48 NGUYỆN ADIDA QUYỂN TRUNG

Bài giảng : TK. THÍCH MINH ĐỨC

Biên soạn : Cư Sĩ Phật tử NHƯ THÁNH

Đây là Quyển Trung tiếp theo Quyển Thượng, luận giải Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ - Trang Nghiêm - Thanh Tịnh - Bình Đẳng - Giác Kinh. Trước đây Quyển Thượng phẩm thứ 6 đã luận giải về 48 Đại Nguyện A Di Đà, là chánh nhân của người tu, mà phần sau này là chánh quả. Người thọ trì kinh là mượn phương pháp ứng dụng tu, kinh và tâm phải tương ưng, làm kinh nghiệm thực tế vào pháp môn Niệm Phật, tránh rơi vào tư tưởng sai lạc.
Kính thưa quý đọc Giả !
Kinh Vô Lượng Thọ là lời thuyết giảng chơn thật, chắc chắn của mười phương Như Lai, giáo pháp uyên thâm, dành cho người đủ duyên, đúng thời tiết khi thiện căn đã chín mùi, là nghĩa Viên Giáo, lý tuyệt diệu, hợp thể tánh Như Lai. Phật diệu dụng phương tiện, dùng tướng pháp để hóa độ chúng sanh, chỉ rõ cái sẵn có, vốn chơn thật nơi mỗi con người, là pháp môn tổng hợp chư thiện duyên, phương pháp niệm Phật là cách giáo hóa, giúp chúng sanh thấy được những gì quý báu có sẵn tại bản tâm, ( dùng câu niệm Phật để nhớ lại bản giác, là nhớ quang minh trong sáng trí tuệ chính mình ). Niệm Phật hiệu, chính là niệm nhớ lại tánh Phật, nhớ Bản giác chính ta, thường chiếu soi vạn loại gọi là chơn tâm. Kinh dạy Phật Tức Tâm. Tâm là Tánh giác. Nếu ta đang trì niệm danh hiệu Phật, tâm không còn loạn niệm, thì thực tại tâm ta chính là tâm Phật. Tu cho chính ta, tự độ cho tâm ta tịnh, quyết hướng tâm quay về với tánh Phật, là tự quy y Phật, tự quay vào bổn tánh chơn như mà cung kính, đảnh lễ Phật tánh. Ta học giáo lý nhà Phật, cần hiểu rõ chơn thật pháp. Pháp có Thế Pháp và Xuất Thế Pháp. Nói về Hoàng hậu Ma-Da, sanh Thái tử Sĩ Đạt Ta. Bà chỉ sanh thân ngũ uẩn của Thái Tử. Thân do các duyên gá hợp. Ngũ uẩn là pháp sanh diệt nên có sanh, già, bệnh, chết, chỉ tạm mượn thân là sắc pháp. Hoàng hậu Ma-Da chỉ sanh Thái tử Sĩ Đạt Ta, chớ không sanh Phật được, vì Phật là bổn giác trí tuệ sẵn có, bất sanh, bất diệt, không sanh tử luân hồi, là vô lượng thọ, mượn pháp là pháp tướng thế gian. Hoàng hậu là bậc Mẫu Nghi thiên hạ, sanh Thái tử, mật ý chỉ vào quang minh cao thượng, sang trọng, trang nghiêm, giàu trí tuệ, đầy đủ đức độ cao tột, có khả năng làm chủ con người, làm chủ vạn vật, làm chủ muôn pháp, đó là Như Lai Tạng Tánh, chiếu soi trùm khắp vạn loại. Phật không là tướng ngũ uẩn, không là pháp vô thường hữu hình, vì hữu hình thì hữu hoại. Lúc thọ thai Thái tử Sĩ Đạt Ta, Hoàng hậu nằm mộng thấy Bạch Tượng Sáu Ngà từ trên không sa xuống, hút vào hông bên phải, đó là quang minh thị hiện, gọi là Bồ Tát Hộ Minh. Từ chơn không đến thế gian để hóa độ giải cứu chúng sanh.
Nằm mộng, là nói sự xuất hiện thân huyễn mộng của Thái tử. Bạch là thanh bạch, trắng trong của quang minh trí tuệ. Tượng là mượn tướng ngũ uẩn, để tượng trưng bằng một con người siêu xuất đủ lực, có sức mạnh to lớn, được diễn nói bằng pháp tướng như voi. Sức mạnh đó là trí tuệ siêu vượt thế gian, vượt qua khỏi mọi đầm lầy, sịn bã cuộc đời, sống giữa biển pháp mà lòng không vướng lụy vào pháp. Voi từ trên không sa xuống là hào quang mạnh mẽ, cao thượng từ chơn không, chỉ vì thương xót chúng sanh nên lòng từ bi của bậc xuất thế mới thị hiện vào cuộc đời, có danh từ gọi là Bồ Tát. Từ tận hư không biến pháp giới hóa hiện, đến Ta-bà nhận thân tứ đại hiện pháp tướng. Cũng giống như con người ở thế gian, dùng pháp thị hiện có sanh, già, bệnh, chết là tứ khổ hồng trần, đến để giúp đỡ, hộ chúng sanh bằng Quang Minh Trí Tuệ. Nên danh từ Đến gọi là Bồ Tát Hộ Minh. Voi hút vào hông phải của Hoàng Hậu là hào quang trí tuệ đến cuộc đời bằng chơn lý. Đời sống là hành động làm lành, làm thiện, làm phải, làm bằng từ bi tha thứ, không sống phan duyên theo thế tục, sai chơn lý. Loài có sức mạnh như voi, chỉ có ngà voi là quý nhất, nên kinh nói voi sáu ngà, là ngầm chỉ pháp bảo trân quý của bậc Bồ Tát, đi vào đời hành đạo, hoằng hóa cứu chúng sanh bằng sáu căn tịch lặng. Sáu ngà là Lục Độ Ba-La-Mật ( Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí huệ ), là bảo pháp trân quý, giữ gìn sáu căn của chư Bồ Tát. Pháp Lục độ là con đường dẫn vào trí tuệ, giữ gìn giới luật, là tha lực đưa mọi người bỏ vọng lìa mê, để qua bờ giác ngộ giải thoát. Đã xả bỏ hết các pháp nhiễm ô cặn bả cuộc đời, biết sống bằng tâm cao thượng, trong sạch là kiến tánh thấy lại bản giác sẵn có chính mình, đã tri kiến Phật, đã nhận lại tự tánh A Di Đà Phật tại tâm. Người sống bằng pháp Xuất Thế là Phật đã đản sanh, Phật đang thị hiện tại tâm, tánh giác đã sống lại tại lòng. Tâm tức Phật không còn sống bằng tâm phàm tục, không đi trong thất tình lục dục, niệm niệm đều trong sạch như sen, tâm địa là đất tâm rực nở sen hồng.
Người sống bằng Phật tánh, hành động luôn là hạnh Bồ Tát, mỗi niệm khởi đều trong sạch, tượng trưng cho mỗi bước đi. Đi trên pháp bảo là Thất Bồ Đề Phần ( đi trên bảy đài sen báu ). Đi bằng tài sản Như Lai là Thất Thánh Tài. Chỉ có bậc xuất thế vào cuộc đời bằng trí tuệ từ bi, không não loạn bởi ngũ dục, xuất hiện bằng hào quang tinh anh y chơn lý. Lòng tươi đẹp hoan hỷ là hoa Vô Ưu, không vướng bận phiền muộn, ưu tư, sầu khổ, không tham dục, điên đảo. Nếu còn các pháp này là còn tâm niệm của chúng sanh, phàm phu, chỉ có bậc Bồ Tát mới thị hiện đi vào đời bằng quang minh thanh tịnh, là đi trên sen báu. Tay phải chỉ lên, ẩn chỉ vào tâm cao thượng, biết phải làm lành, vượt khỏi biển nghiệp, đứng thẳng giữa thế gian. Tay trái chỉ xuống, là chỉ vào người đã vượt lên khỏi sự thấp hèn, độc ác, đủ sức đứng lên khỏi mọi dục vọng, không còn nương dựa vào thế giới hèn hạ. Nghĩa là không dựa vào cõi tâm là Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục, đã lìa các cõi ác đạo, lìa ba đường ác (tham, sân, si), gọi là Tam Đồ Khổ, mọi niệm ác đều vắng lặng. Thân ngũ uẩn Thái tử Sĩ Đạt Ta, hết duyên cũng tan rã vì sanh, già, bệnh, chết, hữu hình thì hữu hoại. Nhưng đức độ là Bản giác của Ngài, gọi là Đức Phật vẫn tồn tại. Dù trải qua nhiều thế kỷ, người thế gian vẫn tôn xưng, thương kính, lễ lạy đức hạnh cao cả bậc siêu phàm xuất thế. Vì muốn bày tỏ lòng kính ngưỡng mới tạc vẽ hình tượng, để làm hình ảnh tượng trưng, mà thể hiện sự trân trọng, chiêm bái, tôn thờ, hằng nhớ đến vô lượng công đức, nên có danh từ gọi là Thế Tôn, để nhớ đức hạnh siêu tuyệt, làm gương mẫu cho người tu. Đức hạnh là xuất trần Thượng Sĩ, người cõi thế tự tôn xưng, kính quý. Trong mười danh hiệu bậc giác ngộ có danh từ gọi là Thế Tôn.
Sở dĩ Đức Phật thị hiện có thân vào cõi dục giới, hòa nhập cuộc sống như chúng sanh, ứng hiện qua sắc tướng Thái tử Sĩ Đạt Ta, mượn thân con người để làm gương cho tất cả con người, làm Phật tại con người, tu sửa hiện ở ngay cuộc đời. Mục đích dạy cho tất cả chúng sanh được làm Phật, là điều đích thật, thấy sự thật ngay cuộc sống, đạo ngay trước mắt ta, ngay đời sống tại Lục căn. Không thấy Phật hay thành Phật bằng tư tưởng trừu tượng, mơ hồ rằng sau khi bỏ thân xác mới vãng sanh. Những ý nghĩ này hoàn toàn vọng tưởng. Chơn lý là y như thật, phải giác tại tâm hiện tiền. Vãng sanh là các niệm mê muội, tà vọng đã chết, không còn niệm nhớ, luân hồi sanh lại, thì cõi tâm thanh tịnh, hiện tiền là Tịnh Độ.
Pháp là hoàn cảnh, sự vật thảy đều như. Thân như Phật, tâm như Phật, thảy đồng thanh tịnh, không chen lẫn khởi một niệm tham, sân, si, kiêu mạn... Mười niệm vô hình này là Thập Kiết Sử. Những ác pháp này luôn sai sử chúng sanh, nên làm tâm mê loạn, chịu nô lệ cho các tà vọng. Các Kiết Sử này có Độn Sử và Lợi sử.
* Ngũ Độn Sử : Là các pháp luôn sai sử, làm tâm ám độn, mê si mất chơn chánh, dẫn tâm tạo nghiệp vào ba đường ác, chịu luân trầm đọa lạc, những kiết sử này đã ăn sâu rất khó bỏ.
* Ngũ lợi sử :
1. Ác kiến : Ý thường sanh khởi các niệm ác, nghĩ ác.
2. Tà kiến : có Thường kiến và Đoạn kiến :
- Thường kiến : Là ý nghĩ bởi tư tưởng tầm thường, tự cho rằng sau khi chết sẽ trở lại làm người, sẽ gặp lại ở kiếp sau.
- Đoạn kiến : Là nghĩ rằng, chết sẽ tiêu ra tro bụi, không còn tánh giác hay tánh mê, cho là tâm thức đoạn diệt, nên không chuyên cần lo tu hành, cứ mãi sống sa đọa trôi theo ngũ dục, lục trần.
3. Biên kiến : Là thấy nghiêng về một bên.
4. Kiến thủ : Là thấy sự việc chấp cho hoàn cảnh phải theo ý mình.
5. Giới cấm thủ : Là luôn bảo thủ thấy mình là đúng, không biết sống hạnh lắng nghe, không theo luật Phật dạy, tự mình chế luật sai.
Khi đã giác ngộ được chân lý thì các lợi sử này tự biến mất thành những tâm niệm trong suốt vì đã buông xả được các pháp tà vọng. Khi có niệm khởi, tự chuyển đổi thành niệm thiện lành, sáng suốt, đem lợi ích cho chúng sanh, tìm cách dẫn tâm mình và tâm người vào thế giới an lành, hạnh phúc, bình yên, thông suốt.
Đời sống tự tại là khi đối diện hoàn cảnh, hòa nhịp vào sinh hoạt, tiếp duyên bằng trí tuệ, biết sử dụng pháp Từ, Bi, Hỷ, Xả bằng lòng cảm thông, vui vẻ, tâm không gợn chút phiền não, là cuộc sống đã tương ưng thế giới Tây Phương Cực Lạc. Chúng ta cần biết vọng tâm là gì ?
Tất cả vạn vật vốn vô tâm, rất thanh tịnh, vậy mà chúng sanh khi đối với pháp lại sanh có tâm nên có Pháp, có khổ, vui, thua, được, thương, ghét, xấu, tốt, sang, hèn, vinh, nhục, các tâm này gọi là vọng tâm, thường sanh diệt.
Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.
Các pháp đều bình đẳng cảm thông nhau, thảy đồng thanh tịnh, không bám níu, vướng bận nhau. Chỉ vì vô minh sanh khởi, niệm vào tham dục, ái yêu, vì chấp ngã nên có hoàn cảnh, có vật, có đổi thay. Nên nhớ : có niệm thì không chơn, đã chơn thì không niệm.
Nếu biết vạn vật và con người là tướng hữu hình, sanh diệt thì tâm lúc nào cũng bình an, tại tâm hiện có chánh báo tâm là Cực Lạc. Nếu Chánh Báo ở đâu thì Y Báo ngay chỗ đó, nhân quả không sai, chơn thật rõ ràng.
Kinh nói Đại thừa, là mượn tướng xe lớn, để chỉ tự tánh có khả năng chuyên chở, vận chuyển tất cả pháp. Xe lớn là tự tánh sáng suốt, rộng lớn gọi là Vô Lượng Thọ. Chuyên chở chúng sanh tại tâm địa, là chở các niệm tham, sân, si, phiền não, danh lợi, ích kỷ, kiêu mạn, a dua, xiểm nịnh v.v... đã vô lượng kiếp, từng chất chứa, gọi là kho chứa hay A-Lại-Da. Chuyên chở pháp từ bến mê chuyển sang bờ giác ngộ. Tất cả tâm niệm đều là pháp, khi thành tựu tốt đẹp thanh tịnh, viên mãn là chánh giác. Giác từ kinh nghiệm tu học, tự tánh thông thấu chiếu soi khắp cùng vũ trụ, biết rõ vận hành của vạn vật chỉ là vọng tưởng, thì chính con người đó đã biết sống bằng Chơn Thật Trí.
Một con người dù ở bất cứ ở nơi đâu, mà luôn sống bằng tánh giác, tâm không đắm lụy vào pháp thế gian, không não phiền, đau khổ bởi vọng tâm, thì người đó là Phật, đã giác. Là một người dù đang sử dụng sắc thân, biết chuyển hóa tâm trong sự sáng tỏ, vì biết sự thật cuộc đời là vô thường, huyễn ảo, tạm gá bởi các duyên mọi hoàn cảnh sinh hoạt ngay đời sống, thì đó là pháp thân, là chơn lý, đã sáng suốt.
Bản thể chơn tâm đầy đủ tất cả, vô lượng, vô biên trí tuệ, đủ sáng suốt biện tài, có khả năng chịu đựng tất cả nghiệp báo, đọa đày hay thọ nhận sự an ổn tự tại, không chê bỏ một pháp nào, vì trong tâm có tất cả, tự tánh là vô lượng thọ.
Trang Nghiêm là buông bỏ hết mọi tà niệm, bỏ mọi vọng tưởng, niệm niệm đều trong sạch, cao thượng, không nhiễm các pháp huyễn tạm, không chấp thật cuộc đời, cho là bền chắc.
Thanh Tịnh là vắng lặng các niệm, không nghĩ tưởng, nhớ tham, sân, si, kiêu, mạn, xa lìa tham mê, dục vọng.
Bình Đẳng Giác là không phân biệt lớn nhỏ, cao thấp, đúng sai, Phàm, Thánh, đã giác rõ biết các pháp, nên dù vẫn tiếp xúc với cảnh, vật, người, vẫn đối đãi, ứng sử bằng tâm chơn thật không chấp trước.
Kinh là lời dạy từ kinh nghiệm trí tuệ, đức độ của bậc giác ngộ, tỉnh thức, không dính kẹt bận rộn vào thế gian, lời khuyên dạy thực tế rõ ràng ngay đời sống.
Kinh Vô Lượng Thọ mở đầu tại Pháp Hội Thánh Chúng hội tập tham dự, nghe Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp. Là nơi hội tựu những bậc đã chứng ngộ từng quả vị tại tâm, gồm đủ mọi căn cơ trình độ, tùy vào trí giác liễu ngộ sâu cạn của bản tâm, mà Phật dạy có danh từ đặt tên cho từng quả giác, có tên gọi là Thanh Văn, Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát, gọi chung là Đại chúng. Có rất nhiều tâm niệm, tất cả đều là Pháp. Ngài A-Nan nghe Đức Phật Thích Ca nói.
Tại sao mở đầu kinh, Phật nói với ngài A-Nan ? Phật chỉ vào ngài A-Nan vì A-Nan là diệu hỷ, diệu cát tường. Nên đầu kinh có danh từ A-Nan là nói đến lòng hoan hỷ an lạc của Đức Phật. Khi Phật khởi thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình đẳng Giác Kinh, luôn cả đại chúng đang thính pháp, liễu ngộ được chơn lý. Sau khi nghe Phật dạy, tâm cũng sáng suốt hoan hỷ. Phật dụng pháp tướng mà nói để chỉ cho đại chúng thấy lại tánh Phật, thấy lại tạng hoan hỷ tại tâm.
Tại núi Kỳ Xà Quật thành Vương Xá. Vương là vua, Xá là chỗ ở. Điều này ẩn dụ chỉ bản thể thanh tịnh, trí huệ Phật giàu sang pháp bảo. Thường Tịch Quang là chỗ trí huệ chiếu soi vô lượng, đầy đủ phương tiện để thuyết giáo chúng sanh. Một vạn hai ngàn vị đại Tỳ Kheo là chỉ vào các tâm sáng suốt, đã từng giữ tạng Pháp Bảo, tâm cùng hành động tương ưng giới luật, niệm nào cũng sáng suốt, đủ giới luật gọi là Tỳ Kheo. Chỉ hào quang trí tuệ, bản giác tự nhiên, đã phá ác Bố Ma.
Khi ý khởi thì pháp trần duyên theo, nếu có pháp trần là có tướng.
- Tu phải biết vọng niệm để buông xả.
- Nếu miệng niệm Phật, mà tâm chưa biết niệm, chưa biết vọng, thì cần nên nhớ phương pháp niệm Phật là giới luật buộc tâm vào danh hiệu Phật, để không duyên theo vọng niệm trần lao không dẫn dắt tâm đi xa.
- Phương pháp tụng kinh, gõ mõ phải biết đó là sự chuyên chú để cột tâm, cảnh giác khi vọng niệm sanh khởi. Ta không duyên theo mà chuyên chú nhất tâm, nhờ lời kinh, tiếng mõ thế câu Phật hiệu, giữ cho tâm an định.
Người học Phật cần tư duy lẽ thật cuộc đời bằng trí tuệ, phải giống như Thái tử Sĩ Đạt Ta, suốt đời mạng sống là tư duy, thiền định cho đến khi trí tuệ bừng sáng.
Trong phẩm Như Lai Hiện Thần Lực, phóng hào quang theo từng lỗ chân lông. Nói đến lỗ chân lông là chỉ vào 84 vạn trần lao. Ý nói mỗi niệm khởi đều là quang minh trí tuệ trùm khắp. Niệm niệm là từng lỗ chân lông, khi thanh tịnh đều là pháp bảo do vô lượng công đức hợp lại là pháp thân Phật. Khối trí tuệ tỏa sáng là Bản Thể Chơn Như, bất sanh, bất diệt. Trí tuệ là chân mày trắng chiếu soi 18 pháp giới, còn trí tuệ ở nhục đảnh chiếu soi hà sa cõi nước, Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cõi tâm. Trí tuệ khắp lỗ chân lông là quang minh chiếu soi tất cả pháp, tất cả niệm đều thông gọi là Nhất Chân Pháp Giới, là hào quang tiêu biểu trí tuệ Phật. Nên người thật tu phải có hào quang, là năng lực sáng suốt thấy rõ chân lý, thấy sự thật cuộc đời, sự hiểu biết có sẵn ở mỗi người tại đời sống. Quả chánh đẳng chánh giác vô thượng Bồ đề thật sự vô sở đắc, là không có chỗ để đắc. Chỉ là chỗ nhận suốt, rõ biết sự thật vạn hữu, biết sự vận hành vũ trụ tại cuộc đời, vì lầm lạc nên không thấy rõ. Nếu nói đúng là Chánh Ngữ. Suy nghĩ rõ chánh chơn là Chánh Tư Duy, là Bồ đề trí tuệ giác ngộ vô thượng. Nhận biết vũ trụ, sống tùy thuận theo sự vận hành vạn pháp, vạn loại, biết bằng trí giác chơn thật nên lòng không sanh diệt phiền não, khổ vui, đó là trí Vô Thượng Niết Bàn, hiện chứng ngộ tại các pháp thế gian, do tự giác tu là biết chuyển đổi tâm niệm.
Người tu phải thông suốt được quy luật tự nhiên, thấy từng niệm tuôn chảy sanh diệt, mà không dừng lại, niệm trụ vào một nơi nào, hay một pháp nào trong vạn pháp, thì gọi là Chơn Tâm Thường Trú. Không có tâm khổ sở hay mừng vui, niệm niệm liên tục tuôn chảy, biết vạn pháp sanh diệt là hiện sống với chơn lý, cảm thông cùng vũ trụ, vạn vật, tùy duyên mà ứng xử, đó là tâm tự tại. Tùy thuận hoàn cảnh mà sống bình an tự do, không đau khổ vì hoàn cảnh, chấp nhận chơn lý cuộc đời là sanh, già, bệnh, chết, không hề sai khác. Nên tuệ nhẫn là pháp, chấp nhận thì không sanh tâm theo cảnh. Phải có thần thông vô ngại, tự tại đó là sức mạnh, trí tuệ bất tư nghì, vì đã nhận thức được vạn pháp giai không. Xét biết được điều này tâm sẽ tự tại vô ngại, đầy đủ Bi, Trí, Dũng. Vũ trụ, vạn vật thường biến chuyển vận hành là khách quan, ta cần sáng suốt sống an lành, tự tại, không đòi hỏi, tưởng tượng, chấp trụ vào pháp nào.
Tự tánh tịch nhưng thường chiếu, chiếu mà thường tịch, là pháp tu thiền Xa-Ma-Tha. Đình chỉ tất cả mọi nghĩ nhớ phàm tục, ngăn chừa mọi vọng duyên. Nếu không ngăn dứt được, phải tự vận dụng hơi thở, đếm hơi thở hoặc niệm Phật để cột tư tưởng, gom các niệm lại, mới vào Định gọi là Tịch. Đã vắng lặng dứt bặc mọi nhớ nghĩ tạp niệm, không tu bằng trạng thái tâm chết lịm sự hiểu biết, không giống như người gỗ khô khan, tâm tịch nhưng trí giác, vẫn sáng suốt làm việc, gọi là chiếu. Tịnh là bồi dưỡng, săn sóc uốn nắn tri giác, để thông rõ thật tướng của vạn pháp. Vậy thật tướng là gì ?
Là vô tướng, phải thấy cho rõ vô tướng, thấy vô tướng, thấy vạn pháp vốn không, không có gì bền chắc, chỉ do duyên khởi, hòa hợp mà có pháp. Hiện có vạn vật, vạn hữu, như nắng, mưa, mây, gió là có duyên của tất cả pháp, do ướp tẩm nhiều duyên hợp mà thành. Tuy nhục nhãn không thấy được, nhưng đó chính là thật tướng mà vô tướng. Sự thật thì nhục nhãn không thấy có, nhưng thiếu một duyên thì không thành tựu pháp được. Có thân là do duyên từ Thất Đại hợp thành sanh thân ngũ uẩn. Khi ta biết được tướng tan hợp của lý nhân duyên, ta sẽ không còn đam mê sắc pháp, không phiền não, vì biết đã lầm chấp vọng tưởng, nếu biết được thì đó là chơn trí. Không còn sanh tâm niệm vào ba đường ác là thấy được Tánh Tịch, mà vẫn Thường Chiếu. Nhờ thật trí soi rọi nên quán thế gian như huyễn, như trong mộng, để sáng suốt thì tánh tịch mà thường chiếu, sáng suốt mà thường tịch là vắng bặt các pháp. Quán xét thấy vợ chồng, con cái, tài sản, nhà cửa, tình yêu, đau khổ, vui buồn sanh diệt như huyễn, danh lợi, sang giàu như giấc chiêm bao, mộng ảo. Lúc mơ ngủ tưởng là có, nhưng khi tỉnh giấc thì chẳng còn gì. Cuộc đời là muôn ngàn sai khác, tâm lượng vô biên, chỉ có người nuôi dưỡng hạt giống Bồ đề, là chủng tử Phật mới nhận thấy rõ và chấp nhận sự thật này, còn tư tưởng phàm phu thì khó tin, khó nhận, khó chấp nhận được. Phàm phu khó tin, khó biết, khó hiểu và khó sống với trí tuệ Bát Nhã. có không, không có, chẳng phải có cũng chẳng phải không, tùy vào bổn tánh tịch mà chiếu, để quán thế gian như việc trong mộng, cần phải chánh tư duy. Giáo pháp của Phật dạy là vô thượng thậm thâm vi diệu. Vô thượng là không gì hơn nữa :
Như Lai là vô lượng nghĩa, là nghĩa thượng thừa, chơn thật nghĩa, xuất thế Như Lai. Bát Nhã là trí tuệ rộng lớn, tự mở toan được cánh cửa vô minh, đã từng giam nhốt chúng sanh, chịu đọa đày đau khổ từ vô lượng kiếp. Bởi chấp pháp, chấp ngã là chấp thân cho ta là thật, chấp pháp là chấp tất cả vạn vật, núi, sông, cây, cỏ v.v. . . là sở hữu của ta. Hai sở chấp này làm khổ sở con người triền miên trong cuộc sống. Chấp ngã và chấp pháp là căn bản vô minh, phiền não. Ba La Mật là đã hoàn thành xong trọn vẹn, chắc chắn. Đáo bỉ ngạn là qua bờ giác ngộ, thành công viên mãn trí tuệ. Ma Ha là đại, là rộng lớn. Bát Nhã Tâm Kinh là đại trí tuệ, trực chỉ giác ngộ bản tâm, kinh nghiệm bản tâm.
Nếu tu bằng pháp cầu nguyện, cho rằng có ta, có tướng, là tu bằng đối đãi, còn vướng bận vào tướng, chưa thật sự giác ngộ. Trí tuệ vốn tự có, Phật không cho, không thưởng ban hay trừng phạt ai cả.
Tụng Bát Nhã là học lời kinh, làm kinh nghiệm thực hành trong cuộc sống, là đúng pháp như thật, làm lành hưởng quả lành, làm ác thì có quả ác, không ai ban cho hay đổi dời, trừng phạt cả.
Lời Kinh Bát Nhã là văn tự Bát nhã, phương tiện dùng diễn đạt lý kinh cho ta sống, hành theo lời dạy, giúp ta nương theo để thấy tánh Phật. Giống như qua sông phải nhờ đò, nghĩa là phải xóa bỏ tất cả sở chấp, bỏ tất cả pháp, bỏ luôn phương tiện.
Khi học văn tự rồi, cần quán chiếu tự tánh Bát Nhã, phải thấy bằng trí, không dùng nhục nhãn để thấy, quán chiếu phải nhớ lời Phật dạy. “Nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn, như bào ảnh, như lộ, diệc, như điện, ưng tác như thị quán”. Cần nương vào văn tự để tư duy lời Phật dạy, thông hiểu các pháp do duyên sanh. Pháp hữu vi trên cõi đời đều không thật, kể cả thân tứ đại cũng là pháp do duyên hợp mà có. Vạn vật hữu vi do năm đại là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không ( đất, nước, núi, sông, cây cỏ, hoa lá ) là hiện tướng của vạn vật vô tình chúng sanh.
Con người gồm thất đại là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức, tất cả là vô tận, trùng trùng duyên khởi, từ không có gì chỉ do duyên mà có tất cả, gọi pháp pháp hà tằng pháp. Nên kinh nói “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc”. Vật cũng từ không mà sanh có, khi hết duyên tan hoại cũng là pháp, phải quán pháp hữu vi như chiêm bao, như mộng, khi thức tỉnh đều không có gì. Còn mộng thì cho chiêm bao cho là thật, tỉnh giấc rồi mộng vốn là không, giống như bọt bóng không thể nắm bắt hay giữ mộng được. Pháp từ duyên sanh cũng mau đến, mà tan hoại cũng tức thời. Biết được điều này là quán chiếu Bát Nhã, thâm nhập thực hành, thấy bằng mắt pháp thì chiếu kiến ngũ uẩn cùng vạn pháp là Không, chỉ tùy duyên biến hiện, chợt có, chợt không. Khi tri nguyên nguồn gốc sự thật này, thì độ nhất thiết khổ ách, bậc giác ngộ này gọi là Bồ Tát. Pháp tự độ, tự giáo hóa này chính tại tâm người, đã thành pháp thâm mật, vi diệu Ba-la-mật-đa, đã thấy rõ chơn thật tướng, biết pháp diệt sanh, sử dụng pháp bằng trí tuệ thật tướng nhưng vô tướng. Chấp nhận bằng quang minh rực chiếu, vạn pháp giai không, không già, không chết, không sanh tử luân hồi, không tham, sân, si... là tự độ những tâm niệm từng thân quen, từng là quyến thuộc nơi tâm ta, vượt qua mọi khổ ách, không đau khổ vì không còn ngã và pháp, vạn sự đều không.
Vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức là chỉ Bản Giác bất sanh bất diệt, sáng suốt quang minh hằng chiếu.
Địa là đất. Tất cả pháp hữu vi như nhà, cửa, sông, núi, người, vật... đều nương đất mà có. Cũng như tất cả pháp từ con người, vạn vật gốc từ tâm địa mà sanh ra, tu vào tâm địa là tu trực chỉ vào bản tâm.
Hóa thân Phật thì tùy duyên hóa hiện. Sự ứng hiện sẽ tan rã khi hết duyên, chỉ là pháp nên có sanh, diệt.
Pháp thân Phật thì không hình tướng, không sanh diệt gọi là thường trụ.
Tâm là gốc, cần giữ gốc, đừng chấp vào cành ngọn, khi gốc vững vàng tươi tốt thì cành lá hoa, quả sum suê.
Đất nước gió lửa là tứ đại, chỉ thành tựu khi đủ duyên. Con người đầy đủ thất đại là đất, nước, gió, lửa, không, kiến, thức, bảy đại này hợp lại là thành tựu hữu tình chúng sanh.
Lạy Sám Hối, Niệm Phật, Tu Thiền, Niệm Chú, Tụng Kinh chưa đủ, mà phải tư duy Bát Chánh Đạo, sống bằng Bát Chánh Đạo, mới vào được chơn lý.
Như Lai là bản thể thanh tịnh của mỗi loài. Khi duyên khởi mà làm chủ được Thân, Khẩu, Ý tịch tịnh, là đã hòa nhập vào bản thể chơn như, tức đang chiêm ngưỡng Như Lai, Phật, Hiền, Thánh, Đại Bồ Tát, Bích Chi v.v... Tất cả có danh từ đều chỉ vào trí tuệ bản giác nơi con người.
Thời mạc pháp chỉ còn lại kinh A Di Đà, Vô Lượng Thọ, nên Phật nói : “Đời sau nếu có người nào từ trên mây, chiếu hào quang rực rỡ…” Phật hỏi đại chúng “Nếu như vậy các ông có lạy không?”. Ta phải xác quyết rằng tu theo Phật là theo chơn lý, không theo hình ảnh, âm thanh, sắc tướng, tướng trạng nhiệm mầu bên ngoài. Dù có tướng hay hình ảnh nhiệm mầu bên ngoài, mà không thấy nguồn tâm để tu sửa, buông xả các pháp nhiễm ô, tâm còn phiền não, điên đảo, trần lao, vướng víu thất tình lục dục, đọa lạc vì si mê, chưa giác ngộ bản tâm, sáu căn chưa tịch tịnh, niệm niệm vẫn phan duyên, là tâm chưa sạch nghiệp trần lao. Cõi tâm không an ổn, thì không hề có Cực Lạc tại tâm, vì chưa giải thoát, vẫn còn nô lệ cho ngũ dục, quẩn quanh luân hồi trong lục đạo. Nên Thế Tôn nói “Các ông đừng nên lạy, mà cần nghe kỹ khi họ giảng nói có đúng chơn lý không? Đúng chánh pháp không ? Nên nghiệm xét, tư duy, coi kỹ kinh ta đã giảng nói, nếu không đúng không phải là đệ tử ta, chỉ là tà ma ngoại đạo”. Vì :
Dĩ kiến sắc cầu ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai.
Nếu những gì còn âm thanh, sắc tướng mà vẫn chấp trụ, thì đích thị người đó hành đạo ngoài, không thể thấy Như Lai.
Chọn pháp tu phải thật chắc chắn, nghĩa là niệm Phật phải thấy tánh Phật. Vậy thấy Phật ra sao? Không thấy bằng sắc tướng, hình ảnh, đó chỉ là vọng tưởng, ảo vọng biến hóa mà quyến dụ ta, phải thấy phật rõ ràng bằng trí tuệ. Phật trí tuệ thế nào?
Phật trí tuệ là không giận hờn, trách móc, ghen ghét, tranh giành, bất bình, bất mãn, không tham ái, phiền não, không ngã mạn tự cao. Nếu tâm địa còn chứa những điều này là chưa thấy Phật bao giờ. Muốn thấy Phật phải dùng trí quán tự tại nơi lòng, nếu thấy tâm còn đau khổ, phiền não, là thấy được chúng ma hiện đang ở tại tâm. Ta phải quyết định tu cho đến khi nghe lòng không còn tham lam, ích kỷ, nhỏ mọn, hẹp hòi là thấy tánh Phật hiển hiện rõ ràng, Phật chỉ tại tâm ta, tại lòng ta. Phật không là vọng tưởng bên ngoài, mờ mờ, ảo ảo, trừu tượng mà cho là Phật được. Tu là trực chỉ vào chơn tâm, thấy được tánh thành Phật, đã tinh tấn vượt qua mọi cám dỗ cuộc đời. Phật không ăn gian, nói dối, nếu tâm ta còn gian dối là chưa thấy Phật bao giờ. Không thể miệng thì nói danh hiệu Phật, lòng còn niệm chuyện tà gian mà cho là vãng sanh Cực Lạc được, vì miệng đang niệm Phật mà lòng thì niệm ma. Tu Tịnh độ là tự xác nhận, tự độ tâm ngay chỗ này mới là tự giác.
Kinh dạy, Phật tánh tượng trưng như núi báu, núi lớn, núi chúa, chứa những pháp bảo, được bảo vệ giữ gìn bằng đức hạnh của người tu. Núi báu là Quốc độ, cũng dùng tên gọi bằng pháp tướng là Thành Vương Xá, núi cao hùng vĩ tốt đẹp, có cây báu, hoa tươi, ý nói người đã tự trồng căn lành bằng những quang minh cao thượng nên hoa quả sum suê. Cây cỏ, hoa quả là những tâm niệm từ tự tánh, từ núi báu sanh ra các chủng loài, như Trời, Người, Rồng, Dạ Xoa, là những tâm niệm, tùy vào các chủng loài trong tự tánh. Các loài thú như cọp, beo, sư tử v.v... là các niệm phiền não, khổ đau, cũng được giáo hóa hiền từ, không còn sát hại nhau. Những tâm niệm dù trước kia là cầm thú hung ác, loài chim muôn, cũng nhờ thần lực chư Phật, là những quang minh từ tự tánh giáo hóa, nên hiền lành chẳng giết hại, ăn thịt nhau, thương yêu nhau như ruột thịt. Có cây cối là các tâm niệm mà sanh có pháp hữu tình, vô tình, đều đồng chủng tánh. Kinh nói cây mọc thành rừng, ý nói con người vốn vô số tâm niệm, số nhiều nên gọi là rừng. Toàn bộ các kinh đều dùng tướng các loài để chỉ tâm niệm của chúng sanh, dùng sự biến hóa để chỉ tướng sanh diệt của tâm niệm, diệu dụng biến hóa từ tánh Đức A Di Đà vi diệu. Tất cả đều chỉ tâm niệm từ tự tánh biến hóa, nên tự tánh là tinh thần của các pháp. Thiền, Tịnh, Mật là những pháp môn vô lượng. Các pháp tu đều là phương tiện, mục đích dẫn ta quay vào tự tánh. Tự Tánh vốn bình đẳng nên vạn pháp đều Như, do nhân quả biến ra muôn vạn pháp. Nói đến Phật, là mượn tướng để chỉ tự tánh. Tự tánh là tánh Vua, biến hóa có các tâm niệm, có Thanh Văn, Duyên Giác, La hán, Bồ Tát, có muôn ngàn pháp bảo. Tự Tánh biến ra có tư tưởng, tư tưởng biến ra có hành động, thành sanh sanh hóa hóa có muôn loài, vạn vật, dùng pháp thế gian tự biến hóa chuyển đổi bằng trí tuệ mà đối trị. Người sử dụng pháp phải thanh tịnh, sáng suốt, nếu không sẽ bị nhiễm pháp, tức chấp pháp. Dùng tâm niệm sáng suốt mà đối trị sự lây nhiễm các niệm mê, sự gạn lọc là Nhất Thiết Chủng Trí. Biết rõ các pháp cũng từ tánh, đều do tâm niệm biến hóa có cây, có vật, có pháp bảo quý báu, biết được tốt hay xấu, biết được điều này là chứng nhất thiết chủng trí. Các Bồ Tát đều thành tựu nhất thiết chủng trí.
Phật là Giác, không ý niệm vì độ chúng sanh nên có niệm phát từ lòng từ bi, tùy trình độ, tùy hiểu biết của con người mà Phật khởi niệm giảng giải, Phật tùy theo sức mọi loài mà thuyết giảng giáo lý. Ta nên quay vào Tự tánh A Di Đà, là đức độ vô lượng quang minh sáng suốt, trí tuệ tại lòng ta, mà nhiễu ba vòng để quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, cúi đầu quy ngưỡng mà thọ lãnh giáo pháp Tam Quy Y, Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo.
Ta tu pháp môn cũng cần chú ý. Khi ý niệm vừa khởi lên thì thế giới lục đạo đều mở cửa, nếu không làm chủ ý được thì luân hồi theo các nghiệp, phải gìn giữ sáu căn thường tịch tịnh mới lìa xa giải thoát tự tại ra khỏi ba đường ác, ra khỏi lục đạo luân hồi.
Ai đã từng vào cõi Thế
Mới biết đời dâu bể không lường
Từ bi Phật chỉ rõ đường
Mà sao cứ mãi vấn vương nghiệp đời ?
Tại ta hay tại do trời
Tại ai xét lại cõi lòng biết ngay
Chơn không chẳng đắm lụy ai
Chơn không linh diệu, tánh ngay sạch trần
Mãi thương kẻ Sở, người Tần
Mà quên phận bạc cơ bần ly hương
Bỏ cha quên mẹ đoạn trường
Bỏ luôn Phật Quốc bỏ nhà Như Lai
Đuổi theo ảo vọng đêm dài
Dưỡng nuôi ác nghiệp dặc dài thời gian
Ngày qua đêm lại xuân tàn
Vô thường tiếp nối con đường tử sanh
Bọt trần trôi nổi đầu gành
Vỡ tan như mộng tan tành còn đâu ?
Cuộc đời chẳng có bền lâu
Tạm nương hơi thở nào đâu chắc gì ?
Nhận ra mới thấy ly kỳ
Kiếp người len nhẹ như luồng gió qua
Mạng nương hơi thở vào ra
Dứt hơi trả lại thì ta còn gì ?
Duyên lành ngộ tánh từ bi
Sao không cất bước còn nghi ngại gì ?
Thế gian là kéo với trì
Buông lơi hơi thở còn gì mà mong
Hào quang chiếu suốt đại đồng
Là nhà Trưởng giả, là dòng Phật gia
Dù ta tính bảy lo ba
Mòn hơi sức cạn tạo ra nghiệp sầu
Diệu cao chơn lý thậm sâu
Muốn qua bờ giác dứt câu luân hồi
Đò chiều vắng khách buồn ôi !!!
Khách đi đi mãi đò mong đợi gì ?
Dặn lòng giữ vẹn từ bi
Quỳ bên gối Phật, khách đi ta về
Ở trần tạm mượn vai hề
Đóng tuồng huyễn ảo, cũng về mà thôi
Ai ai cũng có vị ngôi
Bởi quên đường cũ nổi trôi phong trần
Quán âm nghiệm xét xa gần
Trở về với Phật thoát vòng muội mê
Đừng nuôi ảo vọng quên về,
Làm thân lữ khách bộn bề đảo điên
Gọi kêu ai đủ thiện duyên
Tự mình tháo cởi lụy phiền mới vơi
Biển trần lặn hụp đua bơi
Lên thuyền Bát Nhã thảnh thơi tấm lòng
Thuyền từ ngược sóng thong dong
Đợi chờ con Phật rước qua bến bờ
Vì sao khách lại hững hờ ?
Vì mê cảnh huyễn, mãi chờ mãi mong
Mượn văn thi kệ đôi dòng
Nhắn cùng bạn lữ, nhắn người cùng duyên,
Tu là lìa mọi chư duyên
Lòng không vướng níu não phiền chi chi
Đời là ác mộng mê si,
Giật mình tỉnh giấc tường tri Bồ đề
Nhớ Tánh Phật nhớ đường về
Là lòng an lạc không còn mộng mơ,
Tôi người quyết xả bợn nhơ,
Đã vô lượng kiếp phủ mờ vô minh
Lần dò nhớ lại tánh linh
Để không đọa lạc điêu linh khổ trần
Đệ huynh bạn hữu xa gần
Hãy cùng tách dặm thoát trần lìa mê.
Như Thánh
Phẩm thứ 8 :

