưa ra 3 loại kham nhẫn tương tự .

  1. Kham nhẫn đối với nóng, lạnh, đói, khát, sự đau nhói mãnh liệt về thân, sự xúc chạm ruồi, muỗi, các loại bò sát .
  2. Kham nhẫn không chửi mắng lại kẻ chửi mắng, không sân hận lại kẻ sân hận, không hãm hại lại kẻ hãm hại…
  3. Kham nhẫn khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý biết pháp… không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, không bị sắc lôi cuốn và chấp thủ vào sắc…

"Nhẫn nhục là không ác, nên được mọi người tôn kính", điều này trong kinh Tăng Chi nói thêm người không nhẫn nhục có năm điều nguy hại :

  1. Quần chúng không ái mộ, không ưa thích .
  2. Có nhiều người hận thù .
  3. Nhiều người tránh né không muốn gặp .
  4. Lúc sắp chết tâm bị mê loạn
  5. Sau khi chết rơi vào chốn mê khổ .

Vấn đề thứ hai, sự sáng nhất trên cõi đời này, về mặt vật lý mặt trời được coi là vật sáng nhất, nhưng đối với con người thì Đạo Phật cho rằng, Tâm giác ngộ là sáng nhất, điều này đã nói ở những chương trước rằng những dục vọng, mong cầu không còn thì tâm được tĩnh lặng có thể biết được đời trước của mình và của kẻ khác, có thể đạt được quả vị Phật Đà, tâm ô nhiễm chính là tham dục và lòng mong cầu truy tìm quá khứ, khát vọng tương lai. Khi tâm đã lặng như mặt nước hồ thu thì vạn vật sẽ hiện rõ như bóng trong gương, nên nói rằng từ xưa tới nay, không vật gì không thấy, không vật gì không biết, chứng được nhất thiết trí gọi là sáng nhất vậy .

III. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này giống hai chương trên , là do thắc mắc của một vị Sa môn mà Đức Phật giảng dạy. Hai chương trước, chương nào cũng nêu lên hai vấn đề, chương này cũng có hai vấn đề. Như vậy hình thức 3 chương liên tiếp giống nhau .
  2. Chương này nêu 2 vấn đề : điều mạnh nhất và sự sáng nhất, nhưng vấn đề nhẫn nhục quan trọng hơn, vì đó là sức mạnh của một vị Sa môn hay một đệ tử của Phật
  3. Nhẫn nhục theo quan điểm Nguyên thủy hay Đại thừa giống nhau ở chỗ là công phu tu tập chủ yếu của Phật tử, kể cả các định nghĩa đều giống nhau, mặc dù dùng từ ngữ có khác nhau ; được cô đọng 3 phương tiện .
  1. Nhẫn nhục đối với sự khó chịu, sự làm hại của các loài hữu tình .
  2. Nhẫn nhục đối với sự khó chịu, sự làm hại của các loài vô tình .
  3. Nhẫn nhục đối với sự ràng buộc của các pháp nói chung và nói riêng là đối tượng của mắt, tai …

CHƯƠNG 16

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Người giữ ái dục ở trong lòng thì không thấy được Đạo. Thí như nước trong mà lấy tay khuấy động, người ta đến soi không thấy bóng của mình. Người do vì ái dục khuấy động mà trong tâm ô nhiễm nổi lên nên không thấy Đạo được .

Sa môn các ông cần phải xả ly ái dục. Ái dục hết rồi, có thể thấy Đạo được" .

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy ái dục còn ở trong lòng thì không thấy được Đạo. Ái dục hết rồi mới thấy được Đạo .

III. GIẢNG NGHĨA

Đức Phật dạy trong Trung Bộ Kinh : "Như một khúc cây xanh đầy nhựa sống để ở trong nước thì sẽ không nhúm lên được lửa. Cũng vậy, với lòng đầy ái dục người ta sẽ không chứng được chánh đẳng chánh giác. Như một khúc cây xanh đầy nhựa sống vớt lên khỏi nước, cũng sẽ không nhúm lên ngọn lửa. Cũng vậy, với lòng đầy ái dục, người ta không thể chứng được chánh đẳng chánh giác. Như một khúc cây không còn nhựa sống khô ráo có thể nhúm lên ngọn lửa . Cũng vậy, với lòng thanh tịnh, đoạn tận ái dục, người ấy có thể chứng được chánh đẳng chánh giác" Lời kinh này trùng hợp với lời Phật dạy trong chương 16 này .

Ái dục là nguồn gốc của đau khổ, là nguyên nhân, là tập đế trong Tứ diệu Đế. Khá nhiều bài kinh trước đã đề cập đến vấn đề ái dục . Tham dục làm cho tâm ô nhiễm, không sáng suốt. Đối với dục, Đức Phật dạy cần phải biết rõ 3 vấn đề .

  1. Vị ngọt : đối tượng của ái dục luôn đem đến sự vui thích, sự cảm thọ sung sướng, đam mê, vì vậy mà ai cũng ham muốn, luôn tìm kiếm .
  2. Sự nguy hiểm : vị ngọt là một mặt của dục và sự nguy hiểm là mặt trái của dục. Lạc thú hay vị ngọt ấy không bao giờ thỏa mãn, làm cho con người luôn khao khát, tìm cầu vô tận. Lạc thú của dục vô thường tạm bợ. Tìm kiếm rất vất vả, có thể vì lạc thú mà con người có thể hy sinh thân mạng của mình hay triệt tiêu sinh mạng của kẻ khác. Có được rồi lo giữ gìn, mất đi thì đau khổ … Tôi thí vua, con giết cha, vợ phản bội chồng và nhiều sự đau thương khác đều do ái dục mà ra .
  3. Sự xuất ly : phải biết rằng xa lìa được ái dục là thảnh thơi, là giải thoát. Sự đau khổ do vướng vào ái dục, thì sự hạnh phúc do xa lìa ái dục .

Đối tượng của ái dục thường được gọi là tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ, hoặc là sắc, tiếng, hương thơm, mùi vị, cảm giác, xúc chạm. Thực ra, điều quan trọng vẫn là lòng ái dục chớ không phải do các đối tượng của giác quan, là chủ nhân gây họa. Do không có trí tuệ, không thấy rõ bản chất của lạc thú, của đối tượng nên mình lệch lạc, chấp thủ ái dục. Do ái dục khuấy động nên tâm tư mờ tối, giống như chậu nước trong lặng, lấy tay quấy lên thì không thể soi bóng mình được .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Cho đến chương 16 này thì vấn đề ái dục được đề cập trong 7 chương, chương này dành trọn vẹn cả chương để nói về sự khuấy động của ái dục làm cho tâm không sáng suốt và do đó không thấy được Đạo .
  2. Ái dục chính là Tập đế, nguyên nhân của đau khổ, mà trong Luật đã dạy : "SINH TỬ CĂN BẢN, DỤC VI ĐỆ NHẤT" .
  3. Đức Phật khuyên các thầy Sa môn cần phải đoạn tận ái dục để thấy được Đạo, bằng cách thấy như thật vị ngọt, sự nguy hiểm và xuất ly ái dục.

CHƯƠNG 17

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Người thấy được Đạo cũng như cầm đuốc vào trong nhà tối, bóng tối liền mất, còn lại ánh sáng. Người học Đạo mà thấy được chân lý thì vô minh liền diệt, chỉ còn trí tuệ" .

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy về tính chất của các bậc kiến đạo hay ngộ đạo .

III . GIẢNG NGHĨA

1. Giải thích từ ngữ, thuật ngữ :

Kiến đạo : là thấy Đạo, thấy được chân lý, đồng nghĩa với từ Kiến đế ở trong bài. Theo kinh dạy, thì bậc Kiến đạo là vị chứng quả vị Tu Đà Hoàn, là vị Thánh đầu tiên trong 4 quả vị. Đối với Bồ Tát đạo thì bậc Kiến đạo đạt được địa thứ 4 trong 10 địa (Kiến địa, Diệm huệ địa) .

Vô minh : tiếng Phạn là Avidya, nghĩa là không sáng suốt, mê mờ, không thấy rõ bản chất của sự vật, đồng nghĩa với chữ Si .

2. Giải thích nội dung :

Chương này Đức Phật nói về tính chất của một bậc Kiến đạo. Bậc Kiến đạo tức là người thấy được chân lý, thấy được sự thật, không còn là bị sự vật làm cho mê muội nữa, một lần thấy là thấy vĩnh viễn. Ở đây chỉ cho quả vị Tu Đà Hoàn, hay còn có nghĩa là bậc dự vào dòng Thánh bất thoái chuyển, không trở lại mê lầm nữa. Sau quả vị Kiến đạo, còn có các quả vị tu đạo là để cân bằng giữa sự thấy và hành động. Sau đó là chứng Đạo tức là đạt đến chỗ tột cùng .

Trong kinh sử dụng ví dụ người cầm đuốc đi vào nhà tối, bóng tối liền biến mất chỉ còn ánh sáng là để dụ cho trí tuệ thấy được chân lý, không còn trở lại tối tăm mê lầm nữa, minh họa cho ý bất thoái chuyển của bậc kiến đạo .

Từ Kiến đế nghĩa là thấy chân lý. Chân lý ở đây là 4 chân lý KHỔ – TẬP – DIỆT – ĐẠO. Trong kinh A hàm , Đức Phật dạy, ai thấy được khổ đế, người ấy thấy luôn cả nguyên nhân khổ, sự diệt khổ và con đường diệt khổ .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

Chương này Đức Phật nói về tính chất của bậc Kiến đạo, tức Thánh Tu Đà Hoàn. Bậc Thánh này đã thấy được chân lý, tâm không còn mê muội nữa, và không còn trở lại trạng thái mê lầm nữa như người cầm đuốc vào nhà tối, bóng tối hết, chỉ còn ánh sáng .


CHƯƠNG 18  

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Pháp của ta là Niệm mà không còn chủ thể Niệ⭠và đối tượng Niệm, Làm mà không còn chủ thể Làm và đối tượng Làm, Nói mà không có chủ thể Nói và đối tượng Nói, Tu mà không còn chủ thể Tu và đối tượng Tu. Người ngộ thì rất gần, kẻ mê thì rất xa. Dứt dường ngôn ngữ, không bị ràng buộc bất cứ cái gì. Sai chỉ một hào ly thìất tức khắc .

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy thực thể của Đạo thì nằm ngoài phạm trù ngôn ngữ tư duy và bị tác thành của hữu vi pháp.

III. GIẢNG NGHĨA

Chương này nói về thực thể của Đạo. Chữ PHÁP ở trong chương này chính là Đạo. Pháp là nguyên lý, là thể tánh của vạn vật. Pháp này (hay là Đạo) siêu việt chủ thể và đối tượng, nên nằm ngoài phạm trù ngôn ngữ, tư duy và tác thành của hiện tượng giới. Đạo không có tướng để có thể khái niệm hay tư duy. Kinh Kim Cương nói : "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai". Nghĩa là nơi nào có tướng là nơi đó có sự giả dối. Nếu thấy được tính cách không tướng của các tướng, tức là thấy được Như Lai. Cái gì mà có tướng là có chủ thể và đối tượng đối đãi nhau, cái đó là hư vọng. Vì vậy, Lão tử nói : "Đạo khả đạo phi thường đạo. Danh khả danh phi thường danh", nghĩa là "Đạo mà có thể nói được không phải là "đạo chân thường". Danh mà có thể gọi được không phải là"danh thường tại", Đạo là thực tại nằm ngoài phạm trù đối đãi của ngôn ngữ, khái niệm… nên nghĩ hay nói về Đạo hẳn nhiên không phải thực tại của Đạo. Với ý nghĩa đó Kinh Kim Cương nói : "… Chẳng có một pháp gì riêng biệt được gọi là vô thượng chánh đẳng giác, cũng không pháp nào riêng biệt được Như Lai tuyên thuyết. Vì sao ? Vì những pháp Như Lai đã chứng, đã nói thì không thể nắm bắt được, cũng không thể diễn tả được. Đó không phải là pháp, cũng không phải là không pháp…" Vì vậy mà nói pháp của Như lai không có chủ thể tu và đối tượng tu". Tư duy nói năng và hành động thí cách Đạo rất xa. Đạo vốn chẳng gần chẳng xa. Ngộ thì rất gần, mê thì rất xa.

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này nói về thực thể của Đạo. Pháp ở đây chính là Đạo, Đạo là Niết bàn chân như ; đạo này không thể nắm bắt được bằng tư duy, tạo tác, nói năng hay tu tập .
  2. Người hiểu hay ngộ được lý đạo này thì ở đâu cũng là Đạo, người không ngộ được thì Đạo rất xa .

Chương này mang tư tưởng của Kinh Kim Cương Bát Nhã và phong thái của Thiền tông. Dĩ nhiên tư tưởng này được thêm vào về sau .

CHƯƠNG 19

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Quán trời đất nghĩ là vô thường, quán thế giới nghĩ là vô thường, quán linh giác tức là Bồ đề. Hiểu biết như vậy thì chóng đắc đạo" .

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy về đối tượng quán chiếu để mau thành Đạo quả .

II. GIẢNG NGHĨA

1. Chú thích từ ngữ, thuật ngữ :

Bồ đề : dịch âm của tiếng Phạn là Bodhi, dịch nghĩa là Giác, giác ngộ, trí tuệ.Tâm giác ngộ gọi là Tâm Bồ đề. Linh giác : tâm linh giác ngộ, hay tuệ giác linh thiêng của chúng sinh .