TÍCH LŨY CÔNG ĐỨC

Ở thế gian, cha mẹ có thể để lại tài sản, của cải, vật chất cho con cái thừa hưởng, nhưng hoàn cảnh đều tùy thuộc vào nhân duyên phước báu con người, không theo ý muốn mà gìn giữ được. Cha mẹ có thể để lại tài sản, nhưng sự thừa hưởng, giữ gìn, có thể không bền, tùy vào phước họa nhân quả của người thừa hưởng được lâu dài hay mau chóng đánh mất, đó là phước báu của người thế gian. Về Phật pháp, con người Phật muốn thừa hưởng tài sản của Phật, là giáo pháp cần tích lũy công đức, mới có thể mở mang trí tuệ Phật, giác ngộ được sự thật vạn pháp ngay ở cuộc đời, sử dụng bằng tuệ nhãn, sẽ thấy vô vàn pháp bảo, là tạng pháp xuất thế gian cho bất cứ ai phát nguyện thành tựu tánh giác. Tạng pháp được gìn giữ từ công đức các bậc giác ngộ thông suốt, liễu tri vạn pháp, gìn giữ, gọi là Pháp Tạng Tỳ Kheo hay là Như Lai Tạng Tánh. Thường minh diệu, mà bất cứ con người nào sáng suốt đều có sẵn. Nếu muốn chuyển tâm là Cực Lạc, mà cõi tâm còn nghèo nàn tăm tối thì không thể được, phải cần tích lũy sâu dày. Trong kinh Ngài Duy Ma Cật dạy, ngài Thiện Đức nói về cách bố thí đến với kẻ bần cùng, cô độc, ăn xin, kỳ hạn bố thí là 7 ngày liên tiếp. Lúc đó ngài Duy Ma Cật dạy rằng “Nếu bố thí thanh tịnh thì không cần bày ra đại hội to lớn, nên mở hội thí pháp, cần gì thí tài như vậy”.
Xưa nay theo pháp bố thí lớn ở thế gian là thí tiền, gạo, của cải, vật chất, đồ dùng, là tài vật đem ra bố thí. Đó là pháp thí cho người bớt khổ, chỉ có giới hạn, khi vật không còn họ vẫn khổ, một thời gian rất ngắn sẽ hết. Vậy ngài Thiện Đức bố thí 7 ngày thì phước thí có nhiều không? Đối với phước hữu lậu thì phước đó rất nhiều. Nhưng ngài Duy Ma Cật dạy, cần thí pháp, vì theo kinh Phật dạy “Trong các thí, thí pháp là thù thắng nhất”. Ta cần hiểu rõ Duy là duy nhất, Ma là pháp, Cật là cật vấn nên danh từ Duy Ma Cật nói lên Pháp Cật Vấn Duy Nhất. Ngài Thiện Đức hỏi “Sao là bố thí pháp?”. Hội thí pháp là không thí cho kẻ trước, người sau, chỉ thí trong một lúc mà cúng dường cho tất cả chúng sanh là đồng loạt bố thí, thí bằng pháp bình đẳng. Thuyết pháp là hiện thí cho tất cả mọi người đồng nghe, đồng nhận, không cho kẻ trước, người sau, rất bình đẳng. Đồng loạt mọi người đồng nghe, thí bằng trí tuệ, thí bằng trí giác ( Phật thí ) đây là pháp bố thí của bậc Bồ Tát. Phật dạy, “Người sống đời nghèo nàn do thiếu phước đức, vì biết họ thiếu phước cần cho họ phước đức là sự sáng suốt, cho tài sản của Phật mới bền lâu. Còn vật thế gian là vô thường, họ chỉ sử dụng tạm đỡ khổ, trong vài ngày sẽ hết, vì phước thế gian còn giới hạn”. Vậy người vì thiếu phước nên nghèo khổ, cơ cực, thiếu thốn, họ rất cần phước đức, cần thông hiểu minh tường chơn lý để chuyển hóa các nghiệp khổ, là các niệm mê si tại tâm, thí hết cho các niệm ác được vãng sanh, siêu thăng Tịnh độ. Các ác nghiệp dứt lìa để thoát mọi niệm khổ, ra khỏi thế gian, bỏ dần mê muội, tích lũy, nuôi dưỡng tâm Bồ đề, vì lòng thương xót tất cả chúng sanh mà thí pháp. Nếu thương họ nghèo đói mà thí, cũng là tấm lòng Bồ Tát, giúp đỡ cho mọi người bớt ngặt nghèo trong cơn thiếu thốn. Pháp hữu lậu là tạm ở thế gian, còn giới hạn, trụ ở cõi người. Họ chưa biết cách buông xả các ác niệm nên vẫn còn thiếu phước, thiếu trí tuệ nên vẫn khổ mãi. Lòng đại từ vì thương xót chúng sanh mãi lăn vùi trong biển nghiệp, chìm nổi trong luân hồi sanh tử. Lòng từ bi vì muốn cứu chúng sanh mà thí pháp, đó là Đại Bố Thí. Vị Pháp Sư đến khai ngộ cho chúng sanh thoát khổ, là đem cho họ đời sống hạnh phúc, an vui, sống bằng trí tuệ là chánh mạng, hiểu biết thông suốt, phá mê khai ngộ. Nên Phật nói, thí pháp là quan trọng, lớn hơn thí tài vật, bằng tam thiên đại thiên thế giới. Muốn thí pháp không phải là điều dễ, phải là bậc giác ngộ trí tuệ quang minh, liễu thông vạn pháp, đầy lòng từ bi, chí nguyện, dẫn dắt chúng sanh lìa mê, đời sống luôn tỉnh thức, mới ra khỏi biển nghiệp khổ đau, trùng trùng nghiệp tối. Nhân là muốn cứu chúng sanh, mới phát lòng đại bi. Nhưng lòng đại bi không thể phát được khi đất tâm còn ôm giữ tham, sân, si, bỏn xẻn, ích kỷ, như người mù tối không thể thấy được vạn vật. Còn niệm vào nghiệp tham sân si là còn vô minh, u tối, là không sáng suốt. Muốn giác ngộ, thoát các ác pháp phải bỏ tâm niệm, bỏ lòng ích kỷ, nhỏ nhen, bỏ ngã mạn, tự cao, bỏ tự ti, mặc cảm, bỏ các niệm tủi buồn, bỏ tất cả ra khỏi tâm, thì lòng đại bi mới có cơ hội đứng dậy, lúc đó mới có đủ khả năng dùng lòng đại bi ra tự cứu ta. Đã tự bố thí tất cả các pháp nhiễm ra khỏi tâm, lòng trong sạch, thì mặt trời trí tuệ sẽ chiếu soi. Tự cứu được mình, sau đó cứu người, là bố thí pháp cho mình, cho người, tự độ, độ tha là Đại Bố Thí, thí cho nhiều người. Phải coi tất cả người nam lớn hơn ta là ông, cha, anh của ta. Người nữ lớn hơn ta là mẹ, chị em, cô dì của ta. Người nhỏ tuổi hơn là con cháu của ta, đã từng gặp gỡ, luân chuyển qua nhiều đời nhiều kiếp, họ đều là thân bằng quyến thuộc của ta, đã từng tới lui, từng sống đau khổ trong biển nghiệp vô minh. Khi đã giác ngộ phát tâm đại bi cứu giúp cho mọi người được thoát khổ, là tâm đại hiếu, vì đại chúng mà bố thí tất cả pháp là đền đáp Báo Hiếu Phụ Mẫu Trọng Ân, ân rất lớn. Nếu học hạnh bố thí, mượn vật chất, tiền của làm vật thí, mà còn khởi tâm niệm mong cầu, đòi hỏi đền trả lại phước báu, là bố thí với tâm không thanh tịnh. Vậy tâm tham cầu, đòi hỏi là tâm gì ?
Là đang thí còn có niệm đòi sau này được phước trở lại, để đời sau được hưởng giàu sang, sung sướng, còn thí với tâm niệm trả vay, thả mồi nhỏ bắt cá lớn, vẫn còn nuôi dưỡng, niệm trụ vào lục đạo, còn mơ mộng, đổi chát luân hồi. Hoặc thí mà muốn người nhận mang ơn, vật đưa ra còn mong đền trả lại, niệm vào pháp luân chuyển đổi chát tới lui, còn vay trả, chưa hướng đến sự thoát tục buông xả, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Nên đối với chơn lý còn xa cách muôn trùng, không tích lũy được công đức làm lợi ích cho tâm. Phải thí bằng tâm bất khả cầu. Pháp bố thí hữu lậu hay vô lậu đều tốt, tùy vào tâm niệm người bố thí mà có pháp giới ra khỏi thế gian hay trụ vào thế gian. Khi thí, tự quán xét tâm, nhắc nhở, dạy dỗ tâm, không để tâm niệm nhớ phiêu bạc vào lục đạo mới là chơn thật bố thí thanh tịnh, tròn hạnh thí Ba-La-Mật. Nên chuyện nhà Phật kể rằng, có người hỏi Thiền Sư, bố thí cúng dường có nhiều phước không? Thiền Sư trả lời “chưa chắc”. Nghĩa là phát tâm bố thí nên coi lại tâm ta đang thí với tâm gì ? Nếu người nhận của thí vì còn vô minh, làm buồn phiền người thí, người thí vì không như ý nên sanh tâm buồn phiền, sân si, nóng giận, người thí sẽ mất tâm thí chơn thật, mất lòng hoan hỷ, không còn là pháp hỷ. Khi bố thí, hãy tự quay vào, coi tâm hiện tại người thí bằng tâm gì? Nếu thí cõi tâm còn những niệm như vậy, là tâm người thí hiện là cõi Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục, cần quán xét tâm thật kỹ, để tránh các niệm lạc lầm. Vì hành động bên ngoài bố thí, mà cõi tâm còn ý nghiệp sanh khởi, dẫn tâm ta vào ác đạo. Mỗi hành động, phải là mỗi niệm giác, sáng suốt, xa lìa ba đường ác. Khi có hành động nên xét lại tâm, nếu thấy tâm thí, mà còn nghĩ nhớ đến mong cầu, ham muốn, đổi chát vì danh tiếng hay quyền lợi, thì pháp thí đó chưa thanh tịnh, không lợi ích được gì, cho nên tâm còn nguy hại, nghiệp mê vẫn còn nuôi dưỡng lớn thêm, chẳng ích lợi gì cho lòng đại bi thí xả vô ngại cả. Cũng đồng tiền vật chất, dụng cụ đồ vật thí y vậy, mà tâm đại từ, biết chúng sanh quá khổ, đem vật chất ra bố thí, sẵn sàng hoan hỷ cung cấp với lòng cảm thông, hiểu biết. Lúc cho còn có lời nhắc nhở, khuyên lơn, chỉ bảo, gieo vào tâm họ niềm tin Phật pháp, dù người nhận có khởi tâm gì, do vô minh đem đến cho người thí sự phiền não, người thí vẫn hoan hỷ, xả bỏ không câu chấp, tâm không chướng ngại buồn phiền nên của bố thí cúng dường đồng giống như nhau, mà hai tấm lòng khác nhau. Người thí với tâm thế gian thì còn đòi hỏi, mong cầu, là còn đang gieo nhân, còn dẫn nghiệp đi vào lục đạo. Tâm cầu phước là còn đòi hỏi cho sắp tới được làm con người tiếp tục, để hưởng phước. Tâm niệm này chưa ra khỏi thế gian nên chưa giải thoát khỏi cõi người. Người thí bằng lòng thanh tịnh từ, bi, hỷ xả gọi là hạnh xuất thế. Thí với tâm giác ngộ giải thoát, không còn niệm vướng trụ vào pháp thế gian, cõi tâm đã vắng lặng ham muốn mong cầu, là thí bằng tâm hoa sen tinh khiết trong sạch. Thí mà không thấy lòng từ bi hiển lộ, thì tâm vẫn còn ràng buộc vào tà vọng cuộc đời. Người làm Phật sự phải sử dụng bằng trí tuệ sáng suốt, không nghe theo phong trào, cần nhận xét thật minh bạch bằng chơn lý, biết nhận xét bằng Chánh Tư Duy. Ta thường sống trong biển pháp mênh mông, nên khi đủ duyên pháp biến hiện tạo hoàn cảnh, ta không nghe theo sự đồn đại mà tự xét kỹ, lúc thực hành pháp tu có đem lợi ích gì cho tâm không? Hay pháp đó chỉ là huyễn hóa, mà ta lầm cho là thật, mãi suy diễn bởi tư tưởng mơ hồ. Cần tu bằng pháp Trực Chỉ Vào Tâm, buông xả các niệm mê lầm, sẽ thấy tánh giác thông sáng. Nếu mê lầm cứ trụ chấp vào sự đồn đại các pháp mê hoặc mà lễ lạy, cầu xin, thì trí tuệ không mở mang. Cần tư duy chơn thật huệ, hiểu biết chơn chánh, mới không sai lạc pháp tu, đi đúng theo lời Phật dạy. Người tu học Phật, lúc nào cũng muốn theo đạo chánh, nhưng cần hiểu thế nào là đạo chánh ? Điều này rất khó. Đức Phật nói, đạo Phật là Chánh Đạo, mà đạo khác cũng cho là đạo mình là chánh, vậy đạo chánh là thế nào ?
Đạo chánh là đạo chẳng dùng tâm, không một tâm gì, không bảo thủ cho ý riêng tư, bắt buộc mọi người phải nghe theo vì quyền lợi cá nhân, buộc người phải theo sự chỉ đạo của mình, mà việc làm là hành động đem lợi ích chung cho tất cả, ai cũng được lợi, được tự do, hướng dẫn người đi theo con đường giác ngộ sáng suốt, không ai nợ ai cả, không mang nghiệp cùng ai mà giúp cho mọi người được an ổn, hạnh phúc, không nô lệ, ràng buộc vào quyền uy, thế lực, thậm chí cũng không nô lệ cho Đức Phật hay pháp môn hay lời nói của Ngài. Nên Phật nói, “Trong 49 năm Ta chẳng nói lời nào cả, hay pháp ta như ngón tay dùng để chỉ mặt trăng, tất cả là phương tiện nên các ông hãy tìm mặt trăng, (tánh giác), chớ đừng tin ở ngón tay ta chỉ”. Trong ngón tay không có mặt trăng, đó mới là chánh pháp. Chánh pháp dạy ta đời sống tự do, không vì quyền lợi, danh tiếng cho mình mà chấp thủ. Ngài dạy rằng “Này các ông ! Đây là con đường sa đọa, là địa ngục, ba đường ác. Đây là đường giác ngộ, giải thoát. Đây là đường ác đê tiện. Đây là con đường cao thượng. Các ông nên tự chọn lấy mà đi”. Đó là đức hạnh của bậc vô tư, tự do trí tuệ, đời sống giải thoát, không ràng buộc, kiềm chế một ai, gọi là đạo tự giác, đạo giải thoát, đạo chánh chơn. Người hướng đạo không bắt buộc ai theo ta vì quyền lợi, vì danh tiếng, là đạo chơn thật chánh đáng, không nghiêng ngã bên nào. Ngài nói rằng, “Ta không ban phước hay giáng họa cho ai”. Đạo Phật rất khó, khó hiểu, khó biết, khó buông xả, khó thực hành. Nếu tất cả đều khó mà hiểu biết, làm được nên mới được thế gian tôn kính, xưng tán gọi người giác ngộ tỉnh thức, là Phật, là Đức Thế Tôn, đức độ vô thượng, được người thế tự tôn xưng. Người tu phải hiển lộ tâm hỷ, nếu như ai thương ta thì ta thương họ, ghét ta là ta ghét lại họ, người hại ta, ta hại lại họ, đó là điều tầm thường ở thế gian. Ngược lại, gặp hoàn cảnh như vậy, mà ta có lòng tha thứ, sẵn sàng bỏ qua, thương yêu họ, chỉ có bậc giác ngộ, là đệ tử Phật mới làm được điều này. Pháp Phật là xuất khỏi thế gian. Kinh phật dạy, “Nếu giúp cho người ta thương hay họ thương ta là việc bình thường, giúp được cho người ghét ta, hại ta đó là điều phi thường”. Ngày xưa Đề-Bà-Đạt-Đa đã từng hại Phật, mà Ngài vẫn xót thương không bỏ, khi Đề-Bà-Đạt-Đa đọa địa ngục, Ngài vẫn độ. Tu là tâm luôn cởi mở, hoan hỷ, dù ở hoàn cảnh thuận hay nghịch duyên đều tùy thuận, không duyên niệm theo cảnh mà quên tâm. Chúng sanh thường theo cảnh mà bỏ tâm, nên có tâm buồn, tâm vui, tâm thương, tâm giận, tâm bất mãn, tâm bất bình, tâm kiêu căng, tâm tự cao, tâm tự ái... làm mất đạo đức người tu. Chuyện gì cũng xả bỏ là hoan hỷ, luôn sống với tâm hiện tiền là hạnh phúc, an ổn. Chánh đạo là ra khỏi khổ đau, chấp trước, ra khỏi sự ràng buộc, giữ lòng an ổn mãi, tâm không giao động. Nếu giữ chặt tư tưởng giận hờn, oán trách, gọi là chấp. Buông sở chấp là biết xả, vì đã thấu đáo rõ ràng, vạn pháp dù có tướng hay vô tướng, niệm nào, pháp nào, cũng không bền chắc. Pháp tự đến tùy duyên đi, không ai nắm giữ được pháp nào cả. Thế giới nào tại tâm tạo rồi cũng trôi qua. Vũ trụ, vạn vật vốn tự nhiên thanh tịnh, chẳng vướng mắc vào đâu. Chỉ vì người mê lầm chấp thật, cứ niệm vào pháp tham cầu, ham muốn mà có tâm ưa thích hay chê chán, thành thói quen gọi là nghiệp dẫn. Nếu tâm còn lưu giữ điều này thì khó sanh trí tuệ. Cứ ôm chấp thì mãi khổ đau. Sáng suốt, ý giác biết bằng trí tuệ bằng đức hạnh thì hoan hỷ, cảm thông, xả bỏ. Tu là thường xét tâm, hiện sống tại cuộc đời lòng là an vui, hạnh phúc, đạo đức gắn chặt là từ bi, trí tuệ chơn thật, chiếu soi. Tuy biết vạn pháp là vô thường nhưng bản tâm là tự nhiên thanh tịnh. Nếu hiện tại tâm là tư tưởng mơ hồ vì còn tà vọng, cho rằng khi chết sẽ có đức A Di Đà đến rước thì hiện tại, tuy còn sống mà đang niệm đến sự chết, bỏ quên niệm hiện tiền. Thực tại đã quên niệm Phật, đã bỏ tánh Phật, không giữ vững đức tin, không niệm Phật kiên cố, bỏ tâm hiện tại chỉ ước đến vị lai. Không sống với tâm Cực Lạc hiện tiền, tuy đang sống mà chỉ ước vọng mơ màng vào lúc chết. Nếu hiện tại trong đời sống không có Chánh Báo là Nhân thì khi xả bỏ xác thân chắc chắn không có Quả là Y Báo. Vì đạo Phật chủ đích vào nhân quả. Nếu sau khi bỏ xác thân, vẫn giữ niệm luyến ái gia đình, sẽ vào thân Trung Ấm, nhiều lắm là 49 ngày. Nếu còn niệm nhớ vào oan gia nghiệp trái thì sẽ sanh tâm niệm của lục đạo. Người thường sống bằng tánh giác thì lập tức giác ngộ giải thoát. Hiện tại, người làm lành, làm phước thì kiếp sống sau vẫn là phước. Phật chỉ dạy chúng sanh tu tập ngay cuộc đời, tự tu sửa khi còn sống tại cuộc đời. Ngài dạy làm điều lành, điều thiện, dạy xả tâm niệm độc ác tham, sân, si, dạy tu sửa cho cõi tâm an lạc, từ bi, dạy chuyển đổi tâm niệm phàm phu trở nên thánh thiện. Mọi hành động tốt đẹp phải thực hành ngay khi còn sống, Ngài không nói đến chết bao giờ. Nếu nhân hiện tại lành, chắc chắn sẽ đổi kiếp sau lành, nhân hiện tại gieo giống ác, thì quả báo của kiếp sống sau là vào đường ác, không mất bao giờ. Nên kinh Bát Nhã dạy “không có già chết”. Tự tánh mãi mãi vẫn là mãi mãi, không mất, chỉ vì chúng sanh mê lầm theo nghiệp, mà có sự thay đổi quả báo khác nhau. Đạo Phật là đạo trường sanh bất tử, không chết, chỉ có thay đổi tướng trạng, tùy nghiệp nhân tạo dựng nghiệp quả tại tâm niệm mà hiện tướng. Tu cần phải thông suốt mà giữ gìn chánh niệm vì Phật pháp bất ly thế gian giác. Phật là giác biết rõ các pháp, không bỏ pháp thế gian mà thấy đạo, không thể lìa pháp mà có Phật, cần thông suốt giác biết tận gốc các pháp thế gian. Vì giác chính là Phật, chỉ có giác mới thông đạt được các pháp nên nói là Phật pháp. Dù tu pháp môn nào mà thiếu hiểu biết, Phật nói đó là vô minh, là còn mù tối, không đi được đến đâu cả, còn nhân là vô minh thì quả là tăm tối. Cần giải thoát tri kiến, là giải thoát ra khỏi sự nghe thấy, không tin sai lầm, không vướng mắc chướng ngại si mê trong đầu óc, không sống bằng tư tưởng huyễn ảo. Ta bố thí để làm gì? Cần biết rõ hành động chính ta. Nếu cúng dường, bố thí bằng lòng an ổn, thiện lành, không đòi hỏi, không cần được ban ơn, ca tụng. Tổ dạy, người đem vật bố thí cúng dường cần phải mang ơn, cám ơn người nhận, vì có người thọ nhận vật thí thì người thí mới có cơ hội xả bỏ lòng tham. Nếu thí mà còn tham, là tâm còn vướng trụ vào mê muội, xấu xa, thí mà còn tâm niệm lợi dụng. Con người độc ác nhất là tham, sân si, tam độc đã ngầm ngấm từ lâu không bỏ được. Nếu được phước dư giả tài vật, dùng vật làm phương tiện xả tâm, bỏ tánh tham là phước báu vô lượng. Tham là rắn độc, nếu có pháp buông xả tài vật sẽ trợ lực giúp ta thoát được tánh tham. Cần mạnh mẽ đuổi rắn độc cho xa, bằng cách không còn niệm luyến tiếc vào tánh tham, không để niệm ác xưa cũ quay trở lại, đó là nhờ pháp hữu vi, là tài vật cứu lấy tánh ta, thấy lại vô vi pháp, pháp này rất khó hiểu. Nếu ta được nghe hiểu biết là có duyên lành, hãy cố gắng tinh tấn vượt lên.
Bậc giác chúng hữu tình, Phật đặt tên bằng danh từ Bồ Tát. Danh từ là phương tiện, có tên đặt chỉ vào con người, tuy có thân ngũ uẩn, sống giữa cuộc đời, biết giữ gìn giới luật, có đời sống phạm hạnh, làm gương mẫu giúp ích cho mọi người. Bồ Tát phải tự giữ tâm mình bằng cách tự giáo hóa từng tâm niệm chính tự tâm, thường giác khi các pháp biến hiện, lòng trong sạch vô nhiễm chơn chánh, sáng suốt. Tự dùng trí huệ hành hạnh Bồ Tát, làm pháp thân gương mẫu, giúp chúng sanh học hỏi. Đức Phật ngày xưa muốn cứu chúng sanh, trước hết Ngài chọn đường tu, tự độ cho thân tâm viên mãn, thành tựu quả giác, trí tuệ rộng lớn, mới dùng kinh nghiệm từ quả giác ra cứu khổ chúng sanh. Thị hiện có thân, làm gương mẫu mực cho người. Nên Bồ Tát muốn cứu chúng sanh, hành Bồ Tát Đạo, phải tự giáo hóa tâm niệm tại lòng mình cho thuần giác trước, gọi là tự độ, rồi mới độ tha, đó là con đường gương mẫu, Phật đã làm khi giác hạnh viên mãn.
Tất cả hoàn cảnh, sự vật, từ vô hình đến hữu hình ở thế gian, đều gọi chung là pháp. Pháp có 2 loại là Thế Pháp và Xuất Thế Pháp.
a/ Những việc thế gian được con người học hỏi và làm được gọi là phi Phật pháp hay Thế Gian Pháp.
b/ Những kinh nghiệm là chơn lý Phật dạy gọi là Phật pháp, hay Pháp Xuất Thế.
Tất cả các pháp đều không thật, không bền chắc. Kinh dạy, pháp vốn vô thường như huyễn, như hóa, như bào ảnh, như điện chớp, như sương, như bọt nước, như bóng, không là của ai cả. Khi nghe âm thanh chửi rủa, khen chê, cũng là pháp. Ta biết rõ chơn lý các pháp tùy duyên biến hiện, không thật, tự đến, tự đi, đều do nhân duyên, nên tâm an định tự nhiên, không sanh lòng hờn giận, oán ghét hay vui mừng, tất cả đều từ tâm niệm sanh ra. Nếu mãi chấp trước là tôi thương, tôi ghét vì lầm pháp huyễn nên cho rằng pháp là của tôi, sự thật pháp không của riêng ai cả. Nó là vô ngã, chỉ vì ham muốn mà niệm vào pháp, tự có ngã sanh ra, có thế này, thế kia, có khổ, có vui, tất cả đều không thật. Người tu lúc nào cũng đứng thẳng là hạnh tinh tấn, vượt qua mọi khó khăn, bất luận hoàn cảnh nào tâm cũng an ổn. Tâm bất an vì sợ thân cực nhọc, sợ thân gầy ốm, hao mòn, sợ mất mác tiền của, tài sản... phải thường tinh tấn độ thì cuộc sống mới an lạc. Thân và tâm là hai nguyên nhân làm trì trệ đường tu. Nếu không tinh tấn khắc phục, khống chế các tà tưởng tà vọng, tà niệm, tà tư duy thì đạo quả khó viên thành. Nên pháp Tinh Tấn Độ đối với người tu là tối ưu quan trọng.
Nếu chọn pháp Thiền Định hay Niệm Phật đều phải biết rõ mục đích pháp môn dùng để làm gì? Tại lòng phát nguyện gì mà chọn pháp môn? Tất cả pháp môn tu, mục đích đều là dẫn về sự giác ngộ vì Phật chính là Giác. Cần thiết vào pháp môn tu là nhớ lại tánh giác, tự giác, giác tha, giác hạnh mới viên mãn. Phải đặt trọng tâm tu là hướng về quả giác Bồ đề, về với tánh giác. Giác Ngộ là gì?
Là nhớ về trí tuệ nhớ sự hiểu biết. Biết chỗ nào là Niết Bàn, Cực Lạc, giải thoát ra sao? Chỗ nào là cực khổ, sa đọa, biết địa ngục trần tục đúng sai. Nếu không biết các cõi này hiện diện cư trú tại tâm là mù, tu trong cõi vô minh. Phải tích công dồn đức, từng hành động ngay đời sống là giác ngộ, sáng suốt. Phật dạy, “Này A-Nan! Pháp Tạng Tỳ kheo ở trước Thế Tự Tại Vương, giữa đại chúng, phát hoằng thệ nguyện này rồi...”. Pháp Tạng Tỳ kheo chính là đệ tử Phật, là người thâu tóm gìn giữ, bảo vệ Tạng Pháp Như Lai. Nếu Tỳ Kheo mà không gìn giữ đúng pháp, hủy phạm pháp, sai giới luật thì không phải là đệ tử Phật. Tỳ kheo là Phá Ác, Bố Ma. Bố Ma là lòng trong sạch, trong sáng, nơi gìn giữ giáo pháp, bảo vệ tạng pháp. Tạng pháp được bảo vệ, giữ gìn bằng trí đức. Giữ giới luật từ kinh nghiệm của Thế Tôn đã dạy. Pháp Tạng là gì ?
Tạng là kho chứa, Pháp là tất cả công đức tích lũy nhờ những công hạnh, đức độ thanh cao, những phương pháp thiện lành chơn chánh, là pháp bảo trân diệu, quý báu đưa người đến quả giác, thông suốt trùm khắp hằng sa quốc độ. Tỳ Kheo Pháp Tạng là người bảo vệ, gìn giữ tất cả Pháp bảo bằng trí tuệ, đã hiểu biết vạn pháp rõ ràng thông thấu, vô số, vô lượng quang minh pháp bảo, được chứa trong kho tạng, đã tự tích lũy công đức, làm chủ tất cả pháp. Nên người hành trì, tụng niệm giáo lý Phật phải thông suốt, giữ gìn bảo vệ Pháp Phật. Không để chúng ma lừa đảo, là theo các tư tưởng tà tư duy, gạt gẫm, giữ giới luật nghiêm minh, không sai phạm, thường giác mới có danh là Pháp tạng Tỳ Kheo.
Cõi của Đức Phật là bản giác chơn như. Phật đã đến như thế, ta cũng như thế, vậy Chơn Như là gì ?
Chơn là lòng chơn thật. Như chính là như vậy, y như vậy. Chơn thế nào thì quả y như vậy. Nếu ta đến với chơn lý bằng lòng chơn thật thì người đó là chơn như, chơn y như vậy.
Tâm không còn buồn phiền, không dính mắc vào ghét, thương, yêu, thích, đắm mê vào pháp thế gian thì pháp thân là như như bất động trước các pháp. Đến với pháp Phật mà còn mê nhiễm, ghét yêu, hờn buồn, chán nản, bực bội, kiêu mạn là đến với điên đảo, không gọi là Chơn Như được. Chơn Như trùm khắp thế gian, không gian và thời gian, không quá khứ, hiện tại, vị lai, mãi mãi là như vậy, gọi là Như Lai Thế Tự Tại Vương Như Lai. Là danh từ chỉ cho người đến thế gian, không nhiễm hoàn cảnh thế tục, không bị sắc dục tình yêu, của tiền, lợi danh quyến rũ. Nếu tất cả mọi người đều đến thế gian mà không bị ngũ dục phiền não vướng bận, đắm lụy, tâm an định, tự tại, là đức độ của Thế Tự tại Vương Như Lai. Như Lai là danh từ chỉ vào đức độ của bậc giác ngộ, lòng thanh tịnh vô nhiễm. Nếu ai giác ngộ sáng suốt thì mới có khả năng hiểu biết được Như Lai. Như Lai chính là bản giác chiếu soi khắp pháp giới, không hình, không tướng, không đến, không đi, không màu sắc, không tăng, không giảm, không lớn, không nhỏ, không dơ, không sạch, không là ai cả. Phải biết ngã và pháp vốn không thật tánh. Ngã không, pháp không, vạn pháp hữu tình và vô tình đều không, tùy duyên tan hợp, đến đi. Vậy chúng ta có Như Lai không? Có Như Lai sẵn có trong mỗi con người chúng ta. Từ Như Lai mà hiện có thân này. Có Như Lai mới biến hiện ra nhà cửa, xe cộ, đất nước, có thế giới, sơn hà, đại địa, chính Như Lai hóa hiện. Ta hiện ở trong Như Lai từ xưa và đến nay, nhưng mê muội mà quên bỏ Như Lai, chạy theo muôn vạn pháp. Như Lai là chủ, vạn pháp là khách, vì mê nên bỏ chủ theo khách, bỏ bản tánh chơn như thanh tịnh. Vì niệm khởi tưởng thật duyên theo thế tục, đắm say pháp huyễn mà bỏ chơn như, bỏ nhà Như Lai. Nên kinh Pháp Hoa nói đến Gã Cùng Tử, vốn có sẵn tài sản lớn lao, con nhà Trưởng Giả mà phải đi xin. Cũng giống như ta xin từ cô vợ, xin chồng, xin con cái, xin miếng ăn, xin nhà cửa, xin thế giới vật chất, xin tất cả pháp huyễn thế gian, xin những gì huyễn ảo không thật, lầm nhận những pháp nhỏ nhoi phàm tục cho là của mình. Sơn hà đại địa trùm khắp đều là Như Lai. Nếu sống bằng trí giác, biết buông bỏ những thứ tạm bợ, tâm được trống lặng, không bận nhiễm thì tâm không có tam cõi. Tại tâm không có dục vọng thì tất cả đều là ta, trí tuệ chiếu soi trùm khắp pháp giới là ta, Như Lai cũng là ta.
Tâm trí huệ thênh thang rộng lớn
Sáng trong ngần chẳng bợn mảy trần
Làu làu một tánh viên chân
Bao trùm muôn loại chẳng phân Thánh Phàm.
Như Lai là bản thể quang minh, trùm khắp sơn hà đại địa, tam thiên đại thiên thế giới, khắp quốc độ mười phương mà không có niệm vướng trụ, không bận rộn lăng xăng bởi chán ghét, mến yêu. Mắt trí huệ bao trùm thấy tất cả thế giới gọi là Phật nhãn. Vì vô minh, không mở được mắt Phật nên tâm bị trói buộc hết đời này qua đời khác. Vật chất là huyễn, chỉ vì niệm vào mê đắm mà có tâm vọng động, tất cả đều từ Như Lai tạng tánh biến hiện mà có.
Theo ý nghĩa của kinh nguyên thủy thì danh từ Như Lai không là danh hiệu của Phật Thích Ca. Sở dĩ dùng danh từ Như Lai để tránh sử dụng đặt tên cho ngã, như lầm nhận tên của một con người. Không là ta, không là tôi, vướng trụ vào sắc thân. Sắc thân chỉ là Ngũ Uẩn (sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn) đều giai không, do duyên hợp chứa nhóm, tạm gọi mà có thân. Trong sắc thân có một căn bản thường nhiên, không thể chỉ được, chỉ biểu lộ sáng suốt qua sáu căn gọi là tâm. Tâm không ở trong hay ở ngoài, vì mang sắc thân nên chấp vào thân, cho là ở trong hay ở ngoài. Căn bản là trí tuệ sáng suốt, trong ngần, không vướng bận, không sanh diệt. Vì muốn chỉ tự tánh con người nên Thế Tôn mới thị hiện mà thuyết pháp, còn Như Lai thì vô sở thuyết. Như Lai không thuyết pháp, Như Lai là bản thể chơn tâm thường tịch quang, vô tướng. Sở dĩ có danh từ Như Lai là tránh sự ngộ nhận chấp ngã, chấp tướng. Như Lai còn gọi là Chơn Như, chỉ vào thể tánh tuyệt đối, chiếu soi bao trùm vạn sự, từ tự tánh chơn như mà sanh ra tất cả. Ta đừng lầm tưởng thế giới sinh ra con người, mà chính tâm sanh ra thế giới. Có nhà cũng do tâm muốn mà sanh, tâm tạo ra đủ kiểu, đủ mẫu nhà. Tạo ra con cái do tâm yêu ái mà sanh ra. Có đường sá, tạo dựng cảnh quang, do tâm người muốn kiến thiết sửa sang. Sáng chế xe cộ, phương tiện được tạo ra, cũng từ tâm người sanh mà có pháp. Muốn mở mang, tìm hiểu phương pháp trồng tỉa, do tâm chọn giống mà sanh ra. Tất cả đều do nhân duyên đầy đủ mà sanh ra pháp, từ chơn như sanh ra tất cả pháp giới. Tổ dạy, trong tâm có tất cả, vạn pháp do tâm tạo ra, tất cả pháp đều là chơn như, chỉ vì ngã chấp nên vướng kẹt vào pháp mà mất thanh tịnh, không còn là chơn Như. Nếu bất ngờ có người chửi mắng ta bằng âm thanh “ngu”. Âm thanh “ngu”, cũng là Chơn Như, rất thanh tịnh. Âm thanh “ngu”, không hề lay động, chỉ vì chấp ngã cho ngũ uẩn là ta, sắc thân tứ đại là ta, nên khởi sanh niệm dựa vào pháp tham, sân, si, phiền não, là niệm vướng vào nghiệp, dẫn tâm vào cõi ác đạo, súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ gọi là vào tam ác đạo. Các cõi ô nhiễm, nếu còn niệm ác trong tâm là trụ vào đường ác, đã xa Như Lai, ẩn mất Chơn Như, bị mây trần tục che phủ. Nếu biết sử dụng trí, thì âm thanh “ngu” chỉ là danh từ, không phá hoại được ai cả. Chỉ vì ta niệm thân là thật, trụ ngã chấp, pháp chấp, tự dựng lên bản ngã, tâm sanh làm khổ tánh ta. Khi nghe thấy là căn tiếp nhận pháp nếu còn niệm trụ thì hiện cõi tâm là cõi phàm phu dục giới. Sự thấy nghe không vướng bận, rõ biết các pháp tùy duyên đi, đến là Chơn Như. Pháp vốn vô ngã, vì chấp có tự ngã của ngũ uẩn mà sanh tâm niệm nên có phải quấy, buồn vui, tốt xấu, lợi hại, khen chê, đau khổ, bất bình, bất mãn, chán ghét, thích ưa. Pháp là bất động, thường hằng, nằm ngoài luận thức, vì mê khởi động biển thức, dùng pháp làm tâm nên khổ. Đồng một lúc, có nhiều người đồng loạt đều nghe âm thanh là tiếng sỉ nhục, nhưng người nào chấp cho là tiếng sỉ nhục là sỉ nhục ta, ta đang bị sỉ nhục liền khởi niệm sân, thành có tâm tức giận. Còn nhiều người khác cũng đồng nghe, nhưng không chấp sỉ nhục là ta thì không hề khởi tâm sân si, phiền não, tức giận, tâm bất động dù vẫn nghe âm thanh, vẫn nghe tiếng sỉ nhục nhưng không chấp là sỉ nhục thì tâm họ rất bình an, không có sự giao động, tâm không loạn. Danh từ phát ra tiếng chỉ là âm thanh từ ngũ uẩn, do thọ nhận của Thọ Uẩn mà lầm chấp ngã, chấp pháp nên có Ngã, Nhân, Chúng Sanh, Thọ Giả nên Chơn Như bị pháp huyễn che mờ, không sáng suốt chiếu soi, các niệm vô minh đã che khuất. Tánh của các pháp là bất động, nên có chuyện nhà thiền, Tổ hỏi đệ tử “Phướng động hay tâm động?”. Khi thấy lá phướng bay trong gió, phướng bay là do duyên hợp mà lay động, cần sáng suốt hiểu rằng các pháp đều như, không có sự khổ não nào đến với ta cả. Tiền bạc cũng Như, không là của ai, lúc tạm giữ, tạm thọ nhận thì mừng rỡ cười vui, khi mất thì sanh tâm niệm vào pháp đau khổ, khóc than. Chỉ tại ta tham muốn nên có tâm vui cười, than khóc, đau khổ, chớ tiền bạc chỉ là sắc pháp vốn thanh tịnh, không có vui, khổ, cười, khóc. Còn pháp thì không cười, mất pháp thì không khóc. Chỉ tại khởi tâm niệm tham nên có khổ, vui, có nhà đẹp là sắc pháp, thì nhà vẫn thanh tịnh, nhà cũng không mừng, không cười, nếu nhà bị thiên tai sụp đổ nhà cũng không khổ, không buồn, không khóc. Tiền bạc ở túi người này, chuyền qua người khác. Tiền vẫn thanh tịnh, không buồn, không khóc, không vui. Các pháp không có khổ vui nên Phật nói, “Các pháp đều như vậy, sanh như vậy, diệt như vậy”, vốn tự nhiên. Nếu hiểu được tánh tự nhiên của các pháp, ta không sanh niệm vào luyến ái, dính mắc pháp, là thực tướng niệm Phật. Niệm niệm dù vẫn khởi mà đối trước pháp đều tịch lặng, không nghĩ nhớ, duyên theo pháp huyễn ảo, mơ hồ, điên đảo. Tuy ở thế gian mà tâm thường tự tại, thường chơn gọi là quang minh của Thế Định Tự Tại Vương. Vẫn sống giữa cuộc đời, lòng tự tại, giải thoát ra khỏi các pháp, giải thoát hiện tại ở Ta bà, là giải thoát hết các niệm phàm tục u mê. Các niệm mê đã chết, đã vãng sanh, siêu thăng Tịnh độ, không còn niệm nhớ hồi lại, là không còn niệm luân hồi. Hiện tại ngay đời sống mà các tạp niệm, ác niệm mê muội đã vãng Tịnh độ, đã tự giác, tự độ cho an tịnh đất tâm. Tâm địa là Tịnh thổ, hoàn toàn trong sạch, cùng cực an lạc, là Cực Lạc tại tâm, đã thường được tánh giác (Phật), luôn luôn sở hộ niệm.