2. Giải thích nội dung :

Chương này, Đức Phật dạy về đối tượng quán chiếu. Có 2 đối tượng :

  1. Trời đất và thế giới, có thể gọi là vũ trụ vạn vật, quán vũ trụ vạn vật cho sâu sắc để thấy cái tính vô thường của nó .
  2. Tâm linh giác ngộ là Bồ đề ; quán tâm niệm tỉnh giác của mình chính là sự giác ngộ .

Vấn đề thứ nhất : Vũ trụ vạn vật chung quanh ta là đối tượng tiếp xúc của các giác quan và ý thức. Ta luôn luôn thấy nó bền vững, chắc thật như tảng đá, ngọn núi, bầu trời, trái đất … Chúng ta dễ dàng thấy sự vô thường của bọt nước, của ánh chớp, của sương mai … nhưng ít khi chúng ta thấy rõ sự vô thường của các thiên hà, của những hiện tượng lớn trong vũ trụ. Vì vậy Đức Phật dạy, phải thấu triệt bản chất của vũ trụ vạn vật từ lớn cho đến nhỏ đều vô thường. Thấy sự vô thường một cách toàn diện của mọi sự vật là ta đã có trí tuệ, rất gần với sự giải thoát .

Vấn đề thứ hai : Quán linh giác tức là Bồ đề Linh giác là Tâm linh giác ngộ có sẵn trong mỗi chúng sanh. Vì không tu tập khai mở khả năng sẵn có ấy nên chúng sanh chìm trong mê muội. Bồ đề là Tuệ giác để khai mở kho tàng giác ngộ thiêng liêng ấy. Vì vậy nếu xét để thấy rằng tâm niệm tĩnh giác (chánh niệm tĩnh giác) cao độ là Bồ đề, tâm Bồ đề với nguồn linh giác là một .

Sự nhận thức về bản chất vô thường của vũ trụ vạn vật chính là tâm Bồ đề. Tâm ấy với nguồn cội giác tánh không khác nhau. Do đó thấy được tánh giác của mình. Rốt cuộc sự tu tập quán chiếu về vô thường vẫn là điều quan trọng nhất để đạt được giác ngộ .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

Chương này, Đức Phật dạy về đối tượng quán chiếu, thấy rõ tính chất của các đối tượng ấy để mau đắc Đạo. Đối tượng thứ nhất là vạn vật vũ trụ, phải thấy được tính vô thường của nó. Đối tượng thứ hai là tâm tĩnh giác; phải thấy rõ chính tâm tĩnh giác là Bồ đề. Như nói niệm giác ngộ với sự giác ngộ là một .

Do quán thiên địa mà thấy bản chất của vạn vật vũ trụ và do quán linh giác mà thấy khả năng giác ngộ của mình. Như vậy, có thể nhanh chóng thành tựu Đạo quả .


CHƯƠNG 20

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Phải biết rằng bốn đại ở trong thân thể, mỗi đại có một cái tên (Địa, Thủy, Hỏa, Phong) đều là không có Ngã, cái Ngã đã không có, thì cái có chỉ như ảo hóa mà thôi .

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy phải quán xét sự huyễn hóa của thân thể .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Chú thích từ ngữ, thuật ngữ :

Bốn đại : tiếng Phạn là Mahabhutas, là bốn yếu tố vật chất : Đất, Nước, Lửa, Gió .

Nga tiếng Phạn là Atman, nghĩa là Ta hay Tôi, tức quan niệm rằng thân của ta có một năng lực chủ thể thường hằng bất biến .

Như ảo (như huyễn) : giống như thật mà không phải thật, sự vật có thể nhìn thấy, nghe thấy như thật mà không phải thật .

2. Giải thích nội dung :

Khi ta nói đến thân tôi có nghĩa là ta nói đến các chủ thể ngự trị trên thân xác, thường gọi là linh hồn, là cái tôi. Cái được gọi là Ngã, nghĩa là một thực thể tồn tại độc lập, bất biến, trường cửu, cái linh hồn ấy đứng đằng sau sự chuyển biến vô thường của thể xác. Sau khi chết, xác tàn hoại, linh hồn sẽ rời khỏi đi đầu thai ở đâu đó. Thực ra, theo đạo Phật chẳng có cái ngã nào như vậy. Chủ trương vô ngã của đạo Phật hết sức đặc biệt, và đó là điều chính yếu để phân biệt giữa Đạo Phật và các tôn giáo khác. Chủ trương đó xuyên suốt hệ thống Phật học, phù hợp với chân lý, với thực tiễn, chỉ có điều nó ngược lại với sự suy tư và mong ước của người đời .

Trong chương này đề cập đến cái thân xác này do bốn đại tạo nên, là tập hợp của bốn yếu tố vật chất : đất, nước, lửa, gió . Không có cái gì là Ngã, là chủ thể cả. Cái mà ta hiện có ta tưởng là Ngã, là chủ thể, thực ra chúng có mà không thật, không độc lập, không tồn tại lâu, gọi là huyễn, ảo mà thôi .

Nói một cách đầy đủ hơn, con người là tập hợp của 5 yếu tố : vật chất, cảm giác, tri giác, tâm hành và nhận thức. Năm yếu tố này làm nhân, làm duyên nương tựa nhau mà tồn tại. Không có cái nào được gọi là "chủ" cả, ngay cả "nhận thức" là yếu tố thứ năm tồn tại nhờ sắc (vật chất), thọ, tưởng… Kinh Tương ưng nói : "Nếu có người nói tôi sẽ chỉ ra sự đến, sự đi, sự sinh, sự phát triển của nhận thức biệt lập với sắc, thọ, tưởng, hành thì người ấy đã nói một chuyện không có thực" .

Sự tồn tại của thân hay của sự vật nói chung là sự tồn tại duyên sinh :"Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt" .

Đó chính là lẽ tự nhiên của cuộc đời, không có một linh hồn, một chủ thể nào độc lập ngự trị trên thân xác một người, chỉ có sự nhận lầm của con người về sự hiện hữu của cái Ngã, từ đó chấp thủ cái Ngã, lo tô bồi cái Ngã, thỏa mãn cho nó, vì vậy mà chiến tranh, đau khổ, tàn phá…xảy ra. Chấp Ngã là nguyên nhân toàn diện cho mọi sự đau khổ của thế gian .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này Đức Phật dạy quán thân là vô thường, không có chủ thể, chỉ có sự tập hợp của bốn yếu tố : đất, nước, lửa, gió mà thôi .
  2. Do không có một thực thể bất biến, nên vạn vật chuyển biến không ngừng. Sự có mặt của thân vật… như thật mà không phải thật, chỉ là hư ảo mà thôi .
  3. Quán Vô Ngã như thế, sẽ thấy được chân lý và chấm dứt mọi khổ đau .

CHƯƠNG 21

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy :"Người thuận theo lòng dục để mong được danh tiếng, khi danh tiếng vừa nổi, thì thân đã mất rồi. Ham muốn cái danh tiếng thường tình mà không lo học đạo chỉ uổng công mệt sức mà thôi. Giống như đốt hương, khi người ta ngửi được mùi thơm, thì cây hương đã tàn rồi. Cái lửa hại thân theo liền cái danh tiếng.

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy không nên cầu mong được danh tiếng, có hại cho sự học Đạo .

III. GIẢNG NGHĨA

Danh tiếng là mục đích hướng đến của nhiều người. Nó được liệt vào trong năm dục, tức năm đối tượng hấp dẫn con người. Từ những danh tiếng dễ thấy như thích chức vụ, đăng báo, chụp hình, đến những danh tiếng tế nhị khó thấy như mừng vui khi được người khác khen ngợi, ca tụng và buồn rầu khi bị chỉ trích chê bai, đều là danh cả. Cho đến các việc làm từ thiện mang tính nhân ái cao cả vẫn bị danh tiếng làm cho hoen ố. Mấy ai mà không ham danh ! Ở đâu mà không có danh ! Do vậy đau khổ ở đâu cũng có. Ham danh là khổ, bởi lẽ sự việc ở cuộc đời không bao giờ thuận theo ý thích của mình, làm sao mà đạt được sự không bị chỉ trích ? Người xưa nói : "Thùy nhân bối hậu vô nhân thuyết" (Ai là người mà không bị kẻ khác nói xấu sau lưng) , được khen thì vui, bị chê thì buồn. Đó là tai họa của kẻ thích danh. Kinh Pháp Cú đã dạy : "Như ngọn núi kiên cố chẳng bao giờ bị lay động. Những lời hủy báng hay tán dương chẳng bao giờ làm lay động người đại trí." Đừng khốn khổ vì sự chỉ trích là lo làm vui lòng kẻ khác, vì không có gì ngu ngốc hơn là muốn làm hài lòng mọi người. Có những người suốt đời chạy theo danh tiếng, làm lụng vất vả để mưu cầu tiếng thơm, đúng như người xưa đã nói : "Càng cao danh vọng càng dày gian nan", nhưng cho đến khi có danh hoặc khi mọi người biết đến mình thì mình đã chết rồi, đúng là "Chết mới nói được nên lời" . Thí dụ đốt hương rất hay, khi hương đã lan tỏa đến người thưởng thức thì bản thân cây hương đó sắp tàn hay đã tàn rồi .

Cái danh thường tình của cuộc đời nó làm hại mình nhiều hơn là lợi, vì danh mà ta phải làm nhiều điều thất nhân tâm, vì danh mà ta đánh mất con người thật của chính mình. Trang tử nói : "Làm theo danh mà bỏ mất mình thì không phải là kẻ sĩ" . (Đại Tông Sư). Lão tử cũng nói : "Danh mà có thể gọi được không phải là danh thường" . Danh đó là vô thường nên chỉ là "Uổng công mệt sức", như trong chương này đã nói mà thôi .

Câu cuối cùng của chương này nói rằng ngọn lửa tham danh làm hại thân theo liền sau đó là Đức Phật xác định rằng tai họa của sự tham danh xảy ra ngay trong đời sống hiện tại chứ không hẳn đời sau mới chịu.

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

1. Tham danh tiếng là một trong năm đối tượng hấp dẫn đó là Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy .

  1. Người tùy theo lòng dục chạy theo danh tiếng hão huyền, tâm luôn dao động không có điều kiện tu tập giải thoát, nên kết quả thì đau khổ cho đời này và đời sau .

CHƯƠNG 22

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy :"Tiền tài và sắc đẹp đối với con người rất khó buông xả. (Tiền tài và sắc đẹp ấy) giống như chút mật trên lưỡi dao, không đủ cho bữa ăn ngon, thế mà đứa trẻ liếm vào thì bị nạn đứt lưỡi" .

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy về sự ràng buộc tai hại của tiền tài và sắc đẹp .

III. GIẢNG NGHĨA

Chương 21 nói về danh tiếng là đối tượng của dục thứ ba trong năm dục. Chương này Đức Phật dạy về hai đối tượng của dục là tiền tài và sắc đẹp, là hai đối tượng chủ yếu của năm dục .

Sự nguy hiểm của dục (tiền tài và sắc đẹp) ở chương này được ví dụ như chút mật trên lưỡi dao, có vị ngọt đấy, nhưng không đủ để bù đắp cái thiệt hại đứt lưỡi .

Trung A hàm Kinh ANLETRA, Đức Phật có dạy thêm một số ví dụ vị ngọt và sự nguy hiểm của dục như :

  1. Khúc xương : chỉ còn một chút ít thịt dính vào xương, con chó gặm rất vất vả . Dục cũng như vậy .
  2. Miếng thịt : con quạ có miếng mồi ngon là miếng thịt, những con quạ khác tranh nhau cắn mổ để giành miếng thịt. Dục cũng như thế .
  3. Bó đuốc cỏ khô : cây đuốc cháy hết sẽ bị nạn cháy tay. Dục cũng như vậy .
  4. Dục như hầm lửa : người bị bệnh phong đến bên hầm lửa hơ rất thích thú, nhưng sau khi đó bị nóng rát…
  5. Rắn độc : cầm nắm đầu rắn độc không vững sẽ bị rắn cắn chết .
  6. Như giấc mộng : như người nằm mộng thấy nhiều cái đẹp nhưng tỉnh giấc mộng không có gì cả, như mộng Nam kha, mộng Hoàng lương…. Chẳng hạn. Dục cũng như thế .
  7. Như đồ vay mượn : đồ vật mượn của kẻ khác thì phải trả, không phải của mình. Dục cũng như vậy .
  8. Như gậy nhọn : người cầm cây gậy nhọn nếu không cẩn thận vấp té sẽ tự đâm hại bản thân mình .
  9. Như trái cây : cây có trái ngon có nhiều người đến hái. Dục cũng như vậy .
  10. Như lò thịt : là chỗ giết thú lấy thịt, nơi đầy máu và nước mắt. Dục cũng như vậy

Đó là 10 ví dụ về dục được trình bày trong các Kinh A Hàm, và Nikàya nói lên mặt nguy hiểm của tài sản, sắc đẹp, danh vọng, ăn, ngủ. Sự nguy hiểm của Dục trong kinh Đại Khổ Uẩn có nói 7 sự nguy hiểm như :

  1. Vì dục mà lo đấu tranh, nỗ lực làm việc vất vả .
  2. Nỗ lực mà vẫn không đạt được tài sản như ý, sinh ra thất vọng .
  3. Nếu đạt được tài sản … lo giữ gìn, sợ cướp giựt .
  4. Cha con anh em tranh đoạt nhau, đâm chém nhau .
  5. Con người vì dục mà sinh ra chiến tranh .
  6. Vì dục mà giết hại, đi ăn trộm, tà dâm, bị bắt bớ tù đày .
  7. Thân khẩu ý bất thiện, chết sinh vào đọa xứ .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này nói về hai đối tượng hấp dẫn trong năm dục, đó là tiền bạc và sắc đẹp.
  2. Không buông xả hai loại đối tượng của sự ham muốn này rất nguy hiểm, giống như chút mật trên lưỡi dao, liếm vào có thể bị đứt lưỡi .

CHƯƠNG 23

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Người bị vợ con, nhà cửa ràng buộc còn hơn là lao ngục. Lao ngục có kỳ hạn được phóng thích còn đối với vợ con không có ý tưởng xa rời. Khi đã đam mê sắc đẹp, đâu có ngại gì đến gian nguy ! Dù tai họa nơi miệng cọp vẫn cam tâm ! Tự đắm mình vào chốn bùn lầy nên gọi là phàm phu. Vượt thoát cảnh ấy sẽ là bậc Alahán.

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy con người khi bị tình ái, vợ con, tài sản ràng buộc khó mà ra khỏi. Người thấu rõ được sự nguy hiểm này của nó sẽ trở thành bậc Thánh .

III. GIẢNG NGHĨA

Kinh Pháp Cú, kệ 345 có thể nói là tương đương với chương này. Kệ nói : "Đối với người trí, sự trói buộc bằng dây gai, bằng cây, bằng sắt chưa phải là kiên cố. Chỉ có lòng luyến ái vợ con, tài sản, mới thật sự trói buộc chắc bền" .

Sự trói buộc đối với vợ con và tài sản là sự trói buộc tự nguyện nên không có kỳ hạn ra khỏi. Nói đến điều này là dạy cho hàng xuất gia biết sự nguy hiểm mà tránh, mặt khác cảnh tỉnh những người có tâm niệm muốn thoát ly sinh tử . Đối với người thường, thì vợ con tài sản là niềm hạnh phúc. Vợ hiền con thảo, tài sản sung túc, đó là niềm mong ước của nhiều người.

Sự trói buộc của vợ con có hai mặt : Một là tình ân ái, yêu thương giữa vợ chồng bắt nguồn từ sự hấp dẫn giới tính, đưa đến sự tìm kiếm cảm giác lạc thú, rồi đến chức năng di truyền nòi giống, tạo thành chuỗi gắn bó ngày càng sâu. Cảm giác lạc thọ giữa nam nữ trở thành thói quen, thiếu sẽ trở nên hụt hẫng, đó là bản chất lạc thọ. Hai là sự gắn bó vì trách nhiệm ngoài tình ân ái, trách nhiệm đóng vai trò lớn để trói buộc nam nữ với nhau trong hôn nhân. Luân lý đạo đức xã hội, về mặt pháp luật cũng như về mặt lương tâm không cho phép một người buông trôi vợ con do chính anh đã tạo nên .

Nhưng điều quan trọng nhất là về mặt tâm lý, cảm giác lạc thọ trở thành tập quán, kích thích con người tiếp diễn theo hướng đi đã định và điều tất nhiên là đằng sau các lạc thú, nỗi khổ đau phiền muộn, bất an cũng tiếp diễn bất tận .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này tiếp tục đề cập đến tài sắc, nhưng cụ thể hóa tài sắc ấy là vợ con và tài sản .
  2. Sự trói buộc của vợ con, tài sản không có ngày ra khỏi, hơn sự trói buộc của lao ngục thế gian .
  3. Tâm tham ái rất mạnh, làm cho con người có thể hy sinh mạng sống để giữ gìn.Cho nên ai thấy được bản chất của ái dục, sẽ thoát khỏi trần lao, chứng được Thánh vị .

CHƯƠNG 24

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Trong các thứ ái dục, không gì bằng sắc dục. Sự ham muốn sắc dục mạnh hơn mọi thứ khác. Chỉ có một sắc dục như vậy, nếu có cái thứ hai giống như sắc dục thì người trong thiên hạ không có ai có thể tu tập theo Đạo .

II. ĐẠI Ý

Đức Phật cảnh giác rằng trong các dục (5 dục), sắc dục là mạnh hơn hết .

III. GIẢNG NGHĨA

Chương 22 nói về sự nguy hiểm của Dục, chú trọng sắc đẹp và tiền tài. Chương 23 cụ thể hơn, sắc dục nguy hiểm ấy là vợ con và tiền tài, qua chương 24, một lần nữa nói lên sự nguy hiểm của các dục, nhưng chương này đề cập nặng một mình sắc dục. Sắc dục được coi là có sự hấp dẫn mạnh nhất so với các đối tượng ham muốn khác, đến nỗi phải nhấn mạnh rằng nếu có đối tượng ham muốn tương đương với sắc dục thì không ai tu hành được. Chương này rõ ràng nhấn mạnh vai trò chướng ngại pháp của sắc dục. Tương tự kinh Tăng Chi II (Phẩm Triền Cái) nói : "Này các tỳ kheo, ta không thấy một sắc nào lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, trói buộc như vậy, say sưa như vậy, chướng ngại cho sự tu tập như vậy, này các tỳ kheo, đó là sắc đẹp của nữ nhân. Và này các Tỳ kheo, người nào ái nhiễm, tham luyến, say đắm sắc đẹp nữ nhân, chúng sẽ sầu ưu lâu dài, vì bị rơi vào uy lực của nữ sắc". "Nữ nhân khi đang đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi cười, khi nói, khi hát, khi khóc, khi bất tỉnh, khi chết đều có thể chinh phục tâm của người đàn ông". "Này các Tỳ kheo, nếu có ai nói rằng : "Nữ nhân là bẫy mồi toàn diện của Mara", thì người ấy đã phát biểu một cách chân chánh về nữ nhân" .

Điều ta cần chú ý là qua các lời nhấn mạnh cảnh giác, chỉ trích nữ nhân, không phải Đức Phật coi thường nữ nhân mà chỉ nói lên sự hấp dẫn giới tính làm chướng ngại đạo Pháp. Đối với các Tỳ kheo Ni, thì nam nhân là nguy hiểm, là "bẫy mồi toàn diện của Mara" .

Thực vậy, sự thèm muốn nữ sắc có sức mạnh đến nỗi vượt qua vòng lễ giáo, mọi chướng ngại, có những trường hợp loạn luân, hay cưỡng bức dâm, những ranh giới giữa cha con, thầy trò, vua tôi … rất mong manh, kẻ trí người ngu đều một đường. Người xưa nói : "Anh hùng bất quá mỹ nhân quan", quả thật là đúng như vậy .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này cũng nhấn mạnh về sự nguy hiểm của các dục, nhưng chú trọng về sắc dục .
  2. Sắc dục oai lực rất mạnh, đến nỗi nếu có một đối tượng của dục nào mạnh bằng sắc dục thì không ai có thể hành đạo được .
  3. Nói lên sự nguy hiểm của nữ sắc, là nói lên khía cạnh hấp dẫn của giới tính là chướng ngại sự tu tập của người Sa môn , chứ không phải khinh khi phụ nữ .

CHƯƠNG 25 

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Người đam mê ái dục giống như người cầm đuốc đi ngược gió, chắc chắn sẽ bị tai họa cháy tay".

II. ĐẠI Ý

Đức Phật nhấn mạnh cái nguy hiểm của người đam mê ái dục .

III. GIẢNG NGHĨA

Chương 24 nói về sức mạnh của sắc dục, chương này lại nhấn mạnh sự nguy hiểm của ái dục, càng đam mê càng tự hại cho mình, thí dụ người cầm đuốc đi ngược gió gần giống với một trong 10 ví dụ về dục trong kinh Trung A Hàm, dục được ví như bó đuốc cỏ khô (đã trình bày ở chương 22). Người cầm bó đuốc bằng cỏ khô lửa sẽ cháy xuống tay. Ở đây, người cầm đuốc đi ngược gió cũng bị nạn cháy tay, cả hai ví dụ đều hay, đều có chung một hình ảnh .

Những chương kinh tập trung nói về cái hại của ái dục, mục đích cho người xuất gia nhận thức rõ rệt để mà tránh. Lý thuyết về đoạn trừ ái dục có thể đem đến sự khó chịu cho nhiều người, biết vậy Đức Phật vẫn cứ đề cập một cách mạnh mẽ, vì lòng thương đối với đệ tử, với chúng sanh. Trong kinh Đức Phật dạy rằng : "Như một đứa trẻ bị hòn bi vào miệng, thì điều quan trọng là phải cấp tốc móc họng lấy ra, dù cho bị đau và chảy máu (nếu không đứa trẻ sẽ chết). Cũng vậy, dù nói đến vấn đề đoạn trừ ái dục làm khó chịu một số người, nhưng đó là điều cần thiết cho cuộc sống tu hành .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này cũng vẫn nhấn mạnh sự nguy hiểm của ái dục. Ở đây chỉ cho sắc dục .
  2. Hình ảnh người cầm đuốc đi ngược gió tương đương với ví dụ người cầm đuốc bằng cỏ khô trong Trung A Hàm đều diễn tả nạn cháy tay .
  3. Nói về sự nguy hiểm của dục và phải đoạn trừ chúng, sẽ làm cho một số người khó chịu, nhưng Đức Phật vẫn nói vì cần thiết cho sự tu tập giải thoát .

CHƯƠNG 26

I. CHÁNH VĂN

Thiên thần dâng cho Đức Phật một ngọc nữ với ý đồ phá hoại tâm ý của Phật. Phật bảo : "Túi da ô uế, người đến đây làm gì ? Đi đi, ta không dùng đâu" .Thiên thần càng thêm kính trọng, do đó mà hỏi về ý của Đạo. Đức Phật vì ông mà giảng pháp. Ông nghe xong, đắc quả Tu Đà Hoàn.

II. ĐẠI Ý

Chương này nói về thái độ dứt khoát của Đức Phật đối với nữ sắc .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Chú thích từ ngữ, thuật ngữ :

Thiên : tiếng Phạn là Deva, dịch âm là Đề Bà. Nghĩa là Quang Minh, Tự Tại, Tối Thắng .

Thiên thần : những chúng sinh ở cõi thù thắng vui sướng hơn cõi người .

Ngọc nữ : chỉ người con gái đẹp .

2. Giải thích nội dung :

Từ chương 21 cho đến chương này, đề cập đến cái nguy hiểm của sự đam mê danh lợi, tài sắc. Đối với sắc dục, Đức Phật đặc biệt chú trọng qua các chương 23, 24, 25. Đến chương này, tiêu biểu cho thái độ của người tu hành đối với nữ sắc, hay nói cách khác, là tiêu biểu cho phương pháp quán chiếu để đoạn trừ lòng ham muốn nữ sắc. Khi một vị thiên thần dâng cho Đức Phật một cô gái đẹp với ý định nhiễu loạn tâm của Phật, cũng có thể là thử ý của Đức Phật . Khi nhìn cô gái đẹp, Ngài liền bảo : "Cái túi da chứa những ô uế đến đây mà làm gì ?" Qua đó, ta nhận thấy quan điểm của Đức Phật đối với đối tượng sắc đẹp, cái mà làm cho nhân loại đảo điên, Đức Phật thấy chỉ là túi da chứa đụng đồ ô uế . Trong các kinh tạng Nikaya, A Hàm cũng thống nhất phương pháp quán chiếu để đối trị lòng mê sắc là phương pháp quán bất tịnh. Ví dụ, khi nhìn một cô gái đẹp thì tâm hỷ lạc khởi lên, khi đó quán chiếu rằng người con gái đẹp kia sẽ bị xấu, răng rụng, tóc bạc, thân thể hôi hám … tức nhìn thấy được mặt trái của cô gái đẹp .

Tâm tham đắm nữ sắc, do không thấy rõ bản chất của sắc đẹp là ô uế, khi thấy được sự thực ấy, tâm liền tỉnh ngộ. Trong Kinh Tạng, còn đưa ra một số phương pháp đoạn trừ tâm tham ái nữ sắc như : Quán nữ sắc là vô thường, quán nữ sắc là nguy hiểm, quán người nữ như là mẹ, là chị, là em gái, hoặc khi bị hình ảnh của nữ sắc chi phối thì hướng tâm vào các đối tượng khác… Phương pháp trực tiếp là phương pháp quán thẳng vào thân thể của nữ sắc để thấy thân thể của nữ sắc là ô uế, bất tịnh .

Đối với một người không bị nữ sắc làm cho dao động là một người đáng kính, nên vị thiên thần mới tỏ lòng tôn kính hỏi về Đạo, nhờ đó mà giác ngộ .

 

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Thái độ của Đức Phật đối với nữ sắc là thấy rõ được bản chất của nữ sắc là ô uế .
  2. Phương pháp đoạn trừ tâm tham ái nữ sắc là quán thân thể của nữ sắc là bất tịnh .

CHƯƠNG 27

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Người thực hành theo Đạo như khúc gỗ trên mặt nước trôi theo dòng nước. Nếu không bị người ta vớt, không bị quỷ thần ngăn trở không bị nước xoáy làm cho dừng lại và không bị hư nát, ta đảm bảo rằng khúc cây ấy sẽ ra đến biển. Người học Đạo nếu không bị tình dục mê hoặc, không bị tà kiến làm rối loạn, tinh tấn tu tập đạo giải thoát, ta bảo đảm người này sẽ đắc Đạo" .

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy không chấp trước các duyên thì đắc Đạo .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Giải thích từ ngữ, thuật ngữ :

Tà kiến : Pali gọi là Ditthi, từ ngữ căn Dis là thấy, nhận thức Ditthi là thấy, nhận thức không đúng với thể tánh, ý kiến sai lạc, sai lầm .