Danh từ Chơn Như là chỉ ngược lại thế gian hiện tại thân và tâm đang mê lầm. Chơn như thì hoàn toàn trái ngược sự hiểu biết của thế gian. Hiểu lầm, cho thương giận, buồn phiền, vui mừng, chán nản, yêu mến, kiêu mạn, xiểm nịnh, lầm nhận là tánh tôi. Khi trí tuệ bừng sáng mở khai, biết chơn như hoàn toàn trái ngược, quay ngược lại nên tu theo đạo Phật là ngược dòng thế gian. Đệ Tử Phật phải biết các pháp là Như thì không khổ. Phàm phu cho là của ta nên đầm đìa nước mắt, vì chấp thật mà sanh tâm phiền khổ, tự cho tư tưởng ảo vọng là ta. Chơn Như các pháp là tánh không, tùy duyên đến rồi đi, không chủ thể. Có lúc, đột nhiên ta nghe lòng buồn rười rượi, nếu biết sử dụng trí giác, biết các pháp đến rồi sẽ đi, không thường trụ, sẽ qua cơn buồn, xả pháp thì tâm an ổn, không não loạn, biển thức không khởi sóng động. Pháp chỉ là khách, trí sáng là chủ, khách chỉ đến rồi đi, trí tuệ là chủ thể, cần chuyên chú giữ tâm mãi trong sáng là Thường Như. Dù khách có đến là buồn phiền, hờn giận rồi cũng sẽ đi, không có gì quan trọng. Nhận định chơn chánh thì cõi tâm an lạc, không cầu cúng, van xin mà tự ta cần quán xét bằng tánh giác.
Chơn Như đồng nghĩa Như Lai tạng tánh, chứa tất cả các pháp, giận buồn, thương ghét, mừng vui, cũng chứa sáng suốt trí tuệ thiện lành từ, bi, hỷ, xả... cũng đầy ắp. Nếu ta tu mà không biết dùng trí tuệ để chọn lựa pháp gọi là Trạch Pháp, để sử dụng vào đời sống thì lúc pháp buồn đến, cứ niệm vào làm tâm thì sẽ khổ, pháp vui đến thì mừng, vừa ý thì thương, không hài lòng thì ghét, là vô minh sẽ khởi sanh, có hành động đi thẳng vào sa đọa theo thập nhị duyên khởi là Vô Minh sanh Hành, Thức, Danh, Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Tử. Nếu biết tài sản là vạn pháp, cứ khởi lúc nào cũng tùy duyên, ta không khởi niệm dính líu, vướng bận gì cả thì gọi là Như Lai Tàng. Còn vô minh thì tăm tối, pháp nào khởi thì cũng nắm lấy, niệm theo thì không gọi là Như Lai Tàng mà là A-Lại-Da. Người thật tu thường xét biết, thấy được tất cả tâm niệm, thấy chúng sanh tại lòng cũng thọ nhận. Nếu không biết rõ pháp nào là pháp thế gian, pháp nào là pháp xuất thế gian, đâu là chơn, giả, lòng mãi bận bịu lăng xăng với khổ vui nên khó thoát ra khỏi lưới ma. Trí Giác biết rành các pháp thì làm chủ pháp, không chối bỏ một pháp nào, cho là quý hay tiện. Pháp nào đến cũng cảm thông, tự lòng mà giáo hóa nên “đạo cảm thông không thể nghĩ bàn”. Nếu trí tuệ là quang minh không chiếu diệu nhận biết thì lầm pháp sẽ khổ gọi là phạm pháp hay phạm giới. Tạng tánh chứa tất cả pháp giới, có các cõi như Phật, Thánh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục, Súc Sanh, Người đều là pháp, có đủ các loài thú cũng là pháp. Tự tánh cũng là bản thể bình đẳng tự nhiên, chánh trực, không thiên lệch một tơ hào. Sự bình đẳng là công tâm, luật nhân quả tự quyết là tâm điền. Đất tâm được người trí huệ lựa giống đạo đức, thánh thiện gieo trồng, là chọn được chánh nhân, hạt tốt gieo trồng vào tâm địa bao nhiêu công hạnh thì thu nhận chánh quả bấy nhiêu không thiếu, không dư, không thêm, không bớt, tự nhận lấy thành quả công sức tu hành theo từng công quả đã tự tích lũy. Ngược lại, vô minh cứ chọn giống ác mà gieo thì tâm địa sẽ um tùm cây ác, trồng cây độc sẽ hái quả độc, nhận quả y như vậy. Nên Tự Tánh là Bình Đẳng, công bình tự nhiên, tùy nhân mà nhận quả, không xin cầu lấy bỏ, khen chê. Kinh dạy, thọ báo ích nhiều do tư hành nghiệp, tình và tưởng đầy đủ trong tâm, vẫn mang tướng con người mà khi niệm khởi nghĩ tưởng vào pháp ác. Tuy bên ngoài hình tướng là người, mà tâm hiện xây dựng, tự tạo nghiệp của loài cầm thú, ngạ quỷ, địa ngục, đang nuôi dưỡng tại đất tâm. Tâm địa vốn hiền lành, chánh trực, bình đẳng, tự lựa giống mà trồng, chọn giống nào sẽ có quả nấy. Nếu hiện nhân là đang tạo nghiệp thì kết quả là đang đi lần vào tam ác đạo, các pháp đều y như vậy, không sai nhân quả. Nên sáng suốt lựa giống thánh thiện, đạo đức mà ươm trồng nuôi dưỡng hay vô minh cứ lạc lầm chọn giống ác mà chăm sóc, càng ngày đất tâm càng tăm tối, chứa đầy nghiệp xấu. Đất tâm là nơi vun chứa tất cả giống, ta tự chọn mà gia tăng thiện đạo hay ác đạo, gọi là cõi Phàm Thánh hay Ngũ Thú Tạp Cư Địa. Nếu sáng suốt, không bị pháp trần não loạn thì nơi chứa đó là Như Lai Tạng Tánh? Phật là Giác, Tánh là Tâm. Khi tiếp nhận các pháp, phải tiếp nhận bằng trí đức sáng suốt, bằng tuệ giác. Trước khi có hành động sai lầm mà ta biết trước được sắp có hành động sai phạm, là nhờ sự chiếu soi từ quang minh của tánh giác, được tự tánh A Di Đà vô lượng quang minh nhắc nhở, thường cảnh giác, phát hiện. Nếu bất giác vì say mê ham thích, mê muội theo pháp trần liền bỏ tánh giác, bỏ Phật A Di Đà, đi theo ngũ dục, là theo ma bỏ Phật. Tánh giác vẫn thường hằng, thường chiếu, vì mê lầm mà ta tự cưỡng bức tánh giác, để tà niệm, tà vọng xen vào làm chủ, không còn nghe theo tánh giác. Phật dạy, “Tất cả chúng sanh đều có tánh giác như ta”, nhưng vì quên mà bỏ đi tánh giác, bỏ bản tánh chơn thật sẵn có, bỏ trí tuệ sáng suốt, mãi đi vào đường tối vô minh. Trước khi ý niệm vào hành động sai phạm, tánh giác cũng nhắc nhở khuyên dạy, giáo hóa nhưng vì niệm vào pháp mê nên nghiệp si khởi lên tràn ngập, dẫn chúng ta vào tội lỗi, sa đọa, lìa xa không còn nhớ tánh giác, bỏ đi tự tánh A Di Đà. Trong tạng Pháp Hoa, Phật nói, “Ta vì đại sự nhân duyên mà thị hiện đến thế gian chỉ cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”. Là Phật muốn chỉ lại tánh Phật A Di Đà tại tâm sẵn có cho chúng ta thấy biết, đó là việc lớn mà Phật thị hiện đến cuộc đời. Nếu xét vào tâm xưa nay, thấy ta cứ sống trong buồn phiền, hờn giận, làm điều tội lỗi là sống với thân phàm phu tục tử gọi là Tà Mạng. Khi đã tự giác, thường sống với tánh giác, gọi là sống với Phật thân, sống với các tâm niệm sáng suốt nên Phật thân sáng tợ lưu ly. Cổ Đức có câu, “Rắn thành rồng rắn không đổi vảy, người thành Phật người không đổi mặt”. Chỉ đổi các niệm mê thường sống bằng các niệm giác là thường niệm Phật. Người thành Phật mặt mũi cũng y như vậy, nhưng từ mê lầm chuyển đổi là sáng suốt trí huệ. Muốn trở về Phật tánh phải nương vào tánh giác, sống với tánh giác là đức hạnh nhẫn nhục. Chịu đựng tất cả khó khăn, không đòi hỏi sa hoa phung phí, không đòi hỏi sự phục vụ tiện nghi, không ham muốn những pháp phàm tục tạm giả, đó là sự khó đối với người tu. Tất cả mọi sinh hoạt trong đời sống đều đạm bạc, giản dị mà tâm hồn rất thảnh thơi an ổn, giải thoát, tất cả pháp gọi là Khởi Tín Tâm Minh. Nếu ta tin ở tượng Phật, lễ lạy tượng Phật mà bỏ quên tánh giác, bỏ tánh Phật tại lòng ta thì không thể tu sửa tâm tánh để thành Phật được. Theo tánh giác là đã theo Phật vì Phật tức Tâm, Tâm tức Phật. Cần tích cực sống với tánh giác, lúc nào cũng quy ngưỡng, hỏi lại tánh giác gọi là Ngộ Nhập Tri Kiến Phật. Ta sống được với tánh chơn như, thật tướng tại tâm, thì vạn pháp cũng chơn như, tánh thanh tịnh, không giao động. Mọi người là bản giác chơn như thì vạn vật, vạn pháp thế gian đều chơn như, không lệ thuộc vào đâu, vào ai, vào ngã nào cả. Chỉ vì ta dại khờ, si mê, tự buộc tâm phải lệ thuộc vào chồng, vợ, ái yêu, tham của cải tài sản. Ta vẫn tiếp xúc bình thường, không chối bỏ, không chán chê nhưng biết rõ các pháp đều là chơn như, không khởi tâm động niệm ưa thích, ái yêu, lấy bỏ, được thua, pháp tùy duyên biến hiện đi, đến, lòng không ôm giữ cố chấp khi pháp thay đổi. Chỉ vì tâm niệm sanh diệt vọng khởi mà có vui buồn, đau khổ, bất mãn. Nếu khởi ra hành động ta cần phải tỉnh giác, biết pháp là chơn như, đã khéo sử dụng pháp nên không sanh phiền não, đó là nuôi dưỡng sự an lạc, an ổn cho tâm ta, không còn bị trói buộc vào pháp nào cả. Dù đang sử dụng pháp, mỗi người đều có tánh giác, tâm không lệ thuộc vào pháp nào. “An trụ trong huệ chân thật”. Vậy huệ chân thật là gì?
Trí huệ là hào quang sáng suốt chân thật, không hư dối, vì biết các pháp là tạm tan hợp nên không vướng trụ. Huệ chơn thật là biết tất cả các pháp thế gian là vô thường hư vọng, tánh biết đó là trí huệ chơn thật. Khi tiếp nhận lời nói hay sử dụng pháp, biết pháp không thật bền chắc thì không lầm, đã thông suốt nên không khổ, không phiền não đắm lụy “dõng mãnh tinh tấn”. Dõng là Dũng, Mãnh là Mạnh. Sống với tánh giác phải đầy đủ sức mạnh, phá ma chướng, như người dũng sĩ mạnh mẽ, mạnh mẽ không vì quyền lợi riêng, mà đương đầu vào ngoại cảnh, đương đầu với mọi chướng ngại, khó khăn, vượt qua tất cả ham muốn, đòi hỏi gọi là dõng mãnh tinh tấn. Tâm thường là bi, trí, dũng, niệm niệm thường tinh tấn, “một hướng chuyên tâm trang nghiêm cõi nước”, trang nghiêm thế nào ?
Hàng cư sĩ, tu phải giữ gìn 5 giới, nếu sai phạm một giới là mất trang nghiêm, mất cõi tịnh của giới cư sĩ. Trang nghiêm cõi Phật là luôn luôn giữ gìn giới luật khít khao, là trọn vẹn trang nghiêm, không tác ý tính toán việc gì riêng tư, tính việc thế gian, mà chỉ chuyên nhất cõi tâm là quốc độ trong sạch. Chỉ nghĩ nhớ bản giác trong sạch của tự tánh, thường sống với trí huệ, các niệm giác là bạn lữ. Ngoài ra không phan duyên đuổi bắt theo tà vọng bên ngoài, sống thuần giác cùng tự tánh là trang nghiêm cõi nước. “Xây dựng Phật quốc rộng lớn”. Phật quốc là tự tánh quang minh, đầy đủ hào quang chiếu khắp, nhờ biết buông bỏ mọi vọng chấp, biết sửa sang Quốc độ bằng đạo đức Từ, Bi, Hỷ, Xả, Bát Chánh Đạo, Lục Độ Ba La Mật, trí giác sẽ hiển lộ. Cõi Phật có sẵn tại tâm, không của riêng ai cả, đều đồng Phật tánh. Dù tu theo Tôn giáo nào, các pháp đều là chơn như. Nếu ta còn chấp kẹt giới hạn riêng tư, sẽ không trang nghiêm được Quốc độ. Còn riêng tư là còn hạn chế trong tâm niệm nhỏ hẹp vì giới hạn của riêng, tâm không thênh thang rộng lớn. Lục Tổ nói, “Người tuy có Nam Bắc Đông Tây nhưng Phật Tánh vốn đồng”. Không có tâm niệm phân biệt tốt xấu, là giữ cõi nước Phật tại tâm được rộng lớn. Nếu còn niệm nhỏ hẹp chỉ biết Tôn giáo ta, ngoài ra không hòa các Tôn giáo khác. Hoặc biết chỉ có ta, pháp môn của ta thì không gọi là rộng lớn. “Siêu việt thắng diệu”, thắng là thù thắng, diệu là vi diệu, tuyệt diệu, vi diệu là gì ?
Là lòng cao thượng bình đẳng chơn thật. Nếu ta có tánh đức chơn thật, là đức hạnh cao tột vi diệu, đức độ to lớn gương mẫu cho mọi người. Người gương mẫu phải là người sống bằng tâm chơn thật, nơi nương cậy, tin tưởng vững chắc cho nhiều người nương theo học hỏi bằng sự tôn kính.
“Kiến lập vĩnh viễn không hề hư hoại chơn thật bất hư”. Tánh chơn không gì phá hoại được, trường cửu vĩnh viễn, nên đức độ chơn thật của Đức Thế Tôn trên 2550 năm vẫn được mọi người tôn kính, tin tưởng, lễ lạy, tin tưởng tín tâm vì không hư dối. Ở thế gian cúng dường bằng vật chất bao nhiêu cũng làm được, mà cúng dường cho đức tánh chơn thật thì khó. Sở dĩ khó cúng dường, cung dưỡng cho Phật tánh chính tại tâm vì chưa kiến tánh, chưa thấy phật tại tâm ta. “Vô lượng kiếp vun trồng đức hạnh, không khởi tưởng ham muốn sân si, không dính sắc, thanh, hương, xúc, pháp”. Ý không niệm nhớ vào tam ác đạo tham-sân-si, cũng không còn tham lam, nóng giận, si dại, điên đảo. Thân khẩu ý trong sạch, không tác ý tự làm khổ mình, khổ người, không buông lời nói ác. Dục là ham muốn, đời sống xoay vòng ngũ dục sắc-tài-danh-thực-thùy, là những pháp có lợi cho thân trước mắt phàm phu. Lợi cho thân, cung phụng, phục vụ cho thân sung sướng, nhưng tâm hồn sẽ khổ về sau. Nếu hiện tại tham Sắc thì thân sẽ sớm tàn hoại vì sắc. Tài, tham tiền, phục vụ cho thỏa mãn mọi thụ hưởng ở đời sống, nhưng sẽ đau khổ vì tiền bạc vật chất từ lòng tham, cố gìn giữ sẽ khởi niệm chia rẽ, bất hòa, sát phạt anh em, cha mẹ, Thầy Tổ và mọi người. Danh, vì quyền lợi, danh vị, tiếng tăm, vì lợi riêng. Quan vì lợi mà giết vua, vợ vì lợi mà giết chồng, con vì lợi mà giết cha mẹ, mọi người vì lợi mà sát hại nhau, anh em vì lợi mà bất hòa. Thực là thói quen con người là muốn ăn cho thật no, mặc cho thật đẹp. Thùy là ngủ nghỉ, phải cho thật sung sướng, tham ăn, ăn giành, ăn cướp, ăn trộm, ăn lừa đảo, ăn trong tội ác, bất kể tạo gây tội lỗi, xấu tốt, nên hư, chỉ vì muốn thỏa thích cho Sắc, Thân, Ngủ cũng là nguyên nhân làm hại sự tu học. Đến giờ công phu tu tập, cơn buồn ngủ sẽ làm dãi đãi, rã rượi, mất sáng suốt, mê ăn mê ngủ nói liều chẳng kiêng. Năm ác pháp này kinh gọi là Ngũ Dục. Ta phải tự lìa Tam Độc, Ngũ Dục, đời sống mới an ổn, bình yên, giác ngộ được tự tánh. “Chẳng đắm sáu trần”. Sáu trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Sắc là những gì có hình tướng, ta rờ đụng được, biết mềm hay cứng v.v… thọ nhận tất cả. Thinh là âm thanh. Hương là mùi. Vị là những cảm nhận mặn, ngọt, chua, cay hay đắng, chát. Xúc là những cảm thọ va chạm. Pháp gồm tất cả hữu hình và vô hình. Sáu pháp này đều là chơn như tự nhiên, không của riêng ai. Chỉ vì ta cứ cho là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp là của ta nên sanh ra sáu thức điên đảo là nhãn thức, nhỉ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, sanh có tâm tán loạn, không thường sống với hạnh đức thuần thiện, là đạo đức có sẵn ở tự tánh. Muốn thường sống với đạo đức, phải thường cảnh giác tam độc và sáu trần, tự nghiền ngẫm mà xét quyết. Kinh dạy, “Trước khi muốn nói nghĩ điều gì, cần đo lường hậu quả của nó”. Vì quen sống trong vô minh nên ý phan duyên bừa bãi, niệm theo ý muốn, thích thì cứ làm, không thích thì chán bỏ, không sống được với chánh tư duy, chỉ nghĩ nhớ theo niệm ham muốn phàm phu, thiếu gạn lọc. Ta không sống theo sự đắm lụy chỉ chuyên chú nghĩ nhớ đến tánh giác. “Chư Phật ở quá khứ đã tu các căn lành hạnh tịch tịnh xa lìa luống dối”. Tịch là yên lặng, dù trước sắc đẹp tài sản của cải thật nhiều mà tâm vẫn tự nhiên, không khởi niệm ham muốn gọi là Tịch, vì cõi tâm không khởi động niệm, sống bằng Pháp nhãn nên đã biết rõ pháp là chơn như nên không sanh có tâm đắm nhiễm gọi là Tịch. Nếu cõi tâm là Thường Tịch, là thế giới của Phật sáng suốt gọi là Thường Tịch Quang. “Y như chơn đế môn”. Môn là cửa chơn là trong sạch, chơn thật. “Làm các công đức không nề các khổ”. Tâm không còn khổ vì lo sợ cho thân, không nghĩ nhớ lo vào sự thịnh suy, đến đi, đổi thay của các pháp, cần thường tinh tấn vượt qua, làm chủ thân, tâm, hoàn cảnh. “Ít muốn, biết đủ” là giảm ham muốn. Hiện tại tâm mê là cõi của dục giới, còn nhiều dục vọng đòi hỏi đủ điều, không khống chế được hoặc khi ma tấn công làm não loạn. Ít muốn, là cõi tâm người rảnh rang, không lộn xộn, lăng xăng vì các pháp, ít phiền não, bao nhiêu cũng cho là đủ. Con người chỉ vì ăn, mặc, ngủ, nghỉ mà bận rộn. Nên ngày xưa chiếc y Phật mặc đầu tiên, là miếng vải đã quấn tử thi, ở thì ở dưới gốc cây, bệnh thì uống phân bò quậy đều, lóng trong mà uống để trị bệnh vì trong phân bò có các loại cỏ có chứa chất thuốc, với đức độ cao cả ấy nên Ngài đi đến đâu mọi người đều dập đầu lễ kính, lạy sát chân đó là hạnh ít muốn biết đủ. “Đem ân huệ làm lợi ích quần sanh”, là công đức tự tạo đem ra giúp ích cho mọi người. Những gì hiểu biết được, đều chia sẻ với mọi người. Có món ăn ngon cũng chia sớt, hạnh phúc an vui cũng chia sẽ, đây là hạnh làm lợi ích quần sanh. “Chí nguyện không mỏi”. Người sống theo chơn lý dù già yếu, chí nguyện làm lợi lạc khắp mọi người không bao giờ chán nản, mỏi mệt, nhất định chịu đựng thành tựu pháp nhẫn, cần thúc liễm thân tâm, trau dồi Tam Vô Lậu Học, giữ trọn giới đức, thường huấn luyện thân tâm, trui rèn đức kiên nhẫn, chịu đựng cuộc sống thanh bần, là bậc Thượng thừa, là đệ tử của Đức Phật và Chư Bồ Tát. Có tất cả, biết tất cả pháp thế gian nhưng tâm hoàn toàn buông xả, sống đời thanh bạch, bình thường, tâm là bình đẳng cao thượng. “Lời nói ôn hòa, từ diệu”. Ta cần nhớ kỹ, lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Vì biết rõ các pháp đều Như, không dính vào đâu cả, lời nói xuất phát nơi lòng từ bi giác ngộ làm cho người nghe an lạc. Trước khi lời nói phát ra, phải tự xét coi lòng có từ bi mà nói, để đem an lành hạnh phúc đến cho người không? Lòng từ bi là gì? Là không tự cao, ngã mạn, không ích kỷ, phách lối, kiêu căng, không tự hào, khoe khoang, lúc nào cũng vì mọi người mà nói âm thanh tuyệt diệu đầy từ ái, thôi thúc lòng người chóng qua bờ giác ngộ giải thoát.
Này Phật tử nghe Thầy giảng thuyết
Bấy lâu nay chí quyết tu hành
Tu thời phải lìa bỏ lợi danh
Không theo sắc dục lòng lành từ bi
Bỏ rồi bản ngã tham si
Một lòng thanh tịnh từ ni quyết làm
Dục trần lìa bỏ không tham
Lợi quyền danh vị chẳng màng từ đây
Bền lòng kiên quyết theo Thầy
Theo đường chánh đạo từ đây thực hành
Một lòng xả bỏ muốn ham
Lòng không đắm nhiễm không còn bợn nhơ
Cuộc đời rối tợ cuộn tơ
Nguyện tu lìa bỏ tham si cho tròn
Đường tu khuyên chớ mỏi mòn
Đạo chơn từ Đức siêu phàm mà nên.
Chúng sanh luân chuyển vào lục đạo vì vô minh nhiều đời nhiều kiếp, tuy tánh giác sẵn có nơi mỗi người, nhưng vì mê lầm tưởng thế gian là thật, do thói quen từng huân tập từ lâu, nên khi muốn tu hành hồi đầu thị ngạn, quy y lại chánh giác, thật khó khăn vô cùng, vạn sự đều nan, rất khó tu. Tại vì sao ? Vì vật chất càng ngày càng nhiều, tạo điều kiện cho con người hưởng thụ theo những thú vui, đáp ứng đầy đủ thỏa mãn, nuôi dưỡng thêm lòng tham muốn tham dục quá nhiều. Càng nhiều vàng bạc, của cải, vật chất, xe cộ thì tâm càng bận rộn, lăng xăng, đòi hỏi cho được đầy đủ là chạy theo sắc, mê cảnh quên tâm, bỏ đi bản tánh thanh tịnh tự nhiên, trong sáng, đem vào đầu óc đầy sự tính toán, âm mưu, tà vọng vì tư lợi nên gọi là mạc pháp, là nghèo nàn chánh pháp. Sống được với tuệ giác là phá mọi sai lầm, xây dựng lại cõi tâm, sửa sang cho tốt đẹp. Khi hướng tâm tu phải thấy hai con đường thật rõ :
1. Là trở về cõi tâm, tự gìn giữ Quốc độ, đời sống an ổn là Cực Lạc, hiện tại đất tâm là Tịnh thổ.
2. Là đi vào thế gian sống với tâm loạn động, ta cứ chọn lấy mà hành trì. Không thể muốn về Cực Lạc mà tâm còn niệm thế gian. Tu là đả Thiền Thất, tức là đã phá những niệm sai lầm, xây dựng lại đất tâm cho tốt đẹp, không còn ô nhiễm. Nếu tu theo giáo lý Phật thì chọn pháp nào mới cực kỳ tín yếu ? Phải tự quyết định rõ hai con đường Cực Lạc và Thế Gian, tự chọn một con đường gọi là nhất tâm, không thể Tây phương cũng muốn mà Thế gian cũng thèm. Nếu quyết lòng niệm Phật phải bỏ niệm ma, muốn sống với tánh giác phải lìa mê, vào chánh niệm phải bỏ tà niệm, bỏ vọng sẽ còn chơn, muốn về Cực Lạc phải trọn lòng tin và dứt khoác thế gian, thì pháp tu mới thành tựu.
Đạo Phật là đạo nhân quả, sống trong nhân quả là tuệ, trồng nhân nào sẽ hái quả đó, thành tựu chứng ngộ tùy vào căn tánh trình độ của người tu, theo từng mức độ hiểu biết. Nghĩa là buông xả mê đắm cuộc đời bao nhiêu thì tâm trong sạch thanh tịnh bấy nhiêu. Cõi Cực Lạc là tại đất tâm, tùy vào trình độ, căn cơ người tu được bao nhiêu công đức thì kết quả cõi tâm an ổn, rộng lớn bấy nhiêu, tùy nhân giác ngộ mà có quả là cõi Cực Lạc. Nếu công phu buông xả ít thì cõi tâm là Hạ Phẩm Hạ Sanh. Tâm thanh tịnh nhiều hơn thì Trung Phẩm Trung Sanh. Buông bỏ tất cả pháp, xả hết tâm niệm mê lầm là Thượng Phẩm Thượng Sanh. Đường vãng sanh ở tại tâm ta, do công đức đạo hạnh giác ngộ được tích lũy nhiều hay ít mà thành tựu công đức, tạm gọi là quả vị chứng ngộ, “vạn pháp quy tâm, nhất thiết do tâm tạo”. Tu là tự dùng tánh giác, tự cai quản tâm mình, tự chọn con đường chơn chánh mà tu. “Chỉ một pháp quán tâm mà cực kỳ tinh yếu”, nghĩa là không tìm nơi đâu, tu trực chỉ vào tâm, nhìn thẳng vào tấm lòng mà sửa sang cho tốt đẹp, chỉ một pháp tu thanh tịnh được tâm niệm mà thu nhiếp được tất cả các pháp. Kinh dạy, “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”.
“Cây có gốc mới trổ cành xanh lá,
Nước có nguồn mới bủa khắp rạch sông”.
Con người chỉ có tâm là gốc. Sau khi bỏ xác thân chỉ còn tâm niệm là gốc. Ta đừng bám níu vào cành lá hiện tại, phải tu ngay tận gốc, phải thấy gốc là thấy tâm mà trau sửa, chăm sóc, nuôi dưỡng. Tu tâm là nhắm vào gốc, vào cội rễ. Có sáu pháp tu nhắm thẳng vào gốc là ngay sáu cửa. Pháp là phương pháp, môn là cửa. Sáu pháp trực chỉ vào tâm, phá bỏ ngã, thấy lại chơn, phá sai lầm, xây dựng cõi tâm cho chân thật tốt đẹp. Ta phải tu sửa ngay sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) cho trang nghiêm, thanh tịnh. Nếu sáu căn đã trong sạch thì tại cõi tâm chính thật là Quốc độ đã tự trang nghiêm, lục căn thanh tịnh đồng Phật vãng Tây Phương. Thời Đức Phật có người hỏi Phật rằng, “Ở nước Ấn Độ đã có sẵn 96 mối đạo rồi, sao Ngài còn đến để dạy đạo gì?”. Đức Phật trả lời, “Ta đến đây không phải để phá đạo nào của các ông, mà Ta đến để xây dựng những gì đã gãy đổ, vì các ông từ lâu đã bỏ gốc để theo ngọn, nên Ta đến để xây dựng lại”. Mặc dù đạo rất nhiều nhưng không biết xây dựng gốc, săn sóc nuôi dưỡng gốc, nên đạo Phật là đạo tri gốc, tìm lại gốc. Nhà Thiền tìm Phật bằng cách tọa thiền, để coi tâm mình hiện ở đâu ? Tự minh sát tâm. Người tu Thiền chỉ thấy tâm và tâm gọi là sống với Phật tâm, dứt lìa vọng tưởng, vọng niệm, dứt tư tưởng, không đuổi bắt duyên theo pháp. Khi phát hiện có vọng tâm xuất hiện là Giác, đã có Phật hiện tiền tại tâm, sự phát hiện có vọng tâm, vọng niệm đó là tánh giác (Phật), đã phát hiện nên tâm không còn dong ruổi, hòa nhập vào các tà vọng, tà niệm, tâm vắng lặng gọi là thường tịch quang. Nếu như thiền mà thấy sắc, thấy cảnh, thấy Tiên, Thánh, Phật, thấy đền đài, lầu các, cung điện đều là tư tưởng huyễn ảo, hóa hiện từ ảo giác, tà vọng không thật, các pháp đều như huyễn. Sở dĩ có pháp xuất hiện vì tâm còn khởi những dục vọng ham muốn, còn ý niệm riêng tư sanh khởi, đòi hỏi tu là phải được, phải đắc vì còn ưa thích sự tướng hình ảnh, hoàn cảnh giả tạm thế gian. Tu mà vọng trần chưa dứt thì tà tâm vẫn còn được nuôi dưỡng, ý căn luôn sanh khởi, đó là cơ hội cho các tà trần xuất hiện, làm thỏa mãn lòng tham để dẫn dắt tâm vào lục đạo, không giải thoát được. Nếu tự chứng ngộ bằng sáng suốt, chấp nhận những điều này là thật sự hiểu biết nguồn gốc của vạn pháp, biết vạn pháp vốn vô thường, tạm gá, không chắc, không bền là đã nghe được tự tánh A Di Đà thuyết pháp, đã gặp được Thiện Tri Thức, là tri tìm được sự thiện lành tại tâm ta, tự giáo hóa cõi tâm quay trở lại nguồn tâm chỉ thấy tâm, tâm nào là tâm chơn, tâm nào là tâm vọng động, huyễn hóa. Tu là tìm sự thật chơn lý, thiền là tri tìm tâm để nhận tâm tức Phật.
Tu pháp môn Tịnh Độ là mượn Phật tìm Tâm, niệm Nam Mô A Di Đà Phật để coi tâm ta đang ở đâu? Hay ta thường bỏ tâm bơ vơ, khổ sầu vì sa đọa trong lục đạo hay còn đọa đày trong ba đường ác. Nếu còn niệm nhớ nghĩ đến pháp thế gian là đã quên niệm Phật, chỉ nhớ niệm thế gian, cõi tâm hiện là cõi dục. Tâm hiện tiền không phải là thế giới Tịnh độ. Cực Lạc không có tại tâm vì Phật tức tâm hay tự tánh A Di Đà duy tâm Tịnh độ. Tâm tịnh tức Phật tịnh nên pháp Thiền và Tịnh không phải là hai, không khác, chủ đích đều tìm tâm Phật. Tịnh là nhờ phật hiệu A Di Đà tìm coi tâm ở đâu ? Còn Thiền tìm thấy, coi lại tâm đã trong sạch chưa? Đang ở đâu? Tâm tịnh ở đâu tức Phật ở đó. Phật tức tâm, tâm tức Phật. Ta không nên dùng ý bảo thủ chia rẽ Tông môn, làm mất đoàn kết, mất pháp hòa, mất bình đẳng, làm cho người tu Tịnh không thích người tu Thiền, người tu Thiền ghét tu Tịnh, rốt cùng thì chẳng ai tu gì. Thiền Tịnh mục đích đều sống với tự tánh ( Phật tánh ) là thành Phật. Tu Thiền không theo vọng tưởng, niệm Phật phải nhất tâm không theo vọng niệm, đều tìm gốc là tìm Phật, cả hai pháp môn đều giúp tâm thanh tịnh để vào nhà Như Lai. Hai pháp môn là hai cửa đi vào, cửa Thiền vô bằng Tâm, cửa Tịnh vô bằng Phật, tâm giác ngộ trong sạch sáng suốt tịch lặng là Bản Giác Thường Tịch Quang. Niệm Phật thấy được tâm là thiền. Tổ nói rằng, “Nếu suốt đời niệm Phật mà không thấy được tâm, ngồi Thiền mà đời sống mãi vọng tưởng thì tu vô ích, tu sai lầm”. Tu pháp môn nào đời sống hiện tại cũng là thường giác, lúc đối diện với các pháp, trước hoàn cảnh mà tâm và pháp vẫn chơn như, không vướng bận các pháp, không bận rộn hoàn cảnh thế tục, bản tánh Như Lai vẫn là Như Lai vô nhiễm trước mọi thạnh suy, biến đổi dâu bể giữa cuộc đời. Biển thức tại tâm mênh mông nhưng yên lặng bất động, không suy biến lung lay mới là tánh chơn, điều hòa sự bình an vì tâm bình thường là đạo. Tâm chơn chánh của người tu là Kim Cang Tâm, uy nghi, chắc chắn, bất động. Khi cất tiếng niệm Nam Mô A Di Đà Phật lập tức hợp tác cùng tánh giác, coi tâm hiện ở đâu rồi? Tìm tâm đang ở đâu? Có la cà vào tham-sân-si không? Có đùa vui với Ngũ Dục không? Hiện có tư tưởng dong ruổi niệm vào lục đạo hay đang điên đảo bởi các pháp phàm tục không? Cần thấy rõ được tâm niệm mà tánh giác tự giáo hóa tâm, tu sửa cho tâm trong sạch mới đúng là niệm Phật có lợi ích.
Ta tu Thiền, dùng tâm mà niệm Phật thì bằng cách nào? Kinh Bát Nhã dạy, không sắc, không thinh, không vị, không xúc, không pháp, không trắng, không đỏ, không xanh, không cấu, không tịnh, không dơ, không sạch... không gì cả nên gọi là vào Cửa Không, hay Tâm Không. Không này cũng không phải là không ngơ, mà chính xác là không nhiễm, không vướng bận pháp trần, là tự tánh trong sạch. Tâm là vô tướng “mấy bận tìm tâm chẳng thấy”, đó là lời của Tổ Huệ Khả. Phật dạy 84 ngàn pháp môn đều là phương tiện, là ngón tay chỉ, ta đừng chấp vào pháp cho là thật, khi tâm dính trần gọi là tâm pháp cũng không thật, đó là phương pháp dùng chỉ tánh cho chúng sanh. Nếu ta cứ tu bừa bãi, không nương vào pháp môn thì giống như không có ngón tay chỉ. Nếu không dùng ngón tay là dùng pháp làm phương tiện để chỉ thì không thấy cửa để vào tâm. Ngón tay là pháp môn, môn là cửa. Đức Phật dùng pháp chỉ kia là mặt trăng, kia là sao hỏa, kia là mặt trời, kia là mây, tất cả đều là ngón tay chỉ để thấy được cảnh và thấy vật, nếu thấy biết cảnh vật là thấy được tâm. Muốn biết pháp Phật phải nương ngón tay chỉ, là nương pháp để thấy biết vạn vật. Nhưng nếu chấp cho pháp là thật, là còn chấp ngón tay chỉ, tự cho là đủ thì chưa thấy gì cả. Nếu biết tay chỉ là pháp, sẽ nhận biết được thiên hà đại địa, biết tất cả. Tuy bỏ tướng nhưng phải nương tướng, cần sáng suốt sử dụng tướng, mà không chấp tướng là thật. Pháp không là ai hay của ai cả. Ta cũng nhờ có tướng là con mắt, mắt cũng là pháp, ta nương pháp để thấy mọi sự vật để biết ta có tâm. Nếu vẫn có con mắt, mà mắt người chết thì không thấy được gì cả, vì người chết không còn tâm. Người mù thì còn tâm mà không có mắt nên không nhìn thấy mọi sự vật mà tâm vẫn biết. Tuy mắt mù nhưng vẫn còn tâm là còn tâm thương, tâm ghét, tâm giận, tâm buồn, vui, tâm thích ưa, ham muốn. Ta phải biết tâm nương nhục nhãn là con mắt tượng trưng tay chỉ để thấy có tâm, thấy mọi sự vật biết tên gọi, phân biệt từng pháp là nhờ tánh thấy, nương vào mắt mà nhận biết rõ được mọi vật, mọi cảnh, là nhờ tánh thấy, nhận biết được sự vật là còn tâm. Nương mắt thấy vật là nương tay chỉ để thấy trăng, nương vào pháp là con mắt để biết có tâm mà nhận ra sự vật. Kinh dạy, Sắc Sắc mà Vô Sắc, Không Không mà Có Có, Có mà Không, nghĩa là nương Có để thấy Không, nhờ Không mà sanh ra Có, nhưng phải biết là chỗ sản sanh ra Ấm Ma. Ấm Ma chính là các pháp huyễn hóa, không thật, không bền. Nếu không tâm thì không mắt, mà không mắt thì chẳng thấy được tâm. Người không thấy trăng phải nhờ tay chỉ, nhưng tay chỉ không phải là mặt trăng. Tay chỉ là Pháp, Tâm là mặt trăng. Mắt không phải là tâm nhưng nhờ mắt mà thấy được tâm. Mắt không thật là của tôi, mà tâm là chủ thể. Trong mắt không có tâm, chỉ nương mắt để thấy tâm. Nhờ có tướng của lỗ tai mà ta biết có tánh nghe, cái biết nghe, chính là tâm. Lỗ tai chỉ là sắc pháp, không có tâm, nương lỗ tai mà thấy tâm. Tâm là tánh nghe, nhận biết nghe được chính là tâm. Nương mũi để biết mùi thơm, hôi, thúi hay không thơm, nhận biết thơm, không thơm, không hôi thúi chính là tánh biết. Nương tỷ căn là tâm nương vào mũi biết có căn, khi tiếp xúc trần biết được mùi, đó là cái biết sáng suốt, tánh biết sáng suốt là tâm.