Tinh tấn : (Viriya) còn gọi là tinh cần là một trong những tâm lý thiện, là siêng năng chuyên cần hướng thiện .

2. Giải thích nội dung :

Chương này có xuất xứ trong kinh Tương ưng, phần khúc gỗ nội dung như sau : "Đức Thế Tôn ngụ ở Kosambi trên bờ sông Hằng, ngài thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước liền bảo các Tỳ kheo rằng : "Các thầy có thấy khúc gỗ không ? Nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước. không bị mục ở bên trong thì khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, ra đến biển. Cũng vậy các Tỳ kheo, nếu không bị đâm vào bờ bên này… thì vị Tỳ kheo ấy hướng về Niết bàn, nhập vào Niết bàn" … "Bờ bên này đồng nghĩa với 6 nội xứ, bờ bên kia đồng nghĩa với 6 ngoại xứ. Bị chìm giữa dòng đồng nghĩa với lòng tham. Bị mắc cạn trên miếng đất nổi đồng nghĩa với ngã mạn. Bị người nhặt lấy là Tỳ kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, bị trói buộc mình vào công việc của họ. Bị phi nhân nhặt lấy là Tỳ kheo tu tập với ước nguyện sinh lên cõi trời. Bị mắc vào nước xoáy là hưởng thụ 5 dục. Bị mục nát từ bên trong là Tỳ kheo sống theo tà giới, ác pháp, đáng nghi ngờ, không phải Sa môn mà hiện tướng Sa môn, lợi dụng hình dáng Sa môn để mưu cầu danh lợi" .

Lúc bấy giờ, người chăn bò là Nanda đứng cạnh đó không xa, bạch Phật là sẽ không bị đâm vào bờ bên này … (như trên) và xin xuất gia theo Phật .

So sánh giữa Kinh Tứ Thập Nhị Chương với kinh Tương Ưng, ta thấy như sau :

  1. Kinh Tứ Thập Nhị Chương tóm gọn có 5 điều, trong khi đó kinh Tương Ưng đến 8 điều .
  2. Kinh Tương Ưng thêm 2 là chìm giữa dòng và mắc cạn trên miếng đất nổi, điều 1 và điều 2 chỉ là 1 mà thôi, giống như bên Kinh Tứ Thập Nhị Chương, điều 11 chẳng tấp hai bên bờ .
  3. So sánh giữa khúc gỗ và người tu hành trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương chỉ đưa ra 3 điều mang tính tổng quát chứ không ăn khớp với từng điều của khúc gỗ. Ba điều đó là không bị tính dục mê hoặc và không bị tà kiến làm rối loạn, tinh tấn tu đạo giải thoát .
  4. Kinh Tương Ưng đưa ra 8 điều kiện của khúc gỗ ra đến biển, song song 8 điều kiện một vị Tỳ kheo đến Niết bàn, những điều này khá rõ .

Tóm lại, chương này trình bày những điều kiện để một vị xuất gia đạt đến Niết bàn. Đó là những tiêu chuẩn tu tập để đo lường tà chánh và trình độ tu tập của một vị Tỳ kheo. Mặt khác, kinh cũng nói lên sự khó khăn là điều tất yếu của con người tu tập cần phải vượt qua mới đắc Đạo. Luận bảo Vương Tam Muội đã nói : "Đối với sự nghiệp giải thoát đừng mong không bị chướng ngại, vì không bị chướng ngại thì chí nguyện không kiên cường" .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này có xuất xứ trong Tạng A Hàm và Niyaka (phẩm Khúc gỗ) .
  2. Người xuất gia với mục đích giải thoát sinh tử phải biết hướng đi của mình và điều quan trọng là phải tinh tấn nỗ lực vượt qua các chướng ngại .
  3. Nên biết rằng con đường nào cũng có trở ngại, vì vậy khi chướng ngại đến đừng sợ hãi mà bỏ cuộc

CHƯƠNG 28

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Phải thận trọng đừng chủ quan với tâm ý của ông. Tâm ý của ông không thể tin được, (vì vậy) hãy thận trọng đừng gần nữ sắc ; gần gũi nữ sắc thì tai họa phát sinh. Khi nào chứng quả A La Hán rồi mới có thể tin vào tâm ý của ông" .

II. ĐẠI Ý

Người tu hành chưa đoạn tận ái dục thì phải cảnh giác đối với nữ sắc .

III. GIẢNG NGHĨA

Mặc dù các chương trước phân tích những khía cạnh nguy hiểm khác nhau của tình dục, nhưng chương này vẫn tiếp tục đặt vấn đề đối với nữ sắc. Điểm đặc biệt của chương này là cảnh giác, những người tu tập thường chủ quan, ỷ lại vào khả năng của mình, chưa thấy hết sự nguy hiểm tế nhị của nữ sắc. Hai mục đích của chương này là :

  1. Cảnh giác các bậc Thánh hữu học (Tu Đà Hoàn cho đến A Na Hàm) có thể rơi vào chủ quan khi có những tiến bộ tâm linh cao, vội vã cho rằng mình đã vượt qua uy lực của nữ sắc. Sự đoạn tận ái nhiễm phải là A La Hán .
  2. Cảnh giác những người tu tập còn ở địa vị phàm phu, đừng tự cao, tự đại, tự mãn, với một chút ít công phu mà coi thường nữ sắc, sẽ bị lôi cuốn bởi nữ sắc, uổng phí công phu tu tập .

Ngoài ra, chương này cho thấy tâm ý của chúng sinh khó chế ngự, khó làm chủ, nhất là đối với nữ sắc. Bản năng dục tính của con người chi phối tâm ý rất mạnh, khuynh hướng đi theo tiếng gọi của bản năng làm chướng ngại lộ trình giải thoát. Về mặt nổi, mặt thô, tâm ý có tu tập có thể làm lắng dịu dục tình, nhưng dục tình sẽ lén lút hoạt động trong tư thế tiềm ẩn tế nhị, khó nắm bắt, chỉ cần có cơ hội là nó bộc phát. Cơ hội đó là khi gần gũi đụng chạm với nữ sắc. Vì vậy, rất nhiều hành giả thất bại vì xem thường nữ sắc và các mối quan hệ với nữ sắc .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này cảnh giác người tu hành đứng chủ quan đối với tâm ý của mình, nhất là đối với nữ sắc
  2. Cần phải chánh niệm tĩnh giác đối với hoạt động của tâm ý. Để giúp cho sự chánh niệm có hiệu quả nên tránh xa các đối tượng hấp dẫn như nữ sắc .

CHƯƠNG 29

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : " Phải thận trọng đừng nên nhìn ngắm nữ sắc, cũng đừng nói chuyện với nữ nhân. Nếu (bắt buộc) phải nói chuyện với họ thì phải giữ tâm chánh trực và suy nghĩ rằng : "Ta làm Sa môn sống giữa cuộc đời ô nhiễm, phải như hoa sen không bị bùn làm ô nhiễm. Nghĩ rằng người (nữ) già như mẹ, người (nữ) lớn tuổi (hơn mình) như chị, người (nữ) nhỏ (hơn mình) như em gái, đứa bé (gái) như con, sinh khởi tâm cứu độ họ được giải thoát. Như vậy liền diệt được ý niệm xấu đối với nữ nhân

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy phương pháp đề phòng niệm xấu và diệt trừ ý niệm xấu đối với nữ nhân .

III. GIẢNG NGHĨA

Tiếp theo chương 28, chương này Đức Phật vẫn cảnh giác người tu hành đề phòng nữ sắc, nhưng khác với chương trước, chương này đề cập đến cách thức đối phó với người nữ, có 2 phần :

  1. Đối với người nữ, không nên nhìn ngắm và nói chuyện. Đây là phương pháp tiêu cực, nhưng có hiệu quả đối với những tâm tư yếu đuối. Điều tốt cho một người dễ phạm tội là cách ly môi trường phạm tội. Thường thì không có cảnh (đối tượng) thì tâm không được kích thích, gợi ý nên ít bị lôi cuốn, giao động. Nếu tâm ý tác ý mà không có đối tượng thực tế, cũng đễ chế ngự hơn .
  2. Khi phải tiếp xúc với người nữ, thì phải giữ tâm ngay thẳng và suy nghĩ rằng :
  1. Giống như hoa sen ở trong bùn mà không nhiễm mùi bùn, ta là Sa môn giữa cuộc đời ô trược không bị nhiễm ô. Đây là cách tự kỷ ám thị để nâng cao tâm hồn, rũ bỏ niệm xấu .
  2. Quán tưởng thân thuộc, coi người già như mẹ, lớn như chị, nhỏ như em, bé như con. Đây là phương thức chuyển hóa tư tưởng mang tính tích cực; coi họ là đối tượng thân thuộc cần được giúp đỡ, cần được cứu khổ .

Trong kinh Trung Bộ (Kinh An Trú Tâm) cũng có đề ra phương pháp quán tưởng để chuyển hóa dục tâm, gồm 5 cách :

  1. Khi có tư duy liên hệ đến dục… khởi lên, cần phải tác ý đến một đối tượng khác, hướng tư duy qua một đối tượng khác để xóa đối tượng dục. Ví như người thợ mộc dùng một cái nêm nhỏ đánh bật một cái nêm khác (ra khỏi khúc cây) .
  2. Nếu không có kết quả, tư duy dục vẫn đeo bám thì cần phải quán sát đến sự nguy hiểm của các dục đó. Ví như một người bị một xác rắn, một xác chó hay một xác người đeo vào cổ, người ấy ghê tởm vứt ra .
  3. Quán sát nguy hiểm của các dục vẫn không có kết quả, thì nên bỏ qua, đừng nên nghĩ đến đối tượng dục đó nữa; giống như người không muốn nhìn một vật, họ quay mặt đi chỗ khác .
  4. Nếu vẫn không có kết quả, thì quan sát hành tướng của dục, sự sinh khởi, sự an trú của dục, dần dần dục niệm tan biến, như người đang đi tự hỏi sao ta đi mau ? nên đi chậm lại, người ấy đi chậm lại …
  5. Nếu vẫn không có kết quả, dục niệm vẫn khởi lên, phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, dùng tâm chế ngự tâm, nhờ vậy dục niệm được đoạn trừ tức là sử dụng ý chí tối đa .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Phương thức đề phòng niệm xấu đối với nữ nhân là không nên nhìn ngắm, nói chuyện với người nữ .
  2. Phương thức chuyển hóa tư duy khi quan hệ với người nữ là :
  1. Tự ví mình như hoa sen gần bùn mà chẳng nhiễm mùi của bùn .
  2. Quán tưởng người nữ như là thân nam của mình, là đối tượng để mình cứu độ .

Phương pháp diệt trừ niệm xấu đối với nữ nhân như trên, tích cực và hiệu quả đối với con đường tu tập .


CHƯƠNG 30

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Là người tu hành phải coi mình giống như kẻ mang cỏ khô, thấy lửa đến phải tránh, người học Đạo thấy các đối tượng dục lạc phải tránh xa" .

II. ĐẠI Ý

Người tu hành phải tránh xa dục lạc .

III. GIẢNG NGHĨA

Chương này Đức Phật đề cập một thí dụ mang tính cảnh giác cao, là người tu hành như kẻ mang cỏ khô thấy lửa phải tránh. Cũng vậy, khi thấy lửa dục lạc cần phải tránh xa, nếu không sẽ bị cháy một cách nhanh chóng. Thí dụ này gây ấn tượng mạnh và rõ về mối nguy hiểm của dục lạc .

Người tu hành từ bỏ ái dục, xuất gia học Đạo, tâm ái dục bị trấn áp, bị ức chế. Điều đó không có nghĩa là ái dục đã được đoạn trừ. Ngược lại, tâm ái dục hoạt động tiềm ẩn, càng ức chế nó càng có sức mạnh sẵn sàng bộc phát, cho nên rất nguy hiểm. Nếu người gần gũi với môi trường ái dục thì sẽ khó kiềm chế tâm ái dục. Giống như người mang cỏ khô mà đứng gần lửa thì họa cháy thân tất xảy ra .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

Thí dụ người mang cỏ khô phải tránh xa lửa vừa đúng về mặt thực tế vật chất và thực tế tâm lý. Cảnh giác sự nguy hiểm của dục lạc đối với người tu hành như vậy là rất cao và rất chính xác .


CHƯƠNG 31

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Có người lo lắng vì lòng dâm dục không dứt nên muốn đoạn âm". Phật dạy rằng : "Đoạn âm không bằng đoạn tâm. Tâm như vị công tào, công tào nếu ngừng thì kẻ tùng sự đều ngừng, tâm tà không ngưng thì đoạn âm có ích lợi gì ? Phật vì Ông mà nói kệ : "Dục sinh từ nơi ý. Ý do tư tưởng sinh, hai tâm đều tịch lặng, không mê sắc cũng không hành dâm". Phật dạy : "Bài kệ này do Đức Phật Ca Diếp nói" .

II. ĐẠI Ý

Đức Phật dạy : "Dâm dục do nơi tâm sinh, tâm ngưng thì dục ngưng, không nên đoạn sinh dục bên ngoài, không có hiệu quả" .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Giải thích từ ngữ, thuật ngữ :

Đoạn âm : chặt dứt dương vật, bộ phận sinh dục .

Công tào : người đứng đầu một nha quan công sở .

Phật Ca Diếp : là một Đức Phật trong 7 Đức Phật quá khứ. Phật Ca Diếp là Phật thứ 6, Phật Thích Ca là Phật thứ 7 .

2. Giải thích nội dung :

Chương này nói lên sự kiện độc đáo là có người tu hành thấy được cái nguy hiểm của dục, nhưng dục tâm vẫn cứ tiếp diễn, sinh lý vẫn đòi hỏi; vì vậy, họ nghĩ rằng phải chấm dứt sự đòi hỏi sinh lý mới tu hành được. Họ nghĩ đến nguyên nhân trực tiếp là bộ phận sinh dục cần phải đoạn trừ. Coi đó như là một phương pháp đoạn trừ lòng dâm dục. Đức Phật phản đối phương pháp này, vừa nguy hiểm, vừa vô ích .

Sai lầm căn bản của người áp dụng phương pháp đoạn âm là dục tâm do tác động bên ngoài. Thực ra, tâm mới là chủ nhân của dục, chứ không phải vật. Mặc dù trong Phật giáo nói đến mối quan hệ mật thiết giữa tâm và vật, nhưng để cải tạo hoàn cảnh trước hết phải cải tạo tâm lý .

Người đoạn âm mà tâm không đoạn sẽ xảy ra mâu thuẫn nội tại với thực tế. Mặt khác, người đoạn âm thường bắt đầu mặc cảm tội lỗi, có cái nhìn lệch lạc về sinh lý. Cuối cùng sinh lý sẽ làm lệch lạc tâm lý và trở thành bệnh lý .

Người chủ trương đoạn âm là kết quả của giáo dục một chiều và cực đoan. Sự lo lắng thái quá, sự hiểu biết về tâm sinh lý hạn chế và cuối cùng là áp lực của một ý tưởng cực đoan .

Như bài kệ kết luận : Lòng dục sinh từ nơi ý, tức là do tâm ý phân biệt ngã chấp mà sinh ra tham muốn. Ý do tư tưởng sinh, tức là do tâm sở tư và tưởng sinh. Tác dụng chấp ngã và bản năng dục tính do nghiệp tạo tác (tư) và vọng tưởng (tưởng) hay tri giác mà phát triển. Hai tâm đều tĩnh lặng là tâm sở Tư và Tưởng đều tĩnh lặng thì không còn bị sắc đẹp làm cho rung động và cũng không còn hành vi dâm dục, nghĩa là không còn tạo nghiệp .

Có đối tượng hấp dẫn, có chú ý tạo tác thì mới có chướng ngại, mâu thuẫn nội tại. Nếu tâm đã tịch tịnh thì không cần phải đoạn âm hay đối tượng bên ngoài .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này điều chỉnh sự lầm lẫn của một số đệ tử tích cực trong vấn đề đoạn dục bằng cách đoạn âm .
  2. Đoạn âm là một phương pháp đoạn trừ dục, nhưng không phải phương pháp của Phật giáo, và ít có hiệu quả
  3. Tâm mới là chủ nhân của dục. Thanh lọc tâm, tu tập tâm, tăng thượng tâm mới là con đường của Phật giáo .

CHƯƠNG 32

I. CHÁNH VĂN

Con người do ái dục mà sinh sầu ưu, do sầu ưu mà sinh sợ hãi. Nếu thoát ly ái dục, thì có gì mà sầu ưu, có gì mà sợ hãi .

II. ĐẠI Ý

Ái dục sinh phiền não, hết ái dục thì phiền não diệt. Phiền não diệt là Niết bàn .

III. GIẢNG NGHĨA

Chương này gần như dẫn nguyên văn trong Kinh Pháp Cú kệ thứ 215-215 Phẩm Hỷ Ái : "Dục ái sinh sầu ưu, Dục ái sinh sợ hãi, ái thoát khỏi dục ái, không sầu, đâu sợ hãi ?" .

Thật vậy con người do ái dục về tiền tài, sắc đẹp, danh tiếng, miếng ăn, giấc ngủ, mà phải lo âu phiền muộn, tranh đấu chật vật. Có được rồi thì sợ mất, sợ cướp. Các đối tượng của ái dục là mục tiêu của sự đấu tranh, chém giết, hãm hại nhau. Điều đó đúng với thực tế của cuộc đời .

Mặt khác về mặt tâm lý, người chứa nhiều lòng ái thì thường lo buồn. Khi mình thương một người, người ấy có điều gì bất trắc lòng ta bất an rối rắm, từ lo sinh sợ, sợ mất đi người mình thương. Rốt cuộc cả cuộc đời luẩn quẩn trong vòng lo âu và sợ hãi. Thoát khỏi sự ràng buộc của sợi dây tham ái, ta mới được tự do tự tại .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này tương đồng với kinh Pháp cú, kệ thứ 213-216, Phẩm Hỷ Ái .
  2. Tiến trình tâm lý bắt đầu từ ái dục là sinh sầu ưu, từ sầu ưu sinh sợ hãi, là tiến trình khổ đau. Ngược lại không dục ái không sầu ưu, không sợ hãi là tiến trình giải thoát.

CHƯƠNG 33 

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Người tu hành theo Đạo như một người chiến đấu với vạn người. Mặc áo giáp ra cửa, tâm ý hoặc khiếp nhược, hoặc đi nửa đường thối lui, hoặc chiến đấu đến chết, hoặc đắc thắng mà về. Người Sa môn học Đạo (cũng vậy) phải có ý chí kiên cường, dũng mãnh tiến lên , không sợ cảnh tượng trước mắt (làm chướng ngại) phá tan các loài ma để đắc Đạo thành đạo quả" .

II. ĐẠI Ý

Người tu hành giống như người chiến sĩ, phải chiến đấu với phiền não ma, phải tinh tấn mới mong thành Đạo quả

III. GIẢNG NGHĨA

1. Giải thích từ ngữ, thuật ngữ :

Các loài ma : tiếng Phạn gọi là Mara, nghĩa là Giết hại, làm não hại thân tâm, tổn hại công đức, phá hoại trí tuệ. Có 4 loại ma :

  1. Ma phiền não : Tham, Sân, Si… não hại thân tâm .
  2. Ma năm ấm (ngũ ấm ma) : chấp thủ sắc thân, cảm giác, tri giác, tâm hành và nhận thức là ngã, nên bị năm ấm trói buộc .
  3. Ma chết (tử ma) : tử thần cắt đứt mạng sống con người làm gián đoạn sự tu tập .
  4. Ma trời (thiên ma) : là tha hóa tự tại thiên, cõi trời thứ 6 của Dục giới, còn gọi là ma vương, ma ba tuần, chuyên làm trở ngại cho việc tu hành và làm việc thiện .

2. Giải thích nội dung :

Chương này Đức Phật lấy thí dụ một người chiến sĩ ra mặt trận chiến đấu với vạn người để nói lên :

  • Tinh thần quyết thắng , sự nỗ lực vô biên của một người tu hành .
  • Nói lên sự khó khăn trở ngại mà người tu hành phải vượt qua .
  • Nói lên sự vinh quang của một hành giả đắc đạo .

Có 4 hạng chiến sĩ mà chương này đề cập :

  1. Hạng ý chí khiếp nhược : chưa đánh đã thua, đầu hàng từ trong ý thức, là hạng người tu hành không lập chí nguyện, không có lý tưởng và niềm tin. Hạng người này không có gì để bàn .
  2. Hạng nửa đường thối lui : là hạng người bỏ cuộc nửa chừng, có công hạnh tu tập, nhưng bị cám dỗ bởi danh lợi, không phát triển những gì đã đạt được để đi đến đích cuối cùng .
  3. Hạng chiến đấu đến chết : là hạng người có ý chí, có lý tưởng nỗ lực tiến lên, nhưng thiếu phương pháp tu tập tốt, do đó không thành công. Cũng có thể nói rằng, những người chấp thủ vào phương pháp, bảo thủ theo thói quen hay truyền thống cũng thuộc hạng này, tức là tu hành nghiêm chỉnh, nhưng không thành công .
  4. Hạng đắc thắng trở về : là người thành công, có ý chí quyết tâm, có phương pháp, có trí tuệ, vượt qua mọi chướng ngại để thành tựu mục đích tối hậu .

Tương đương chương này, trong kinh Tăng Chi, phẩm Người chiến sĩ, Đức Phật dạy có 5 hạng người chiến sĩ :

  1. Hạng chiến sĩ chỉ thấy bụi mù dấy lên thì chùn chân, nhụt chí, mất hết can đảm, không thể tham gia chiến trận. Tương đương với người tu hành mà khi nghe nói đến cô gái đẹp đẽ, khả ái… tâm dao động và rời bỏ giáo pháp .
  2. Hạng chiến sĩ khi thấy cờ xí của địch quân dựng lên, thì chùn chân, nhụt chí, mất hết can đảm. Tương đương với người tu hành khi thấy người con gái đẹp đẽ dễ thương, tâm dao động, thoái lui, rời bỏ giáo pháp .
  3. Hạng chiến sĩ nghe tiếng la hét của địch quân thì chùn chân, nhụt chí, mất hết can đảm. Tương đương với người tu hành khi gặp cô gái đẹp đẽ dễ thương cười nói, mơn trớn … tâm dao động, thoái lui, rời bỏ giáo pháp .
  4. Hạng chiến sĩ khi bị thương lúc xáp trận, liền thất kinh thất đởm. Tương đương với người tu hành khi gặp cô gái đẹp đẽ dễ thương đến ngồi sát một bên, nằm xuống một bên, vuốt ve, mơn trớn, không từ bỏ học tập, không biểu lộ sự yếu kém trong học tập, hành dâm với cô gái ấy .
  5. Hạng người chiến sĩ chịu đựng được bụi mờ dấy lên, cờ xí dựng lên, tiếng la hét, chịu đựng cuộc xáp chiến và vị ấy chiến thắng. Tương đương với người tu hành vượt qua cám dỗ của cô gái, bỏ cô gái, đi vào nơi thanh vắng an trú, thiền định, đoạn diệt tham, sân, si .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Bốn hạng người chiến sĩ của chương này tương tự như 5 hạng người chiến sĩ trong kinh Tăng Chi về mặt hình thức .
  2. Kinh Tứ Thập Nhị Chương nêu ra đối tượng chiến đấu một cách tổng quát, và phương thức chiến đấu là giữ vững tâm chí, tinh tấn tiến lên, đừng sợ sệt để diệt trừ chướng ngại .
  3. Kinh Tăng Chi thì chú ý đến đối tượng cụ thể là cô gái đẹp, thắng được cám dỗ của cô gái đẹp, dọn đường cho sự tu tập thiền quán, thì sẽ diệt trừ mọi chướng ngại .
  4. Người tu hành như một người chiến sĩ ra mặt trận, nếu không có ý chí vững vàng, không tinh tấn nỗ lực thì chắc chắn sẽ thất bại .

CHƯƠNG 34

I. CHÁNH VĂN

Có một vị Sa môn ban đêm tụng kinh Di giáo của Đức Phật Ca Diếp, tiếng ông ấy buồn bã, như tiếc nuối muốn thoái lui. Đức Phật mới hỏi : "Xưa kia, khi ở nhà ông thường làm nghề gì ?". Đáp rằng : "Thích chơi đàn cầm". Đức Phật hỏi : "Khi dây đàn chùng thì sao ?". Đáp rằng : "Không kêu được". "Dây đàn căng quá thì sao ?". Đáp rằng : "Tiếng bị mất". "Không căng không chùng thì sao ?". Đáp : "Các âm thanh đầy đủ". Đức Phật dạy : "Người Sa môn học đạo cũng như vậy, tâm lý được quân bình thì mới đắc Đạo. Đối với sự tu Đạo mà căng thẳng quá làm cho thân mệt mỏi, khi thân mệt mỏi thì tâm ý sẽ sinh phiền não. Tâm ý đã sinh phiền não thì công hạnh sẽ thoái lui. Khi công hạnh đã thoái lui, thì tội lỗi tăng trưởng. Chỉ có sự thanh tịnh và an lạc, Đạo mới không mất được" .

II. ĐẠI Ý

Người tu hành phải giữ quân bình trong sự tu tập, đừng quá căng thẳng, cũng đừng quá lười biếng, mới có thể thành tựu Đạo quả .

III. GIẢNG NGHĨA

Theo kinh A Hàm, trong đời quá khứ, trước Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đã có 6 vị Phật ra đời, mà Phật Ca Diếp (Kasyapa) là vị thứ 6, thứ 7 là Phật Thích Ca, trong chương này đề cập đến kinh Di Giáo của Phật Ca Diếp, có thể là bài kệ ở phần sau của luật Tỳ Kheo : "Tất cả điều ác đừng có làm đến; tất cả điều Thánh thiện kính cẩn mà làm; tự mình làm sạch tâm trí của mình, những điều như vậy là Chư Phật dạy". (TỲ KHEO GIỚI, TRÍ QUANG DỊCH ) .

Phần duyên khởi của chương này là một thầy Sa môn ban đêm tụng kinh tiếng nghe sầu thảm như muốn thoái chí, Đức Phật nghe được, biết ông đang nỗ lực một cách sai lầm nên dạy cho ông phương pháp tu của một người tu Đạo. Đức Phật sử dụng ví dụ về chiếc đàn cầm, nếu không quá căng, không quá chùng, thì âm thanh mới đầy đủ, hay ho. Người tu hành nỗ lực một cách quân bình mới có thể thành tựu Đạo quả .