Lưỡi là sắc pháp, nhận biết vị mặn, ngọt, chua, cay, chát, đắng, béo, ngon, dở. Nhờ lưỡi mà biết được vị, biết vị là nhờ tâm. Nếu có thân thì có tâm, thân đâu tâm đó, nóng, lạnh, đau, nhức, mệt khỏe đều biết. Ý quyết định hành động cho thân, ý tìm hiểu mọi điều muốn ưa, chê chán... Sự quyết định đó là sáu cách đi vào mà có tâm, gọi là sáu cửa. Nhưng vào cửa Không rất khó, đường vào tâm là nương mắt, mũi, tai, lưỡi, thân, ý mà ta xác định biết được tâm. Tu cần biết hiện tại đang sống với tâm gì? Phải tu tâm bằng cách nào? Kinh dạy, tâm như hư không. Nói hư không nhưng chỉ giống như hư không chớ tâm không phải là hư không. Muốn biết ta có tâm hay không phải nương vào hư không, hướng vào hư không. Khi cảm nhận, ta còn thấy biết được mặt trăng, mặt trời, mây, thấy tất cả mọi sự vật... thường biết rõ ràng, là nương vào hư không mà thấy biết tâm. Tâm là tánh thấy, tánh biết, nhìn vào không gian rộng lớn biết được từng sự vật, nhờ có tâm do nương mắt mà thấy, nương hư không mà nghe tiếng sấm sét, ca hát, la hét, cười vui, nghe tiếng động, tiếng chim hót, tiếng gà gáy, tiếng vượn hú, tiếng chửi rủa mắng nhiếc, tiếng khen tặng... Nương hư không mà nghe biết tất cả tiếng, tất cả tâm niệm trong hư không, để biết ta có tâm, nghe thuyết giảng giáo pháp thông hiểu là nhờ có tâm mà biết pháp. Tâm ở khắp không gian, biết đủ thứ mùi là nhờ mũi, nhờ nương hư không mà ta biết. Tâm rộng lớn, thênh thang trùm khắp, nương không gian mà biết tất cả, thấy tất cả gọi là Quảng Hàm Tàng (có khả năng dung chứa hết sự thấy nghe hiểu biết), tất cả đều nương vào pháp mà có tâm. Phật Pháp Bất Ly Thế Gian Giác, thấy, nghe, hiểu biết được vạn pháp là tâm nhận biết. Tâm niệm đều ở hư không, thập pháp giới cũng ở hư không, đều do tâm biến hiện trụ vào pháp mà có pháp giới, là thế giới riêng biệt giới hạn. Do niệm chấp trụ vào, gọi là cõi hay pháp giới của tâm. Nên kinh dạy, “Nam mô tận hư không biến pháp giới chư Phật Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo”. Hư không chứa đủ các tâm, đủ pháp giới. Phật dạy, “nhơn thân nan đắc, Phật pháp nan văn”, nghĩa là thân người khó được, Phật pháp khó nghe, tìm tâm khó thấy, nhưng điều hạnh phúc là ta được thân người, tuyệt vời hơn đã được có thân người mà biết nghe được lời Phật dạy, biết tìm phật tâm. Loài thú cũng có tâm, nhưng không chỉ dạy nhắc nhở được vì chúng mang nghiệp si mê quá nặng. Chỉ có con người rất vinh hạnh khi gặp được Thiện Tri Thức nhắc nhở, chỉ dạy, dẫn đường, chỉ tâm, chỉ Phật, chỉ tánh giác mà trong Kinh Pháp Hoa, Phật nói, “Vì đại sự nhân duyên mà Ta thị hiện đến thế gian, chỉ cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”, là nhận lại bản giác chính mình. Tất cả chúng sanh đều có bản giác (Phật), người thấy được điều này là nguồn hạnh phúc, phước báu vô lượng, vô biên, rất lợi lạc, không bỏ qua uổng phí kiếp làm người. Đức Phật dạy rằng, “Nhờ nương thế gian mà ta biết được tâm ý chúng sanh và cả ý ta”. Nương sáu căn để quán chiếu soi xét sáu trần mà biết có tâm, thật vi diệu vô cùng. Sáu trần là sáu bụi, sáu căn dính trần thì gọi trần là bụi, nhưng sáu trần không dính vào sáu căn thì sáu trần thanh tịnh vô cùng, rất tự nhiên. Căn và trần không vướng bận, cả hai đều rất vi diệu thường như. Nếu con người không khởi niệm thì căn và trần đều là tịnh pháp, không vướng trụ cùng nhau, cả hai đều tịnh, dù pháp trần có đến nhưng không có niệm khởi thì không sanh tâm, vẫn là tâm không, vô quái ngại. Pháp và tâm đều tự tại ở tận hư không, chẳng có vui buồn, chán nản, bất bình, bất mãn... Tu là tự gìn giữ sáu căn trong sạch, thanh tịnh sáng suốt, tự tại trước các pháp là hào quang chư Phật dạo khắp mười phương. Các niệm mê đã giác, tâm bao trùm cả hư không, trùm khắp mười phương thế giới. Nếu sáu căn vi diệu là hào quang trí tuệ tự do, nhìn sáu trần mà tự nhiên không vướng bận buồn vui, sáng suốt nhìn bằng pháp nhãn thông thấu khắp mười phương.
Nếu cứ tưởng tượng khi chết về thế giới Cực Lạc là còn tìm chỗ trụ, là còn tìm tướng. Lục Tổ dạy, “ưng vô sở trụ”. Nếu Cực Lạc có tướng, có cảnh cũng là Pháp mà vạn pháp đều duy tâm. Cực Lạc cũng tại tâm, tâm vô cùng rộng lớn, không giới hạn chỉ riêng cõi Cực Lạc, mà tâm bao trùm vạn loại, bao trùm vạn pháp, trùm khắp thiên hà đại địa, trùm hằng sa quốc độ, thế giới mười phương. Tất cả đều dung chứa trong lòng tâm thể vì tâm là chủ thể, chủ tất cả pháp giới, không chỉ giới hạn Cực Lạc, mà tâm trùm khắp chiếu soi, không lệ thuộc trụ ở một pháp giới, một cõi nào. Không phân biệt Thánh Phàm, bản thể Như Lai thanh tịnh tràn ngập quang minh. Không điên đảo vì các pháp là hào quang chư Phật dạo khắp mười phương, tâm bao trùm cả hư không, chẳng hạn hẹp chỉ một cõi Cực Lạc. Ta cần biết, Cực Lạc là do tâm tạo, là biết đạo ngay trước mắt. Nếu hôm nay hay ngay giờ phút này, mà tâm an ổn yên vui, thì cõi tâm hiện là Cực Lạc. Nếu hôm sau hoặc trong chốc lát có hoàn cảnh nghịch ý bất an, trái ý thì bất bình, bực bội tâm sanh phiền não, nóng giận tâm liền giao động, thì Cực Lạc tại tâm tức thời biến mất, trước mặt ta, cõi tâm là thế giới của Địa Ngục, não loạn vì tâm đang bức ngặt. Lúc đó, nếu sáu căn sáng suốt linh diệu, không duyên theo hoàn cảnh thì sáu căn tuyệt vời soi sáng khắp mười phương cõi nước. Tu là sáng suốt trong đời sống hiện tại, xét tâm có giác, sống được với sự thanh tịnh, cao thượng, rảnh rang hay không. Nếu nhận biết tâm sáng suốt trí tuệ, không vướng mắc là đã thấy chơn tâm, đã giác, đã tri kiến Phật, đã thấy Phật hiện tiền tại tâm. Tâm là Niết Bàn, cõi tâm là Tịnh Độ Cực Lạc. Nếu chờ đến chết mới tu, mới vãng sanh thì không thể thấy Phật tâm được. Đó chỉ là ảo tưởng, vì lúc còn sống, còn sinh thời, chưa tạo được nhân vãng sanh thì khi bỏ xác thân không có quả giác ngộ được. Sống mà biết được tự tánh chơn tâm, mới đầy đủ công hạnh, trí huệ làm lợi ích chung cho chúng sanh, mới đền đáp được Tứ trọng ân. Hiện tại ta cần tu ngay đời sống mới là quan trọng, thấy được hào quang trí tuệ là thấy Phật, thấy Như Lai, là thấy bản thể chơn như bất động như như bất biến.
NHƯ là bản thể tại tâm bất biến
LAI là diệu dụng sáng suốt tùy duyên.
NHƯ LAI là bổn giác viên giác diệu tâm, vô tướng mà thật tướng. Ngày xưa Phật đã đem quả diệu giác tại tâm Ngài, biết tâm là bình đẳng, đồng với tâm Ngài Ma-Ha-Ca-Diếp mà truyền tâm ấn. Sáu căn nương vào bản giác vi diệu tại tâm, chiếu sáng khắp mười phương thảy đều thông suốt tam thiên đại thiên thế giới, là cõi tâm người đang sống tại thế gian, cũng là Cực Lạc. Đức hạnh của Phật xưa kia suốt thời gian tu hành ròng rã, chỉ trực thẳng tu tại tâm mà sáng suốt, tự chứng ngộ ( dùng kinh nghiệm tu chứng ), từ trí huệ chơn tâm mà đem ra giáo hóa, độ chúng sanh suốt 49 năm dài cũng tại thế gian, Ngài không lìa bỏ thế gian mà làm Phật được, không lìa bỏ cuộc đời mà giác vì tất cả pháp khi thanh tịnh đều là Phật. Kinh dạy, “con nguyền thỉnh phật ở đời”. Thỉnh Phật là thỉnh tánh giác tại tâm. Thường niệm Phật là thường thỉnh Phật để giáo hóa chúng sanh tại tâm cho tỉnh giác, được an ổn, hạnh phúc, cõi tâm khắp nơi đều bình an, không còn một chúng sanh, là không còn một niệm si mê, đau khổ vì sân hận, ám độn, tham lụy. Nên ta nương thiên hà đại địa khắp cõi nước trong hư không, để thấy tất cả niệm, niệm niệm đều xoay vòng khắp mười phương gọi là tâm. Bản giác làm chủ khắp mười phương, không trụ chấp vào phương nào gọi là giải thoát, mà Duy Thức Học nói trí này là Diệu Quang Sát Trí, vì đã quán sát được thế giới tại cõi tâm bằng hào quang minh bạch. Nếu còn trụ một phương nào, dù phương đó là Cực Lạc, vẫn chỉ là nơi an dưỡng, để tiếp tục tu, gọi là An dưỡng Quốc cực Lạc. Nếu chỉ trụ vào một cõi Tây Phương Cực Lạc, là đã bỏ hết chín phương, không bao trùm được thì không gọi là tâm trí huệ thênh thang rộng lớn, chưa làm chủ được mười phương thế giới, không dạo khắp mười phương. Mười phương phải đồng thanh tịnh là pháp thân Phật, là pháp giới tạng thân A Di Đà. Không thể bỏ chín phương, là bỏ chín phần trong tạng thân A Di Đà, chỉ giữ một Tây Phương Cực Lạc mà cho là viên mãn trùm khắp, thành tựu tạng thân Phật. Cũng như con người có đầy đủ các bộ phận thân thể mới gọi là thân toàn vẹn. Pháp giới tạng thân A Di Đà phải đầy đủ mười phương mới toàn vẹn viên mãn, không thể một cõi Cực Lạc mà đầy đủ Tạng Thân A Di Đà Phật được. Cực Lạc là danh từ ẩn dụ nói có cõi, mục đích Phật dùng phương tiện để chỉ cõi tâm, chỉ trạng thái của tâm người khi đã thanh lọc, xả bỏ các vọng trần, đến chỗ an định cùng cực an lạc, cho chúng sanh nhận biết gọi là tri kiến Phật. Duy Thức Học gọi Cực Lạc bằng danh từ chỉ vào trí tuệ là bình đẳng tánh trí. Bình đẳng cũng có nghĩa là nhân thế nào thì quả y thế đó, không hề sai lệch, thêm bớt. Đời sống do thói quen, ta mê lầm cứ chạy theo những ác nghiệp, khổ nghiệp nên Phật mới chỉ Cực Lạc là phương tiện. Cực Lạc giống như tay chỉ, để ta vào tâm, tìm lại trạng thái an lạc nơi cõi lòng, biết buông xả mọi khổ đau phiền muộn. Con người có hai con đường để chọn, một là khổ hai là vui. Khổ là cực khổ, vui là cực lạc. Nếu sợ cực khổ thì ta đừng chọn thế gian nên quyết định chọn Cực Lạc. Khổ tiền bạc vì nhu cầu thỏa mãn cho sự xài phí, ăn chơi, đua đòi vì tham lam dục vọng không như ý thì sân hận, bực bội, sanh tâm đấu tranh, giành giật, là sự khổ chính ta tự niệm, vì mê muội tâm tự chấp giữ niệm mê, mà tự chịu khổ. Thế nên Phật dạy, ta cần xây dựng lại cõi tâm, bằng cách buông xả bỏ những niệm khổ, độc ác để đổi lại sự vui, nhận lại tạng hoan hỷ tại lòng, là hào quang của chính ta thường đọc tụng, thường niệm Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát. Nếu ta sáng suốt biết chọn phương pháp, áp dụng ngay đời sống là ăn ngay, nói thật, làm lành, ích muốn, biết đủ, không gian tham, không tạo xây oán nghiệp, nợ nần thì tâm không khổ, cuộc sống là hạnh phúc an lạc, cõi tâm thường là Cực Lạc. Bỏ khổ sẽ có vui, không còn bận bịu vào các niệm ác, không sa đọa vào dục vọng thấp hèn. Tu là biết chọn con đường sống bằng tỉnh giác, để tự cứu lấy tâm ta, gọi là trạch pháp, lựa pháp mà sống để tu. Ngày xưa Phật tu cũng lựa bỏ những niệm cực khổ, đắm lụy thế gian mà chọn cõi tâm là Cực Lạc. Bậc giác ngộ biết rằng khổ hay vui, cũng chỉ một con đường, cả hai đều là vọng huyễn, hai trạng thái đều không thật có, đến rồi cũng trôi qua, nên phải sáng suốt tri tâm, thấy tâm thật kỹ để lòng không vướng bận. Hai danh từ đều là phương tiện tạm gọi, Phật diệu dụng dùng danh từ là tâm, tên gọi để chỉ bản thể chơn như, cho chúng sanh biết rõ, để không còn dính mắc vào pháp trần. Cực Lạc chỉ là nơi An dưỡng Quốc, nơi tạm nghỉ ngơi khi tâm dừng, tâm định đã tạm an vui, các pháp trần đã tạm dừng lại, Duy Thức Học gọi là thành sở tác trí (trí tự giác đã thành tựu, chuyển hóa từ mê lầm thành giác ngộ). Nên kinh Pháp Hoa, Phật nói Phẩm Hóa Thành Dụ, là nói đến Cực Lạc tại tâm, cũng là hóa thành khi ta biết bỏ dần sự mê đắm, biết buông xả dục vọng trở lại tự tánh, tánh yên lặng dần dần thu nhiếp vào một niệm, gọi là nhất tâm bất loạn. Tạm nghỉ ngơi vào hóa thành, tu tiếp đến khi tâm hoàn toàn trong sạch gọi là vô biệt niệm, không còn hồi lại những niệm mê xưa cũ, đã chứng quả Vô Sanh là A La Hán. Hóa thành cũng gọi là kiến tánh, nhưng khi đã kiến tánh thì phải khởi tu mới giác ngộ được. Ta cần thông suốt tiến tu thật kỹ, chọn đúng đường tu, tu đúng phương pháp, để không lầm lạc pháp tu. Kinh dạy, tâm giống như mười phương hư không, vì vậy ta phải nhìn bằng cách sử dụng pháp nhãn chiếu soi vào tâm. Chiếu soi là thông sáng biết tất cả pháp, dù huyễn hay chơn đều nắm rõ không lầm lẫn, đừng nhốt tâm vào một phương nào. Tổ dạy, “Ưng Vô Sở Trụ”. Nếu còn trụ vào cõi nào, pháp giới nào, là còn nhốt tâm, giữ tâm, tâm còn bị kẹt, chưa tự do, tự tại, không gọi là giải thoát giác ngộ. Cần chọn đúng đường đi như thế nào để không lạc hướng, phải tự biết những gì chơn thật của ta, là mãi mãi của ta, những pháp huyễn tạm không của ta, dù cố gìn giữ cũng vô thường hư hoại, hợp tan vì pháp không là của ai. Nương ở mắt mà thấy tâm, nhưng mắt không bền chắc, là hư huyễn. Mắt sẽ mờ dần rồi đến ngày sẽ nhắm lại, không còn linh hoạt nữa, vì mắt là sắc pháp, không phải là của ta. Chơn tâm mãi mãi vẫn còn, ta cần sáng suốt giữ gìn, săn sóc và nuôi dưỡng chơn tâm. Lỗ tai sẽ đến ngày vĩnh viễn không còn nghe nữa, mà Tánh Nghe thì không mất. Mũi sẽ chấm dứt hơi thở không còn ra vào, nhưng chơn tâm vẫn còn. Thân hiện có đang chờ ngày thành cát bụi vùi dập vào đất, mà chơn tâm vẫn hằng còn, nếu sáng suốt gọi là linh quang, còn mê muội gọi là hồn ma bóng uế. Nên hiện tại, ta phải biết cái nào là của ta, cái nào là huyễn tạm, không ở mãi với ta, không phải là của ta, nên tự chọn mà nuôi dưỡng, bảo vệ, gìn giữ cho không lầm lẫn. Nhờ nương vào hư không nhìn vạn vật mà biết các pháp, biết thế gian, biết sự vận hành biến đổi của vũ trụ, là quang minh từ tánh thấy trí tuệ xác định như thật mà biết được tâm tánh. Nếu chạy theo cảnh là chạy theo vũ trụ vạn vật, luôn biến đổi bên ngoài thì mất tâm, mất quang minh trí giác, quên bỏ chơn tâm. Chúng sanh vì mê nên thường nhận giặc bên ngoài làm tâm. Giặc là ngoại cảnh đẹp, xấu, vui, buồn, nhận của cải là thật, là nhận giặc, vì tưởng lầm là của mình... Nhờ mắt thấy, tai nghe, có tánh biết nên biết đây là của cải, chồng vợ, đó là chơn tâm nhận biết, nhưng chơn tâm sáng suốt biết rõ đó chỉ là sắc pháp không chắc thật, không là của ta nên không sanh niệm đắm lụy khổ vui, không chấp là của ta, vì trí giác đã nhận đúng sự thật, biết sử dụng Pháp Nhãn. Khi pháp tự sanh, tự diệt, ta đừng sanh tâm mừng vui hay đau khổ, thấy biết rõ ràng là chơn lý như thật, biết nhìn sự thật chơn tướng các pháp là sống với chánh kiến rõ ràng là chánh tư duy, là bản đồ chỉ cho ta trở lại cõi lòng chơn thật, gọi là Chơn Như. Ta nên tự chọn lộ trình đúng sai mà đi, nếu mãi theo sáu căn thô phù là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý phàm tục là theo vạn vật, nhà cửa, hoàn cảnh, thương giận, ưa thích, buồn vui, danh lợi, tất cả đều là huyễn ảo, vọng tưởng. Hãy tự chọn chơn tâm linh diệu sáng suốt, hiện là tánh giác, là Phật tại lòng ta, tự gìn giữ mà nuôi dưỡng, tánh Phật là hạt giống Bồ đề. Khi đã thành tựu trí giác, thật sự viễn ly mọi ham muốn, cõi tâm thanh tịnh, không còn ô nhiễm, quang minh chiếu soi, gọi là đại viên cảnh trí. Danh từ Thiền Sư là chỉ vào con người đã thấy tâm, thường sống với chơn tâm, an vui với tâm, nhận biết rõ thật chân vạn pháp, biết những biến đổi của vũ trụ, biết bằng sự thật không lầm lạc, không bảo thủ thế gian, không còn niệm vướng bận vào hoàn cảnh làm tâm chướng ngại, giác ngộ làm chủ các pháp gọi là Thiền Sư. Nếu ta thấy được tâm, biết tâm hiện là gì? Sống bình an với tâm, biết rành vạn pháp là huyễn tạm, một lòng tôn thờ kính trọng tâm, sống vui vẻ với tâm, thường giác cũng gọi là Thiền sư. Thiền Sư là danh từ chỉ người đã trở về tâm giác ngộ, đời sống là lòng chơn chánh, sống đúng chơn lý, từng tích lũy công đức. Tâm là vô lượng công đức, dùng đạo đức trang nghiêm quốc độ, là tu sửa cõi nước của tâm, khắp cõi tâm là quang minh sáng suốt gọi là tâm đăng. Nên kinh A Di Đà nói, người có tâm Cực Lạc thì cõi tâm là:
Cây vòi vọi từng hàng chớn chở
Đường giăng giăng sáng rỡ bảo châu
Khắp cùng cõi nước đâu đâu
Cùng là các báu sen mầu mà nên.
Tự tánh như cây Bồ đề vòi vọi, những niệm sáng suốt tại tâm như đèn trí huệ giăng tủa, rực sáng, tinh anh như châu ngọc. Ta sáng suốt biết dùng tâm sen mà cúng dường cho tự tánh chính tại lòng ta, đừng mê muội đem bùn nhơ, cặn bã, là những pháp ô nhiễm mà cúng dường Phật tâm. Ta làm cho Phật tại lòng ta nhơ uế vì tăm tối, chịu dính bợn nhơ bởi không phân biệt đâu là bùn, đâu là sen. Không biết pháp nên không nhận tâm, mãi mãi tâm là bùn nhơ sịn bã, không chuyển đổi vì chưa tu sửa đúng y như pháp, không sử dụng được trí tuệ sẵn có. Có thân, có sáu căn là bùn, nếu dùng trí tuệ biết được gìn giữ sáu căn cho thanh tịnh, như nhờ có bùn làm lợi ích dùng để vun bón, làm mát mẻ sen, bùn săn sóc sen, nuôi dưỡng sen.
Tâm là sen, thân và sáu căn là bùn, nhờ có bùn mà sen tươi tốt, nhờ có thân thanh tịnh, sáu căn trong sạch sáng suốt mà tâm sen tỏa ngát hương thơm. Ta cần hái được sen để cúng dường Phật tánh, đừng mê muội lấy bùn mà cúng Phật. Nếu không thấy tâm, không kiến tánh, dù cho cúng dường thật nhiều, chỉ cúng bằng vật chất thế gian, nếu cúng dường không có tâm sen chỉ là phước hữu lậu, còn giới hạn, còn trụ vào cõi người. Vẫn có tâm cúng dường nhưng mà tâm còn mê muội, chưa sử dụng được tâm trí huệ, vì mê cúng dường bằng tâm vô minh phàm tục là tâm bùn, dù có hành động làm phước cúng dường mà tâm vẫn còn khởi niệm buồn phiền, não loạn, chưa sống được với những hào quang hoan hỷ, an lạc thì cõi tâm chưa tích lũy được công đức an lạc, hoan hỷ, để đem ra cúng dường, bố thí, chỉ cúng bằng phiền não. Nếu thấy hiện tại cõi lòng là tâm sen trong sạch, thì cúng dường bằng vô lượng công đức, vô lượng phước lành, là công trình, công phu, tự tích lũy các đạo hạnh. Nếu cúng dường, bố thí mà thấy tâm mình còn sân si, còn chứa niệm lợi dụng, mong cầu, là tự lừa đảo mình, vì tâm vẫn còn tham được lợi dưỡng, còn mong cầu trao đổi hạnh phúc hay phước báu. Phật ví của cúng dường đó như bùn nhơ, tuy có hành động cúng dường bố thí thể hiện bên ngoài, nhưng trong tâm không tích lũy được đức tánh từ bi hỷ xả, chưa tích lũy pháp bảo vào tạng tánh, không có công đức nuôi dưỡng, chăm sóc tự tánh. Nếu cũng dùng đồ vật đem ra cúng dường bố thí, thí bằng lòng thanh tịnh, vắng lặng mọi niệm đòi hỏi, mong cầu, cúng bằng trí tuệ lòng trong sạch thì của cúng dường đó ví như sen. Nếu bố thí cúng dường bằng tâm vay trả, đòi cho đời sau được hưởng phước, giàu sang, xinh đẹp, sung sướng là vẫn còn tâm tham. Hiện tại tuy có thân mà chưa giác ngộ, chưa sống được với chánh niệm, là tâm còn u tối, vẫn đeo mang nghiệp vô minh. Tham cho thân hiện tại, chưa xả hết nghiệp mê mà còn khởi ý niệm tham cho thân sắp tới lúc sanh tiền, hiện tại chưa chắc giữ đúng ngũ giới để được làm người hay tâm đang mang nghiệp vào loài nào mà vẫn còn tham. Tham đời này dẫn đến đời sắp tới, nên khó thoát ra ba đường ác. Nghiệp do niệm sinh khởi gọi là nghiệp dẫn chúng sanh luân hồi, tùy vào tâm niệm tạo nghiệp mà sanh có thân tướng hiện theo nghiệp dẫn :
Cuộc đời gẫm có chi đâu?
Sớm còn tối mất có chi là mình.
Cung kính Tam Bảo, phụng sự Sư Trưởng, là lúc cúng dường phải nhìn thẳng vào tâm, xét kỹ tâm có niệm vào ác pháp, là coi còn có tâm nịnh hót, dua dại hay không? Ta nên cúng Phật ta bằng tâm chơn thật, bằng pháp chơn chánh, bằng lòng trong sạch, không nệ hà nhiều hay ít. Vì ít hay nhiều chỉ là số lượng, ước lượng thế gian, tâm trong sạch thiện lành mới là hạnh Phật, hạnh Bồ Tát. Hành động nào tâm đều nghiêm trang, ngay thẳng là hạnh thanh tịnh giải thoát, đã trang nghiêm quốc độ tại cõi tâm, là biết dọn dẹp sửa sang tâm địa, tâm tịnh là lòng rảnh rang thanh lặng. Đất tâm không còn các niệm não loạn, gò nỗng, gồ ghề, là tham, sân, si, không còn hầm hố vô minh đen tối si dại, không não nhiệt bức bách vì lửa sân bừng cháy. Đất tâm là Tịnh thổ, cõi của Cực Lạc, không còn niệm ô nhiễm, đã được lót bằng vàng ròng, lót bằng công hạnh thanh cao, không lẫn lộn tạp chất u mê của cuộc đời, là tâm y, không chen lẫn các niệm thế gian. Cõi tâm cùng cực an lạc chứa toàn bảo pháp là xa cừ, mả não, san hô, lưu ly, hổ phách. Cần sửa soạn, quét dọn, cho tâm chơn chánh gọi là Tảo Già Lam Địa. Tất cả vạn vật thế gian, con người, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều là sắc pháp không thật, không tồn tại, con người cũng là một pháp chung trong vạn pháp, cũng sanh, trụ, dị, diệt, vô thường, vẫn theo duyên, luôn luôn thay đổi, không gì chắc chắn. Nếu chấp vạn pháp, vạn vật vũ trụ là bền chắc, là bị pháp gạt gẫm, lừa đảo, làm mờ trí tuệ, mê muội, quên bỏ chơn tâm vì thiếu sáng suốt, mãi là nô lệ cho pháp trần vọng huyễn, tà ma vọng tưởng. Cuộc sống mãi mãi là khổ đau, khổ vì sanh già bệnh chết, hợp tan ly tán, đến đi, mất còn, buồn, vui, thương ghét... mọi thứ đó là vọng nghiệp, luân hồi xoay vòng trong lục đạo. Các pháp đều là huyễn hóa, như ảo, như mộng... sáng suốt nhận ra điều này là chứng thật như huyễn tam muội. Tam muội là sáng suốt giải thoát, tuy ở chung vạn pháp mà lòng không bị các pháp ràng buộc, không mê đắm các pháp là thường tịch quang, cõi tâm vắng lặng danh lợi, sắc tài, không làm náo loạn tâm thường tịch chiếu soi.
Khẩu là cửa ra vô của tâm, phước hay họa đều từ miệng, Tổ Minh Đăng Quang dạy:
Họa tai vì miệng mà nên,
Bệnh căn vì miệng mà rên phù trầm.
Ai ơi! Xét kỹ kẻo lầm
Đóng bưng cửa miệng kẻo lầm quỷ ma
Cũng thời lời nói thốt ra
Của chư Phật Thánh dịu hòa biết bao
Là câu nói pháp thanh cao
Rước người giữa biển sóng xao lên bờ.
Miệng thanh tịnh, không ăn gian, nói dối. Cửa khẩu là nơi xuất nhập thường xuyên không nói lỗi người. Xét kỹ ra, con người không có lỗi gì cả. Con người chỉ là dụng cụ vô tri, chỉ vì tâm niệm vô minh không sáng suốt sử dụng pháp nên lầm pháp, sống sai đường lối, sai chánh pháp. Bậc giác ngộ không chê bỏ, mà phải thương và giúp đỡ họ bằng hết cả tấm lòng. Họ chẳng có lỗi vì với ai cả, chỉ vì lạc lầm, ta nên đồng cảm mà chỉ dẫn không ghét bỏ họ hay chê bai mà nên đùm bọc, tìm đường chánh đáng, nhắc nhở, khuyên lơn, đó là bậc Bồ Tát hiện tích lỹy công đức cho mình và cho người. Bằng đầy đủ lòng thương yêu, đùm bọc, tâm không chê chán, hờn giận, ghét bỏ, giữ gìn thân nghiệp là thường quán xét tâm, giữ gìn giới luật, giới luật của tâm rất quan trọng. Giới tâm có khả năng ngăn chặn mọi niệm theo tà vọng, như niệm vào ái dục, niệm pháp phiền não, niệm pháp tham-sân-si.
Phương pháp của hành động chấp tay thành hình búp sen, biểu lộ sự kính trọng xá chào khi gặp nhau, đối diện nhau của người con Phật, có ý nghĩa lúc nào cũng nhớ giới pháp. Chấp hai tay thành hình búp sen là biểu hiện giới pháp, thường nhắc nhở ta gom tâm niệm, thường nhất tâm, lúc nào cũng gom tất cả niệm chỉ còn nhất niệm, đó là giữ pháp niệm Phật thường quy ngưỡng vào tự tánh A Di Đà vô biệt niệm tại đất tâm. Thường giác thấy tâm như búp sen là cách giữ gìn tâm sen không gián đoạn. Dù đang đối trước hoàn cảnh bên ngoài, tiếp xúc với trần cảnh, cũng không thối chuyển mà bỏ quên tánh giác. Có hành động phát xuất từ giới hạnh, là công hạnh tạo công đức. Nhờ giới hạnh mà tâm không sờ mó vào các pháp phiền não, làm cho tâm bị phạm giới. Các hành động sai phạm do tác ý bất giác sẽ làm tiêu tan công đức, dù niệm Phật thật nhiều mà không giữ giới luật cho thân khẩu ý thì cũng vô ích. Ta đã tìm được tâm thì nên biết pháp nào cũng là huyễn mà sửa tâm, đừng chấp giữ vọng trần huyễn tạm mà làm hại tâm, nhận giặc mà bỏ tâm là bỏ Phật. Không mất oai nghi là giới hạnh thanh cao, không phạm vào các dục vọng ham muốn là tự giữ oai nghi đạo hạnh. Giữ ý nghiệp vì mê nên ý thường buông lung, đua đòi, ham muốn, giành giật, đấu tranh. Giữ ý như người giữ trâu, cỡi trâu, giữ lấy dây vàm không để trâu đi lung tung phá nương mạ. Thường chăm chỉ giữ trâu là giữ ý, giữ ý cũng giống như vậy. Ý là cửa ngõ vào tâm, nếu không biết thì nghiệp chướng không thể nói hết được. Tu được giác cũng nhờ ý, sa đọa đau khổ cũng ý tạo ra, các pháp đều từ ý dẫn đầu, ý là công vi thủ, tội vi khôi. Tích lũy công đức nhờ ý sáng suốt lanh lẹ, sa đọa đau khổ vì ý vô minh, biết sử dụng ý bằng tuệ giác sẽ ra khỏi đau khổ, còn như sử dụng sai lầm sẽ khổ sở vô cùng. Bậc giác ngộ giữ gìn thân khẩu ý là giữ tam nghiệp trong sạch, thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây Phương. Tâm Phật thanh thoát trong sáng, nếu tâm ta cũng thanh tịnh thì Phật và ta không khác, vốn đồng, bình đẳng. Ta là chúng sanh phàm tục vì ô nhiễm các pháp tham sân si, kiêu mạn, xiểm nịnh nên tâm ô uế. Tâm nhiễm sanh uế độ, tâm tịnh sanh Tịnh độ. Ta không tìm Tịnh độ ở đâu xa, không tìm bằng tư tưởng, ảo giác. Nếu hiện tại tâm tịnh, thì tâm là cõi của Cực Lạc, tâm uế là thế giới ô nhiễm, là cõi uế độ. Tâm là gốc sinh ra vạn pháp, tâm là gốc của Tây Phương Cực Lạc, gốc của Niết Bàn, gốc của Chơn Như, gốc của Tự Tánh, gốc sanh ra vạn pháp. Ta mê muội nên không giữ gìn được gốc, sai lầm, chịu đọa vào trầm luân biển khổ, đời đời sống trong tam ác đạo, lặn hụp vào ba đường ác. Dù ở cõi người hưởng phước sang giàu, quyền chức, địa vị, cao sang, nhiều tiền lắm của, ăn ngon, mặc đẹp, hưởng hạnh phúc thế gian nhưng vẫn khổ vì sanh, già, bệnh, chết. Phước hữu lậu cõi người chỉ giới hạn, không giải thoát vì chưa giác ngộ.
Đức Sĩ-Đạt-Ta ngày trước, cũng có phước vô cùng, tột bậc, được mọi người hầu hạ, cung phụng, tài ba lỗi lạc, nhưng Ngài nhìn cuộc đời bằng pháp nhãn, hiểu được sự thật vạn pháp là không thật. Ngài biết hạnh phúc thế gian không bền, phước hữu lậu sẽ mãn nên ngài buông xả tất cả. Xả từ bên ngoài vật chất cho đến tâm Ngài cũng buông bỏ, không bận bịu tiếc nuối, không đắm nhiễm, viễn ly mọi hoàn cảnh thế tục để đi tu. Tu là lập hạnh đức giống như Đức Phật, không nhiễm, không dính pháp, không vướng bệnh tham dục thế gian. Ngài sử dụng niệm sáng suốt, giác tại tâm, trí tuệ là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Tánh giác có sẵn tại lòng, tự chữa lành bệnh mù tối, được mắt sáng nhìn đời bằng Phật nhãn, thấy danh lợi, chức quyền, tài sản là huyễn ảo, nhiễm ô. Tâm Ngài vô nhiễm, quốc độ cõi tâm Ngài toàn là trân diệu, lưu ly thật quý báu, không hệ lụy vào pháp tạm gá, không gì là của ta. Nhìn pháp nào cũng trang nghiêm thanh tịnh, tâm không nắm giữ là tự trang nghiêm quốc độ, mà không cần phải trang nghiêm gì cả. Quang minh trí tuệ là các trân bảo, là ngọc minh châu, là pháp bảo giúp chúng sanh bằng bổn tánh từ bi, đến với người khi đủ duyên cần thuyết mà truyền trao giáo pháp, không gì là của riêng cả, sẵn sàng bố thí tất cả mà lòng không hề luyến tiếc. Có nhiều người ở thế gian rất giàu có, tuy giàu dư tiền của mà tâm vẫn ích kỷ, ti tiện, bỏn xẻn, vẫn tham lam giữ của bo bo, không dám xài, mà còn tìm cách kiếm thêm để cất giữ, thậm chí còn tạo thêm nghiệp đi xin, ăn cắp, quyết gom giữ cho thật nhiều của, nên phước hiện là giàu có mà tâm còn tham lam, chưa dứt bỏ nghiệp hẹp hòi, tham muốn vì cõi tâm họ vẫn còn mang niệm vào pháp giới Ngạ quỷ, Địa ngục, Súc sanh. Dù hiện ở trong phước giàu có mà phước giàu cũng không cứu được nghiệp ác tại cõi tâm. Nên người được phước thế gian cũng cẩn thận cảnh giác tâm niệm, đừng để rơi vào những cõi sa đọa của tam ác đạo. Vì tâm vẫn lưu giữ niệm xấu xa, đất tâm eo hẹp, lòng quảng đại rộng lớn là hành hạnh bố thí, là phương pháp dẫn tâm ra khỏi cõi tham lam, ích kỷ, nhỏ hẹp. Nên xây dựng thế giới cõi tâm nơi Tịnh thổ, bằng trí tuệ giác ngộ thanh cao.
Luc-Độ-Ba-La-Mật là sáu phương pháp dẫn tâm đến bờ hạnh phúc giải thoát, an lạc tuyệt vời, dứt mọi đau khổ, sáng suốt giác ngộ gọi là Ba-La-Mật. Là pháp bố thí bằng tâm không vướng kẹt, qua khỏi các niệm khổ, không còn niệm chấp khỏi phiền não, giữ gìn giới pháp, sáu căn thanh tịnh, giới tuy nói nhiều nhưng chỉ một tâm mà thôi. Tâm trong sạch thì giới trong sạch, tâm tịnh thì giới thanh tịnh, tâm ô nhiễm thì giới ô nhiễm, chuyên trì gìn giữ tâm là Lục-Độ-Ba-La-Mật.
Nhẫn nhục là nhìn nhận lỗi lầm, nguyện sửa đổi, không tái phạm là thực tướng sám hối, đó là người sống bằng trí. Nếu ý muốn điều này, việc kia mà bất như ý thì sanh ra tâm nóng giận, buồn phiền, bực dọc vì muốn giành giật. Nếu ngược lại, sử dụng bằng tánh đức hiền hòa, buông xả là nhẫn nhục. Tánh khiêm tốn là hạ thấp ham muốn, nhịn nhường tất cả cho mọi người, hạ mình nhận lỗi mặc dù là không, đó là hạnh cao thượng, đạo tâm này ở thế gian rất khó tìm. Hạnh tinh tấn vì biết trí tuệ là sáng suốt, biết trần duyên là chướng ngại, dùng trí tuệ sáng suốt vượt lên, để trở về bản tánh thanh tịnh, lòng an lạc vượt qua tất cả nạn ách của cuộc đời. Thiền định là lúc nào cũng giữ tâm ý thanh tịnh, vắng lặng các pháp gọi là thiền. Nếu tâm mất thanh tịnh là mất thiền. Tu thiền là ứng dụng ngay trong đời sống, không chờ đến lúc tịnh tọa mới thiền, mọi lúc mọi nơi và mọi hoàn cảnh, tâm thấy đều thanh tịnh, an ổn, định tĩnh. Đi, đứng, ngồi, nằm đều định mới đầy đủ tứ oai nghi, tâm thường giác, thường chánh niệm. Kinh dạy, khi tâm định sẽ phát sanh trí huệ, sống bằng tâm trong sạch thì trí tuệ mới bừng sáng, vì trong giới đã có định. Định thanh tịnh thì có huệ, huệ sáng suốt là chơn như. Nếu ta sống an ổn bằng tánh chơn, tâm an vui thì hạnh phúc tuyệt diệu. Kinh tán thán rằng :
Hạnh phúc thay Giáo pháp cao minh.
Hạnh phúc thay Tăng già hòa hợp.
Hạnh phúc thay Tứ chúng đồng tu.
* * *
Tâm thanh tịnh là viên giác diệu tâm.
Vũ trụ thanh tịnh là duyên giác diệu tánh.
* * *
Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.
Tánh giác là gốc, chơn tâm cùng các pháp vốn sẵn thanh tịnh, tự nhiên vắng lặng. Chơn tâm thường hằng chiếu soi, pháp biến hiện tùy duyên mà rỗng lặng. Chơn tâm và pháp không dính kẹt, vướng bận nhau. Phật pháp đồng tịnh, sáng suốt cảm thông không có ý, không có niệm, không đắc, không được gì, không làm khổ hay vui. Tứ Đế là pháp bảo, là con đường sáng suốt, soi rọi, dẫn lối cho người tu thông thấu, tỏ ngộ được các sự khổ vô thường, sanh, già, bệnh, chết. Là đạo tràng trực chỉ vào tâm, hiểu biết soi rọi bằng trí tuệ tự giác giúp cho chúng sanh rõ thông sự vận hành biến đổi vạn vật vũ trụ, vạn pháp vốn không bền, quang minh sáng suốt từ bản giác chiếu soi khắp mười phương quốc độ tại tâm, tự tánh trùm khắp pháp giới thênh thang rộng lớn. Tâm thiền là định, tâm dừng là tọa. Lòng đã an định, không bận rộn pháp đời là sống bằng thân Phật. Sự xuất hiện chơn tâm khi lòng trong sạch an định là thân con ảnh hiện. Là hào quang trí tuệ chiếu soi, giáo hóa các niệm mê lầm giác ngộ được thức tỉnh, mà quy ngưỡng tánh giác, biết sám hối là lòng thệ nguyện. Quy y tánh giác là quy y Phật, đã nhận được tự tánh, gặp Phật tánh, các niệm mê đã tỉnh giác, cúi đầu quy mạng lễ Phật tánh, phát nguyện tự quy y Phật. Quy y là trở về tánh Phật. Tự quy y Pháp trở về sống bằng pháp chơn chánh. Tự quy y Tăng, Tăng là tánh giác. Tánh giác đồng thanh tịnh, chơn tâm thanh tịnh tuyệt vời chiếu soi đó là Tăng tại tâm, đã quy về pháp tịch mặc thường định. Mạng sống là bản thể Như Lai bất biến mà diệu dụng, chiếu soi tùy duyên, Chơn Không mà Diệu Hữu.
Niệm niệm luôn thấy tánh là công, giữ gìn tâm luôn chánh trực là đức. Khi niệm nam mô A Di Đà Phật, là kêu gọi tánh giác thanh tịnh chính ngay cõi tâm của mình sống lại vì tánh giác đã tịch diệt từ lâu.
Phật ở đâu? Phật ở đâu?
Phật là giải hết nguồn sầu cõi tâm
Nghe não loạn ấy luân trầm
Vì trong vạn pháp thảy đồng quy tâm
Làm sao tìm lại tri âm
Bởi đời đắm nhiễm khó tầm đường chơn
Tu là trả thảo tứ ơn
Tu sai thì thấy Tây Phương nghìn trùng
Khuyên người lai đáo tâm trung
Quán lòng thanh tịnh quán tâm Bồ đề
Đừng vì thế sự ê chề
Mà tâm xao xuyến bộn bề trái ngang
Dù đời ngàn vạn bẻ bàng
Nguyện tu trau sửa tâm vàng thanh trong.