Trong kinh Tăng Chi, phần Đại phẩm có câu chuyện tương tự : Tôn Giả Sona trú ở Vương Xá Thành, trong khi ngồi thiền thì tư tưởng sau đây nổi lên : "Những ai là đệ tử Thế Tôn, đều sống tinh cần, tinh tấn, riêng ta còn chấp thủ, chưa thoát khỏi lậu hoặc, gia đình ta có tài sản, ta có thể hưởng thụ và làm điều công đức. Vậy, ta hãy từ bỏ con đường tu hành này". Đức Phật biết được tư tưởng thoái chí của Sona nên đến giảng pháp tu tập quân bình. Đức Phật hỏi : "Có phải khi còn tại gia ngươi giỏi đánh đàn tỳ bà 16 dây ?" "Thưa phải". Phật hỏi : "Khi những sợi dây tỳ bà của ngươi quá căng thẳng ngươi có thể sử dụng được không ?" "Thưa không, Bạch Thế Tôn". "Khi sợi dây đàn tỳ bà của ngươi quá chùng ngươi có thể sử dụng được không ?" "Thưa không, Bạch Thế Tôn". "Khi sợi dây đàn tỳ bà của ngươi không quá căng, không quá chùng, vặn đúng vừa mức trung bình, ngươi sử dụng được không ?" "Bạch Thế Tôn, được". "Cũng vậy, này Sona khi tinh thần quá căng thẳng sẽ đưa đến dao động, khi tinh cần quá thụ động sẽ đưa đến biếng nhác. Do vậy, này Sona, người phải an trú tinh thần một cách bình ổn điều hòa…"

Qua đoạn kinh trên của kinh Tăng Chi, chúng ta thấy 2 bài kinh có những điểm giống nhau và những điểm khác nhau. Mối liên hệ của 2 bài kinh này được thấy rõ ràng nhất là thí dụ về cây đàn tỳ bà và cây đàn cầm. Cần chú ý đến phần kết của bài kinh, chương này thì nói : "Quá căng thẳng đưa đến thân mệt mỏi, thân mệt mỏi đưa đến công hạnh thoái lui. Công hạnh thoái lui thì tội lỗi gia tăng". Cách nói như vậy khá rõ lộ trình của sự gia căng thẳng quá mức .

Kinh Tăng Chi đơn giản hơn "Tinh cần quá mức đưa đến dao động (tương đương với phiền não), dao động đưa đến biếng nhác (tương đương với hạnh thoái lui) .

Điều khác nhau chỉ có ở phần duyên khởi, không đáng kể.

Qua so sánh trên, ta thấy 2 bài đều có chung cội nguồn. Ý thú của chương này đề cao sự thăng bằng về :

  1. Thăng bằng về sinh lý : ăn uống, ngủ nghỉ, làm việc, học hành, tu tập, đừng để cho thân quá mệt, cũng đừng để cho thân biếng nhác .
  2. Thăng bằng về tâm lý : sự nôn nóng mong cầu mau được kết quả có thể điên loạn hoặc dao động, biếng nhác, ủ rũ không cầu tiến đưa đến buông thả .
  3. Thăng bằng về tình cảm : quá giận, quá thương, quá xúc động, nhạy cảm đều gây ra mất quân bình, ảnh hưởng cho sự tu tập .
  4. Thăng bằng về tu tập : pháp môn tu tập phải phù hợp với căn cơ trình độ của mình, thời khóa tu tập phải được sắp xếp hợp lý .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương 24 này có sự tương đồng với phẩm Đại phẩm, phần Sona trong kinh Tăng Chi II .
  2. Giải đãi lười biếng thì đạo nghiệp không thành. Nỗ lực quá mức sẽ mệt mỏi và thoái chí. Phải biết lượng sức mình, đừng ép uổng thân tâm quá mức, cũng đừng buông thả thì con đường tu tập chắc chắn có kết quả .

CHƯƠNG 35

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Như người luyện sắt gạn lọc phần cặn bã, còn lại sắt tinh luyện, chế tạo đồ dùng một cách tinh xảo. Người học đạo phải loại bỏ tâm lý ô nhiễm đi thì công hạnh trở nên thanh tịnh" .

II. ĐẠI Ý

Phải gạn lọc tâm lý ô nhiễm thì hành vi mới thanh tịnh .

III. GIẢNG NGHĨA

Chương này Đức Phật sử dụng ví dụ người luyện sắt để nói lên hướng đi chính của người tu hành là phải gạn lọc tâm lý ô nhiễm, như người luyện sắt phải loại trừ các tạp chất trong sắt mới có thể luyện thành vật dụng tốt .

Tất cả mọi hành động đều do động cơ trong tâm. Tâm như là nguồn của dòng suối. Nếu nguồn suối đục thì dòng suối sẽ đục, nguồn suối trong thì dòng suối sẽ trong, nguồn suối lúc trong lúc đục thì dòng suối chảy về sẽ lúc đục lúc trong.Tâm chưa gạn lọc các tâm lý ô nhiễm thì hành động, hành vi sẽ có lỗi lầm. Vậy cho nên có người nói : "Chỉ có Thánh mới không sai lầm" .

Sự gạn lọc tâm lý phải có phương pháp, như người luyện sắt phải có phương pháp, các công đoạn tuần tự. Người tu hành cũng vậy, từ từ loại bỏ phần thô, phần dễ thấy của tâm lý ô nhiễm, dần dần loại bỏ đến tâm lý ô nhiễm tế nhị hơn. Điều đó có nghĩa là sự kiểm soát đối với tư tưởng, ngôn ngữ và hành vi thô tháo cần phải chặt chẽ và gạn lọc một cách dứt khoát và triệt để .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Ví dụ về người luyện sắt bỏ các cặn bã để sắt thành tinh luyện rất phù hợp với quá trình gạn lọc phiền não của người tu hành .
  2. Phải gạn lọc loại trừ tâm lý ô nhiễm, bắt đầu từ thô cho đến tế, làm cho tâm trong sạch thì các hoạt động của thân và khẩu trở nên trong sạch .

CHƯƠNG 36

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Kẻ thoát được ác đạo được sinh làm người là khó. Được làm người mà thoát được thân nữ làm thân nam là khó. Làm được thân nam mà sáu giác quan đầy đủ là khó. Sáu giác quan đầy đủ mà sinh vào xứ trung tâm là khó. Sinh vào xứ trung tâm mà được gặp thời Phật là khó. Đã gặp thời Phật mà gặp được Đạo là khó. Khởi được niềm tin mà phát tâm Bồ đề là khó. Phát tâm Bồ đề mà đạt đến chỗ vô tu vô chứng là khó" .

II. ĐẠI Ý

Đức Phật nêu 9 điều khó để khích lệ tinh thần tu tập của người tu hành .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Giải thích từ ngữ, thuật ngữ :

Ađạo : địa ngục (Niraya), nơi không có cái gì là an ổn, hạnh phúc. Ngạ quỷ (Peta-yoni) là loài chúng sinh đau khổ vì không có thực phẩm nuôi thân. Súc sinh hay bàng sinh (Tina echannayoni) khổ vì tranh đấu và không có điều kiện giác tỉnh và thăng hoa .

6 căn (lục căn) : là 6 giác quan : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm ý .

Trung quốc : trung tâm văn hóa văn minh, trái với trung quốc là chốn biên cương hẻo lánh .

Tín tâm (Sadha) : niềm tin đối với Tam bảo, với Chánh pháp .

Bồ Đề Tâm (Bodhi- Citta) : đã nói ở chương 19, ở đây nói thêm : Tâm có Bồ đề gọi là Bồ đề tâm, tức là các loại tâm ý tương ứng với Trí tuệ .

Bồ đề là Tâm gọi là Bồ đề tâm, tức là tâm thức luôn luôn sẵn có hạt giống Bồ đề .

Vô tu vô chứng : đã đề cập ở chương 11, ở đây xác định lại đơn giản là quả vị Phật.

2. Giải thích nội dung :

Chương 12 có đề cập đến 20 điều khó, chương này nói thêm 9 điều khó bổ sung cho đầy đủ hơn. Sắc thái của 9 điều khó này mang tính khách quan vật lý hơn, trong khi có 20 điều khó chương 12 có tính tâm lý hơn, mặc dù những điều cuối cùng của chương 36 này chuyển hướng vào nội tâm, nội chứng :

  • Thứ nhất, được làm thân người là khó : chúng sinh trong 3 ác đạo sống trong môi trường không có thiện nghiệp, phước thiện, duyên lành nên không có điều kiện để thoát khỏi cảnh khổ. Khi gặp duyên lành mà sinh ra cõi người, chẳng khác nào khát quá có nước uống, đói quá có cơm ăn. Trong kinh Tương ưng diễn tả sự khó này bằng hình ảnh con rùa mù nằm dưới biển 100 năm mới nổi lên mặt nước một lần; trên biển có một bộng cây trôi lang thang, con rùa mà gặp được bộng cây rất khó. Con người từ ác đạo mà được sinh vào cõi người cũng vậy .

Môi trường ác sẽ nuôi dưỡng cái ác, cơ hội cải thiện khó vô cùng .

  • Thứ hai, tránh được thân nữ làm thân nam : thân phận người nữ có nhiều hạn chế, nhất là về mặt giải thoát ; về sinh lý ; người nữ cũng có nhiều khốn đốn nặng nề ; về tình cảm dễ thỏa mãn trong tình ái; về xã hội, nhất là xã hội Á Đông, người nữ bị coi là thấp kém. Trong A Hàm cũng có đề cập đến sự hạn chế của người nữ là khó làm Phật, Chuyển luân Thánh Vương, Phạm Thiên, Đế Thích và Ma Vương .

Phật giáo không xem thường phụ nữ, mà chỉ nói sự thực rằng người nữ có nhiều điều bị hạn chế hơn phái nam. Thật ra, trong Giáo đoàn nữ đệ tử Phật, vẫn đầy đủ các bậc Thánh A La Hán . Vấn đề trọng yếu là tâm lý, thái độ và trình độ giải thoát mới quan trọng, làm thân nữ mà đắc Đạo còn hơn làm thân nam mà ngu muội .

  • Thứ ba, sáu giác quan đầy đủ là khó : làm người hoàn hảo về thể xác đã là khó rồi, mắt không chột, không viễn hay cận thị, không bệnh; mũi, lưỡi, thân cũng vậy. Tâm lý không điên loạn, không mất thăng bằng; não bộ, hệ thần kinh lành mạnh là hạnh phúc vô cùng. Người này ở đời thâu hoạch được nhiều hạnh phúc hơn. Ở đạo thì có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tu hành. Hơn nữa, điều kiện để trở thành vị tỳ kheo là 6 giác quan đầy đủ. Điều này không phải dễ .
  • Thứ tư, sinh ở trung tâm văn minh văn hóa của một nước : có 6 giác quan đầy đủ mà không có môi trường sống tốt, con người khó mà thăng hoa đời sống, có điều kiện tìm kiếm hạnh phúc là điều ước mơ của nhiều người, ở xa trung tâm văn hóa, con người trở nên thô bạo thấp kém, khó phát triển trí tuệ. Đó là nói về nguyên tắc chung. Đối với người tu hành, chốn phồn hoa đôi khi trở thành cạm bẫy làm tan vỡ sự nghiệp tu tập. Nếu xét một cách thoáng rộng thì ở trong biên địa cũng có trung quốc, ở trong trung quốc cũng có biên địa .

Tư tưởng về sinh vào trung quốc, có lẽ xuất phát từ Trung Hoa, trong bài kinh Quy mạng nói: "Sinh phùng trung quốc, tưởng ngộ minh sư, chánh tín xuất gia, đồng chân nhập Đạo" .Tóm lại, có điều kiện để sống cao hơn về mặt tinh thần là khó .

  • Thứ năm, gặp Phật ra đời là khó : là được sinh vào thời có Phật xuất hiện là khó. Điều này có 2 ý :
  1. Ý như trên (chương 12).
  2. Thời kỳ Phật pháp còn lưu truyền, có điều kiện văn hóa hướng thượng, hướng thiện.
  • Thứ sáu, gặp được Phật pháp là khó : tức là tìm hiểu, học hỏi giáo pháp của Đức Phật, thích thú trong chánh pháp, hướng đến chánh pháp .
  • Thứ bảy, phát khởi tín tâm là khó : gặp được giáo pháp nhưng không phát khởi niềm tin, nên không phát triển tâm linh được, khởi tín tâm là có niềm tin đối với Chánh pháp, đi theo Chánh pháp, quy y Tam bảo, thực hành các giới luật … Chỉ có niềm tin, có lý tưởng thì công đức, tâm linh mới được phát triển .
  • Thứ tám, Pháp Bồ Đề tâm là khó : có được niềm tin, có lý tưởng, có tu tập giáo pháp nhưng trí tuệ không phát triển thì niềm tin đó trở nên hạn hẹp và thui chột. Tâm Bồ Đề là tâm trí tuệ, là tâm mong muốn thành tựu Phật quả, hóa độ chúng sinh .
  • Thứ chín, đạt được quả vị Phật là khó : mục tiêu của Phát Bồ đề tâm là Phật quả, đi đến tận cùng. Phát huy tận cùng của Bồ đề tâm là Phật, hoàn thành mục tiêu tối hậu là sự nghiệp lớn lao và khó khăn .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chín điều khó Đức Phật dạy trong chương này, 5 điều đầu thuộc về nghiệp lực, 4 điều sau thuộc về khả năng tâm linh .
  2. Phần khó về khả năng Giác ngộ mới quan trọng. Tâm linh sáng suốt, có tu, có chứng thì ác đạo biến thành thiện đạo, nữ thành nam, biên địa thành trung quốc. Mắt mù mà thấy hết , tai điếc mà nghe khắp …

CHƯƠNG 37

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Đệ tử của ta tuy ở xa ta vài nghìn dặm, luôn nghĩ đến giới pháp của ta thì chắc chắn sẽ chứng được đạo quả. Ở gần bên ta, tuy thường gặp mà ta không thực hành theo giới pháp của ta, cuối cùng vẫn không chứng được Đạo .