Phẩm 9 :

THÀNH TỰU VIÊN MÃN

Sở dĩ ngày nay những buổi thỉnh pháp, có hình thức được tổ chức, thực hiện bằng nghi lễ trang nghiêm, bằng cách dùng tàng lọng, biểu tượng lòng tôn kính bậc cao thượng. Ngày xưa tàng lọng chỉ có vua, quan mới được sử dụng nên trong kinh Phật nói, dùng tàng lọng mục đích muốn bày tỏ, chỉ vào hành động tôn quý, cao thượng. Kinh dạy, khi Pháp Hội được thành tựu thì số người đến nghe Thế Tôn thuyết pháp có 500 chàng trai con nhà Trưởng giả Bảo Tích, đến nơi dương cao 500 lọng báu đi vòng quanh Đức Phật kỉnh lễ. 500 lọng báu khi hội tựu đều bay lên hư không và Phật dùng thần thông trí tuệ họp 500 lọng báu thành một lọng báu duy nhất, chứa toàn những thứ trân bảo. Ý một lọng báu duy nhất ngầm ẩn chỉ vào tự tánh. Còn 500 lọng báu là trân bảo, là những hạnh đức cao thượng hợp thành một lọng để che, tượng trưng tự tánh là hào quang trí tuệ, vì tự tánh A Di Đà là vô lượng quang sáng suốt chiếu soi vạn pháp, trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới, trùm cả hư không vạn loại, chẳng phân biệt Thánh hay Phàm, là quang minh chơn lý tự nhiên soi rọi không sót một cõi, một pháp giới hay một quốc độ nào cả. Trí tuệ từ tự tánh chiếu soi biết tất cả pháp bảo trân diệu. Pháp bảo là lòng từ, bi, hỷ, xả, Bát Chánh Đạo, Tứ Nhiếp Pháp. Những pháp bảo trân quý được biểu tượng, mượn hình ảnh như xa cừ, mả nảo, san hô, xích châu, lưu ly, hổ phách. Tâm trong sạch chơn như không xen lẫn niệm phàm tục, giống như vàng ròng nguyên chất không lẫn lộn vào các tạp chất là pháp nhiễm tục. Tất cả các tạng kinh, Phật đều dùng sự tướng, phương pháp hóa hiện chủ đích là mượn phương tiện dẫn dắt tất cả niệm mê lầm giác ngộ trở về cứu cánh là tự tánh, về lại với tánh giác, thường sống bằng chơn lý. Ta phải hướng về trí tuệ là chơn tâm về với bản giác ( Phật ), sự cao quý của trí tuệ rộng lớn trùm khắp pháp giới. Tổ dạy :
Thuyền trí huệ ngược dòng rẽ sóng
Đèn quang minh rạng bóng soi đời
Ai người trồi hụp chơi vơi
Khá mau bám víu vào nơi mé bờ
Biển trần thế đục nhơ đã lắm
Bao anh hùng chìm đắm khổ nguy
Nước tham một dãy đen sì
Gió cuồng nổi dậy sân si ba đào
Mãi xao xuyến tranh nhau vật chất
Phí công linh bùn đất đắp tô
Của trần càng tóm thâu vô
Là càng chôn lấp dưới mô sìn lầy...
Trí tuệ giống như trân bảo lớn lao, vì không thể chỉ nói lên được sự vi diệu vô thượng thậm sâu, nên con người phải mượn tướng làm lọng bằng vải che để biểu tượng cho sự trùm khắp, tán thán công năng của tự tánh và để hiển hiện lòng tôn kính. Người tu học Phật phải khéo léo viên dung, hiểu biết lý và sự. Lý là thuyết về lý, sự là sự chơn thật của chơn lý. Người tu lời nói và tâm chơn thật phải viên dung, không nô lệ cho những phong trào, đuổi theo pháp thế gian rầm rộ, long trọng. Đời sống tương hợp với chơn lý là trở lại với chơn tâm, không còn vướng bận vào sự tướng hay một hình thức nào, một pháp môn nào, đó là ý nghĩa của các tàng lọng, đều được Thế Tôn gom thành một lọng báu duy nhất. Tu giải thoát là không theo tướng mà bỏ quên chơn lý, cũng không bỏ thế gian mà tìm kiếm chơn lý được.
Phật là Giác, Pháp là Chơn Chánh, vậy Tăng là ai? Tăng là vị Thầy, là người đi trước, đã thông hiểu chơn lý nhà Phật, được chư Phật giao phó sứ mạng, trách nhiệm hoằng truyền chánh pháp, truyền lại cho người đi sau là đàn em. Tăng còn gọi là thiện hữu tri thức, là người bạn lành, sẵn sàng hướng dẫn cho người quyết lòng tu học Phật. Ta kính trọng Thầy như kính trọng Pháp, cũng giống như 500 chàng trai con nhà Trưởng giả vì kính trọng pháp, dùng tàng lọng để bày tỏ tấm lòng. Vì tất cả sự hiểu biết đều từ bản tánh chơn như chiếu diệu. Người trọng pháp là thường sống với chánh pháp, cũng như lúc nào cũng gần sát bên Phật, vì pháp là mẹ sinh ra chư Phật. Nếu thường lạy tượng Phật mà không sống được với tánh giác thì như xa cách Phật muôn trùng. Gần Phật là biết bảo vệ giữ gìn, thực hành sống với giáo pháp, giữ gìn huệ mạng là chơn lý, vì chơn lý là con đường giải thoát, đưa ta ra khỏi những điều rối rắm, gút mắc, vướng bận cuộc đời, được tháo gở là tâm tự do, giải thoát. Người tu thường bị gút mắc, rối rắm, khi lựa chọn hai pháp môn là Thiền hay Tịnh. Niệm Phật hay Thiền, dù khác đường hướng nhưng không khác chơn lý. Đường đi thì nhiều ngã nhưng điểm đến là giác ngộ giải thoát cho các tâm niệm, vọng tưởng, vọng tâm được trong sạch sáng suốt để trở lại chơn tâm, buông xả vọng niệm, lìa các duyên phàm tục nên Thiền hay Tịnh không hai không khác. Người niệm Phật nương theo Phật hiệu, nhờ Phật hiệu ngăn trừ vọng niệm, giống như nương nhờ gậy vì sức tu còn yếu. Nhờ hồng danh Phật để nương trên đường đi về Cực Lạc, để tìm tự tánh A Di Đà. Vì thói quen do sáu căn thường loạn niệm khi tiếp duyên nên cần tha lực là Phật hiệu, nhớ Phật hiệu là không quên bỏ gậy để nương. Nếu buông gậy sẽ té ngã, vì tà niệm, tạp niệm, liền sa đọa vì mất chỗ nương, mất đường liên lạc với Phật. Giống như người nghiện thuốc, muốn bỏ phải ngậm kẹo để chống chọi cho qua cơn ghiền. Nếu bỏ kẹo thì sẽ nhớ thuốc, nhớ lại thói quen. Chúng sanh quá nhiều niệm điên đảo, loạn niệm, đa niệm, tạp niệm nên cần nương danh hiệu A Di Đà, là nương vào tánh giác. Tự tánh A Di Đà vô biệt niệm là bỏ dần, bỏ dần đến lúc bớt vọng niệm, bớt tà niệm, là quên dần các tư tưởng thường niệm duyên vào các pháp phàm tục. Niệm Phật là thực hành pháp gom tâm niệm, chỉ còn một niệm nhớ Phật, là nhất niệm hay nhất tâm bất loạn. Nếu không nương Phật hiệu sẽ nghĩ nhớ niệm lung tung, gọi là ý niệm phan duyên điên đảo thì tâm sẽ loạn động, nên kinh A Di Đà dạy, người muốn vãng sanh Cực Lạc thì :
Chăm một lòng chẳng lìa chánh niệm
Niệm Di đà danh hiệu tinh chuyên
Niệm Phật diệt tội tiêu khiên
Đặng nhiều phước đức nhân duyên căn lành
Khi lâm mạng an thần định tánh
A Di Đà chúng Thánh hiện tiền
Lòng không điên đảo chư duyên
Đặng phần chánh tín về miền Lạc Bang...
Nếu chuyên trì niệm Phật, nhớ lại tánh Phật tại tâm là tự tánh A Di Đà không rời, luôn sáng suốt là giữ được chánh niệm, thì hiện tại cõi tâm tức cõi Phật, là cõi Cực Lạc vì tâm tịnh tức Phật tịnh.
Tu thiền là trực chỉ quay vào tâm, nhất định xả hết vọng niệm. Thiền và Tịnh đều là chơn lý, cả hai pháp đều là phương tiện buông xả các duyên ô trược điên đảo thế gian. Pháp niệm Phật dung thông mọi căn cơ, mọi trình độ vì có chỗ nương. Thiền buông bỏ tất cả pháp, không nương vào đâu, tự sống với chơn lý. Khi đã hoàn toàn tỉnh thức vì đã thấu rõ lời Phật dạy, tự hiểu biết bằng tuệ giác, tự chiến thắng chính lòng mình. Cũng như ngày xưa dưới cội Bồ đề, Đức Phật tự dùng trí tuệ thông suốt, tự chiến thắng lòng mình là thắng ngũ dục, thắng ma quân, thắng thập kiết sử. Pháp Phật không là diệt bỏ hay tiêu diệt pháp, không diệt pháp tham-sân-si, đó chỉ là thói quen nơi con người thường bám níu vì chấp tự ngã. Muôn vạn việc đều cho ta hay của ta, nếu bỏ ngã không còn ta, thì đã tự chuyển đổi tam độc. Mỗi khi tác ý sanh khởi niệm, lập tức thấy tâm không còn tham, sân, si thì phiền não tức chuyển thành Bồ đề. Ý niệm sanh khởi rất lung tung, lăng xăng như khỉ vượn. Ta sáng suốt chỉ cần giác biết khi chúng sanh khởi không cần dẹp ý hay tiêu diệt ý, không theo ý, không giết ý. Khi tham, sân, si, phiền não khởi lên, vẫn mặc nhiên mà sáng suốt biết có chúng tham, sân, si, phiền não đang sinh khởi, tìm cách tự giáo hóa chúng, tự nhắc nhở, an ủi, dỗ dành, là tự độ chúng sanh tại tâm, quyết không trụ vào niệm đang hiện hành, đang sanh khởi, biết các niệm sanh pháp chỉ là huyễn tạm, tùy duyên tan hợp, có tựu sẽ có tán. Nên Tổ dạy, “mê không sợ chỉ sợ giác chậm”. Khi tâm tham khởi lên, tánh giác nhanh lẹ phát hiện là nhờ quang minh của Bồ Tát Quán Âm sáng suốt tại lòng ta, tự giác biết, nhận định rõ ràng tại cõi tâm đang hiện hành có chúng tham, sân, si. Quang minh Quán Thế Âm là hào quang chiếu sáng giác biết, tự làm chủ tâm, không để biển thức giao động, biến hiện sanh pháp mê muội. Tự làm chủ các niệm si, ái, không giết chết hay tiêu diệt pháp, là không sát hại chúng sanh mê muội, chỉ dùng lòng từ mà giáo hóa, tự tiếp độ, đưa hết thảy chúng sanh về Cực Lạc. Nên kinh dạy, chúng sanh vô biên thệ nguyện độ hay độ tất cả chúng sanh mà không có chúng sanh nào được độ cả. Nếu ngồi thiền mà định trong vô kí gọi là khô mộc thiền hay niệm Phật mà tâm địa vẫn âm u không có quang minh, là không độ được chúng sanh si mê tại cõi lòng, vẫn còn dầy đặc phiền não. Mà kinh dạy rằng, “phiền não vô tận thề nguyện đoạn”. Trí tuệ vốn sáng suốt, thường chiếu soi vạn pháp, giác sáng tự nhiên. Tuy tham sân si vẫn có mặt mà thường làm chủ pháp, không phan duyên niệm theo, là trạng thái cõi tâm an định, dù ở giữa biển pháp mà tâm tịch lặng, không vướng mắc, không bận rộn, đức độ đó gọi là đức pháp chủ. Khi trí tuệ quang minh chiếu soi làm chủ được các pháp thì tâm tâm, niệm niệm dù vẫn có nhưng tuyệt nhiên yên lặng, quang minh, sáng suốt thường chiếu soi tâm niệm. Bản thể chơn tâm dung chứa được tất cả niệm, thọ dụng đầy đủ dù xấu ác hay thiện lành. Trí an định, tự khéo léo chọn lựa pháp để sử dụng. Trạch pháp là dùng đúng chơn pháp gọi là Chánh Kiến. Đức độ tài trí tuyệt diệu là biết chọn lựa pháp hành xử tại đời sống, tu ngay đây gọi là đạo tâm. Biết chọn pháp đúng chơn lý mà sử dụng y theo lời Phật dạy thì cõi tâm là đạo Phật. Sử dụng pháp cõi người, giữ Tam Quy, Ngũ Giới là nhân đạo. Tín ngưỡng theo Thần linh là Thần đạo, theo cảnh sắc là Tiên đạo, mê muội dùng ác pháp là Ngạ quỷ đạo. Nên Phật nói, các pháp đều y như vậy, rất bình đẳng, cứ y vào cõi tâm, nhân nào ta tự gieo thì quả y như vậy, không thừa không thiếu, cũng không dư.
Khi ngồi thiền có vọng tưởng nổi lên, là biển thức đang dậy sóng, ta cần biết thật rõ ràng ở trạng thái tâm tỉnh thức, không chấp trạng thái không ngơ, gọi là ngoan không mà nên tự quán xét, tự hỏi chính lòng ta, tự giải đáp bằng tuệ giác hay đang đối diện với pháp bằng ý thức mê muội. Giác là buông xả pháp, tâm không vướng niệm vào pháp đời, gọi là lìa vọng. Mê là duyên theo pháp, đuổi bắt theo vọng trần, mãi nắm giữ bọt bóng vì vô minh không có ánh sáng chơn lý, không sử dụng được phân biệt trí, vẫn thấy biết tất cả pháp nhưng không mê muội. Niệm không khởi duyên theo pháp, biết pháp ảo tưởng đang vận hành mà không theo, biết được nhờ tuệ giác, tâm an định bình thường, mà Tổ dạy, “tâm bình thường thị đạo”. Pháp tu là lìa bỏ sự ham muốn thế gian mà giác tại các pháp thế gian, tu ngay đời sống, chứng ngộ tại pháp thế gian, thành Phật tại thế gian vì Phật Pháp bất ly thế gian giác. Không sống khắc khổ hay chạy bỏ thế gian, cũng không quá đua đòi, cuộc sống là bình thường, đơn giản là sống trung đạo. Như vậy, Thiền và Tịnh là hai phương tiện nhưng đồng trở về chơn lý. Niệm Phật nương nhờ Phật hiệu, hồng danh Phật như tay nắm để dìu dắt người con Phật trở về nhà Như Lai. Nhưng rốt cùng cũng buông gậy, là buông phương tiện, khi đã qua bờ giác. Không giữ được phương tiện mãi mà phải tự lực, nghĩa là không còn tâm niệm vướng trụ vào pháp nào cả, mới là tự tại giải thoát, lìa tất cả niệm mê mới được vãng sanh. Không còn lưu luyến một danh từ, một niệm hay một tâm hoặc một pháp nào, là tâm địa rỗng rang thanh lặng, các pháp vọng đã an nhiên thị tịch, cõi tâm đã tịch lặng. Thiền là tự đứng dậy, dứt tất cả duyên, buông hết niệm vô minh, không nương vào một pháp nào, kể cả pháp thiền cũng không bận rộn tâm, vì thiền cũng là pháp môn là cửa đi vào bản giác. Ta cũng không nuối tiếc vì tất cả pháp môn mục đích dẫn ta thấy lại nguồn tâm là thấy tánh.
Phẩm thứ 9 là Nguyện Thành Tựu Viên Mãn. Nguyện là lời thề, lời hứa trước Phật và tự hứa với ta, phát nguyện nhất định làm được, mới là thành tựu pháp môn. Phật nói với ngài A-Nan, “Tỳ kheo Pháp Tạng tu hạnh Bồ Tát”. Bồ Tát là bậc tự giác, giác tha, còn Thanh Văn chỉ tự giác, không giác tha. Thanh Văn nghe lời Phật dạy, biết thế gian là khổ vì sợ khổ y đó mà tu hành, chứng ngộ Tứ Thánh Quả, quả cao nhất là A La Hán. Đức Phật ngày xưa tự quán sát thế gian, quán xét tâm, quán pháp, thấy hành động, thấy pháp tu của ngoại đạo, không hướng vào tâm nên Ngài dùng trí tuệ tự sửa chữa tâm cho chơn chánh. Nghe thấy từ thế gian, sửa chữa lại tâm mà tự chứng quả Thanh Văn đến A La Hán. Ngày nay, vì pháp quá nhiều, sự giảng thuyết từ tâm lượng người thuyết giảng đều khác nhau nên pháp cũng tràn ngập, khắp nơi đều giảng pháp. Nên kinh Kim Cang, Phật nói, “Sau này thời mạc pháp, tà sư ngoại đạo hiện ra nói pháp nhiều như cát sông Hằng, thậm chí có thể dùng thần thông hiện ra đứng giữa hư không. Các ông chớ vội đảnh lễ mà nên lắng nghe người đó giảng. Hãy nhớ đó, ghi chú mà coi lại kinh điển, coi họ thuyết có đúng chân lý không? Dù cho thuyết rất hay mà không đúng chơn lý cũng không nghe. Thời sau này họ thuyết còn hay hơn Ta, nhưng xa lìa chánh pháp”. Dù nói pháp giỏi, hay như thế nào cũng phải giảng nói từ kinh Phật, giảng từ tự tánh, nói bằng sự chứng ngộ, tự tu chứng của bản thể chơn như, nói được bản tâm mới là chánh pháp. Dù có người đứng giữa lưng trời, hào quang chiếu sáng mà thuyết sai chơn lý thì đều là ma giả Phật thuyết pháp. Người nghe cần sáng suốt, không dua dại, nịnh bợ, chạy theo phong trào mà lầm lạc giữa Ma Đạo và Phật Đạo. Khi Phật sắp tịch diệt, Ngài nói, “Như Lai không bỏ các người, dù Như Lai không có mặt ở thế gian nhưng Như Lai vẫn để tài sản cho các ông là Tam Tạng kinh điển. Nhưng ngày nào các ông còn thọ trì, thuyết giảng gìn giữ thì lúc đó Như Lai vẫn hiện tiền”. Nếu ta mãi chạy theo cái hay, cái giỏi bên ngoài mà bỏ kinh điển, bỏ Như Lai thì ngay lúc đó Như Lai tịch diệt. Trời đất hoàn toàn u ám, tăm tối vì không có mặt trời trí tuệ hiện diện. Vì đã chạy theo ngũ dục, danh lợi, theo bả lợi quyền thế tục, xa lìa giáo pháp. “Như Lai để lại cho các ông tam tạng kinh điển, nếu ngày nào các ông còn giữ gìn là ngày đó Như Lai vẫn hiện tiền, ngày nào các ông không giữ gìn là Như Lai Tịch Diệt”, đã mất mặt trời trí tuệ, là điều khủng khiếp nhất của con người, uổng phí kiếp làm người, không phải dễ gặp. Là đời mạc pháp vì con người không biết giữ gìn, không biết sử dụng, nghèo nàn Pháp Bảo. Ta muốn tu đúng pháp Phật, cần hiểu biết rõ ràng giáo lý, biết chân lý từ trí tuệ Phật, phải nhờ bản đồ là kim chỉ nam đưa ta về xứ Phật. Giác ngộ pháp là không đả phá pháp thế gian vì tất cả đều là pháp, chỉ sửa chữa lại những ý niệm sai lầm của thế gian. Phật pháp vốn tùy duyên, không gò bó, ép buộc lòng ai. Người dẫn đạo chỉ có bổn phận dẫn đường. Đạo là đường giải thoát, tự giác ngộ tùy vào trình độ, cấp bậc hiểu biết của mọi căn tánh mà sử dụng pháp. Đức độ Bồ Tát là lòng thương yêu các chúng sanh, không ghét bỏ, dù họ có lầm lạc sống sai chánh pháp, cần hết lòng nhắc nhở khuyên lơn, giúp họ đi sâu vào chơn lý. Đức Quang Minh từ bi của Bồ Tát tìm ẩn nơi người có tâm trong sạch, lòng không vướng mắc, bận bịu, mê đắm nhà cửa, xe cộ, tài sản, người thân, ruộng vườn, đất cát, chồng vợ, con cái là đức giải thoát. Tuy vẫn sử dụng, vẫn xài mà lòng không chấp cho thật là của ta, tất cả đều là sắc pháp, mà Phật nói các pháp đều như huyễn, vô thường, tự đến, tự đi, tùy duyên mà hợp hay tan, giác biết như vậy nên tâm không vướng mắc, gọi là tâm trong sạch, cao thượng. Đức độ của Bồ Tát, dù ở chỗ cao sang, hoàng cung, điện các, tâm cũng không tham đắm vì biết các pháp tùy duyên do nhân quả phước hay họa mà thành tựu, gá duyên, pháp tốt hay xấu sang hay hèn cũng không chấp thật. Như Thái tử Sĩ Đạt Ta, ngài Duy Ma Cật, Trưởng giả Cấp Cô Độc, Phật Hoàng Trần Nhân Tôn, tuy ở nơi giàu sang đầy đủ uy quyền ở thế gian tột bực mà tâm vẫn tự tại đối với pháp đời. Tâm vô nhiễm là đức Bồ Tát tự độ, biết các pháp như trò ảo hóa, tạm gá duyên. Các Ngài dùng tuệ giác đem ra giáo hóa nhắc nhở, làm lợi ích chúng sanh là tự độ còn độ tha.
Pháp Tạng là kho chứa pháp bảo, chứa kinh nghiệm của Đức Phật, là vạn pháp khắp tam thiên đại thiên thế giới, không của riêng ai, là các pháp bảo dẫn con người tu hành đến giác ngộ. Nếu còn chấp riêng của một ai thì không gọi là pháp Phật được. Nên không cho pháp thiền là của tôi, anh tu pháp Tịnh, chị tu Pháp Hoa, tất cả pháp đều bình đẳng. Mục đích là dẫn người tu về với tánh Phật. Pháp vốn như huyễn, Phật là tỉnh giác, Phật pháp là các pháp thế gian đã được con người thông thấu hiểu biết sáng suốt, tỉnh thức khi đối đầu với pháp mà tâm không đắm lụy. Pháp không tư hữu riêng ai, vốn thanh tịnh, không ai có thể nắm giữ hay cho được. Phật là trí tuệ thường giác, thường chiếu soi các pháp mà không bị pháp chướng ngại. Pháp là danh từ chỉ vào vạn vật vũ trụ. Chánh pháp thường xuất phát từ trí tuệ vị chơn Tăng, lòng từ bi rộng khắp, đã thông đạt nguồn gốc thì pháp đó là Phật pháp. Vị chơn Tăng đầy đủ giới luật, đạo hạnh, là nơi tàng ẩn, dung chứa tất cả pháp bảo gọi là tạng pháp. Phương tiện đem ra chỉ dạy cho Cận Sự Nam, Cận Sự Nữ chuyên tu pháp Phật, dù cho thuận duyên hay nghịch duyên vẫn không phiền toái. Chơn Tăng là Thiện Hữu Tri Thức của mọi người, đã quyết lòng tu học, đầy đủ phương tiện, được gần gũi chánh pháp, gần chơn lý. Pháp Tạng là nơi dung chứa khắp cả thế giới, tàng chứa tất cả pháp, vô lượng pháp. Pháp có hai : hữu tình pháp và vô tình pháp :
Ø Hữu tình pháp : là các loài động vật, loài người, có chồng, có vợ, có con cái, có tâm hận thù, ghen ghét, thương yêu, mến chuộng, hỷ, nộ, ái, ố, thất tình lục dục, đều là hữu tình pháp hay hữu tình chúng sanh đều là pháp.
Ø Vô tình pháp : là bụi, đất, cỏ cây, núi, sông, nước, hạt bụi, giọt nước, mặt trời, mặt trăng cũng đều là pháp. Pháp gồm tất cả thế giới.
Pháp của kinh điển gọi là Phật pháp, là pháp bảo làm sáng tỏ thế gian. Pháp là bụi, đất, cỏ cây, thú vật, con người, là pháp thế gian, được Phật dùng trí tuệ phân tích làm sáng tỏ tâm người gọi là phân biệt trí, không còn lầm lẫn. Nếu danh từ Tỳ Kheo mà không thông suốt biết pháp biến chuyển, không thấy vạn pháp bằng quang minh sáng suốt, không làm chủ pháp, không sử dụng phân biệt trí thì không gọi là Pháp Tạng Tỳ Kheo. Nếu tu mà không đạt pháp để tự cứu mình và cứu người thì dù đã cạo tóc, đắp y, gõ mõ, tụng kinh, ở chùa mà không hiểu biết sống bằng chơn lý, không bảo vệ, giữ gìn tạng pháp Như Lai thì dù mang danh Tỳ Kheo nhưng chỉ là Trụ Trì Thế Gian Tam Bảo. Là chỉ giữ gìn Tam Bảo thế gian, không phải là Trụ Trì Xuất Thế Tam Bảo vì không giữ được pháp bảo xuất thế.
Tam Bảo Xuất Thế : là đã ra khỏi các pháp thế gian, không còn bị các pháp hữu tình hay vô tình ràng buộc thân tâm.
Trụ trì thế gian Tam Bảo : chuyên tụng kinh, gõ mõ, đọc lời Phật dạy, cúng kiến, có tướng xuất gia mà tâm còn hướng về gia đình, vợ con, nhà cửa, vật chất, tiền bạc, còn bị pháp thế gian trói buộc, vẫn ái dục, hờn giận, hơn thua, thương ghét, buồn phiền, giành giật, ham muốn, đấu tranh, hận oán, cõi tâm vẫn trụ các ác pháp, thế giới phàm tục còn tại tâm nên gọi là Trụ Trì Thế Gian Tam Bảo, tu cần hiểu rõ pháp mới tránh lầm lạc.
Tất cả pháp được đưa vào kinh điển bằng tuệ giác, giác rõ các pháp thế gian không lìa pháp thế gian mà gọi là đạo Phật được. Đạo có trong cuộc đời, bỏ đời thì không có đạo. Sen không thể lìa bùn sịn mà tươi tốt, trổ bông được. Cần sáng suốt biết rõ sen là sen, mà bùn vẫn là bùn. Pháp thế gian không chuyển đổi vẫn là thế gian, nhờ tuệ giác bừng sáng nên đệ tự của đức Phật đem pháp thế gian tu sửa mà chuyển đổi thành Phật pháp làm lợi ích muôn loài. Sự giác ngộ các pháp gọi là Phật Pháp. Ta tu học theo Phật để làm gì ? Theo Phật không là phục vụ cúng kiến cho Phật, không phục vụ cho chùa, không phục cho ai cả, mà tu theo Phật là tu theo Pháp, tự quy y Pháp, học hỏi giáo pháp. Mượn kinh điển là kinh nghiệm từ trí tuệ, từ quả diệu giác nơi hào quang đức Phật, áp dụng vào tâm, làm lợi ích nuôi dưỡng sự sáng suốt cho chính ta. Sau khi trí tuệ bừng sáng, đem nguồn sáng trí tuệ cho người khác nên Phật là tánh giác, mới đủ đức độ phục vụ cho chúng sanh, chớ chúng sanh không đủ đức độ để phục vụ cho Phật bao giờ. Nên đã phục được cho chính mình là giáo hóa, giúp đỡ những niệm mê muội nên mình cũng là chúng sanh, cùng tất cả chúng sanh bên ngoài được giác ngộ tức cúng dường chư Phật. Nếu dùng sự hiểu biết phàm phu, lợi dụng làm khổ chúng sanh. Dùng hình thức giả tạm làm khổ, nhờ vả chúng sanh vì tư lợi thì không gọi là phục vụ chúng sanh, đã niệm vào hướng sai lạc không chánh đáng, xa chơn lý. Nếu Phật pháp phục vụ cho chúng sanh thì khắp nơi đều tôn kính, chiêm ngưỡng, tôn bái vì chơn lý Phật làm lợi ích, cứu chúng sanh ra khỏi tam đồ địa ngục, ra khỏi lục đạo luân hồi, đưa vào con đường hạnh phúc, an lạc giải thoát. Nên ta cần phải kính trọng pháp như kính trọng Phật vậy. Nếu pháp bố thí cúng dường bằng vật chất mà có tấm lòng chơn chánh thì pháp cúng dường đó là Pháp Phật. Nếu thân bệnh mà uống thuốc chỉ tạm hết bệnh cho thân, nhưng khi tâm bệnh mà uống được Cam Lồ là uống pháp chơn lý sẽ trị dứt bệnh khổ đời đời, kiếp kiếp. Trong đời sống, phải thường niệm nhớ đến quang minh tại lòng ta, là nhớ danh hiệu Nam Mô Cam Lộ Vương Bồ Tát, biết sống với chơn lý là thường có thuốc pháp Dược Sư bên mình. Tại tâm người giác ngộ thường có Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai tại tâm mới chính là linh dược tự cứu độ ta dứt bệnh luân hồi sanh tử. Kinh điển là kinh nghiệm từ trí tuệ Phật, là kho tàng pháp bảo, tài sản vô cùng lớn lao mà người tu học có bổn phận phải gìn giữ, trân trọng. Bảo vệ Phật Pháp như bảo vệ chính thân mạng mình vì đó là chơn lý vô giá. Vị Tỳ Kheo bảo vệ tạng pháp, phải biết dùng phương pháp đưa chơn lý vào tâm mọi người vì đó là đại sự nhân duyên, đồng với giáo pháp Như Lai “tác Như Lai sứ hành Như Lai sự”. Không mang bên ngoài là pháp tướng nhà Phật mà trong tâm vẫn là phàm phu tục tử, sẽ nguy hại Phật pháp vô cùng. Như vậy Tỳ Kheo Pháp Tạng là kho chứa vô lượng pháp bảo, được tích lũy vô lượng công đức, tâm luôn tự tại, càng mở rộng sáng suốt bao nhiêu là càng tích công dồn đức, tự tích lũy vào tạng pháp. Pháp do công đức trí tuệ tích lũy gọi là pháp bảo. Các tâm mê nhiễm được chuyển đổi thành thiện lành nhờ tu học, là những bài thi đã học thuộc, thuần thục, tích chứa vào hiểu biết là nhân, đến ngày thi là lúc đối diện pháp ứng xử, giải quyết thông suốt, kết quả đậu cao nhẹ nhàng. Do người học trò siêng năng cần cù tinh tấn, trí tuệ thành tựu viên mãn, nhờ hạnh đức đã tự tích chứa tu tập, tích trữ nhiều pháp tu nơi tâm, thường nhớ rõ ràng đều lợi lạc thành tựu từ công đức mà trổ quả tốt đẹp. Muốn làm lợi ích cho ta và khắp cả chúng sanh phải trau dồi trí đức, kết quả mới viên thành Phật đạo. Phật thành đạo cũng nhờ tích lũy công đức từ hành động thiện lành, bậc làm chủ các pháp thì công đức tối thượng “lời phát thệ nguyện thành tựu viên mãn như thật, an trụ cụ túc trang nghiêm đầy đủ oai đức rộng lớn thanh tịnh cõi Phật”. Người tự tích lũy công đức không ai thấy được, cũng không biết là được bao nhiêu.
Phật pháp lưu truyền tám vạn tư,
Không thừa không thiếu cũng không dư
Bao nhiêu năm học đều quên hết
Chỉ nhớ trên đầu một chữ “Như”.
Không thể dùng lời nói hết pháp thệ. Pháp như biển cả mênh mông, thiên biến vạn hóa, tùy duyên biến hiện, không cố định. Tự tánh có khả năng dung chứa hết nên khi vừa khởi niệm thì có vô lượng pháp biến hiện, pháp pháp hà tằng pháp, pháp vốn là vô vì từ Chơn Không mà Diệu Hữu, từ tánh không mà có tất cả pháp.
Bồ Tát là tự tu cho mình mà còn cứu khắp hết thảy chúng sanh, độ chúng sanh bằng pháp đã tự chứng ngộ, pháp bảo từng tích lũy, đem ra bố thí cho mọi người mà không hề có tâm phân biệt kẻ ngu hay người trí, gọi là bố thí pháp Bình Đẳng. Đem trí tuệ là tài sản của Chư Phật chia khắp muôn loài được thắm nhuần chơn lý, cho chúng sanh nhiều phương tiện để tu học. Ta học pháp phải kính trọng pháp, lòng ghi nhớ vị pháp sư như người ân mà không thể đền trả được. Ân là kính trọng Sư Trưởng, muốn đền ân Sư Trưởng là nuôi dưỡng, dạy dỗ tất cả chúng sanh trong tâm và chúng sanh bên ngoài. Hiểu biết chơn lý giữ mạng mạch chư Phật là đền đáp trọng ân trong muôn một. Có bốn trọng ân lớn mà người tu cần nhớ : ân Tam Bảo, ân Cửu Huyền, ân Đàn Na và ân Đất nước. Muốn đền bốn ơn này cần tích lũy công đức, là tích lũy pháp bảo, học pháp bằng tuệ giác thông suốt, dùng chơn lý làm lợi lạc chúng sanh. Pháp bảo là tài sản vô giá chung cho nhân loại nên các Bồ Tát cần tích lũy, giữ gìn. Phải phát thệ nguyện thành tựu viên mãn công đức cho vẹn toàn như thật, sự chắc chắn không dời đổi, không dãi đãi mà y như vậy, rất thù thắng.
Pháp giữ gìn Tam Quy, Ngũ Giới của cõi người chắc chắn không sai phạm là như thật, không quên bỏ, không thiếu xót, là tự trang nghiêm Tịnh thổ tại tâm, không sai xót, trì chí, luôn tinh tấn là quang minh Đại Thế Chí hào quang sáng suốt tại cõi tâm. Chí lớn, nơi khả năng sẵn có, quyết hành trì giới luật không xao lãng. Xưa Thế Tôn cũng đã phát thệ nguyện y như thật. Ngài bỏ cung vàng, điện các, vợ đẹp, con xinh, chức quyền, bỏ sự hưởng thụ sung sướng mà sống như thật, tự nhiên sống bằng quang minh chơn lý, lòng không luyến tiếc bởi Ngài rành các pháp như thật, vốn là vô thường, huyễn tạm. Giáo lý Như Lai là chánh chơn, thù thắng, tuyệt diệu sáng suốt vô cùng. Nếu ta phát thệ nguyện tiến tu con đường này, phải có tâm trân trọng các công đức, lòng thật an ổn trước sự biến đổi của các pháp. Nếu pháp thay đổi mất còn, được thua, thạnh suy, lòng không chao động, đó là bản giác chơn như hiển bày. Hiện an ổn với chơn thật tuệ là pháp vô vi. Pháp vốn thanh tịnh, nếu tâm niệm cũng thanh tịnh thì đầy đủ trang nghiêm nước tâm, là trình độ Cụ Túc, đầy đủ đạo hạnh. Vị Tỳ Kheo thọ giới, giữ giới pháp đầy đủ gọi là Cụ Túc đã hoàn toàn, hoàn hảo “oai đức rộng lớn”, nhờ pháp bảo để tích lũy Cụ Túc toàn vẹn đầy đủ. Phát lời thệ nguyện là đức độ cao thượng, bao dung, xứng đáng được tôn kính, đó là bản thể trùm khắp của tự tánh. Sáng suốt trí tuệ là lòng chơn chánh nên khi nghe đến, mọi người đều khiếp sợ, tôn kính lan rộng khắp mười phương đều trân quý “thanh tịnh cõi Phật được”. Thanh là trong sáng, Tịnh là sạch sẽ nên tự tánh Di Đà, là quang minh soi sáng vô lượng quang, là vô lượng sáng suốt, được tích lũy nhiều hạnh đức, là vô lượng công đức, dung chứa, thọ nhận tất cả pháp, là vô lượng thọ, là tạng thân của Đức A Di Đà, bản thể ấy là Cực Lạc. Vào được bản thể Di Đà phải cụ túc công đức, phát thệ nguyện như thật, oai đức rộng lớn thanh tịnh, cõi tâm trong sáng, viên mãn, trang nghiêm. Cực Lạc từ chơn tâm biến hiện, là bản tánh Di Đà đã định cụ túc. Pháp pháp đều viên mãn, liễu tri, tâm niệm chuyển biến biết rõ các pháp như thật, quang minh thường chiếu.
Tôn giả A-Nan cung kính, Bạch Đức Thế Tôn, “Pháp Tạng Bồ Tát chứng đạo Bồ đề và thành Phật là Phật quá khứ, Phật hiện tại hay tương lai hay đã thành Phật hiện ở thế giới phương khác”. Ý ngài A-Nan hỏi Phật, theo lời Phật dạy, thì ngài Pháp Tạng Tỳ Kheo đã phát Bồ đề tâm như thế nào? Đã thành Phật hay chưa? Đã nhập diệt hay hiện ở phương nào? Thế giới nào? Đức Thế Tôn nói, “đến Đức Như Lai kia” cũng là danh từ có tên để nói, cũng như Đức Phật là chỉ vào đức độ tự giác. Gọi là Phật, cũng là một danh từ chỉ vào đức hạnh tuyệt diệu. Ngài muốn chỉ đức tánh hiện hữu đã thành tựu viên mãn, đã tích lũy công đức đầy đủ, tích lũy vô lượng pháp bảo vào tạng pháp gọi là pháp thân Phật. Do nhiều quang minh đức độ hợp lại thành pháp thân hay bản giác thường chơn cũng là Đức Phật. Tại sao có danh từ Đức Phật mà còn gọi là Như Lai ? Vì Như Lai là chỉ vào bản thể trí tuệ viên mãn trùm khắp pháp giới. Tất cả pháp giới đều từ Như Lai tạng tánh mà lưu xuất, nên nói Đức Phật Như Lai Kia. Vì thế gian rất nhiều danh từ, rất nhiều niệm tưởng. Có danh từ là tạm mượn để nói, để diễn đạt, chỉ vào một con người đã dày công tích lũy viên mãn vô lượng công đức, giác hạnh viên mãn, làm lợi ích cho chúng sanh. Danh từ Phật được nêu lên để chỉ ngay tánh giác. Danh từ Như Lai là chỉ bản thể thế giới nhân loại, không thể tìm thấy bằng mắt thường được vì Như Lai là vô tướng nhưng thật tướng, bao trùm hiện hữu khắp nơi. Thân tứ đại cũng ở với Như Lai không mất, bản thể Như Lai bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. “Không từ đâu đến”, nghĩa là các pháp tùy duyên, không có chỗ nào trụ, không bền chắc. Cũng giống như không, không từ đâu đến, cũng không đi đâu. Tư tưởng của con người cũng vậy, không chỗ đến cũng chẳng đi đâu. Các pháp hữu tình, vô tình, tự nhiên cũng không có chỗ đi, đến. Không ai diệt được ánh sáng, không ai diệt được tư tưởng nên mới tự nhiên. Chẳng do ai sanh ra nên Phật nói các pháp đều như vậy, tuy thường hằng mà luôn biến hiện, không có chỗ nhất định. Pháp không thật, không là của ai cả, không ai nắm giữ được pháp, chơn lý từ Như Lai, tất cả đều Như, chỉ cần ta mở mắt trí tuệ là nhìn thấy. “Đi không chỗ đi”, không sanh, không diệt, không quá khứ, vị lai vì mãi dùng mắt tục mà nhìn thấy nên cho là còn mất, sau trước, hiện tại, quá khứ, vị lai. Pháp là của cuộc đời, mãi mãi y như vậy. Pháp pháp hà tằng pháp xưa nay vẫn y như vậy. Sở dĩ ta không nhận ra vì vô minh, chấp ngã, ai cũng có sẵn không tìm đâu cả. Phật thị hiện đến thế gian để chỉ rõ, đây là pháp thế tục, đây là pháp xuất thế, vì chấp thật nên ta không minh tường, chứ các pháp đều y như vậy. Nếu hiểu biết không lầm là giác ( Phật ). Ta sống trong vô minh tăm tối nếu muốn thông suốt các pháp, cần nhờ người giác ngộ là thiện hữu tri thức nhắc nhở, chỉ dạy, là người đã đi trước, đã tích chứa đầy đủ công đức từ những kinh nghiệm tu hành. Ngài A-Nan nói rằng, “Nếu muốn hóa độ chúng sanh phải chứng ngộ quả A La Hán, mới đem sự chứng ngộ là quả giác tại trí tuệ hiểu biết chính mình, đem ra mà dẫn chúng sanh được”. “Hiện ở phương Tây cách Diêm Phù Đề mười vạn ức cõi Phật”. Theo lý thuyết hiểu bằng thế gian thì cõi Ta Bà cách xa Cực Lạc mười vạn ức cõi, nhưng nói về lý tánh nhà Phật là chỉ vào nghiệp từ Thập Kiết Sử, mượn pháp tướng thời gian là đoạn đường trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp mới thành Phật. Vì khắp đất tâm là tận hư không biến pháp giới, có cõi là do con người thường luân hồi tư tưởng, ý niệm xoay vòng, quanh tới lộn lui bằng trăm ngàn vạn ức, vô số, vô biên niệm thường biến chuyển tại tâm, không ngừng nghỉ. Sự biến hiện tâm niệm vì vô minh nên mê muội, tâm như hư không mà niệm niệm thường biến đổi nơi cõi tâm là tận hư không. Mỗi niệm mê trụ vào pháp giới là một cõi. Nhiều niệm mê tiếp diễn là nhiều cõi. Mười muôn niệm mê chuyển biến nơi cõi tâm là mười muôn ức cõi, vì mê lầm nên niệm niệm vẫn luân hồi không giác sáng, cứ quẩn quanh vào thập pháp giới. Cứ mỗi niệm mê đã giác ngộ sự thật chơn lý là vượt qua một cõi, đã qua được cõi khác. Ta thường khởi niệm là thường giác, cứ mỗi niệm khởi thường giác là tiến lên từng cõi, mười muôn ức niệm khởi đều giác, không còn vướng trụ vào pháp đời, là đã xuất ra khỏi thế gian, giải thoát tự tại. Nghĩa là cõi tâm khi còn vô minh gọi là cõi Diêm Phù Đề, khi tỉnh giác, biết rõ chơn lý, tỏ ngộ tự tánh, sống bằng tuệ giác nên cứ mỗi niệm sanh khởi đều giác ngộ sự thật chơn lý, là thoát qua một cõi, đã vượt qua cõi khác. Mười vạn ức niệm khởi đều giác là đã vượt lên bờ giác, thoát khỏi rừng vô minh mê muội. Cõi tâm từ Ta Bà Diêm Phù Đề, nhờ quang minh tánh giác dẫn dắt nên tự giác, vượt qua mười vạn ức cõi phàm phu về đến cõi Phật, là vượt mười muôn ức niệm ác mới đến được Tây Phương Cực Lạc. Nếu không giác được pháp Phật, vẫn còn niệm trụ vào các cõi ác mà muốn cầu thành Phật, vào Cực Lạc thì không thể được. Mỗi Phần giác là trình độ chỉ các cõi từ Thinh Văn, Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát gọi là tự chứng phần hay tự giác phần. Là đã giác từng phần, mỗi cõi có tên gọi chỉ cho từng trình độ chứng ngộ, từng quả giác. Nói đến vạn ức cõi, vạn ức Phật là chỉ vào vạn ức niệm tại tâm người đã giác. Ta hãy tự quy ngưỡng vào tự tánh mà đảnh lễ vạn ức Phật, vạn ức quang minh, hằng hà sa số Phật tại tâm, là vô số tâm niệm đã tự giác là chư Phật đang uy nghi tại Phật quốc. Cõi tâm là Cực Lạc, chính do công phu đạo hạnh, thành quả tu tập ta tự xây dựng, tự trang nghiêm bằng công trình đạo quả tu hành, tự mà chiêm bái Phật, tự lễ lạy Phật lòng mà nuôi dưỡng chăm sóc Phật tâm ta.
Nếu hằng ngày ta còn trong các sự khổ của thế gian là chết chóc, nghèo đói, bệnh tật, tranh giành, chém giết, đấu tranh... Thân vẫn ở thế gian, mà sáng suốt biết các pháp trong đời là huyễn tạm, là khổ đau nên tâm không chao động, thường thanh tịnh, không bận rộn duyên theo pháp hiện tại cõi tâm, chính thật là Cực Lạc. Kinh dạy, “Phật tức tâm, tâm tức Phật, Niết Bàn do tâm tạo, Địa ngục do tâm sanh”. Theo chơn lý không thể tìm Phật, tìm Cực Lạc, tìm Niết Bàn ngoài tâm được. Nếu có tướng Phật bên ngoài thì Phật tướng cũng là ngũ uẩn vốn giai không, Cực Lạc có tướng cũng chỉ là pháp hữu vi, mà Phật dạy, phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nếu tin bằng ảo giác thì quên chánh giác. Tìm Phật, tìm Cực Lạc bằng tưởng tượng, bằng ảo giác, đó chỉ là vọng tưởng mơ hồ, trừu tượng, đã kẹt vào cõi tưởng mà Sắc, Thọ, Tưởng, Hành Thức là giai không. Tổ dạy, “lìa các tướng mới là chơn thật tướng”. Có thế giới uế hay tịnh cũng do tự tâm sanh. Tâm sanh ra thế giới, tâm sanh ra quốc độ. Đầu tiên là chơn như tự tánh, bất chợt do niệm dục sanh khởi thành có một niệm sanh khởi, khi vừa muốn, chưa có niệm khởi, còn mờ mờ, mịt mịt, u- u, tịch tịch, u minh là hư không, vào hư không là lìa chơn như. Từ thế giới tận hư không, khởi niệm do bất giác, gọi là vô minh, có tham, sân, si, ái, niệm khởi muốn làm điều thiện lợi ích, đó là niệm pháp thiện nhưng khi được như ý thì sanh khởi thêm niệm tranh giành, muốn giữ pháp nên có thêm niệm giành giật, đấu tranh, thì niệm thiện sẽ chuyển thành niệm ác. Nếu ai hơn thì sẽ sanh tâm sân hận, si ám, đấu tranh, bắt đầu cõi tâm đã có thế giới thiện, ác. Lục Tổ dạy ngài Huệ Minh, “lìa thiện, lìa ác, mới là bổn lai diện mục của Thượng Tọa Minh”. Nếu tu niệm thiện nhiều thì sanh cõi Trời, Người, hành động ác nhiều thì sanh tâm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tự vào lục đạo luân hồi. Phật nhìn bằng pháp nhãn thấy thế giới luân hồi có thiện, ác nên Lục Tổ có dạy, đừng ham thiện cũng đừng ghét ác vì trong thiện đã chứa sẵn ác. Cần sáng suốt dùng trí tuệ thấy rằng, tham thiện cũng là tham. Nếu làm thiện mà không vừa theo ý muốn riêng mình thì cũng sân hận. Nổi tâm sân thì sanh khởi niệm vào nghiệp trùng trùng, tham thiện sẽ ghét ác. Nếu không nghĩ ác, làm ác thì tánh thiện đang sẵn sàng hiển lộ. Vậy tâm thanh tịnh là lìa thiện lìa ác. Cực Lạc chính tại tâm người đã giác ngộ, biết vạn pháp đều do tâm sanh. Niệm Phật là buông bỏ các niệm phiền não, đau khổ, tranh giành, hơn thua, bỏ những tư tưởng huyễn ảo, mơ hồ, trừu tượng vu vơ, không thật, là ta lần lượt vượt qua các cõi ác để về Tây Phương Cực Lạc mà an dưỡng cõi tâm cho an lạc. Nên chư Tổ dạy ta thường niệm nhớ, kêu gọi cõi tâm tỉnh thức, hằng nhớ Cực Lạc tại tâm rõ ràng bằng 12 pháp hiệu :
1. Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Lượng Quang Như Lai, là hào quang trí tuệ tại tâm ta nhiều không thể diễn tả được.
2. Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Biên Quang Như Lai, là hào quang sáng suốt chiếu soi không cùng tận, nơi đâu cũng chiếu tới.
3. Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Ngại Quang Như Lai, là hào quang chiếu khắp các cõi, không bị ngăn ngại cản trở, che chắn, tự tại tự nhiên.
4. Nam Mô an Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Đối Quang Như Lai, là hào quang sáng suốt thù thắng, không ánh sáng nào đối kịp, thanh tịnh không gì sánh kịp.
5. Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Diệm Vương Quang Như Lai, là đức độ hào quang tỏa sáng trùm khắp.
6. Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Thanh Tịnh Quang Như Lai, đức quang minh trong sạch, không dính mắc nhơ bợn một mảy trần.
7. Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Hoan Hỷ Quang Như Lai, là trạng thái an lạc, vui vẻ, hạnh phúc, rộng lớn khi được chạm vào tạng hào quang.
8. Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Trí Huệ Quang Như Lai, là quang minh trí huệ chiếu đến đâu thì đánh tan các niệm vô minh, lầm mê, dục lạc, chuyển các tâm niệm tối tâm thành sáng suốt, tinh anh.
9. Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải hội Nan Tư Quang Như Lai, là quang minh không có sự sáng suốt nào sánh bằng, không diễn tả, nghĩ bàn, suy nghĩ khó mà nói đúng được.
10. Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Bất Đoạn Quang Như Lai, là hào quang chiếu sáng không gián đoạn.
11. Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Xưng Quang Như Lai, là sự sáng suốt, lìa tất các tướng, không còn một danh xưng hay một danh từ nào của thế gian tương xứng mà diễn tả, hào quang vô cùng thênh thang rộng lớn.
12. Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hại Hội Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai, là hào quang chiếu sáng thù thắng hơn cả mặt trời, mặt trăng, soi tới núi Thiết Vi địa ngục, chiếu vào tâm ý con người mà không hề ngăn ngại.
12 pháp hiệu được diễn đạt trong kinh, ẩn ý chỉ váo tự tánh A Di Đà có tất cả quang minh hằng chiếu diệu, là thế giới Cực lạc tại tâm, mà mỗi con người đều có sẵn. Nên niệm Phật để buông bỏ tất cả tạp niệm vọng tưởng trần lao, chỉ còn niệm nhớ lại tự tánh A Di Đà vô biệt niệm, là giải thoát đã xả ly các tư tưởng thế gian, để sống bằng tâm hạnh xuất thế. Sống bằng 12 quang minh, là nơi an dưỡng cho cõi tâm, nuôi dưỡng tánh Phật. Đó là thế giới, là quốc độ Cực Lạc rộng lớn, hội đủ các hào quang sáng suốt. Ta tự quay vào cõi tâm, nhận lại tự tánh Di Đà vô biệt niệm, là cõi an dưỡng, là thế giới Di Đà lạc quốc, hội đủ quang minh, tích chứa từ Như Lai tạng tánh. “Pháp Tạng thành Phật hiệu là A Di Đà”. Phật hiệu A Di Đà cũng chính là danh hiệu chính ngay Phật tánh của ta, là tự tánh Phật của mỗi người khi giác ngộ, đời sống là đức hạnh cao thượng, đã tự tích lũy, xây dựng công đức, không chỉ có một A Di Đà thành tựu là vua Vô Tránh Niệm mà có vô số, vô lượng A Di Đà, khi có vô số, vô lượng con người bất luận tên gì phát thệ nguyện tu thực hành 48 đại nguyện. 48 đại nguyện là Pháp Bảo mà người nguyện tu tự tích lũy bằng vô lượng công đức. Có vô số danh hiệu Thích Ca, vô số chư Phật, chư Bồ Tát cũng từ tâm niệm chúng phàm phu mà biết tự giác, phá mê khai ngộ, buông xả niệm mê đắm cuộc đời, chứng ngộ bản giác, quay về quả diệu giác thể nhập chơn tâm, ngộ nhập tri kiến Phật, thấy được tánh Phật, chuyển mê thành ngộ, tỉnh thức, giác biết rõ sự vận chuyển vạn pháp thay đổi trong cuộc đời, xa lìa cõi mê, qua bờ giác ngộ, đời sống an nhiên, tự tại, giải thoát gọi là giác, là Phật. “Thành Phật đến nay đã mười kiếp”. Nói kiếp là mượn danh từ để chỉ thời gian, chơn tâm không dính mắc, giới hạn bằng số lượng. Ý kinh muốn giới thiệu con số dài không ước lượng của tánh mê. Mê là thời gian khi chưa bừng tỉnh, chỉ vào số lớn. “Hiện đang thuyết pháp, có vô lượng, vô số chư Bồ Tát, Thinh Văn cùng Thánh Chúng vây quanh”. Vì sao nói A Di Đà thuyết pháp? Chính từ miệng bậc đã giác ngộ được bản tâm, đã tri kiến Phật, đã thấy lại tự tánh là quang minh. Người này đang diễn nói, nói bằng trí tuệ sáng suốt hiểu biết của tự tánh, tìm phương pháp giáo hóa tâm niệm chính mình và nhắc nhở mọi người được giác ngộ, thấy lại bản tâm, chính là tự tánh A Di Đà thuyết pháp. Khi chính miệng ta nói đến sự khổ vui, tất cả khổ vui hoàn toàn là pháp, khổ cũng là pháp. Sự phát hiện khổ vui là do tánh giác phát hiện nhận biết. Tự tánh A Di Đà chiếu soi vào pháp, hiện đối diện biết là pháp gì, biết rõ nguồn gốc luân hồi hay giải thoát, là giống thiện lành hay ác nghiệp mà tự chọn. Khi Thái tử Sĩ Đạt Ta lên bảy tuổi, lúc dự lễ Hạ Điền, Ngài thấy mọi người vất vả, đổ mồ hôi rất cực nhọc, mới tìm có miếng ăn nuôi mạng sống. Trâu muốn ăn cỏ phải ra sức cày bừa vất vả, côn trùng chết chóc, loài lớn ăn hiếp loài nhỏ để tranh giành sự sống. Ngài thấy biết tất cả là thấy pháp, Ngài nhận thấy từ tánh giác, bằng pháp nhãn chính tự tánh vô lượng quang đang sáng suốt thuyết pháp cho Ngài biết sự thật cuộc đời. Biết được điều này nhờ thành tựu trí giác từ tự tánh A Di Đà mà thông suốt các pháp. Khi pháp đã thông thì mọi pháp, mọi ý niệm đều thanh tịnh. A Di Đà là pháp tạng, pháp tánh sáng suốt, là Như Lai tạng tánh trùm khắp thế gian và xuất thế gian. Tự tánh chiếu soi vào các pháp, thấy có các tâm niệm từ bi quang minh được gọi là danh từ Bồ Tát, thường nhắc nhở giáo hóa các niệm si mê tại cõi tâm. Khi biết được những pháp sanh, già, bệnh, chết, là nhờ quang minh từ tánh giác chiếu soi, thường có sự cảnh báo trước cho ta biết, là ta cũng sẽ như vậy. Thấy những cơn hấp hối đau đớn mệt nhọc kiệt sức, rã rời của người chung quanh, khi tứ đại sắp phân tán, duyên đã hết, đến hồi tan rã hoại diệt. Pháp nào cũng vậy, thân tứ đại của con người gọi là sắc pháp, tất cả đều vô thường, tan hoại. Nếu mê lầm, cứ tưởng tiền của, xe cộ, vật chất, người thân, chấp thật, mải mê lo hưởng thụ ngũ dục, lục trần là không thấy pháp. Nếu biết vạn pháp vốn không, cần lo tu cho thoát khổ là được tự tánh A Di Đà thuyết pháp. Tự tánh ta có đủ quang minh sáng suốt, thường khuyên nhắc dặn dò, giờ giờ, phút phút, tánh giác vẫn hằng nhắc nhở ta tự nghe và nhận được pháp Phật tại cõi lòng mà thức tỉnh nghe lời Phật dạy. Nhất định lo tu vì sợ khổ là được nghe chúng Thanh Văn đang thuyết pháp. Khi duyên khởi sắp niệm vào pháp thế tục, giác biết sắp niệm vào vô minh sa đọa, lập tức giác ngay duyên khởi hiện tại, hiện tiền tâm là chánh niệm, giác ngay duyên khởi hiện hành là trí huệ của quả chứng Duyên Giác. Ta đang nghe quang minh Duyên Giác, từ tánh giác tại tâm đang thuyết pháp. Như vậy, khi nhận biết các pháp như thật Cụ Túc là nghe từ tự tánh A Di Đà đang thuyết pháp. Dùng mắt trí huệ là mắt hoa sen trong sạch mà quán vào pháp thế gian, biết thật rõ ràng để tu, cần nương vào kinh Phật đọc tụng, nghiên cứu học hỏi là nương tha lực Phật để phát huy trí tuệ, tự xiển dương giáo pháp cho chính ta và mọi người có duyên, nhắc nhở cho họ được thông suốt pháp tu để trở về bản thể thanh tịnh, đầy đủ quang minh là trở về tự tánh A Di Đà.
Ai thường sống với công phu
Giác tri tĩnh lặng quy y tại lòng
Quán xem tự tánh thanh trong
Tri ra vạn vật ở trong tánh này
Phàm nhơn theo vật quên chơn
Qua bờ giác ngộ chẳng chơn chẳng phàm.

Phẩm 10 :

ĐIỀU NGUYỆN THÀNH PHẬT

Ta tu là tự giữ gìn tâm, ý, niệm, nếu để tà vọng, tà niệm xâm nhập, giống như nhà tâm bỏ hoang, không có chủ chăm sóc, gìn giữ, dọn dẹp tánh giác, chính là chủ nhơn ông. Có quyền làm chủ thân, khẩu, ý, làm chủ tâm, khi tâm loạn vì điên đảo, vọng tưởng bởi sự xâm nhập của các tà niệm, tà tưởng do thiếu sáng suốt, mất cảnh giác, thiếu trí tuệ, thiếu giới luật, tà vọng là pháp huyễn pháp là ma sẽ vào làm chủ. Kinh Thủ Lăng Nghiêm có nói đến 50 Ấm Ma. Nếu đời sống vô minh cứ mãi bám níu nghiệp thì tâm không an ổn được. Ma chính ở tâm người, niệm Phật là xa lìa buông xả các vọng tưởng làm ta điên đảo, buông bỏ ra cõi tâm mọi chư duyên là bỏ ma. Vì ta lầm lẫn, mãi ấp yêu, nuôi dưỡng tà niệm từ vô lượng kiếp. Niệm Phật, là niệm nhớ nghĩ thương yêu tự tánh, niệm nhớ Phật tại tâm, không để các niệm ma là pháp vọng, nhập vào tâm, bày vẻ ra muôn vạn điều mê muội. Tâm như người thợ vẽ ra thiên hình vạn trang, vẽ ra hình gì, nghiệp gì đều do tâm mà có tướng hình vuông, tròn, méo, lớn, nhỏ, vui, buồn, vui, khổ… vẽ thành Địa Ngục, Niết Bàn. Tâm vẽ ra muôn điều tội lỗi, độc ác, sát sanh, hại mạng đều do tâm tạo vẽ. Tâm vẽ ma thì thường ngày nhớ ma. Niệm ma là niệm tà vọng, tưởng vọng, suốt ngày ở trong ma giới, là thế giới của ma. Tâm nhớ Phật là thường niệm Phật, thường ở thế giới Phật. Nhớ Phật cõi tâm là vắng lặng tất cả mọi tư tưởng nghĩ nhớ đến việc đời, thì hiện tâm là cõi Phật. Mọi hành động là Phật sự hay ma sự, cần sáng suốt biết rõ. Phật sự là sử dụng pháp Phật, hành động bên ngoài vẫn là pháp nhưng cõi tâm an ổn, tịch lặng mọi ham muốn, thích ưa, đắm lụy hay chán ghét, không niệm vướng bận pháp trần thì tâm là cõi Phật. Ma sự, vẫn hành động sử dụng pháp nhưng tâm là tham, sân, si, ái luôn nhớ nghĩ vào đòi hỏi, thương ghét, vẫn nóng nảy, bực mình, đó là thế giới của ma. Tuy pháp là của thế tục nhưng hai cõi tâm khác nhau, tâm trí huệ là thế giới Phật biết pháp là đúng sai, nên hư, chánh tà... là việc của Phật trí.
Ma không thật, pháp mê là ma. Gọi ma vì pháp là huyễn, vô thường, tạm gá duyên. Cõi tạm là thế giới không thật, mà đời sống xưa nay ta mãi tưởng là bền chắc, nên thường sống với ma mà mê lầm không hay biết. Có hai loại ma là : nội ma và ngoại ma. Nội ma là ma trong tâm, ngoại ma là ma cảnh chung quanh, do tiếp xúc mà ta biết ngoại ma là sắc, tài danh, lợi. Nếu thấy sắc thì mê sắc, thấy danh mê danh, thấy tài mê tài, thấy lợi đều mê, mê tất cả pháp huyễn, là bị chúng ma quyến rũ, mãi mãi làm nô lệ cho ma ngũ dục. Vì con người lầm nhận nên sa hầm, lọt hố, người tu không thông giáo lý vướng ngoại ma rất nhiều. Tu là thường cảnh giác nội ma, là thường kiểm soát mọi sự ham muốn, đòi hỏi sanh tâm buồn vui, yêu mến vào ngũ dục, tự khép mình vào giới luật, nhờ giới luật làm Thầy để sống vững với chơn lý nhà Phật, tâm ta là tâm Phật. Kinh nói, thuở đó ngài Xá Lợi Phất nói với Phật A Di Đà, “Khi các Bồ Tát được Phật Thích Ca thọ ký do công đức tu hành đã cúng dường chư Phật nhiều kiếp, từng chăm sóc nuôi dưỡng vô lượng chư Phật nên đời sau khi các vị ấy thành Phật thì cõi nước là cõi tâm đất bằng phẳng, tâm địa không còn niệm bất tịnh, không còn các niệm ô nhiễm, chỉ toàn là người nam, là những quang minh cao thượng thanh tịnh”. Nói đến người nam là chỉ vào đức hạnh mạnh mẽ, trí tuệ sáng suốt vững chắc, không ác ý, không tội lỗi, sức mạnh từ tự lực luôn vượt qua mọi cám dỗ cuộc đời. Nên kinh nói cõi nước A Di Đà là Cực Lạc, không có người tội lỗi, không có kẻ ác, chỉ toàn là bậc thiện nhân. Ngài Xá Lợi Phất liền nghĩ “Như vậy lúc Phật Thích Ca còn là Bồ Tát chắc là rất lăng xăng, xấu ác nên khi đã thành Phật, quốc độ của Đức Phật Thích Ca là thế giới Ta Bà đầy những người xấu ác, tội lỗi, đất sìn lầy, gò nổng, hầm hố gai chông”. Lúc đó vị Vua Trời mới nói “Ngài đừng nghĩ quấy như vậy. Đức Phật Thích Ca là bậc toàn vẹn, toàn giác”. Đức Phật nghe nhưng chẳng nói gì, chỉ dùng chân ngài ấn xuống đất thì cả thế giới Ta Bà ô trược biến thành đất bằng phẳng như vàng ròng, những hầm hố biến thành Xa Cừ, Mả Nảo, San Hô, Lưu Ly, Hổ Phách, cây mọc thẳng hàng, đường xá trang nghiêm sạch sẽ, chiếu sáng ngời, có vô số người nam thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt. Lúc đó ngài Xá Lợi Phất thấy rất rõ. Đức Thế Tôn nói, “Ông hãy xem, nước của Ta như vậy đó, vốn thanh tịnh thường nhiên, sáng suốt trang nghiêm trong sạch như vậy, chỉ vì tâm niệm chúng sanh bất đồng nên dùng trí Phật mới thấy được sự tốt đẹp, an vui của thế giới này”. Nếu ta sống được bằng tự tánh giác thanh tịnh thì thế giới tại cõi tâm lúc nào cũng an lạc cùng cực gọi là Cực Lạc, tốt đẹp, an vui, hạnh phúc. Ý Phật ấn chân xuống đất là thực hành pháp định tâm, ta phải hiểu đất Phật ẩn chỉ ý trong kinh là nói đến tâm địa, đất địa, đất tâm của mỗi con người. Pháp tu Thiền hay Niệm Phật là dùng trí tuệ tự giác biết, thông thấu cõi tâm, gạn xét tâm. Tánh giác là quang minh soi sáng, chiếu trực chỉ vào tâm niệm, thấy pháp đang hiện hành, tánh giác biết tự kềm chế giữ chánh niệm, Ấn giữ cho tâm an định, giữ niệm không phan duyên theo thế tục, là không theo cõi Ta Bà, không theo pháp trần là ngũ dục mà Ngài Xá Lợi Phất nói là gò nổng, hầm hố, sìn lầy là sắc, tài, danh, thực, thùy, tham, sân, si, ái làm tâm địa ô uế. Khi tự giác ấn giữ được tâm niệm thì tâm địa tự nhiên thanh lặng trở về bản giác như như, không còn loạn động, tức thời cõi tâm là an lạc, tốt đẹp. Tâm địa đã tu sửa trang nghiêm bằng chất liệu thiền định hay niệm Phật làm cho tâm thanh tịnh, không còn chen lẫn các niệm phàm tục nên nước tâm là cõi sáng chói. Vì không còn ô nhiễm danh lợi gọi đất tâm bằng vàng ròng. Bởi không ô nhiễm tạp chất thế gian ô uế, đất tâm là Từ, Bi, Hỷ, Xả, biểu lộ cho hạnh đức cao quý nhất thế gian. Xa cừ, mả nảo, san hô, lưu ly, hổ phách, cây thẳng hàng là các tâm niệm đã tự giác, niêm niệm toàn giác thẳng hàng như trồng cây Bồ đề vào đất tâm, che mát bản tánh chơn thật ngay thẳng. Lưu ly, hổ phách, xa cừ, mả nảo là tâm niệm trong sáng không còn dua dại, nịnh bợ, cong queo. Đất tâm toàn là cây báu, vật báu là chánh nhân của các hạt giống Thanh Văn, Duyên giác, La Hán, Bồ Tát, hằng được những niệm giác thánh thiện gieo trồng săn sóc, nuôi dưỡng, tưới tẩm cho cõi lòng tươi mát, tốt đẹp, cho đến khi đắc thành chánh đẳng chánh giác là chánh quả. Ý Phật dùng chân ấn xuống đất, dụng chỉ chân là pháp, có lực chịu đựng cho toàn thân đứng vững vàng trên đất. Ấn xuống đất là ấn tâm, ấn vào đất là ấn vào tâm địa, kềm giữ cho tâm dừng. An định là thiền định hay pháp niệm Phật là giới, dùng ngăn chặn giữ tâm, giữ tâm bằng trí tuệ, bằng cách thường cảnh giác gọi là thường giác, giữ sự tỉnh thức khi đối diện với ma vọng, tự kềm chế tâm không phan duyên trụ vào ngoại cảnh, tâm an định gọi đất tâm là tịnh thổ hay cõi Tịnh độ. Đất tâm không còn thô thiển, gò nổng, hầm hố, gai chông, đã bằng phẳng, không còn ý niệm hẹp hòi, nhỏ nhen, độc ác chỉ là niệm trong sáng của chư thiện nhân, thiện nam, tín nữ, là những quang minh cao thượng tại tâm người tu học Phật. Nếu bất giác niệm nhập vào pháp trần thì lập tức cõi tâm biến thành uế độ vì loạn niệm lung tung, rối bời, điên đảo, loạn động, mục đích tu cho tâm an lạc là trở về tịnh thổ. Muốn thực hiện pháp Tịnh độ là an tịnh cho tâm hết khổ, thì phải nhắm thẳng hướng trực chỉ vào tâm làm đạo tràng. Nếu không biết giữ gìn tâm an định thì đất tâm không bao giờ là Tịnh độ, vĩnh viễn không có Cực Lạc để đến, có chăng chỉ là Cực Lạc trong tư tưởng, trừu tượng qua ảo giác, theo ý niệm riêng tư, do lòng ta ham muốn qua cảm nhận mơ hồ vì Phật dạy, Cực Lạc chỉ tại tâm, tại cõi lòng thanh tịnh, Phật tức tâm, quy y Phật cũng tại tâm. Tổ dạy, ngoài tâm không có Phật nào khác. Phật hạnh cũng do hành động, đạo hạnh từ tâm phát xuất, đức hạnh đạo đức cũng từ hành động tích chứa mà nên. Ta tu cho chính ta, ta thành Phật vì ta, không tu cho ai, không tu cho Phật nào được cả. Tu là tâm không bận rộn vào khổ sở, vào ham muốn của cuộc đời thì cõi tâm mới cùng cực an lạc. Tu không cần đòi hỏi được gì của cuộc đời cả, không đắc một pháp nào, vì các pháp đều vô thường, như huyễn. Nên Kinh Bát Nhã dạy vô sở đắc. Nếu thất bại việc thế gian mà có tâm buông xả, không van cầu, không nuối tiếc, tâm không muốn được gì, bằng lòng chấp nhận, cảm thông với pháp duyên, tâm buông xả sống an lạc với tâm không, đó là đạo Bồ đề. Nếu chấp cần có sở đắc được việc này, được điều kia là còn tham nhiều vào pháp thế tục. Chơn như là bản thể thanh tịnh, vốn không pháp không đắc hay được gì thế gian cả, chẳng dính mắc, bận rộn gì vào phàm tục, vũ trụ vạn vật khắp hư không bao la tận cùng, đủ pháp giới mênh mông tự nhiên, dung chứa tất cả trong lòng tự tánh. Đến sắc thân con người cũng là một pháp huyễn thật nhỏ bé, hòa cùng vũ trụ vạn vật thì đâu chắc gì, cũng chờ ngày tan hoại. Vẫn nằm trong lòng vũ trụ nên đừng đòi được gì của vũ trụ. Ta là một pháp trong muôn vạn pháp, đất nước gió lửa là tứ đại trong vũ trụ, thân cũng là tứ đại là đất, nước, gió, lửa nên tất cả pháp, tất cả vạn vật đều là nhân duyên tan hợp, là cốt nhục cùng nhau. Thân ta là vạn pháp, do vạn duyên hợp thành. Tất cả đều là thân bằng quyến thuộc, dù hoàn cảnh thuận duyên hay nghịch duyên, ta không có quyền chối bỏ, không đòi pháp nào là riêng tư cho ta hay của ta vì nên nhớ tất cả chính là ta, ta chính thật là tất cả. Các pháp khi thiếu duyên hợp, không thể thành tựu được nên đạo cần cảm thông không thể nghĩ bàn. Mọi việc trong đời thành tựu đều do nhân duyên mà có kết quả. Phật dùng 84 ngàn pháp môn vì Ngài dùng pháp làm phương tiện để đối trị 84 ngàn phiền não độ khắp chúng sanh. Ngày xưa dưới cội Bồ đề, Phật dùng pháp thiền định chỉ vì mục đích tìm hướng, ngộ nhận lại bản giác chơn như tức tri kiến Phật là đủ. Nhưng bên ngoài quá nhiều ngoại đạo, đủ phương chước bày vẽ tà vọng nên ngài dùng 84 ngàn pháp môn, mượn tướng là pháp huyễn để chỉ sự chơn chánh mà đối trị với vọng ma. Pháp thì rất nhiều, nhưng ta tu cần chọn một pháp chánh minh mà sử dụng, giúp ta sáng suốt khai thông trí tuệ thấy lại bản giác để tu không lầm lẫn. Nếu không biết chọn đường đi về Bản Giác Chơn Như thì chỉ ngơ ngác đứng một chỗ, chạy theo phong trào ngoài thế gian, theo tâm ý người khác bày biện thì không biết bao giờ mới tới quả giác để trở lại chính mình, tu cho mình mà chứng ngộ bản tâm, tri kiến Phật. Ta nên chọn đường Bát Chánh Đạo mà đi. Chư Bồ Tát dẫn độ chúng sanh cũng phải vào đường Bát Chánh Đạo, con đường giới luật dẫn ta và mọi người bằng chánh kiến, chánh ngữ, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh định, chánh huệ. Nếu đời sống người tu mà ngược với Bát Chánh Đạo là tu theo đạo ngoài, gọi là ngoại đạo. Kinh Duy Ma nói, người xuất gia giữ 250 giới Tăng, 348 giới Ni là tu theo tứ quả Thanh Văn, phải tiến tu lên quả Bồ Tát, hành Bồ Tát Đạo, nghiêm trì hạnh Bồ Tát. Vì vậy, Tỳ Kheo dù giữ đủ giới phải thọ thêm Bồ Tát giới là thêm 58 giới, công đức đạo hạnh 58 giới được giữ gìn, tích lũy để ngăn trừ những pháp chướng khi độ chúng sanh. Hàng Thanh văn chưa thực hành Bồ Tát Đạo là Nhị thừa, cần bước lên đẳng cấp Bồ Tát Đạo. Nếu vẫn giữ 250 giới, chuyên cúng kiến, tụng kinh, gõ mõ, nhận của cúng dường, sống an ổn trong giới luật, không sát sanh, không tham lam, không nói dối, không nói lời đâm thọc, không cờ bạc rượu chè cũng là đệ tử Phật nhưng chỉ là quả Thanh Văn vì chưa tích lũy được công đức Bồ Tát độ chúng sanh, chưa đem chơn lý nhà Phật ra xiển dương, làm lợi ích để chỉ đường cho mọi người thông suốt giáo pháp, chưa dẫn đường đi cho chúng sanh thoát khỏi biển khổ, ra khỏi tam giới, chưa chỉ cho chúng sanh việc đại sự là tri kiến Phật, chưa Cụ Túc Bồ Tát giới để tiếp nối con đường Đức Phật đã đi. Đức Phật là bậc toàn vẹn toàn giác, toàn năng, tất cả đã viên mãn. Ngài đem hết năng lực trí tuệ thuyết giáo, hóa độ chúng sanh suốt 49 năm ròng rã hành hạnh Bồ Tát soi sáng khắp chúng sanh. Trước khi thành Phật, Ngài là Bồ Tát Hộ Minh đã hành đạo Bồ Tát nên người tu hiện là Nhị thừa. Cần tiếp theo gương hạnh đức độ của Phật ngày xưa, bước lên quả Bồ Tát để hành đạo. Nghĩa là đã giữ 250 giới, phải thực hành thêm 58 giới Bồ Tát, dùng đối trị 58 chướng ngại ra độ chúng sanh, không còn tâm ngã chấp, không cầu lợi riêng cho mình, xả bỏ tất cả pháp, tâm không vướng lụy, có hành động vào pháp chỉ vì đem lợi lạc gieo duyên cứu khổ cho mọi người. Thực hành pháp bên ngoài dùng vật chất bố thí quần áo, cho gạo khi đói, cho thuốc khi đau mà không mong cho mình hưởng phước gì, là bố thí mà tâm vô cầu, thanh tịnh. Chúng sanh vì vô tình, không biết giữ đạo đức nghĩa nhân, hiếu thảo là những tâm hạnh cần thiết cho tinh thần. Bồ Tát sẵn sàng bố thí bằng Phật hạnh cao thượng chỉ vì mọi người mà không cầu lợi. Khi chúng sanh sợ hãi, Bồ Tát đến làm cho họ được an ổn, là thí vô úy. Mọi hành động của Bồ Tát, không mong cầu gì cho mình vì chúng sanh mà việc làm không thối chuyển, lòng vì mọi người mà cho tất cả, đem công hạnh đạo đức lòng từ bi yêu thương mà bố thí là hạnh Bồ Tát viên mãn, đã sử dụng pháp Lục Độ Ba La Mật... Ba La Mật là việc đã xong. Ngày xưa, khi Hoàng hậu Ma-Gia thấy điềm ứng hiện là bạch tượng sáu ngà hút vào hông phải của bà, là lúc bà mang thai Thái tử. Bạch tượng là sức mạnh vĩ đại. Bạch là trắng sạch, sáu ngà là pháp bảo quý báu nhất của loài to lớn, tượng trưng cho pháp lục độ, sức mạnh điều phục tịch lặng được các căn, khi hành đạo Bồ Tát, giữ sáu căn đều thanh tịnh, khi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà không vướng trụ là nhờ Bố thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định và Trí Tuệ. Sáu pháp tượng trưng sáu ngà quý báu của bạch tượng là pháp bảo trên đường xuất trần của Bồ Tát Hộ Minh vào đời hóa độ chúng sanh. Bạch tượng hút vào hông phải, có nghĩa là Bồ Tát vẫn vào cuộc đời, vẫn thọ nhận pháp thế gian sanh, lão, bệnh, tử, nhưng trí tuệ là chánh chơn làm việc lành phải đúng chánh pháp, đời sống và chơn lý không sai quấy nhiễm ô. Pháp lục độ là giới luật giữ gìn sáu căn tịch tịnh, sáu căn là cửa vào tâm, nếu sáu căn thanh tịnh là tâm của cõi Cực Lạc. Nếu sáu căn còn nhiễm trần theo ngũ dục là cõi của Ngạ Quỷ, Địa Ngục, Súc Sanh, sáu căn còn mê muội dẫn tâm vào ác đạo. Khi sử dụng pháp lục độ Ba La Mật, các Bồ Tát dạo khắp mười phương thế giới, sẵn sàng vào các cõi để tầm thinh cứu khổ muôn ngàn vạn, vô biên, vô lượng chúng sanh. Các ngài đã phát nguyện chúng sanh vô biên thề nguyện độ. Hàng Thanh Văn Nhị thừa, cần bước lên thực hành sống bằng hạnh Bồ Tát, làm lợi ích cứu khổ khắp quần sanh, đưa chúng sanh qua bờ giải thoát, giác ngộ cuộc đời như thật, tiếp nối theo lộ trình mà chư Bồ Tát, chư Phật, chư Tổ đã qua. Bồ Tát thì vô học vì đã thông suốt vượt qua được các pháp thế gian, biết tất cả pháp, biết giới luật, thông thấu lẽ thật cuộc đời không lầm lẫn, thông thạo chơn lý, cõi tâm quý ngài thuần trong sạch, không vướng nhiễm, niệm trụ các pháp. Vô học vì trí tuệ thông đạt, hạnh nguyện vào đời chỉ vì chúng sanh nghiệp chướng quá sâu dày, mê lầm sâu nặng. Các Ngài sẵn lòng từ bi nguyện cứu khổ, chẳng mong gì ở cuộc đời, không cầu cung dưỡng, không cầu đắc, không sợ các pháp thế gian, gọi là bậc bất khả đắc, bất khả cầu, lòng không thối chuyển tùy duyên mà hóa độ. Hữu tình thì các ngài gieo giống xuống, vô tình thì rút giống lên. Nếu đất tâm nào tươi tốt, chờ tiếp nhận hạt giống Bồ đề thì tùy thuận mà gieo giống vào, còn tâm nào khô cằn, chai đá không tiếp nhận giống thì chờ đến duyên mà gieo xuống, không gì là quan trọng. Chơn lý là giác ngộ giải thoát, tự do không bắt buộc một ai phải làm vừa ý mình cả, vạn pháp đều tùy duyên, tùy thuận nhân quả.
Sắc là ngoại ma, qua những gì ta thấy được. Danh từ nói là ma vì sắc pháp vốn không thật, không bền, tạm giả, do duyên mà có hợp tan. Kinh dạy, “Dĩ kiến sắc cầu ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân thành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”. Nếu ta còn chấp vào nghe âm thanh, thấy sắc cho là thật, đích thị người chấp đó hành đạo tà, không bao giờ tri kiến Phật, là không gặp thấy Phật. Tu là buông bỏ, không mê sắc, mê âm thanh ngọt ngào du dương quyến rũ, mê hoặc vì đã biết pháp thế gian là huyễn mộng. Chỉ dùng pháp huyễn mà độ huyễn, mượn giả mà hành chơn. Vẫn sử dụng pháp nhưng dùng pháp là độ chúng sanh, không đắm lụy vì pháp. Dùng pháp huyễn cũng là lời nói, âm thanh tướng trạng con người, mà trong lời nói, âm thanh, sắc tướng chứa đầy đủ tấm lòng thương yêu, trí tuệ, từ bi hỷ xả, vị tha, nhẫn nhục, sẵn sàng bố thí bằng đạo đức rộng lớn, đem tất cả lòng hoan hỷ chứa chan đạo đức, giải thoát giúp chúng sanh trở lại tri kiến bản giác tịnh minh. Độ chúng sanh không bằng cách cầu xin, nịnh bợ mà dẫn độ bằng tuệ tri thông suốt, giáo hóa bằng tâm buông xả sạch hết mọi tà tâm, tà vọng, tà niệm, tà tư tưởng, chuyển thành niệm chánh giác, bình đẳng, quyết định độ tâm, tu ngay tâm, lập hạnh đức tại tâm, thành Phật tức tâm, Cực Lạc chính tâm, trực chỉ nhơn tâm kiến tánh thành Phật. Không vướng bận gì của thế gian mà cho là tâm cả. Nếu còn khởi một niệm cầu khẩn được gì ngoài cuộc đời là còn mong được nối tiếp niệm niệm mãi không dừng, vô minh vẫn vô minh, hoàn toàn cách xa chơn lý, xa Phật, xa Tổ, nên Phật nói, “Ta Bà cách cực lạc mười muôn ức cõi”. Vì mãi phan duyên, vướng kẹt bởi mười muôn ức niệm mê si, muốn vượt qua mười muôn ức niệm tức là mười muôn ưc cõi nhiễm uế, cần tinh tấn vượt qua mười niệm tham là cõi Ngạ Quỷ, sân là cõi A Tu La. Niệm phiền não là cõi Súc Sanh. Niệm si mê là cõi Địa Ngục. Ngã mạn, tự cao là cõi A Tu La Vương. Còn nghi ngờ Phật pháp là vô minh. Bỏ cõi ác, bỏ luôn niệm vào cõi người, mong cầu hưởng phước là bỏ thân kiến, không chấp thân là thật. Bỏ ý niệm vọng động sai lạc là bỏ tà kiến. Bỏ ý chấp riêng tư là bỏ biên kiến. Bỏ niệm bảo thủ riêng mình cho là đúng là bỏ kiến thủ. Cõi tâm còn vọng động, loạn cuồng là hướng niệm vào các pháp giới cõi của Thập Điện Diêm Dương, Diêm Chúa, là tòa án lương tâm, xử theo luật nhân quả tự nhiên bình đẳng, không sai lệch, cứ theo nghiệp báo mà thọ nhận xử phân tùy nghiệp nhân mà nhận nghiệp quả. Nếu niệm niệm mãi rơi vào thập kiết sử không buông được vì mê muội cố gìn giữ thì Ta Bà cách xa Cực Lạc mười muôn ức cõi, tức là phải xả bỏ ra khỏi cõi tâm người mười muôn ức niệm ác. Tổ Dạy :
Biển trần thế, đục nhơ đã lắm
Bao anh hùng chìm đắm khổ nguy
Nước tham một dãy đen sì
Gió cuồng nổi dậy sân si ba đào
Mãi xao xuyến tranh nhau vật chất
Phí công trình bùn đất đắp tô
Của trần càng tóm thâu vô
Là càng chôn lắp dưới mô sìn lầy
Lòng tự thị mưu hay kế giỏi
Chước phân tranh chia rẽ cõi bờ
Kẻ khôn lấn hiếp người khờ
Ngọn trào tham lợi bây giờ nổi lên
Sóng cuồn cuộn vang rền gào thét
Nước chảy nhào xô vẹt lướt phăng
Thương ôi cái bọt trôi lăn
Nhấp nhô mờ mịt khi thăng khi trầm
Lúc biển động tối tăm trời đất
Cõi âu sầu phẳng phất u minh
Trần hoàn vạn vật chúng sinh
Âm thầm khổ sở điêu linh khốn nàn
Trải bao đoạn lầm than tai biến
Ánh triêu dương xuất hiện từ từ
Quang minh rạng rỡ thái hư
Muôn loài dừng dứt ưu tư kinh cuồng.
Nếu ta cứ mãi chạy theo bên ngoài, chấp pháp thế gian tưởng là thật là bị ngoại ma cám dỗ. Tâm chứa toàn tà vọng, tà niệm, lăng xăng làm đảo lộn bởi tham, sân, si, tự cao, ngã mạn, ích kỷ, hẹp hòi, gian dối đó là nội ma. Vì sao gọi các pháp vọng là Ma? Vì nó làm ngăn chướng, che chắn đạo chánh, tà niệm sanh khởi phủ vây nếu mê muội duyên theo. Sắc là thân, nếu lầm lẫn vì tà tưởng, cho là có hồn ai đó theo dựa hay nhập vào là thọ ấm ma. Cảm thọ suy nghĩ theo tư tưởng mờ ảo mà niệm vào là tưởng ấm ma. Sanh lời nói, hành động là hành ấm ma. Lòng kiêu mạn, cho ta là người hiểu biết, đứng ra bày biện cúng kiến, cầu xin van vái, sanh nhiều niệm qua sắc, thọ, tưởng, hành ấm ma làm dao động biển thức khởi dậy là thức ấm ma. Xưa nay vì mê nên ta cứ mãi lẩn quẩn, vùi chôn tánh giác trong vòng ma chướng, khi đủ phước duyên gặp được bậc chơn tu, giác ngộ xiển dương giáo pháp, dẫn dắt chúng sanh bằng chơn lý nhà Phật, cũng như ta đang gặp Phật thị hiện vào cuộc đời, dẫn dắt khuyên dạy ta ra khỏi ma giới là thoát khỏi thế giới ma, là cơ hội trở về Phật giới, bỏ ma cảnh trở về Phật cảnh. Người tu khó ra khỏi thế giới ma vì thói quen hưởng thụ dục lạc, chung quanh thường thích gần ma mà quên Phật. Tâm là cõi ma nên tán loạn, điên đảo, không an định được tâm. Người tu, dù đã xuất gia cũng thường gặp chướng nạn là ma sắc, khó ra khỏi nội ma và ngoại ma lôi kéo quyến dụ. Chỉ nhớ quang minh trí tuệ là hào quang kiên trì vững chắc uyên thâm, thận trọng tâm mới giữ vững chơn lý, giữ đạo tâm chơn chánh. Đạo và đời giống như bàn tay lật úp hay ngửa. Nếu úp lại là mê, lật ngửa ra là giác, đạo tại trong đời. Đời sống nếu nắm giữ, bám chặt pháp thế gian là mê, buông xả pháp ra khỏi tâm là giác, mê - ngộ chỉ là hai danh từ. Bậc trí tuệ đã giác không kẹt vào danh từ nào cả. Sáng suốt là thông thấu, rõ biết tất cả pháp thế gian hay pháp đã xuất khỏi thế gian, để không lầm lạc đắm nhiễm và biết cách viễn ly, trở lại sống với bản giác chơn thật, không dính trụ, bản thể quang minh vô nhiễm thường chiếu soi vạn pháp. Sự chiếu soi là thường không nhiễm vì những trận cuồng phong cuống hút của các pháp. Sự sáng suốt thanh tịnh có danh từ gọi là Bản Tánh Chơn Như. Không sáng suốt gọi là mê, do những trận gió bát phong là gió khổ, vui, lợi, khen, chê, tốt, xấu, cứ thổi liên hồi mất quang minh vì mê, gọi cõi tâm là thế giới Ta Bà uế độ bởi biển thức giao động, dậy sóng, từ những cơn gió bát phong, gây nên những trận bão lòng, đưa tâm người lao xao khổ đau giữa biển trần khổ. Tổ dạy :
Những ai dứt oan khiên túc trái
Mau thoát ra khổ hải mê tân
Giấc mơ ngàn kiếp tỉnh lần
Lối đi ngàn kiếp bước chân đã dừng.
Biển trần khổ là biển nghiệp thức, rất khó qua bờ giác ngộ giải thoát, nếu quyết lòng lìa mê thì liền giác. Phật an ủi, sách tấn ta, dù Ta Bà cách Cực Lạc mười muôn ức cõi nhưng chỉ khảy móng tay liền tới Tây Phương.
- Lìa mê liền giác.
- Bỏ phiền não tức Bồ đề.
- Bỏ Ta Bà là Tịnh Độ.
- Bỏ Địa Ngục tức Niết bàn
- Bỏ Phàm tức Thánh.
- Bỏ niệm Ma tức Niệm Phật.
- Lìa Vọng tức Chơn.
- Bỏ Mê là Ngộ.
- Bỏ tâm tà hiện ra tâm chánh.
Sống bằng đạo tâm phải thắm nhuần, thường tẩm ướp bằng giáo lý đều đặng , nếu không tẩm ướp chơn lý vào tâm chắc chắn tâm sẽ hư, vì giáo lý như chất muối để tẩm ướp cho người tu học, nhất cư, nhất động của ý, của tâm, niệm đều phải cần chơn lý. Bên ngoài là các pháp tà vọng vây quanh bởi trùng trùng duyên khởi, sắc vật nào cũng đẹp, mùi vị nào cũng thơm ngon, tiền của làm tăng sự sang trọng, quyền uy, địa vị, vật nào, sắc nào cũng hay thích nghi quyến rũ thu hút vì nó là dục lạc, chất liệu bồi bổ thêm duyên cho dục vọng tăng trưởng ham muốn của con người, càng làm người đã mê thêm tệ hại. Trở về sống với đời phạm hạnh, ít muốn, biết đủ, để sống bằng chơn lý vạn sự đều nan, rất khó, cần đầy đủ ngũ căn, ngũ lực, bi trí dũng, mới tinh tấn vượt lên được. Nếu con người không sử dụng được pháp Phật gọi là mạc pháp. Pháp Phật đã nghèo nàn vì không có người xài, không ai nhớ đến, đã bỏ quên bản lai diện mục, là bỏ mặt mũi, bỏ mắt trí huệ, bỏ bản tánh chơn như thanh tịnh, bỏ mắt mũi Phật chính tại tự tánh ta, bỏ Phật tâm là vô lượng quang minh sáng suốt, cứ mãi chạy vào rừng vô minh u tối, càng nhiều đời, càng mê sâu, bởi đã luân hồi từ vô lượng kiếp, vì mê loạn điên đảo mà bỏ Cổ Phật Nhiên Đăng ( đèn trí tuệ tự nhiên sẵn có từ vô thỉ kiếp ). Trở về cổ Phật là trở lại chơn tâm trí tuệ mà ta có sẵn, tất cả con người ai ai cũng làm được, nhưng vì mê trần cảnh, bỏ quên sự thanh tịnh nơi đất tâm nên đạo quả khó thành. Cổ Đức nói :
Phật thành được chúng sanh thành được
Thánh với Phàm cùng một bổn lai
Khác nhau kẻ tỉnh người say
Chớ ai thì cũng như ai đủ hình.
Phật là giác, đã bỏ mê gọi là giác ngộ. Nếu chúng sanh mê liền bỏ cũng là giác ngộ. Nếu là bậc Thánh bất giác bỏ quên tánh giác niệm vào trần cảnh lập tức trở lại phàm phu. Tu là tự sửa, tự ăn mới no, tự tắm mới mát, tự nhẫn nhục sẽ bình an, không hèn yếu mãi dựa vào cầu khẩn, lạy lục, van xin mà kinh Duy Ma nói, người còn nuôi dưỡng tâm niệm này là còn xiểm nịnh, tham cầu. Phật đã buông bỏ hết mọi quyền lợi, hạnh phúc, bỏ hết mọi thọ hưởng của thế gian, Ngài dạy ta tu tập hạnh xả ly, không hướng vào danh lợi, vì thế nên những gì Ngài đã chê bỏ không thể đem cho ta được. Phật không ban cho ai sự giàu có, hạnh phúc được, mọi nhân quả phước họa đều do tâm tạo tác, thì tâm phải tự dọn dẹp lấy. Pháp Phật là bình đẳng, nhân nào thì quả nấy, không thiên vị ai cả, có tu mới có chứng, không hành động theo sự mơ tưởng phi lý sai sự thật, sai chơn lý. Còn mơ mộng, là còn sống trong ảo giác, không sống được chánh giác. Cuộc sống mãi tưởng tượng bằng ảo giác trừu tượng giống như ta vẫn thức, không say ngủ mà lại có chiêm bao, vì mọi việc mong chờ không là sự thật, Phật pháp vô cầu. Nếu còn cầu khẩn là còn nô lệ cho pháp, nô lệ cho cuộc đời, nô lệ cho lòng tham, nô lệ cho tà vọng, tà niệm, tà tư duy, tà huệ. Là Phật tử chơn chánh, muốn tu được vãng sanh về thế giới Cực Lạc, phải trở vào tâm mà tự quy y Phật, không nô lệ quy y Thiên, Thần, Quỷ, Vật nào cả. Là con của Phật không ăn mày ăn xin, không xin pháp huyễn hóa. Tổ dạy pháp khuất thực chỉ vì hóa duyên để nuôi thân huyễn, dùng thân huyễn gần gũi chúng sanh mà dạy dỗ, nhắc nhở cho chúng sanh giác ngộ. Phật là Đức Thế Tôn, vì tôn kính đức độ tối cao mà người thế gian hết lòng tôn kính, tự thế gian tôn xưng gọi là Thế Tôn, là vua các pháp, là Pháp Vương. Phật tử là con Phật, là Pháp Vương tử, giàu tài sản trí tuệ như trưởng giả thì con ngài không thể ăn xin, ăn mày. Con Phật là Hoàng Tử, Công Chúa con nhà giàu, của cải, tài sản là giàu đức độ có sẵn, phải tự dùng khả năng, năng lực chính mình đứng thẳng vượt lên ra khỏi cuộc đời, làm chủ các pháp, không xin pháp nào cả, làm chủ bằng quang minh trí tuệ mới xứng đáng là con Phật, không uổng công tu, xứng danh là Phật tử, là con Phật. Ta đừng phỉ bán Phật bằng hành động nịnh bợ, van xin, ta đừng dùng tư tưởng biến Phật thành vị thần linh ban phước giáng họa cho chúng sanh, làm ô uế cõi Phật tại tâm ta, làm Phật chảy máu, càng tu càng chơn thật với chính ta và với mọi người bằng đời sống đạm bạc, phạm hạnh mới là chơn thật nghĩa bình đẳng giác. Khi tụng đọc kinh điển, cần nghiên cứu, rà sát những gì chưa hiểu, tự chiêm nghiệm thưa hỏi cận kề người đi trước là bậc Thầy, Tổ, Thiện tri thức chỉ dạy cho thông suốt, sáng tỏ chân thật nghĩa của ý kinh, gọi là năng chuyên, dùng năng lực chính mình y theo lý kinh, áp dụng chuyên cần tu học cho sáng tỏ nguồn tâm, để trau sửa tâm. Học rồi, đọc tụng rồi còn phải tu. Tu là tự kiểm soát tâm, coi kỹ còn niệm nào theo ngoại ma không? Ta đừng chấp vào pháp, tụng kinh thật nhiều mà tự cho là đã tu, là sai. Nếu đọc tụng kinh mà vẫn chưa biết đường vào tâm thì làm sao thấy Phật tánh được. Trí tuệ chưa quang sáng thì chưa biết cách tu sửa cõi tâm cho tốt đẹp. Theo ngoại ma là nhớ nhà cửa, chấp thật là của ta, tài sản, tiền bạc, vợ chồng, con cái coi còn thật là của ta không? Nếu còn niệm, thì tất cả là vọng ma, còn nghĩ nhớ chuyện ngoài thế gian là buồn vui, bực bội, thù oán, thương ghét, mến tiếc đều là niệm ma bên trong tác ý khởi niệm vào ngoại cảnh là khổ vui, lợi hại, khen chê, tốt xấu là nội ma, pháp ma đang hoành hành, mãi là tà vọng u mê, không chánh giác. Phật đang ở tại tâm mà ta không hề thấy, chỉ sống với ảo giác nên tà tâm thường sanh khởi, chơn tâm vô hình, vô tướng, không chỉ được. Vậy ai biết được vọng tâm ? Chính là chơn tâm trí huệ của tánh giác nhận biết được vọng tâm. Khi ta đau khổ, buồn vui, giận tức, bất mãn, bất bình, các niệm này thường biến hiện liên tục, mê muội gọi là biến kế sở chấp, biết rõ chính là chơn tâm giác biết. Nếu lầm chấp, bị vọng tâm cám dỗ, gạt gẫm là lầm pháp. Tâm mê muội sẽ dẫn ta suốt ngày luân hồi, quẩn quanh vào lục đạo, vào ngũ dục. Bậc dẫn đạo chỉ dạy cho ta thấy được vọng tâm, không chỉ được chơn tâm, khi giác ngộ tự người tu nhận biết chơn tâm, nhưng ta nên hiểu lìa vọng tức chơn. Tất cả các pháp đều là vọng ma. Nếu vừa khởi niệm liền giác biết đây là vọng tâm hiện lên đòi hỏi, dẫn vào ưa thích hay đến giận hờn, sân si là có tánh giác xuất hiện đã biết vọng là thấy được chơn. Ví dụ như, một mẹ sanh sáu đứa con, sáu đứa con đều là vọng, chắc chắn sáu đứa con không phải là mẹ. Nhưng con do từ mẹ sanh ra mà có sáu đứa, ta nương sáu đứa con mà biết chính mẹ nó sanh ra chúng. Mẹ là tự tánh tức chơn, sáu đứa con là vọng như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nếu được giữ gìn thanh tịnh thì chơn tâm sẽ thanh tịnh gọi là tri huyễn tức chơn. Tri tâm biết huyễn, sẽ hiểu biết được tánh chơn, tất cả các pháp thanh tịnh đều là chơn như, đắm mê pháp là theo huyễn, buông xả pháp tức chơn. Tánh giác là quang minh sáng suốt, biết đây là vọng tâm, vọng tưởng, biết pháp là huyễn tạm, không nắm giữ pháp nào được cả, dù pháp đó là hạnh phúc hay sang trọng, chỉ là ảo hóa không thật, biến hiện khi đủ duyên, hết duyên sẽ tan biến, nhất thời đến đi trong chớp nhoáng rồi sẽ mất. Nếu biết đó là hư ảo không tham đắm mê nhiễm thì trí huệ đã thông suốt được các pháp, tâm niệm tự nhiên rỗng lặng, thanh trong, là chơn tâm thường trú Tam Bảo. Thấy vọng nhờ hào quang sáng suốt thường chiếu soi, nhận biết rõ các pháp không lầm lẫn. Người tu giống như người thợ kim hoàn chuyên nghiệp, nhìn đồ vật bằng vàng, lập tức biết là vàng giả hay thật, không bị lầm, không bị lừa gạt. Nếu không thông suốt được pháp, nhìn vật nào, hoàn cảnh nào, cũng ham thích, là đi xa chơn lý vì thiếu sáng suốt, mãi duyên theo huyễn bỏ chơn, sống với tâm niệm mê muội, tâm không an ổn, không thanh tịnh.