II. ĐẠI Ý

Người đệ tử Phật, điều quan trọng nhất là thực hành giới pháp của Phật, có vậy mới tu hành có kết quả .

III. GIẢNG NGHĨA

Chương này có mối tương quan với câu chuyện trong kinh Pháp cú thí dụ, phẩm "Hộ giới", chuyện "Gần Phật với xa Phật" : Bấy giờ, ở nước La Duyệt Kỳ, có 2 tỳ kheo muốn đến yết kiến Đức Phật, trên đường đi gặp lúc hạn hán, không có nước uống, gặp một vũng nước nhỏ, nhưng đầy những sinh vật nhỏ, không uống được. Một người vì giữ giới, quyết định không uống dù phải chết khát. Người kia chủ trương uống để sống và để gặp Phật, dù phạm giới sát sanh. Người không uống mà chết được sinh lên cõi trời Đao Lợi, xuống hầu thăm Đức Phật, đứng một bên Phật. Người kia uống nước được sống đến gặp Đức Phật, và báo cho Phật bạn mình đã mạng chung. Đức Phật chỉ vị Tiên nhân đang đứng bên cạnh bảo : "Đây là bạn của ngươi nhờ giữ giới nên gặp ta trước người". Sau đó, Phật dạy : "Ngươi tuy thấy hình ta mà không giữ giới pháp của ta, thì tuy thấy ta mà ta không thấy ngươi. Người kia, tuy cách ta ngàn dặm, nhưng giữ giới luật thì người ấy như đứng trước mặt ta" .

Rõ ràng chương này đề cao vai trò của giới luật, coi giới luật như là Đức Phật .Trong kinh Di giáo, Đức Phật cũng đã dạy tương tự : "Sau khi ta diệt độ, thì phải trân trọng giới luật như người mù thấy được ánh sáng, như người nghèo gặp được châu báu. Nếu ta có ở đời cũng không khác giới luật này vậy" .

Nhấn mạnh về giới luật là vì mục đích của Phật giáo là đoạn trừ khổ đau, thành tựu hạnh phúc tối thượng. Sự hạnh phúc phải được xây dựng trên cơ sở đạo đức. Đạo đức là nền tảng của hạnh phúc, của sự giải thoát giác ngộ. Đạo đức chính là Giới luật. Giới luật không phải giáo điều, mà là những điều kiện tất yếu để dẫn đến hạnh phúc tối thượng, tức giác ngộ Niết bàn .

Trong kinh Tương ưng, phẩm "RẮN ĐỘC", phần con rùa, kể rằng : "Có một con rùa đi giữa đường gặp một con giã can đang đi kiếm mồi, con rùa liền thụt 4 chân và cái đầu vào trong mai rùa của mình. Con giã can trông thấy con rùa, nghĩ rằng : "Khi con rùa này thò chân nào hay cái đầu ra, ta sẽ chộp lấy" . Nhưng con rùa kiên nhẫn ở trong mai rùa của mình, nên con Giã can bỏ đi". Người tu hành cũng vậy, phải sống với sự hộ trì các giác quan, sự tuân thủ giới luật sẽ không bị ác ma não hại. Công dụng của Giới luật rất lớn đối với người học Phật. Vì vậy, không thể coi thường giới luật .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này có tương đồng với câu chuyện "Gần Phật với xa Phật"trong kinh Pháp cú thí dụ .
  2. Giới luật rất cần thiết đối với người tu hành theo Phật, vì đó là những nguyên tắc đạo đức, là điều kiện của hạnh phúc và giải thoát .

CHƯƠNG 38

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật hỏi một vị Sa môn : "Sinh mạng của con người tồn tại bao lâu ?". Đáp rằng : "Trong vài ngày". Phật nói : "Ông chưa hiểu Đạo". Đức Phật lại hỏi một vị Sa môn khác "Sinh mạng con người tồn tại bao lâu ?". Đáp : "Khoảng một bữa ăn". Phật nói : "Ô⮧ chưa hiểu Đạo". Đức Phật lại hỏi một vị Sa môn khác nữa : "Sinh mạng con người tồn tại bao lâu ?". Đáp : "Khoảng một hơi thở". Phật khen : "Hay lắm! Ông là người hiểu Đạo" .

II. ĐẠI Ý

Mạng sống con người rất mong manh, chỉ trong một hơi thở, thở ra mà không thở vào là qua đời khác .

III. GIẢNG NGHĨA

Chương này Đức Phật trắc nghiệm trình độ tu tập và khả năng nhận thức về vô thường. Những vị Sa môn đã trả lời khác nhau, bày tỏ sự nhận thức sâu cạn của mình. Vị thứ nhất đã hiểu cuộc đời là vô thường, mạng sống con người cũng vô thường, nhưng ông nghĩ rằng thời gian vài ngày là nhanh rồi. Vị thứ hai cho là một bữa ăn, tức khoảng nửa tiếng, tưởng rằng như vậy là ngắn lắm rồi, nhưng Đức Phật vẫn chưa chấp nhận. Vị thứ ba đáp rằng chỉ trong hơi thở và được Phật khen ngợi, vì 2 lý do :

  1. Về mặt nguyên lý : sự vô thường diễn ra trong từng giây phút (sát na vô thường) .
  2. Về mặt tu tập : sự quán chiếu về vô thường của thân mạng là để loại bỏ sự thấy sai lầm về thân (thân kiến), để thấy rõ bản chất thực của thân là vô ngã, thì hành giả phải thấy sự diễn biến liên tục của thân qua hình ảnh cụ thể là hơi thở. Sinh mạng thay đổi qua từng hơi thở. Nói một cách ấn tượng thì thở ra mà không thở vào là chấm dứt, như người xưa nói : "Nhất tức bất hồi thiên thu vĩnh biệt" .

Thật ra, không phải khi ta nhắm mắt xuôi tay mới gọi là chết, mà ta đã chết qua từng sát na (thời gian rất ngắn), sinh mạng thay đổi rất nhanh, chỉ có những người hiểu Đạo biết quán chiếu mới hiểu rõ .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

  1. Chương này Đức Phật trắc nghiệm trình độ tu tập của các vị Sa môn về chủ đề cơ bản là sự vô thường của sinh mạng .
  2. Sinh mạng con người chuyển biến liên tục, sự tồn tại rất ngắn, chỉ trong thoáng chốc. Đó là sự thực. Thấy được lý thật này, sự ảo ảnh về thân, chấp thủ bản ngã mới có thể rơi rụng .

CHƯƠNG 39

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Người tu học theo con đường của Phật thì phải tin tưởng và thực hành những lời Phật dạy. Thí dụ ăn mật, ở giữa hay chung quanh bát đều ngọt. Giáo pháp của ta cũng vậy" (đều có vị ngọt giải thoát) .

II. ĐẠI Ý

Đệ tử Phật thì phải có niềm tin đối với Đức Phật và Giáo Pháp

III. GIẢNG NGHĨA

Chương này đề cập đến niềm tin của người đệ tử đối với bậc Đạo sư . Người đệ tử muốn thành tựu kết quả tu tập phải có niềm tin vào ông thầy, vào lời dạy của thầy; nếu không, tâm hoài nghi sẽ cản trở, chướng ngại cho sự tu tập. Điều này rất quan trọng cho lộ trình tu tập Thiền Định (Đại hành tâm). Yêu cầu của chương này là phải có niềm tin tuyệt đối, đối với lời dạy của Phật, tất cả những lời dạy của Ngài đều sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đều có hương vị giải thoát .

Điều đó không có nghĩa là tin theo một cách mù quáng, vô điều kiện. Niềm tin đó phải xuất phát từ sự thấy rõ, như trong kinh Kàlama. Đức Phật dạy : "Này các Kàlama, đừng để bị dẫn dắt bởi những báo cáo, hay bởi truyền thống, hay bởi tin đồn. Đừng để dẫn dắt bởi thẩm quyền kinh điển hay bởi lý luận suông, hay bởi suy lý, hay bởi sự xét đoán bề ngoài, hay bởi vì thích thú trong những lý luận , hay bởi những điều tuồng như có thể xảy ra, hay bởi ý nghĩa "Đây là bậc Đạo sư của chúng ta". Nhưng này các Kàlama, khi nào các ông tự biết mình biết chắc chắn rằng những việc ấy là Thiện, là tốt, hãy chấp nhận theo chúng". (Tăng Chi , Kinh Tứ Sát Trung Bộ 1)

Người tu tập đôi khi thiếu sự sáng suốt, dễ bị mê hoặc bởi uy tín của Đức Phật do người khác lợi dụng, sẽ đi vào con đường tà đạo mà cứ nghĩ rằng mình đã đi đúng chánh pháp .

Niềm tin đối với bậc Đạo sư là cần thiết cho sự tu tập, nhưng phải được xét nghiệm bằng trí tuệ để phân biệt ở đâu là Phật dạy, ở đâu là trá ngụy, nhất là trong thời kỳ không có Phật xuất hiện như thế giới hôm nay .

Giáo điển của Đức Phật xuất phát từ trí tuệ siêu việt của Ngài nên toàn thiện viên mãn. Vì vậy, toàn bộ giáo lý đều có một mục đích duy nhất như Pháp Hoa Kinh nói : "Khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến". Chỗ khác, Đức Phật dạy : "Nước trong 4 biển tuy nhiều, nhưng chỉ một vị là vị mặn. Giáo pháp của ta cũng vậy, chỉ có một vị là vị giải thoát". Thí dụ bát mật ở giữa hay 2 bên đều ngọt là vậy .

IV.NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN :

Đệ tử của Phật tu tập dưới sự dẫn dắt của bậc Đạo sư phải có niềm tin tuyệt đối đối với giáo pháp, vì giáo pháp chỉ có một vị là vị giải thoát .


CHƯƠNG 40

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Sa môn hành đạo đừng như con trâu kéo vất vả; thân tuy có tu tập mà tâm không tu tập. Nếu tâm có tu tập thì không cần thân tu tập (hình thức bên ngoài) .

II. ĐẠI Ý

Tu tập chủ yếu là nội tâm chớ không phải là hình thức bên ngoài .

III. GIẢNG NGHĨA

Chương trước đề cập đến niềm tin đối với bậc Đạo sư, đối với giáo pháp để mà tu tập. Chương này đề cập đến vấn đề tu tập trong tâm chứ không phải hình thức bên ngoài. Con trâu làm việc vất vả thân xác, trong tâm nó không có nội dung gì. Người tu hành, bề ngoài tu tập vất vả, nhưng không có tiến bộ nội tâm thì chẳng khác con trâu chỉ biết cày bừa .

Đạo Phật chú trọng tu tâm dưỡng tánh, lấy niềm vui Đạo (hạnh phúc bên trong) làm khích lệ cho con dường tu tập đoạn trừ phiền não .

Chương này cảnh giác những người tu hành chỉ lo chỉnh đốn oai nghi hình thức mà quên tu tập bên trong tâm thức, kết quả chẳng ích gì .

Khi trong tâm đã thanh tịnh, đã giác ngộ thì chẳng cần phải tu tập gì nữa, như câu nói truyền thống : "Những việc nên làm đã làm, không còn tu học gì nữa". Ý nói là bậc vô học A La Hán .

IV. KẾT LUẬN

Người tu hành chú trọng thanh lọc tâm thức, đoạn trừ phiền não, chứ không chú trọng hình tướng tu tập bên ngoài. Tu tập bên trong mà thành công rồi thì chẳng cần phải tu tập gì nữa .


CHƯƠNG 41

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Người hành Đạo giống như con trâu chở nặng đi trong bùn sâu, mệt lắm mà không dám nhìn hai bên, ra khỏi bùn lầy rồi mới có thể nghỉ ngơi. Người Sa môn phải luôn quán chiếu tình dục còn hơn bùn lầy, một lòng nhớ Đạo mới có thể khỏi bị khổ vậy .

II. ĐẠI Ý

Chướng ngại chủ yếu của sự tu tập là tình dục, phải chánh niệm tĩnh giác thường trực mới khỏi sa ngã .

III. GIẢNG NGHĨA

Chương này đề cập đến sự chướng ngại chủ yếu của một vị Sa môn trên lộ trình tu tập là tình dục, khi mà cội nguồn của tình dục chưa đoạn trừ, thì người tu hành phải luôn luôn chánh niệm tĩnh giác để đoạn trừ, không được khinh thường chủ quan như đã được nhấn mạnh ở các chương trước, chẳng khác nào con trâu mang vật nặng trên lưng đi vào con đường bùn lầy, phải nhất tâm cẩn thận vượt ra khỏi đường lầy rồi mới nghỉ ngơi .

Đối với tình dục nói riêng, đối với phiền não tham, sân, si nói chung, đoạn trừ chúng là như đặt gánh nặng xuống. Tùy theo căn trí của mỗi người mà sự đoạn trừ tham dục kết quả chậm hay nhanh. Trong kinh Tăng Chi, Đức Phật đề cập đến 4 hạng người :

  1. Hạng đạo hànhkhổ, thắng trí chậm .
  2. Hạng đạo hành khổ, thắng trí nhanh .
  3. Hạng đạo hành lạc, thắng trí chậm .
  4. Hạng đạo hành lạc, thắng trí nhanh .