Người tu theo chơn lý, hành hạnh Bồ Tát đạo là tu theo kinh nghiệm Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa rất chính xác. Ý kinh dạy lìa bỏ tất cả tướng mới là bổ khuyết tâm kinh, đã thâm nhập vào Bát Nhã tự tánh, làm chủ các pháp. Pháp không là chướng ngại, tùy duyên mà có tướng. Nếu trình độ người dạy cho cõi Thanh Văn thì hiện nói pháp Thanh Văn, tùy thuận trình độ người học mà thuyết pháp dạy cho trình độ Duyên Giác thì hiện tướng Duyên Giác. Chúng sanh muốn tu thập thiện thì Bồ Tát hiện tướng thập thiện. Tất cả trình độ, tùy căn cơ mà có thể thị hiện. Trưởng giả, Cư sĩ thị hiện hành Bồ Tát đạo, hạnh tầm thinh cứu khổ khắp chúng sanh, làm lợi lạc cho mọi người, lúc nào Bồ Tát cũng sống với tự tánh bát nhã. Tâm là kim cang bát nhã, là loại sắt bén, cứng chắc, cắt và phá vỡ tất cả, các loại đều phá được. Cần tu viên mãn tự tánh Bát Nhã, biết nội ma, ngoại ma, ngũ ấm ma, là biết được chơn tâm, không để ma bắt, để đời đời chịu khổ. Các vọng tưởng chỉ là vỏ bên ngoài, không bền vững, đều vô thường. Bậc Bồ Tát trên đường hoằng pháp lợi sanh, phải đầy đủ tư lương là kinh nghiệm nắm vững thế gian pháp, không nô lệ giới hạn chướng ngại bởi một hoàn cảnh nào mà sanh tâm bứt ngặt ưu bi khổ não.
Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh có nghĩa :
Đại là lớn ; thừa là xe ; vô lượng thọ là thọ dụng, dung chứa được tất cả pháp ; bình đẳng là rất công bình tự nhiên, nhân nào thì quả nấy, không sai lệch ; giác là trí tuệ sáng suốt, nhận biết tất cả các pháp ; kinh là kinh nghiệm thông suốt từ trí giác. Vậy đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng giác kinh là kinh nghiệm trí tuệ của tự tánh, trùm khắp rộng lớn, thọ nhận, dung chứa tất cả pháp sáng suốt, chiếu soi không sót một pháp nào. Tự tánh vốn bình đẳng, nếu gieo nhân nào thì hái quả nấy, không sai chạy một đường tơ kẽ tóc. Tự tánh đầy đủ kinh nghiệm, giác tất cả pháp. Kinh nghiệm hiểu biết giác ngộ thế gian và xuất thế gian, kinh nghiệm của tánh giác rất bình đẳng, thương yêu khắp mọi chúng sanh, đưa tất cả chúng sanh khổ đau về Cực Lạc. Người tu học Phật cần phát nguyện chí lớn, cương quyết, tối ưu, là điều nguyện làm Phật, buông xả cuộc đời lòng không nuối tiếc, là người đã hướng tâm về Tịnh độ, về cõi Phật, gội rửa tâm trong sạch thanh cao mới là tánh Phật. Phật tử là Phật con thì sau khi Phật cha tịch diệt, Phật tử phải làm như Phật cha để nối truyền chánh pháp, mới gọi là Phật hạnh viên mãn. Phật Tử phải nguyện làm Phật. Muốn làm Phật, phải chuẩn bị đầy đủ công đức để xây dựng cõi Phật, xây dựng bằng pháp bảo được tích lũy từ các công đức là Tứ Vô Lượng Tâm là từ, bi, hỷ xả, Tứ Nhiếp Pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, là công đức để tích lũy làm Phật, không nguyện suông bên ngoài mà cho là thành tựu được pháp Phật. Nên 48 lời nguyện, nguyện nào cũng thực hành chơn chánh. Tôn trọng lời nguyện là tôn kính Phật, không nguyện gian dối trước Phật thì van vái nguyện cầu rồi bỏ qua. Nếu không thực hành là gian xảo, dối Phật tại tâm mình, dối Phật hạnh mà còn dối luôn Phật Thích Ca.
Thệ nguyện làm Phật là tự tích lũy công đức, phải cúng dường vô số Phật, là cúng dường nuôi dưỡng vô số niệm giác tại cõi tâm. Cúng dường Phật là cung kính nuôi dưỡng Phật tâm, Phật hạnh, Phật Đức ; nuôi dưỡng bằng cách thực hành Bát Chánh Đạo ; nuôi dưỡng là bảo vệ giữ gìn, bảo vệ tất cả kinh điển Phật là pháp bảo. Thường trì tụng là quy y pháp, niệm pháp để thâm nhập kinh điển, phát sinh trí huệ rộng lớn, thấu đáo, thâm mật nghĩa của kinh, vì kinh nghiệm Phật là tủy là xương, là tinh ba, là tài sản của trí tuệ. Vậy cúng dường Phật là bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng bằng trí giác, làm sáng tỏ chơn lý, là pháp cúng dường Ba-La-Mật, đó là pháp cúng dường nuôi dưỡng Phật, gieo trồng săn sóc giống Bồ đề tại tâm địa, cho đất tâm có cây báu ngày thêm tươi tốt. Cúng dường tài vật là pháp thế gian, ta nương pháp để tập dần cách buông xả tâm, bớt lòng nhỏ nhen ích kỷ, hẹp hòi ti tiện, biết thương người, tập cho tánh bình đẳng, mở rộng tánh từ bi hỷ xả. Tất cả sắc pháp là vật chất, hoàn cảnh, đều hư hoại, nên cúng dường bằng tâm thanh tịnh mới thật sự sử dụng tâm chơn. Vì chơn là thật còn mãi mãi, có hành động bên ngoài tốt đẹp mà lòng trong sạch y theo giới luật, đã bảo vệ Phật pháp mới là chơn thật cúng dường, thì trí tuệ sẽ trong sạch sung mãn, thanh cao, tạo dựng đầy đủ đức độ để giáo hóa phục vụ chúng sanh tức cúng dường chư Phật. Tự săn sóc, giáo hóa chúng sanh tại tâm cho an ổn, sáng suốt, không để các chúng sanh nơi tâm là các tâm niệm tại lòng bị mù tối vì vô minh. Ta biết giáo hóa nuôi dưỡng chúng sanh bên ngoài và chúng sanh cõi lòng ta khi lòng còn điên đảo, não loạn. Đời sống là mọi hành động, mọi tâm niệm y chánh pháp, là cõi tâm hiện đang tích lũy các pháp an vui hoan hỷ, các tâm niệm đều an lạc kết thành tạng hoan hỷ nên có danh hiệu chỉ vào niệm vui vẻ, đã được tích chứa là Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát. Người tu pháp thế gian hay xuất thế gian đều đúng nhưng chỉ đúng ngay căn tánh, trình độ ngay cõi tâm, tùy tâm niệm, tùy xứ mà kiết tường. Người vẫn hướng về pháp tu nhưng tâm còn nuôi dưỡng niệm tham là Ngạ Quỷ đang tập tu. Người tu mà còn lẫn lộn phiền não là súc sanh tập tu. Tu mà còn si mê, còn mê tín, còn nuôi dưỡng tà kiến, là chúng sanh Địa Ngục tập tu. Tu mà còn nóng nảy, sân si, giật giành là A-Tu-La tập tu. Người tu thập thiện là đang hướng đến cõi Trời, nghe giáo hóa bằng lý văn tự. Phật dạy, biết đời là giả tạm, hợp rồi sẽ tan, sợ khổ lo tu là Thanh văn. Người giác ngộ các pháp biết rõ Thập Nhị Nhân Duyên, khi duyên khởi biết khống chế tâm niệm, biết giữ gìn tâm trong sạch là Duyên Giác đang tu. Người giác ngộ thông suốt các pháp, biết pháp bổn nguyên là tánh nhiễm, quyết lòng gìn giữ giới luật nuôi dưỡng cõi tâm thường thanh tịnh là A La Hán đang tu. Người ban rưới lòng từ ái thương yêu, lo giúp đỡ làm lợi lạc khắp chúng sanh, quyết dẫn dắt mọi người ra khỏi rừng mê biển khổ, có hành động vì lợi ích chúng sanh là Bồ Tát đạo đã tự giác, giác tha, trí huệ viên mãn chánh đẳng chánh giác, đại giác là Phật. Tất cả đều tùy xứ cõi tâm mà hiện pháp sự, giới hạn chấp trụ riêng của từng tâm niệm nơi con người gọi là pháp giới. Tạng tánh A Di Đà thường là đại quang minh chiếu soi tất cả pháp giới, trùm thế giới mười phương cõi nước. Nhiều pháp bảo là nhiều công đức tích chứa gọi là Pháp Tạng, chính là tạng thân Phật. Kinh nói, “Pháp giới tạng thân A Di Đà Phật hay Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật”. Ta đừng phân biệt pháp mà chê bỏ, cho là tốt hay xấu, tùy duyên của chúng sanh, tùy trình độ tu theo pháp thế gian mà tinh tấn, dùng Phật lực, trí giác chính mình vượt lên ra khỏi pháp giới, là biết buông xả tâm niệm hay tâm niệm còn chấp giữ lẩn quẩn vòng quanh lục đạo.
Hạnh nguyện Bồ Tát là không kỳ hẹn hay chê bỏ một pháp nào, chỉ đem tấm lòng thương yêu mà nhắc nhở, khuyên lơn, tu sao cũng tốt, ở pháp giới nào cũng được, không buồn phiền nhưng nếu không giác thì không được làm Phật, chưa giải thoát, chưa ra khỏi các pháp tham, sân, si. Giác ngộ giải thoát thì giác hạnh mới viên mãn, mới tuyên dương chánh pháp, dùng miệng lưỡi thế gian, chuyển thành kim ngôn ngọc ngữ nói lời từ ái, nói chơn lý chánh chơn, đem ánh sáng Phật pháp đến cho mọi người, gọi là lời vàng tiếng ngọc. Lời vàng là lời nói từ Phật tánh, niệm khởi bằng trong sạch chánh chơn, phát ra lời nói đưa người ra khỏi sông mê qua bờ giác ngộ. Tiếng ngọc là âm thanh phát từ cõi lòng trong sáng, chiếu rọi vào tâm người bằng âm điệu từ bi, gọi kêu các chúng sanh mê muội thức tỉnh, sáng suốt cõi lòng tinh anh minh diệu, thân phàm tục trở thành thân kim sắc, thân vàng không còn ô nhiễm lẫn lộn tạp chất thế gian. Mỗi mỗi lời nói từ miệng thốt ra là hào quang tỏ sáng, xinh đẹp như hoa sen đủ màu sắc. Tiếng nói là tinh ba từ ánh sáng trí tuệ, là chơn lý, người tu tự dùng năng lực sẵn có tự phát sáng quang minh. Không tu bằng vọng ảo mong cầu, dãi đãi, ngồi mát hưởng bát vàng, mong chờ mọi người đem đến cho sự sung sướng hưởng thụ, tâm niệm này không ích lợi cho Phật tâm mà còn đọa lạc, sa vào hầm hố vô minh, chịu tội lỗi với Đức Phật.
Ta tư duy xét kỹ lại lòng, đừng tưởng tượng cho Đức A Di Đà là có, bằng ảo giác trừu tượng huyễn giả, mà đó chính thật là đức độ con người, là tự tánh Di Đà vô biệt niệm. Tự tánh không còn là một niệm nào của thế gian vướng mắc. Ta không tự vẽ hình tượng A Di Đà bằng mắt thế gian mà chấp có tướng A Di Đà bằng ngũ uẩn hay bằng chất liệu thế gian. Nếu có tướng thì A Di Đà cũng bằng ngũ uẩn, phải dùng trí tuệ siêu phàm xuất khỏi thế gian, nhập Thánh là sử dụng bằng tuệ nhãn mà tri kiến Phật, nhận biết đức A Di Đà bằng vô lượng quang, vô lượng công đức, vô lượng thọ, thấy bằng tuệ giác minh tường. A Di Đà là pháp tạng, tạng pháp bảo đã được tích chứa bằng vô số, vô lượng, vô biên đạo đức. Nếu cho A Di Đà có thân tướng thì ngũ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng là giai không, không thật, hết duyên sẽ tan rã, không là gì cả, sắc tức thị không. Nếu tìm A Di Đà bằng sắc chính là thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai. Chánh tâm là chơn như vì niệm vào pháp huyễn hóa mới sanh ra hình tướng, theo tướng là theo huyễn vọng. Nếu con người biết dùng tuệ giác, lìa bỏ pháp trần, không đắm lụy, sống bằng tâm niệm xuất thế là pháp từ bi hỷ xả, là 4 tâm lớn vô lượng thì vẫn là con người không khác tướng. Tánh A Di Đà là thanh tịnh, chiếu soi, vô nhiễm, thường tịch. Còn tánh phàm phu là tham, sân, si, ái, phiền não, tất cả đều là pháp. Nhưng pháp A Di Đà trong sáng, tinh anh, pháp phàm tục thì ô nhiễm, pháp pháp hà tằng pháp nếu bỏ pháp thì không có gì cả, không nói gì cả, lìa tất cả pháp thì thảy đồng thanh tịnh vì pháp vốn không pháp. Danh từ A Di Đà là chỉ vào tự tánh mọi người, tạm mượn phương tiện là mượn pháp để nói, để thấy pháp vì A Di Đà là vô lượng công đức đã tích chứa thành tạng công đức ( nơi tàng trữ giới luật ) nên gọi là Pháp Tạng Tỳ Kheo. Ta đừng nên chấp vào tướng, vào tên tuổi. Kinh dạy, Pháp là mẹ sanh ra Chư Phật. Ta thường niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật hay A Di Đà Phật cũng là niệm pháp, là tự quy y Pháp. Nếu không pháp là không có danh từ, thì pháp nào pháp nấy cũng đều là pháp, không có tên, pháp không thật có tên gọi, có danh từ sai khác là do tâm niệm biến hóa đặt ra. Ta cần hiểu A Di Đà sáng suốt chính là tự tánh, ta mới tìm được pháp tu. Khi tự giác tri kiến Phật thì khảy móng tay liền tới Tây Phương. Nếu cứ tìm A Di Đà bằng tướng hình, tìm bằng tưởng tượng mờ ảo thì A Di Đà là đức tánh tại tâm đã tịch diệt, Phật tức tâm, không còn soi sáng nữa. Kinh nói “khi A Di Đà làm Bồ Tát”, sao Phật A Di Đà làm Bồ Tát ? Vì A Di Đà là tự tánh, thường dùng quang minh trí tuệ mà giáo hóa các chúng sanh mê muội trong tâm, bằng trí tuệ đầy đủ, là Bồ Tát độ chúng sanh vô số, vô biên tâm niệm còn mê muội, Phật hiệu A Di Đà là chỉ tự tánh vô lượng quang.
Tự tánh Di Đà vô biệt niệm
Bất lao đàng trực vãng Tây Phương
Bản tánh A Di Đà là tự tánh chơn như trong sạch, không niệm trụ vào một pháp thế gian, là vô biệt niệm. Nếu không lao vào ba đường ác là Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, tham sân si sẽ trực vãng Tây Phương. Dùng tự tánh chiếu soi, độ khắp tâm niệm u tối tại cõi tâm, quang minh chiếu soi là chư Bồ Tát nhắc nhở những niệm lầm lạc đã bỏ quên tánh giác, soi rọi sáng suốt cho chúng sanh trong tâm, thấy lại niềm hoan hỷ an lạc là buông xả u mê. Bồ Tát cũng nhắc nhở, giáo hóa chúng sanh, bên ngoài thị hiện bằng sự giảng thuyết cho họ biết pháp trần là vọng huyễn, chỉ lại được tánh cho chúng sanh bên ngoài tỏ ngộ. Người giác ngộ thuyết giảng, dẫn dắt mọi người chính là Bồ Tát thị hiện vào đời, hành Bồ Tát đạo, cứu độ chúng sanh. Phật là tánh giác vốn sẵn có nơi mỗi con người, tự xuất phát nói chơn lý là công đức, công hạnh của Bồ Tát, tự tích lũy cho Bồ Tát và chia sớt cho cả chúng sanh, dẫn độ bằng lòng yêu thương, giải tỏa các sự khổ của chúng sanh là đạo hạnh Bồ Tát. Nên A Di Đà là Bồ Tát Nhất Sanh Bổ Xứ mà cũng là Phật, là công hạnh đạo đức viên mãn. Giống như học trò hiện tại sau này sẽ là sinh viên và sinh viên sau này cũng sẽ là kỷ sư hay bác sĩ. Vậy Bồ tát hiện tại thì sau này cũng sẽ là Phật tương lai. Tự tánh Bát Nhã là pháp sanh ra chư Phật. “Viên mãn hạnh nguyện”, viên mãn hạnh Bồ Tát là thành Phật, đã thật sống với tánh giác mà từ lâu quên bỏ. Bồ Tát hành đạo thì vô cầu. Kinh dạy, bất cầu Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, quyền thừa, mục đích có các pháp có quả giác là dùng nhắc nhở chúng sanh trở về tối thượng thừa. Bồ Tát chấp nhận mọi căn cơ của chúng sanh nhưng không trụ vào thế giới của họ, chỉ gần họ mà khuyên nhắc, không bỏ chúng sanh, tùy duyên mà giáo hóa vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, bởi mê muội nên quên. Bồ Tát không chê bỏ, không hề muốn thấy một ai khổ. Kinh Pháp Hoa, có Bồ Tát Thường Bất Khinh nói, “Ta không dám khinh các ông vì các ông sẽ thành Phật”. Dù chúng sanh hiện ở trình độ nào, khi họ quyết tu đều thành Phật cả, đạo phật viên mãn vô cùng. Pháp giới nào cũng có Phật đang chờ, từ Địa Ngục đến Niết Bàn, xứ nào cũng có ánh sáng quang minh trí tuệ Phật chiếu đến, nơi nào Như Lai cũng trùm khắp nên Bồ Tát Địa Tạng không sợ địa ngục mà phát thệ nguyện, “Nếu địa ngục chưa trống không thệ không thành phật”. Như Lai trùm khắp nên địa ngục cũng có Như Lai chiếu vào. Đức Bồ Tát nguyện cứu chúng sanh nên phải vào địa ngục, không bỏ một ai. Nguyện vào quốc độ họ, bất cứ xứ nào mà tâm không nhiễm, không đắm lụy, không mê, chỉ vì nguyện lực cứu chúng sanh không màng cực nhọc vì chúng sanh vô biên thệ nguyện độ. Người tâm trí khỏe mạnh thì trí tuệ tinh thông, pháp nào cũng đến được, còn tâm niệm đau bệnh thì lừ nhừ, u ám, phải nhờ Bồ Tát Dược Vương trị lành bệnh mê, mới ăn được cơm hương tích, là chánh lý của Phật mà ôn nhuần đạo đức. Dược Vương là quang minh sáng suốt tại lòng ta, thường nhắc nhở những điều thiện lành, nhắc ta buông xả tham sân si là thường trị bệnh tâm cho ta. Cơm hương tích là pháp bảo giúp ta thiền định, ăn sâu vào cõi lòng, khai thị cõi tâm cho trong sáng. Chúng sanh là nói đến người chứa đầy loạn niệm tâm điên đảo. Bồ tát thị hiện là bác sĩ có đầy đủ kinh nghiệm để trị bệnh. Bồ Tát biết đủ pháp cũng như bác sĩ thuốc nào cũng biết. Bồ Tát chọn đúng pháp là đúng thuốc để trị bệnh cho chúng sinh hết khổ, nhắc nhở tự quy y lại Tam Bảo tại tâm, mà vô lượng kiếp đã xa lìa quên bỏ. Như Kinh Pháp Hoa nói Gả Cùng Tử bỏ cha mẹ, bỏ quê nhà là bỏ trí tuệ, bỏ tánh giác đi hoang vì ham cảnh vật bên ngoài. Cảnh vật là ngũ dục ( sắc, tài, danh, thực, thùy ), mãi mê đi mãi mà quên đường về, quên trở lại với quê nhà cha mẹ, quên đi con đường xưa Bát Chánh Đạo, quên cả tự tánh, như người say, mê muội, không nhớ trong áo có ngọc minh châu là hào quang trí tuệ rất quý. Ngọc sẵn trong mình mà không hay biết, chịu sống bần hèn nghèo khổ. Vì mê muội ta chịu nghèo nàn trí tuệ, nghèo pháp bảo, cứ sống bằng tâm niệm nghèo hèn là độc ác, hèn hạ, ti tiện, ăn mày, ăn xin của tạm bợ thế gian. Nếu đủ phước duyên nhờ Thiện Tri Thức nhắc nhở, chỉ khuyên, nhớ lại bên mình lúc nào cũng có ngọc quý là nhớ lại tự tánh sáng suốt, thường theo cùng ta đời đời kiếp kiếp. “A Xà Vương Tử cùng 500 vị đại Trưởng giả nghe vâng lời này phát lòng vui lớn”. A là vô lượng, Xà là rắn, Vương là vua, là tâm vua luôn cai quản những tâm niệm độc ác, vua cai quản giáo hóa cõi Ta Bà, 500 vị Trưởng giả là tướng chỉ vào quang minh của người tu có nhiều niệm giác, giàu có trí tuệ, giàu Thánh đức viên mãn, đã tròn đủ công hạnh. “Mỗi mỗi trên tay nâng lọng hoa vàng đến trước Phật đảnh lễ, dâng hoa xong rồi trở về ngồi một phía nghe Phật giảng kinh”. Mỗi niệm đều là niệm hoa sen trong sạch, hoa trí tuệ thành kính dâng lên đảnh lễ, dâng lên cúng dường tánh Phật. Cúng dường bằng mỗi niệm, mỗi niệm đều là quang minh. Dâng hoa vô ưu là dâng những niệm không còn phiền não, dâng hoa Mạn-thù-sa. Hoa Mạn-đà-là cúng dường bằng hoa trí tuệ sáng suốt tại cõi lòng, sực nứt hương thơm ngào ngạt, từ ngũ phần tâm hương là giới hương, định hương, giải thoát, giải thoát tri kiến hương. Khi trí tuệ chiếu soi là tri kiến Phật, thấy lại tự tánh nên thường giác nghe lại tiếng lòng thanh tịnh nhắc nhở, tâm an định vì đã nghe tự tánh A Di Đà thuyết pháp, tự tánh đang giảng kinh. A Xà Vương và 500 Trưởng giả là những gì? Ý gì mà được vào pháp hội Phật? A Xà Vương là vua tâm, vua của những tâm niệm u ám, độc ác tại cõi tâm đã sáng suốt giác ngộ, vô số niệm giác đã đầy đủ trí tuệ giàu có pháp bảo, nhiều tài sản, là chỉ vào 500 Trưởng giả, biết nghe được pháp Phật. Trưởng giả cũng là những tâm niệm cao thượng của người giác ngộ, có danh gọi là chư Bồ Tát, đã cảm hóa được các niệm vô minh độc ác, chuyển đổi thành tâm niệm thiện lành thánh thiện. Thành tựu pháp bảo quý báu là hoa trí tuệ mà đem đến cúng dường Phật tánh. Các tâm niệm đã trong sạch nhờ giới luật trang nghiêm, thường thiền định trong mọi hoàn cảnh nên tất cả pháp nơi đất tâm đều là giới luật an định, tỏa ngát hương thơm, hương giới, hương định, hương huệ. Nếu nghe thuyết pháp mà nghèo nàn trí tuệ thì không có hoa cúng dường Phật nên không hiểu gì cả, tắt lịm hào quang tinh anh của chơn lý, không đủ khả năng phát sáng, cõi tâm vẫn u tối vì vô minh, khó thâm nhập kinh nghiệm Phật để mở khai trí huệ. Ta đừng chấp vào pháp cúng dường Phật bằng vật thế gian là đủ, mà cần cúng dường bằng ngũ phần tâm hương. Quang minh vân đài biến pháp giới, cúng dường Tam Bảo khắp mười phương. Quang minh vân đài là mây lành sáng suốt, tỏa khắp mười phương thế giới, các cõi trong tâm đều chiếu tỏa hào quang trí tuệ trùm khắp cõi tâm thanh tịnh. Thập pháp giới đều là Tam Bảo, có chư Phật, chư Bồ Tát cùng Thánh chúng hóa hiện cúng dường bằng hoa trí tuệ, hoa vô ưu, hoa giải thoát, dùng huệ tâm cúng dường lên Đức Phật. Mỗi mỗi cầm đóa hoa bằng vàng là mỗi niệm, mỗi niệm sanh khởi đều từ trí huệ trong sạch quang minh, không nhiễm trược. Niệm niệm, niệm nào cũng là vàng ròng trong tay là tại thân ta, không còn pha lẫn tạp niệm trần lao, tỏa hương trí giác, hoa trí giác, hoa giới, hoa định, hoa huệ, hoa giải thoát, hoa từ bi hỷ xả, các loại hoa đủ màu sắc rực nứt hương thơm, hương đức hạnh, hương đạo quả đều là các loại hoa báu. Hoa báu là các niệm đã giác tự sẵn có trong tay nơi mọi người, là cầm lọng hoa trên tay mà cúng dường chư Phật. “Đến trước Phật đảnh lễ, dâng hoa xong rồi về ngồi một phía, đồng phát nguyện rằng, chúng con thành Phật rồi, đều giống như Đức Phật A Di Đà”. Dù làm được nhiều công đức bên ngoài mà không trở về với tự tánh thì không giống Phật A Di Đà, nên nguyện sau cùng là làm tất cả công tác Phật sự là các công đức, dâng hoa cúng dường tự tánh Phật để tích lũy công đức theo lời Phật dạy. Trí tuệ chiếu soi là chứng ngộ thành tựu viên mãn tự tánh thanh tịnh. Bản tâm chính là tự tánh A Di Đà đã giáo hóa vô số niệm giác, nên kinh nói, chúng con đều giống Phật A Di Đà. Ta đừng kiếm Phật ở đâu xa, chính Phật tại cõi lòng thanh tịnh, an lạc nơi ta. Nên A Xà Vương cùng các Trưởng giả đều phát nguyện thu nhiếp các tâm niệm, trở về với bản giác tự tánh A Di Đà, chính là bản lai diện mục, chính thật là căn bổn mặt mũi chủ nhơn ông. Cũng là bản thể Bát Nhã tại tâm. “Đức Phật biết tâm niệm của họ, bảo với các Tỳ Kheo rằng”. Phật bảo với các Tỳ Kheo là nói với bậc tu theo Nhị thừa đã chứng quả Thanh Văn, Duyên Giác chưa tri kiến tự tánh, chưa thấy tánh Phật, không dám hành hạnh Bồ Tát lục độ, chưa bố thí, chỉ tu riêng cho mình là tự độ. Không tiếp độ ai vì sợ âm thanh, sắc tướng, sợ ô nhiễm. Bậc Bồ Tát thì vô sở úy, sẵn sàng xông pha vào biển pháp, tâm vô ngại. Bậc La Hán quyết lòng dập tắt tham, sân, si, ái, phiền não, không mống tâm động niệm, nhưng chưa phát lòng vị tha, không muốn độ ai vì sợ thế gian đầy nhiễm trược. “Các Vương Tử này sau sẽ thành Phật”. Tại sao Phật nói với các Tỳ Kheo, sau này các Vương Tử sẽ thành Phật? Vì các Vương Tử là các Bồ Tát đã từng tich lũy công đức, giàu có đầy đủ trí đức, pháp hạnh tròn đầy, có đủ hương hoa, hương trí huệ, hương phấn đã cúng dường Phật nên Bồ Tát là các Vương Tử đã giàu tài sản là đức độ đạo quả, giàu trí đức, giàu trí tuệ viên mãn thành Phật. Nên Phật mới thọ ký cho các Vương Tử, các Tỳ Kheo vì chưa lập hạnh Bồ Tát, chưa có công đức cứu độ chúng sanh, mới là Nhị thừa, mới chứng quả Thanh Văn, Duyên Giác, mới giác ngộ được lý nhân quả, thập nhị nhân duyên, biết pháp này sanh, thì pháp kia sanh, pháp này diệt pháp kia diệt, lời này cũng là pháp. Phật dùng nhắc nhở các Tỳ Kheo cần tinh tấn tiến lên quả Bồ Tát để thành Phật. Các Trưởng giả cũng là người tu, là cư sĩ mà cư trần bất nhiễm như Ngài Duy Ma Cật, thường vui thuận hoan hỷ, thực hành pháp Lục Độ, dùng trí tuệ, giới hạnh, tự giáo hóa chúng sanh cõi tâm mình và chia sẻ, an ủi, khuyên nhắc chúng sanh bên ngoài, thường hành Bồ Tát đạo, để tiến lên quả Phật, nên các Vương tử, Trưởng giả được thọ ký thành Phật, Bồ Tát. Vì hạnh nguyện vào đời, mượn pháp huyễn dạy chúng sanh lìa huyễn. Các Bồ Tát thường bày ra ngũ dục để giáo hóa chúng sanh, mà không mê đọa trong ngũ dục. Thị hiện có thân luân hồi sanh diệt nhưng cõi lòng thanh tịnh sống bằng trí tuệ. Tâm niệm không luân hồi sanh tử, vì đức từ bi, hạnh cứu khổ thương chúng sanh mà các ngài vào thế gian nhưng lòng không nhiễm thế gian, sống hạnh tịch tịnh. “Đời trước khi còn đạo Bồ Tát, trải vô số kiếp đã từng cúng dường bốn trăm ức Phật”, nghĩa là đời đời, kiếp kiếp, bậc giác ngộ không bao giờ xa lìa, quên bỏ, đời nào cũng từng cúng dường tự tánh, nuôi dưỡng vô số ức tâm niệm mê lầm cho được giác ngộ, trong sạch, không quên bỏ niệm nào. Thường nhớ Phật là từng nuôi dưỡng tâm Bồ đề, nuôi dưỡng trí giác, luôn sáng suốt, đời nào, ngày nào, giờ phút nào cũng vậy. Nếu ta tu muốn được như vậy, phải thực hành như vậy. Con số bốn trăm ức Phật, không thể đếm nói hết được. Phật nêu lên số lượng bất tư nghì là vô số, vô lượng niệm đã giác, đã trong sáng, vô số niệm tự giác đã thành Phật. Nghĩa là trong đời sống không có giờ nào, thời gian nào thất niệm, loạn niệm, không dãi đãi, rã rượi, hôn trầm, không vì lý do, đổ thừa hoàn cảnh nào mà bất giác ; phải thường giác, không để tà niệm, tà vọng vì niệm ham muốn xen vào ; không chìu chuộng thỏa mãn cho ngũ dục, nô lệ cùng dục lạc thế gian ; niệm niệm thường giác, niệm giác nhiều không có số đếm gọi là vô lượng ức niệm ; không để thời gian lo việc riêng tư, cá nhân, tất cả tâm niệm phát khởi đều vì lợi ích cho đại chúng, lòng không thối chuyển. “Thời Phật Ca Diếp họ đều là đệ tử ta”. Vậy đệ tử của ta là ai ? Đệ tử của Phật chính là hạnh đức của các quang minh Bồ Tát. “Ta là Tự Tánh là Như Lai”. Nếu người thường sống hạnh Bồ Tát thì đời đời vô lượng kiếp đều là đệ tử Phật, đệ tử của tánh giác. Cõi Ta bà có mười kiết sử là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, tà kiến, thân kiến, biên kiến, kiến thủ. Nếu dứt được các niệm mê vọng này, không còn các niệm nhớ điên đảo nữa là buông xả các niệm si mê thập kiết sử đã chết, đã siêu thăng, đã vãng sanh Tịnh độ, thì tâm an định tức thời thành Phật là giác. Các tâm niệm bỏ mê liền giác, 10 niệm mê đã chết, chuyển đổi thành mười niệm giác, thì cõi tâm có mười chúng sanh đã thành Phật. Phật là giác, các tâm niệm bỏ mê liền giác. Trí tuệ là tuệ giác của mắt thứ ba, sáng suốt vượt khỏi mắt phàm tục, sử dụng mắt trí tuệ thì không xài mắt tục nữa, sự thấy đã xuất khỏi thế gian, mới hiểu được mật ýu7 Phật. Nên cúng dường mười Đức Phật là chuyển hóa cúng dường ; săn sóc mười niệm thế gian trí tuệ chiếu soi vào thập kiết sử đã chuyển hóa thành mười niệm giác. Các niệm mê thường giác đều là đệ tử của ta, đệ tử của tánh giác. Các niệm tự giác Thanh Văn, Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát đều là đệ tử của Ta, là đệ tử của Phật. Nếu dùng trí tuệ mà lìa bỏ các niệm mê lầm, không còn chấp trụ nuôi dưỡng trong cõi tâm, sống bằng tuệ giác, người đó chính là đệ tử của Phật mà trong kinh Phật nói là đệ tử của Ta. Ta là Bồ Tát cho tự tánh ta. Tự tánh là thầy, công đức các niệm Bồ Tát là đệ tử, tự tánh là trí vô sư, Bồ Tát là quang minh sáng suốt. Như vậy thầy cũng là đệ tử, mà đệ tử cũng là thầy, không còn niệm phân biệt, tất cả đều là bản giác đại quang minh chơn như thường chiếu “Các Tỳ Kheo khi nghe Đức Phật nói thế, đều rất vui mừng”. Đây là phẩm kinh, Phật phương tiện, dạy chúng sanh phát nguyện làm Phật, dạy cho tất cả chúng sanh, cho ta, cho các Tỳ kheo khắp đại chúng y giáo phụng hành, tất cả tâm niệm đều giác ngộ rất vui mừng trở về với tự tánh, đã tri kiến Phật, đại chúng đồng hoan hỷ.