Nghĩa là :

  1. Người bản tính tham dục cường thịnh, bị khổ bởi tính tham dục đó. Người ấy khả năng yếu, ngũ căn tín, tấn, niệm, định, tuệ, yếu nên khả năng yếu, chậm chạp trong quá trình đoạn diệt các lậu hoặc .
  2. Người bản tính tham dục cường thịnh bị khổ bởi tính tham dục đó. Người ấy năm căn tín, tấn, niệm, định, tuệ, dồi dào, khả năng mạnh, nên nhanh chóng đoạn diệt các lậu hoặc .
  3. Người bản tính tham dục không cường thịnh, không bị khổ bởi tính tham dục. Nhưng năm căn tín, tấn, niệm, định, tuệ yếu nên khả năng yếu, chậm chạp trong quá trình đoạn diệt các lậu hoặc.
  4. Người bản tính tham dục không cường thịnh, không bị khổ bởi tham dục. Người ấy năm căn tín, tấn, niệm, định, tuệ mạnh, nên có khả năng nhanh chóng đoạn diệt các lậu hoặc .
  5. Tóm lại, sự đoạn trừ tình dục, sân hận, ngu si, tùy thuộc vào khả năng tinh thần (5 căn) của mỗi người chứ không tùy thuộc vào tình dục mạnh hay yếu .

IV. KẾT LUẬN

  1. Thí dụ con trâu chở nặng đi trong bùn sâu, rất phù hợp với trường hợp người tu hành chưa đoạn trừ ái dục.
  2. Người tu hành luôn chánh niệm tĩnh giác, làm chủ thân, khẩu, ý thường xuyên mới có thể đoạn trừ tham dục .

CHƯƠNG 42

I. CHÁNH VĂN

Đức Phật dạy : "Ta xem địa vị vương hầu như bụi qua kẽ hở, đem vàng ngọc quý giá như ngói gạch, xem y phục tơ lụa như giẻ rách, xem đại thiên thế giới như một hạt cải, xem cửa phương tiện như các vật quý giá hóa hiện, xem pháp vô thượng thừa như mộng thấy vàng bạc lụa là, xem Phật đạo như hoa đốm trước mắt, xem thiền định như núi Tu Di, xem Niết Bàn như ngày đêm đều thức, xem phải trái như sáu con rồng múa, xem pháp bình đẳng như nhất chân địa, xem sự thịnh suy như cây cỏ 4 mùa .

II. ĐẠI Ý

Thái độ của bậc giác ngộ là xả ly toàn bộ tham ái và chấp thủ đối với các pháp .

III. GIẢNG NGHĨA

1. Chú thích từ ngữ, thuật ngữ :

Đại thiên thế giới : (còn gọi là tam thiên đại thiên thế giới) theo vũ trụ quan Phật giáo thì 1000 thế giới bằng một tiểu thiên thế giới,1000 tiểu thiên thế giới thành một trung thiên thế giới, 1000 trung thiên thế giới thành một đại thiên thế giới. Ở đây muốn nói đến cái lớn rộng so sánh với vật nhỏ bé như hạt cải .

Ao A Nậu (Anavatapta) dịch là Vô nhiệt não, ao này ở trên núi Hy Mã Lạp Sơn, nguồn của con sông Hằng và các con sông khác ở AᮠĐộ. Theo truyền thuyết nước ao đó là nước thiêng có 8 công đức : lắng sạch, trong mát, ngọt ngon, nhẹ diệu, nhuần trơn, an hòa, trừ đói khát và tội lỗi, bổ khoẻ về thể xác và tinh thần .

Pháp vô thượng thừa : pháp Đại thừa, con đường dẫn đến Phật quả .

Phật đạo : con đường thành tựu quả vị Phật .

Núi Tu Di : còn gọi là núi diệu cao đó là hòn núi trung tâm của một thế giới. Đó là ngọn núi lớn nhất không có núi nào lớn hơn, vì vậy dùng để thí dụ cho điều gì lớn lao, vững chãi .

Niết bàn : (Nirvana) còn gọi là Nê Hoàn .

Nir : ra khỏi, vana : rừng, tức là ra khỏi rừng phiền não. Niết bàn còn có nhiều tên gọi khác như Diệt (diệt phiền não), Diệt độ (dứt sinh tử), Tịch diệt (lặng lẽ tịch tịnh), Bất sanh (không còn sanh tử), Vô vi (không tạo tác nghiệp ), an lạc, giải thoát

2. Giải thích nội dung :

Chương 42 là chương cuối cùng của Kinh Tứ Thập Nhị Chương, được coi là bản tổng kết của bộ kinh, nghĩa là đúc kết nội dung tư tưởng của toàn bộ kinh để rút ra một kết luận cốt lõi .

Chương này trình bày 13 đối tượng chấp thủ của mọi người dưới nhãn quan của bậc giác ngộ viên mãn, cho thấy trí tuệ siêu việt vượt thoát khỏi sự trói buộc tâm lý tham ái và chấp thủ, điều này tiêu biểu cho sự giải thoát. Trong nguyên bản kinh xưa thì chương này được trình bày 3 đối tượng mà thôi, còn bản kinh này thì thêm vào khá nhiều gồm 13 điều, có điều hay và những điều không cần thiết .

Ba đối tượng đầu là đối tượng của lòng tham ái :

2.1 Xem địa vị vương hầu như bụi qua kẽ hở :Bụi qua kẽ hở rất nhỏ bé, dao động và vô thường. Địa vị công danh là đối tượng ham muốn của số đông, vì thế mà sinh tranh chấp, phiền muộn. Bậc giác ngộ vì đã thấy bản chất của vũ trụ nên họ không còn tham đắm danh vị .

2.2 Xem sự quí giá của vàng ngọc như gạch ngói: Vàng bạc là sinh mệnh của con người như người ta vẫn nói : "Tiền tài là huyết mạch". Vì vậy con người phải vất vả tìm kiếm, có khi phải hy sinh thân mạng, danh dự, tình cảm … Tìm kiếm được rồi lo giữ gìn để đừng mất mát. Bậc giác ngộ xem những thứ quý giá ấy chẳng khác nào ngói gạch, không có gì đáng kể .

2.3 Xem y phục tơ lụa như giẻ rách: Ham chuộng trang sức, làm đẹp cơ thể, thỏa mãn tự ngã là điều quan trọng của nhiều người. Vì vậy, y phục tơ lụa được quan tâm coi trọng. Đối với bậc giác ngộ thì sự quý giá của y phục bằng lụa là không tác động đến tâm tư, xem nó với giẻ rách không khác.

Ba điều này được coi là nhóm thứ nhất, là đối tượng tham ái của chúng sinh .

2.4 Xem đại thiên thế giới như hạt cải: Đại thiên thế giới là nói đến cái rộng lớn bao la của vũ trụ vạn hữu, đối với hạt cải là vật nhỏ, quá nhỏ. Khái niệm phân biệt và chấp trước vào cái lớn, cái nhỏ không phù hợp với chân lý duyên sinh – Người giác ngộ thấy sự vật bình đẳng – Điều này có một thiền sư đã nói :

"Càn khôn tận thị mao đầu thượng

Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung"

(Trời đất rút lại bằng đầu sợi lông ; mặt trời, mặt trăng có thể nằm lọt trong một hột cải - thiền sư Huyền Giác trong chứng Đạo Ca) .

2.5 Xem nước ao A Nậu như dầu thoa chân : Hình ảnh đối nghịch khác là ao A nậu và dầu thoa chân, một bên là nước Thánh linh thiêng trong sạch, một bên là dầu thoa chân phòng rắn rít của người Ấn Độ xưa. Giữa cái sạch, cái dơ người đời phân biệt rất rõ. Nhưng dưới nhãn quan của bậc giác ngộ thì chúng là một, "Bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh" của kinh Bát nhã.

Hai đối tượng 4 và 5 thuộc nhóm thứ hai, là đối tượng chấp thủ của người tu hành còn thấp, hoặc là kiến chấp của hàng trí thức học giả .

2.6 Xem cửa phương tiện như các vật quý được hóa hiện : Phương tiện là cách xử trí khôn khéo để dẫn dắt chúng sinh vào con đường Đạo hay nói cách khác sử dụng những phương thức khác nhau, tùy theo điều kiện thực tế đạt được mục đích – vì vậy phương tiện là biện pháp tạm thời không thật cũng như các vật quý giá, tuy quý nhưng là đồ hóa hiện không thật .

2.7 Xem pháp vô thượng thừa như mộng thấy vàng lụa : Vô thượng thừa là cỗ xe lớn hơn bất cứ loại xe nào, cũng gọi là Đại thừa, tức xe lớn đưa chúng sinh đến Phật quả, cao siêu hơn cửa phương tiện ngụ ý là của thanh văn, duyên giác. Đây là lộ trình của Bồ Tát thừa, mặc dù nó quý thật nhưng chỉ trong cơn mộng không thật .

2.8 Xem Phật đạo như hoa đốm trước mắt : Phật đạo hay là Phật quả là mục tiêu của Đại thừa Bồ Tát, tu tập đạt đến Phật quả là hoàn tất mục đích của mình. Tuy nhiên đã là con đường hay quả vị thì vẫn không thật, chỉ là giả lập, giả thuyết. Do có sự đối đãi mà gọi là Phật đạo, ma đạo. Giống như hoa đốm trước mắt là do bệnh mắt mà có, nếu hết bệnh thì còn gọi hoa đốm là gì nữa ?

2.9 Xem thiền định như núi Tu Di : Núi Tu Di cao lớn và vững chãi, thiền định là tâm thức tập trung cao độ, ổn định và vững chãi. Mục đích của thiền định là trí tuệ đoạn trừ lậu hoặc chứ không phải mục đích an ổn vững chãi. Vì vậy đối với thiền định, bậc giác ngộ chỉ xem núi Tu Di không quan trọng gì mấy, chỉ được cái vững chãi mà thôi. Chấp thủ vào đó thì không ích gì .

2.10 Xem Niết bàn như ngày đêm đều thức : Niết bàn là tịch diệt, là chấm dứt phiền não, là mục tiêu của định tuệ. Ngày đêm đều thức có nghĩa là sự tỉnh thức thường trực. Đối với bậc giác ngộ, Niết bàn không có gì là cao siêu huyền bí hoặc cảnh giới siêu nhiên nào đó mà chỉ là sự tỉnh thức thường trực .

Từ đối tượng thứ 6 cho đến đối tượng thứ 10 thuộc nhóm 3, là các đối tượng (Pháp xuất thế) chấp thủ của Nhị thừa, xuất thế. Tất cả chỉ là giả danh, giả lập không nên thủ trước.

2.11 Xem sự phải trái như sáu con rồng múa : Phải trái là những đối cực của cuộc sống, người ta khổ vì thấy có phải có trái, ta phải người trái … thực ra phải và trái là những khái niệm hết sức tương đối. Phải người này chưa hẳn là phải kẻ khác. Phải lúc này chưa hẳn là phải trong tương lai. Chẳng khác nào 6 con rồng múa một lượt nhưng không biết đâu là đầu là đuôi của con này hay của con kia. Do thấy vậy mà tự tại giải thoát .

2.12 Xem pháp bình đẳng như nhất chân địa : Nhất chân địa là từ chỉ cho địa vị chứng được thật tướng của vạn pháp. Pháp bình đẳng chính là nhất chân địa .

Điều 12 này nói vào đây là thừa, không cần thiết, lập lại các phần pháp xuất thế, hơn nữa đặt nó vào đây trở nên lạc lõng và vô nghĩa .

2.13 Xem sự thịnh suy như cây cỏ 4 mùa : Cuộc đời hết thịnh tới suy, hết suy tới thịnh, chẳng khác nào cỏ cây vào mùa Xuân thì đâm chồi nảy lộc, mùa Hạ xanh tốt, mùa Thu vàng úa, mùa Đông tàn rụng. Đó là qui luật tự nhiên muôn đời. Vì vậy, thái độ của bậc giác ngộ là thản nhiên trước sự đổi thay, thịnh suy của cuộc đời – Vạn Hạnh thiền sư cũng nói :

"Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi thu lại khô
Ngẫm cảnh thịnh suy đừng sợ hãi
Thịnh suy như sương đầu ngọn cỏ"

Bỏ qua một bên điều 12 là xem pháp bình đẳng như là nhất chân địa, vì lạc điệu và không hay. Còn lại điều 11 và điều 13 thuộc về nhóm 4, là đối tượng chấp thủ thường tình của con người, phải trái, thịnh suy. Người giác ngộ nhìn sâu vào lòng cuộc sống, thấy rõ bản chất vô thường bất định của mọi sự nên đối nhân xử thế một cách nhẹ nhàng thanh thản. Đó là thái độ xả ly toàn diện .

IV. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

1. Trong 13 đối tượng dưới nhãn quan của bậc giác ngộ có thể chia làm bốn nhóm : một là điều 1, 2, 3 đối tượng của ái dục, tham ái. Hai là điều 4, 5 đối tượng của tư duy phân biệt, chấp thủ quan điểm, khái niệm. Ba là điều 6, 7, 8, 9, 10 đối tượng chấp thủ của các bậc Thánh nhị thừa. Bốn là điều 11, 13 (bỏ điều 12) đối tượng chấp thủ của con người nói chung về cuộc đời, về quan niệm sống .

2. Qua 13 đối tượng dưới nhãn quan của bậc giác ngộ, ta thấy thái độ xả ly toàn diện. Xả ly tham ái và chấp thủ. Đây là con đường độc nhất vô nhị của Phật giáo và cũng là phần cốt lõi của sự tu tập trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương .

THÔN PHƯỚC THÀNH-XÃ TÂN HOÀ-HUYỆN TÂN THÀNH-BÀ RỊA VŨNG TÀU