Phẩm 11 :

CÕI NƯỚC NGHIÊM TỊNH

“Cõi Cực Lạc là thế giới công đức vô lượng trang nghiêm đầy đủ, không có tên gọi các khổ, các nạn của ba đường ác, ma não loạn, cũng không có bốn mùa nóng lạnh, mưa tối tăm sai khác”. Các công hạnh đạo đức người tu từng tích lũy, tích công dồn đức là những đạo hạnh để trang nghiêm quốc độ cõi tâm. Do công đức trang nghiêm nên đã thoát ra khỏi ba đường ác. Nếu cứ sống với ngũ dục là theo sự ham muốn, đấu tranh, dành giựt vì lợi quyền, địa vị, lầm tưởng mọi vật, hoàn cảnh là của ta, không được như ý thì khổ là chướng nạn đưa tâm người vào cõi não loạn, khổ đau. Kinh nói, không có bốn mùa là chỉ vào tự tánh an định, thanh tịnh, vắng lặng các pháp, trạng thái cõi tâm tịch tịnh, không thay đổi, vô thường, qua các niệm huyễn là thương ghét, buồn vui. Tâm vốn an lạc, hoàn cảnh vô tư, vì có cảnh nên sanh có tâm, có tâm mới sanh cảnh. Tổ dạy, “đối cảnh bất sanh tâm”. Khi tâm đã an lạc là những đạo hạnh được xây dựng bằng vô lượng công đức nên thành tựu được thế giới Cực Lạc, thế giới tâm sẽ an định, thường nhiên không thay đổi, không hiện tướng bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, nóng lạnh, giá rét, tối tăm, sai khác ý kinh chỉ tâm niệm chân chánh, không thay đổi. Vô thường sanh diệt qua các trạng thái đến đi, không theo gió Bát Phong là khổ vui, lợi hại, khen chê, tốt xấu làm mưa bão phong vũ, vì các pháp trong đời sống là dục vọng là khổ đau, điên đảo, não loạn, không có mây vô minh đen kịt che mờ tự tánh. Kinh nói là mưa tăm tối, khổ là tâm bứt ngặt làm não loạn, ưu phiền, khổ vì thân đau bệnh, tâm khổ vì bực bội, thân tâm đều khổ kinh nói là khổ khổ.
* Các pháp là vô thường tạm gá hợp vui, không chơn thật nên không đến lâu dài, hết duyên sẽ tan hoại, qua đi không nắm giữ được, bất như ý thì ưu bi đau khổ gọi là hoại khổ.
* Hoàn cảnh cũng vô thường không thật, khổ vui không thật, tùy duyên. Nếu tâm sanh thì có hành động, có pháp nhưng pháp là huyễn mộng, chợt có chợt không, có sanh có diệt, hành động việc làm không chắc, gọi là hành khổ.
* Sanh, lão, bệnh, tử là tứ khổ. Khi thọ sanh vào thai mẹ như chịu giam nhốt trong tù ngục gọi là sanh khổ.
* Già sợ mất thân, sợ chết là lão khổ.
* Bệnh hoạn đau đớn, rên la là bệnh khổ.
* Khổ sở đau đớn xác thân lúc tứ đại phân tán là chết khổ.
* Sợ chia lìa, xa cách người thân quyến, sợ bỏ cuộc sống ái yêu gắn bó sâu đậm nên không bằng lòng vì phải rời xa là ái biệt ly khổ.
* Tuy sống gần nhau mà không vui vẻ, ưa thích, muốn bỏ đi, không muốn gặp mà bất đắc dĩ phải đối diện, không đồng tâm hợp ý phải ở chung thường thấy mặt là oán tắng hội khổ.
* Ở đời, mọi việc đều mong muốn thành công. Nếu được thì sợ mất, nhưng pháp là không thật, vô sở cầu, vì yêu thích muốn nắm giữ không được nên cầu bất đắc khổ.
* Thân ngũ ấm là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Phật gọi là ngũ ấm ma, vì muốn sắc thân sung sướng, tốt đẹp, muốn không già bệnh, người mập muốn ốm, kẻ gầy muốn mập, muốn sức khỏe theo ý mình, muốn mà không theo ý là ngũ ấm xí thạnh khổ.
Tám loại khổ này tuy là huyễn nhưng là lửa tham vọng thiêu đốt người thế tục mà cõi Cực Lạc là chơn thường vĩnh viễn không có tên các khổ, các nạn vào ba đường ác, làm não loạn cũng không có, khổ nạn thế gian thì vô lượng không nói hết được. Sự khổ là chướng nạn, ngăn trở việc tu hành, ngăn chặn làm khó khăn đường về tri kiến Phật để thấy Phật tại tâm. Có tám nạn khổ :
1. Nạn địa ngục : Cõi tâm si mê gắn chặt cuộc sống trong tăm tối, thọ khổ không gián đoạn, vô minh che bít việc gặp Phật, tâm niệm toàn là u mê, si dại, làm con người ám độn, độc ác.
2. Nạn ngạ quỷ : Sự hình phạt cõi này chịu vô số khổ, làm chướng ngại việc nghe pháp, nhận biết được pháp, là người còn mang tâm địa ích kỷ, tham lam, nhỏ hẹp.
3. Nạn súc sanh : Cõi súc sanh chất ngất tràn đầy ưu bi, khổ não không ngừng. Đó là chỉ vào những pháp mà con người đang sống bằng các niệm não loạn, phiền não, hận oán, hoàn toàn không có điều vui.
4. Nạn đui, què, câm, ngọng, điếc, sáu căn thiếu thốn :
a) Đui : Là mù mắt trí huệ, không thông sáng pháp, không một tia sáng, hào quang chơn lý rọi vào cõi tâm, không tiếp nhận được giáo pháp.
b) Què : Là không đứng thẳng, luôn quỳ mọp, không vượt lên đứng vững, không ra khỏi những niệm mê si loạn tưởng, còn vướng trụ vào các pháp tà dại tham, sân, si.
c) Câm : Là không nói được giáo pháp minh bạch, không nói được lời tốt đẹp, từ ái, thanh cao, chánh ngữ, chỉ buông lời độc ác, si mê. Tổ dạy :
Miệng ta là cánh hoa sen
Một khi hé nở một phen thơm lừng
Tiếng ta là gió mùa xuân
Một cơn thổi nhẹ muôn dân mát lòng.
d) Ngọng : Là nói chơn lý Phật pháp không thông suốt, nói không suông sẻ. Tu theo Phật mà còn nói lời mê tín, dị đoan, nói quàng xuyên, giảng thuyết giáo lý mập mờ không vững chắc :
Hoặc là ăn nói quàng xuyên
Mà điều chánh tín lãng quên tấm lòng.
e) Điếc : Là chỉ nghe đựơc lời phàm phu, không sử dụng được tánh nghe trí tuệ, không nghe nỗi giáo pháp, không nghe được tiếng lòng chân thật, không nghe tự tánh Phật thuyết pháp, không nghe hiểu rành chân lý theo lời phật dạy.
f) Sáu căn thiếu thốn: Chỉ sử dụng được sáu căn phàm tục tăm tối, mê nhiễm, không sử dụng được sáu căn linh động của tánh giác trí tuệ.
5- Sanh vào nhà tà kiến: Nhà tà kiến là bỏ nhà Như Lai, trụ tâm vào cõi loạn động, mang mãi những niệm tin vào tà tín, mê lầm, chấp chặt tà vọng, tà tưởng không ra khỏi các sự tin mù quáng.
6) Không gặp Phật ra đời : Phật diệt độ nghĩa là không thể tri kiến Phật, không biết Phật tánh chính mình, tánh giác không hiển lộ, không thấy Phật tâm, Phật diệt độ là mây vô minh che bít, nên tánh Phật nơi tâm đã tịch diệt, chỉ còn những tâm niệm mê lầm quấn quýt.
7) Sinh ở Bắc Cu Lô Châu : Là người sống ở thế gian mà tâm rơi vào cõi đam mê, chìm đắm say sưa trụy lạc, vui chơi sa đọa. Xứ của họ là nơi không hề có bậc giác ngộ thuyết giảng giáo pháp. Người cõi này được hưởng phước thế gian nhưng vì mê phước khó nhận lãnh thông thấu nội sự giáo hóa chánh minh, chịu đọa trong phước, tuy sung sướng ở cuộc đời mà thiệt thòi nghèo nàn chân lý, đó là nạn của người Bắc-cu-lô-châu.
8) Nạn sanh ra ở cõi trời vô tưởng : Đây là tầng trời cõi vô sắc giới, là người sống trong vô tưởng. Người cõi này tâm ý chết lịm, vô ký, chấp chặt sự im lặng, không thông thấu cảm thông các pháp, dù sang giàu vẫn sống với tâm niệm riêng tư, không tin chánh pháp, lòng nuôi dưỡng ảo vọng, đê mê, dù học nhiều kinh điển vẫn vô minh, không thấy được sự thanh tịnh các pháp.
Phật nói thế gian vốn vô thường
Thế gian chìm đắm nói là thương
Vì thương nên lạc đường luân chuyển
Lặn hụp khổ đau sống đọa đày.
Học kinh, tụng kinh, ham tu mà hành pháp ngoại đạo, tâm vẫn u tối vì không thâm nhập chơn lý Phật. Nếu không biết tự tánh mà nói pháp chỉ là ma nói pháp phật, chưa tri kiến Phật. Đối với chân lý, nói không thông suốt là còn câm ngọng. Thấy biết rõ tự tánh là thấy Phật tại tâm, tâm hiện tại là Cực Lạc không còn nhân đọa ba đường ác, không còn khổ tam đồ, bát nạn,
“Lại chẳng có sông, biển, lớn, nhỏ, gò đống, hầm hố, gai gốc, cát sỏi, thiết vi, tu di, các hang núi đá hay núi đất, chỉ tự nhiên là bảy báu, vàng rồng làm đất, bằng phẳng, rộng rãi, bao la, chẳng hạn thể lượng, vi diệu lạ lùng, đẹp đẽ thanh tịnh, trang nghiêm trội hơn thể các thế giới mười phương”. Phật dạy, đời là biển khổ, khổ con, khổ vợ, khổ chồng, khổ danh vị, khổ tài sản, tiền của, khổ tình cảm v.v… vì lầm thật. Tất cả đều trong biển nghiệp, sông mê, chứa đủ nghiệp báo lớn nhỏ không đồng tùy do tâm người tạo tác niệm khởi là do nhân tạo mà có pháp có cõi thế gian, tâm là Cực Lạc thì không có biển nghiệp, sông mê này. Người sống cõi tâm là Cực Lạc không còn gò nổng là không còn niệm vào ganh ghét, thù hận, hầm hố, gai góc, cát sỏi, là cặn bả, bụi trần, những niệm tham dục, nóng nảy, ngu si, ích kỷ, gian lận, kiêu căng, ngã mạn, não loạn phá hoại làm đất tâm loang lỗ, mất đường quay về Cực Lạc. Thiết Vi, Tu Di là núi cao lớn, chắc chắn. Khi tâm an định sống bằng giới luật, chánh chơn, giới như tường đồng, vách sắt, giới là tâm vô nhiễm, định là vô tư. Tu Di là trí tuệ, là thế giới chư Phật, chư Thánh, nơi hội họp thuyết pháp, nơi hội tựu trí tuệ của tánh giác, là Tịnh thổ ( đất tâm ) của thế giới trong sạch, tự tánh thênh thang rộng lớn. Tu Di to lớn hơn các núi khác, ý nói không gì hơn tự tánh. Nên kinh nói đến núi chúa Tu Di là chỉ sự vô thượng cao tuyệt của tánh giác. Phật mượn tướng núi chúa Tu Di diễn nói trong các kinh, tất cả là phương tiện thuyết giảng, Phật dụng tướng để chỉ tự tánh là tánh vua. Trong tâm có tất cả Phật, Bồ Tát, La Hán, Duyên Giác, Thinh văn là những danh từ chỉ vào con người đang sống bằng tâm giác ngộ cao thượng rộng lớn, vĩ đại, tột cùng siêu xuất thế gian, đã lìa hết luyến ái, đắm nhiễm cuộc đời, sống đời vô nhiễm thanh cao. Kim cang là tâm, bậc giác ngộ này đã từng sống đời phạm hạnh, tích lũy công hạnh bằng bảy báu, đất tâm bằng phẳng không còn niệm phàm tục, tự tánh thanh khiết tinh anh là vàng ròng, không chen lộn chướng ngại bởi gò nổng, ham muốn, ái yêu. Tâm địa là trí tuệ rộng lớn bao la, không hạn lượng, đó chỉ vào những đạo hạnh đức độ thành tựu viên mãn của người thật tu đầy đủ giới định huệ. Hạnh Bồ Tát, pháp lục độ xây dựng công đức, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ là các báu tự nhiên từ đạo đức thể hiện, không tìm kiếm cầu xin mà có. Bảy báu là vàng bạc, lưu ly, thủy tinh, mả nảo, hổ phách, mỹ ngọc là sắc tướng tượng trưng chỉ vào những đức tánh cao đẹp, trong sáng thanh tịnh nơi con người gọi là thiện nhân. Kinh mượn tên những vật quý báu hiếm có nhất thế gian chỉ ngay đạo hạnh đức độ người tu, sống với tâm cùng cực an lạc đẹp đẽ sáng suốt gọi cõi tâm là Cực Lạc. Nơi có các báu là những đức tánh đã được trang nghiêm gọi là thế giới Phật. Thế giới đó ngay trong tự tánh thanh tịnh, trong sáng tại con người. Cõi Cực Lạc nơi tâm đã an ổn, thái bình, tâm an tịnh, không còn niệm loạn động sinh khởi, bỏ niệm đấu tranh, giành giật, chỉ cõi nước tịnh, tâm bình thế giới bình. Các báu là pháp bảo trân quý thành tựu pháp bảo từ đức tánh từ bi, hỷ xả, bố thí, nhẫn nhục… không còn tâm hạ tiện ích kỷ, hẹp hòi, buồn giận, khen chê tâm niệm đều bình đẳng, niệm nào cũng giác, niệm niệm đều chánh, đều định tĩnh. Đất tâm là vàng ròng rộng lớn không hạn lượng, giới hạn tốt xấu, khen chê, lợi hại, chứa tất cả các niệm mà không vướng trụ vào niệm nào, không pháp nào cho là của ta cả, có mà chẳng nghĩ tưởng phân biệt, dù khởi niệm hay không khởi niệm rất nhiều, rất nhiều, vẫn không hề vướng trụ mà sanh pháp, đồng như không, niệm niệm đều vô sanh, tâm tịnh, không loạn, trí tuệ trùm khắp thênh thang vi diệu, đẹp đẽ lạ lùng, hy hữu chưa từng có. Cõi tâm đã được trang nghiêm thù thắng, nên kinh nói tự tánh Di Đà vô biệt niệm, bất lao đàng trực vãng Tây phương hay tự tánh Di Đà duy tâm Tịnh độ, là vô lượng quang ( hào quang vượt trội hơn hết thảy mười phương ). Tánh giác đã xây dựng bởi vô lượng công đức, sự thọ nhận chiếu soi vạn pháp vô nhiễm, sừng sững, bền chắc mà trường tồn, không sanh diệt, dung chứa thọ nhận hết các pháp gọi là vô lượng thọ. A Nan nghe xong, bạch Thế Tôn rằng: “Nếu cõi nước đó không có núi Tu Di Tứ Thiên Vương thiền và Đao Lợi Thiên Vương thì nương vào đâu mà trụ?”.
Tứ Thiên Vương ở cõi Trời Đao Lợi là tầng trời thứ hai trong sáu tầng trời cõi dục giới. Cõi chư Thiên là cõi tâm trong sạch của người tu thập thiện, giữ trọn vẹn mười giới. Phật bảo A-Nan, “Hết thảy chư thiên trời Dạ Ma, Đâu Xuất cho đến sắc giới, nương vào đâu mà trụ?”. A-Nan do nghiệp chẳng thể nghĩ bàn nên đạt được như vậy. Vì chúng sinh tâm lượng không đồng, nghiệp quả không giống nhau, bởi tâm niệm tạo tác thành nghiệp, hành động do thân khẩu ý ; ý khởi ác liền niệm vào pháp ác sanh nghiệp đau khổ, bất an, khổ sở ; ý lành khởi niệm lành, nghiệp thiện quả an vui, nghiệp thiện ác do tâm mà có pháp, các pháp đều biến hiện xoay vòng trong hư không. Núi Tu Di cũng là pháp tướng, kinh chỉ đến sự to lớn tuyệt đối, vĩ đại nhất của tự tánh, các pháp đều như huyễn nên Đức Phật hỏi A Nan “Các cõi nương đâu mà trụ?”. Tổ dạy, lìa các tướng là chơn thật tướng, không thật có tướng hình nào cả, chỉ vì chúng sanh nghiệp lực không thể nghĩ bàn nên có sai khác như vậy. Các chư Thiên ở tận hư không biến khắp pháp giới chẳng trụ nơi nào, vạn pháp do tâm tạo, vạn pháp cũng quy về tâm, nên có hành động thiện ác, mà có nghiệp báo sai khác không nói hết được. Con người thọ nhận thân tướng cũng do nghiệp báu phước họa thiện ác khác nhau, mặt mũi đều khác do nghiệp hiện tướng, nhân nào quả nấy không bàn luận nói hết được.
Đã gieo nhân tất nhiên có quả
Phàm nghiệp nào cũng tự duyên xưa
Dù đời vạn gió ngàn mưa
Đó là huyễn cảnh tâm thanh vẫn nhàn
Nhớ rằng giả cảnh thế gian
Là duyên tan hợp là sầu ưu bi.
Bản thể chơn tâm vốn bình đẳng nhưng sự giác ngộ mỗi người không giống nhau, tùy thuộc vào chủng tánh, tùy trí giác tu hành buông xả các pháp nhiều hay ít mà nói quả vị sai khác. Cần xây dựng thánh đức chư Phật có thế giới tùy thuộc phần giác cũng chẳng nghĩ bàn. Đều do đức độ, công hạnh tự tích lũy từ thiện hạnh nơi con người mà tâm có sự sáng suốt y theo trình độ. Căn tánh là chánh nhân mà có chánh quả, tạo ra có thế giới các cõi cũng từ năng lực tu mà có quả giác, tự chứng phần của cõi tâm mà phát sinh trí tuệ thể hiện sự hiểu biết không giống nhau. Kinh Bảo Tích nói, vua Diêm La nói với tội nhân “Chẳng có một chút tội nào do tự ta thêm vào cả, có tội do chính các ngươi tự tạo, nay đến ngày báo ứng, có quả báo do nghiệp mình tự chiêu cảm mà thọ nhận, không ai cầu xin, chịu thay được”, nên quả báo không thể nghĩ bàn. Tổ Lâm Tế nói, “Muốn biết Phật, Tổ chỉ cần nghe pháp, biết pháp biết những việc, những hoàn cảnh hằng ngày có thiếu chi đâu?”. Thần quang là tánh giác từ sáu căn chiếu soi không hề gián đoạn, đó là hào quang trí tuệ từ sáu căn thanh tịnh thường chiếu vào các pháp không ngưng nghỉ. Nếu ta biết các pháp là vô thường, do duyên nương gá tan hợp thì sẽ tiếp nhận Thánh lực vào thế giới chư Phật không thể nghĩ bàn. Nếu ta tu biết quay vào tự tánh, bỏ hết tham sân si, tự quy y Phật tánh, một lòng cùng tự tánh, bỏ hết mọi niệm còn vướng trụ, dính kẹt thế gian, tâm định tĩnh, chánh niệm, thường sống với tánh giác thì xây dựng thiện căn vô lượng không thể nghĩ bàn.
Thánh Phàm cũng ở tâm ta
Bỏ tham là Thánh đem vô là Phàm
Ẩn là quên việc thế gian
Không mê, không nhiễm, không ta, không người
Thân Phàm tâm Thánh vẹn mười
Không còn phiền não chuyện đời tỉnh mê.






Phẩm 12 :

ÁNH SÁNG CHIẾU KHẮP

Tất cả các pháp môn tu, mục đích đưa hành giả quay về ánh sáng chơn lý, về với tánh giác hào quang trí tuệ.
Pháp niệm Phật dùng phương tiện nhờ hồng danh Phật, giúp ta nương theo, để thường nhớ công đức Phật. Nhờ Phật hiệu là tha lực để xả bỏ bớt tạp niệm, tâm chuyên nhất trở về tự tánh A Di Đà, cũng là danh hiệu của tánh giác chính ta, tự quay về tự tánh là tự quy y Phật. Tu pháp môn nào cũng phải chăm chú giác biết ngay niệm hiện đang sinh khởi bằng trí giác, theo dõi trực chỉ vào tâm, rà sát từng niệm. Nếu mãi chấp các niệm ngoài thế gian, dù làm phước to như xây cất tô điểm các pháp hữu vi, nguy nga tráng lệ mà không biết tu sửa bản tâm, cứ chấp vào việc làm phước cho là tu, là tu bằng tư tưởng sai lạc, vì còn trụ vào vọng tưởng, mà Kinh Duy Ma nói cất nhà trên hư không, chưa làm lợi ích được gì cho tâm cả. Tổ dạy, “Tu mà không kiểm soát được nguồn tâm chỉ vô ích”. Tu là hướng vào tâm niệm, kiểm soát con khỉ tâm, con ngựa ý. Phật nói là tâm viên ý mã, không chấp vào hình tướng nào, vô ngã tức Niết Bàn. Thân chỉ là dụng cụ vô tri, vô tư, không tốt xấu, không tham lam, chỉ do ý niệm dính mắt vào trần cảnh mà sanh tâm ý niệm và pháp do phân biệt có tâm là niệm sự tốt xấu, có tham lam, có vui buồn, vinh nhục, kiêu mạn… Nếu niệm không sanh khởi thì minh sẽ hiển lộ, cứ chú ý vào tâm niệm mà công phu. Tổ nói, sát sanh thăng Thiên đường, nghĩa là sát hết các niệm vô minh lìa vọng niệm, bỏ tà tri tà kiến, bỏ sự thấy nghe, dứt mọi ý niệm tâm sẽ an lạc hạnh phúc, nên nói sanh Thiên đường. Niệm dính vào vật bị có, gọi bằng danh từ là tâm, chấp sắc, chấp vật cho thuộc sở hữu của mình như nhà tôi, đất ruộng tôi, chồng tôi, vợ tôi, con tôi. Mọi sự vật hiện hữu vốn vô tình nhưng do niệm dính vào sắc, vào vật bị có, tạm gọi là tâm. Nếu cho rằng tôi được những thứ hiện hữu, tạm thỏa thích tưởng thật cho là hạnh phúc. Bậc giác ngộ không niệm chấp vào một thứ gì để làm tâm cả, không khởi ưa thích, không tâm yêu mến, không niệm chán bỏ, biết sự thật các pháp là vọng huyễn nên lòng không ràng buộc vào khổ sở, không cần gìn giữ, không sợ mất mác, không sợ chia ly, sống với lòng vô phân biệt, nghĩa là không niệm vào vật gì, điều gì, lìa tứ tướng, không chấp ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.
1. Người phàm phu nhìn vào sắc thân tứ đại cho là ta, tham sống, sợ chết, gọi là ngã tướng.
2. Lòng còn thương ghét, giận hờn, ý chẳng bình đẳng gọi là nhân tướng.
3. Niệm tưởng, nghĩ nhớ, ham muốn của phàm phu, duyên theo dục vọng, dẫn dắt vào lục đạo, niệm niệm chẳng dừng, không tu giải thoát là chúng sanh tướng.
4. Tâm thức chưa diệt tiêu nghiệp chướng, thường vọng động, phát khởi chẳng ngộ được pháp vô sanh, không sống được giới chơn không thật tánh, thường theo tâm cảnh, ý và thức dẫn dắt gọi là thọ giả tướng.
Bốn tướng này, kinh Kim Cang nói là tứ tướng phải lìa, không còn chấp ngã, chấp nhân, chấp chúng sanh, chấp thọ giả, không gì là của tôi nên thảnh thơi, an lạc vô cùng, dù hiện có tất cả mà tâm không chấp. Tâm không giữ ruộng thì không khổ vì ruộng, tâm không có vợ con thì không khổ vì vợ con, tâm không chấp tài sản thì không khổ vì tài sản, rõ biết tất cả pháp tan hợp tùy duyên. Bản tánh chơn như là trong sáng, vắng lặng, vẫn thấy, vẫn nghe, vẫn hiểu biết mà không dính mắc vào thấy nghe, không chấp trụ vào mà sanh tâm đau khổ, vui buồn, thương giận, tuy thấy nghe mà chẳng thấy nghe gọi là tâm thể tịch lặng. Chỉ vì phát khởi vọng tâm, muốn nghe, muốn thấy nên mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mê muội là của chúng sanh. Phật thì vô nhãn, vô nhĩ, vô tỷ, vô thiệt, vô thân, vô ý, vẫn nghe mà tánh giác sáng suốt không chấp vào pháp thế tục, không nghĩ nhớ việc thế tục, Phật là tri giác vô tướng. Đức Phật nói, “Nếu ai nói Như Lai có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp là phỉ báng Như Lai” vì Như Lai là hào quang trí tuệ sáng suốt chiếu soi trùm khắp, vì thương muôn loài mà thị hiện có tướng là Thái tử Sĩ Đạt Ta để chỉ tánh giác, có pháp nương tạm vào sắc tướng ngũ uẩn mà hoằng truyền giáo pháp, thị hiện có tướng bằng những danh từ Bồ Tát làm phương tiện đem lợi ích để giáo hóa chúng sanh. Bổn tánh chơn như thường thanh lặng, còn chúng sanh thường quen sống với ồn ào, náo loạn. Tâm niệm khởi diệt sanh như trò huyễn, vui không thật, buồn cũng không thật, không pháp nào bền cả, chạy nhảy, lăng xăng như khỉ, vượn. Khỉ, vượn thì nhảy nhót trên cành cây, chúng phàm phu ý tưởng mê muội thường niệm muốn ham, tâm ý đùa vui, nhảy nhót, nô đùa thỏa thích trong ngũ dục là tài, sắc, danh, thực, thùy. Các pháp biến hiện hợp tan, đến rồi đi, không thật, nên lúc hợp thỏa mãn thì vui, lúc tan hoại thì buồn, đó chỉ là vọng trần sanh diệt, thoạt có thoạt không, vì lầm tưởng cứ nhận vui buồn, sướng khổ là của ta, là điều làm chúng sanh bất an, bất mãn. Ngài Huệ Khả nói với Tổ Đạt Ma, “Bạch Thầy, tâm con không an”. Tổ bảo, “Con hãy đem tâm ra đây ta an cho”. Nhưng ngài Huệ Khả tức là Thần Quang tìm hoài không có tâm. “Bạch thầy, con tìm tâm không có”. Tổ nói, “Ta đã an tâm cho con rồi đó”. Danh hiệu Thần Quang có nghĩa, thần là thần thức, quang là sáng, vì có niệm khởi nên có tâm, nếu dứt niệm, vô niệm thì không có tâm nào cả, tìm không được tâm. Vì tâm là danh từ để gọi, là trò huyễn nên chẳng có tâm nào thật, sự biến đổi tùy duyên, chỉ là trạng thái nhất thời sanh diệt vì mê, chúng sinh nhận vật làm tâm, cho là thật, mãi đuổi bắt ảo mộng, như muốn nắm giữ bọt bóng, là nắm bắt tà vọng nên các pháp tự đến tự đi, buồn vui, thương ghét là trò ảo. Bậc giác ngộ đối trước cuộc đời nhiều thay đổi, quán xét thông suốt sự thật vạn pháp và sự vận hành chuyển động của vũ trụ vốn tùy duyên, gặp hoàn cảnh nào cũng dửng dưng, tâm an, không loạn động, điên đảo, định lặng, trong sáng vì biết duyên tan hợp như trò mộng, không sợ hãi lo âu. Nếu lầm chấp cho pháp là thật, khi pháp không còn tồn tại, thay đổi thì bất bình, đau khổ. Người tu biết trí tuệ là sự nghiệp, ngoài ra chẳng cầu được gì cả. Sống với trí tuệ là sống với sự nghiệp, giữ gìn chơn lý là gìn giữ tài sản của chư Phật, không để mất. Sự sanh diệt của nguồn tâm giống như nguồn nước chảy, cứ mãi tuôn trôi. Tâm niệm ta cũng tuôn chảy mãi không ngừng. Ta không ôm giữ hay chấp trụ, gìn giữ hay xua đuổi được. Nếu trụ vào tâm bao nhiêu việc là sanh bao nhiêu pháp, có bao nhiêu pháp mê vọng là khổ bấy nhiêu. Tu là không nương gá vào vọng chấp cho là của ta, chỉ nhớ tu là hằng sống được với tánh giác ( Phật tánh ), vẫn có niệm khởi mà tánh giác là trí tuệ thông suốt minh bạch chiếu soi vào niệm khởi, biết pháp giả hay chơn nên không ôm chấp một pháp nào mới không sa đọa vào rừng mê biển khổ.
Trí tuệ là sự nghiệp của người tu “Duy tuệ thị nghiệp”. Giàu của cải thì của cải cũng mất, giàu trí tuệ thì không mất bao giờ, mà càng ngày càng tăng trưởng nuôi lớn tánh đức từ bi.
Công dụng tâm niệm như dòng nước chảy không ngừng, nên lúc đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, nghỉ đều có niệm. Ngủ cũng có niệm nên sanh có chiêm bao mộng mị đủ thứ, niệm vào ham muốn, thương yêu, thù hận... vẫn liên tiếp niệm. Vì biết chúng sanh thường sống với loạn niệm, nên Thế Tôn mới dạy phương pháp niệm Phật để niệm nhớ trở lại bản giác, tự buông bỏ, khắc phục các vọng niệm, thu nhiếp thân tâm chỉ còn nhớ tánh Phật, là tự nhớ lại tánh giác tại nơi con người đang niệm Phật là nhớ tự tánh (tánh tự nơi ta). Niệm Phật chính thật là niệm tánh giác, Phật là tự giác, giác tha thì giác hạnh mới viên mãn. Ta không chấp vào hình tướng bên ngoài mà bỏ Phật tâm, cần đọc tụng kinh điển, nương vào giáo lý, tiếp nhận lời dạy của Phật Tổ, nương vào kinh nghiệm từ trí tuệ chư Phật mới tu đúng đường Phật dạy, không nghe theo bên ngoài bày biện sẽ tu lạc theo ngoại đạo. Nếu dụng công tu tập mà tu không đúng chánh pháp sẽ như công dã tràng xe cát biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì.
Ta tu mà còn chấp vào pháp là còn tham. Làm tất cả công việc thế gian mà không chấp trụ vào một chỗ nào. Làm những phước to lớn như xây cất chùa, trường học, xây bệnh viện, nhà dưỡng lão, cô nhi viện, bố thí từ thiện tất cả vì mọi người, vì sự khổ khó, dốt nát, bất an của con người muốn họ được an ổn, bình yên mà hành sự đó là việc làm của bậc Bồ Tát, vì lòng thương yêu, không vụ lợi riêng tư mà làm tất cả, tâm thật minh bạch, trong sáng, không vì cá nhân, không niệm vào dính kẹt vào khổ vui, ỷ lại, kiêu mạn, danh vị, đó mới đúng là Phật sự ; làm bằng lòng trong sạch, tự giác thanh tịnh thì phước báu trùm khắp mọi người, hành động bằng tâm diệu hỷ rất thù thắng, việc làm phát xuất từ sự vi diệu. Chơn không trực chỉ là diệu hữu từ lòng đại bi, không dính kẹt pháp trần, pháp thành tựu từ đức độ công hạnh từ bi, việc làm này là của bậc Bồ Tát. Trong kinh nói đến Đức Quán Thế Âm khi thị hiện, Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát cúng dường chuỗi Anh Lạc, Bồ Tát Quán Thế Âm không nhận. Quán là xoay vào lòng mà quán xét âm chất, coi lại đức hạnh đối với đời sống tại thế gian, dùng hào quang sáng suốt tại tâm mà chiếu soi chiêm nghiệm. Đức Phật khuyên Bồ Tát Quán Thế Âm nên nhận chuỗi Anh Lạc. Chuỗi Anh Lạc là nhiều tâm niệm tự giác tinh anh đã sáng suốt, an lạc kết thành. Đức Quán Âm tiếp nhận tất cả, Ngài nhận mà tâm không hề có một niệm vướng bận, không gìn giữ dù là vật quý báu, không làm của riêng tư vì Ngài biết đó là pháp, không khởi tâm niệm ưa thích hay chán chê, Ngài nhận tất cả pháp làm phương tiện đem lợi ích giáo hóa chúng sinh. Bồ Tát đem một phần cúng dường cho Đức Phật Thích Ca, một phần cho chúng sinh. Ý cúng dường cho Đức Thích Ca là cúng dường cho tự tánh, nuôi dưỡng, cung dưỡng Phật tại tâm bằng thánh đức thanh cao, tịch mặc, hạnh vắng lặng các pháp tâm A Lan Nhã là đạo hạnh nuôi dưỡng tánh Phật càng thêm rộng lớn, vì không vướng bận vào tài vật mà sanh tâm, dù chuỗi anh lạc rất quý đối với thế gian nhưng hạnh tịch mặc, buông xả vắng lặng, sáng suốt cao quý, vô thượng không pháp nào bằng, không niệm nhớ các pháp trần tục, đó là tự cung dưỡng, cúng dường cho Phật tâm, nuôi dưỡng cho trí giác minh bạch giữ thanh lặng cho tự tánh chính mình. Một phần chia cho chúng sanh là dùng sự tướng hóa hiện ra các pháp để phương tiện giáo hóa cho chúng sinh được lợi ích, mục đích mượn các tướng làm lợi lạc quần sanh. Kinh nói, các Bồ Tát bày ra ngũ dục, diễn nói ngũ dục nhưng không hề đam mê ngũ dục, thường chê trách ngũ dục, không đọa trong ngũ dục. Quán Thế Âm là tự quán xét lại lòng, lắng nghe từ âm chất đức hạnh tại lòng, ai ai cũng có Quán Thế Âm, tâm có tất cả. Mỗi khi đối diện sống chung mọi hoàn cảnh ở thế gian phải dùng hào quang tuệ giác sẵn có nơi con người mà chiếu soi các pháp “thế Thế thường hành Bồ Tát đạo”. Hiện tại sử dụng tất cả pháp thế gian, vì muốn khuyên dạy, nhắc nhở chúng sanh thấy lại tánh giác sáng suốt, không còn niệm nhớ vào pháp mê nhiễm, thọ tất cả mà không gì là của ta, biết pháp thành tựu đều do nhân duyên, có hợp có tan là huyễn tạm, vô thường, quán vào âm chất, âm thanh tại lòng, nghe tiếng kêu cứu của các niệm mê si còn đau khổ tại lòng ta. Các niệm này là những chúng sanh đang chịu đọa đày trong tù ngục tham, sân si. Nếu hiện tại giải tỏa được các sự khổ thế gian gọi là Thế Gian Giải, nguyện độ tất cả tâm niệm. Quán tự tại coi tại lòng ta, có phải là cõi tâm Bồ Tát hay cõi tâm còn nuôi dưỡng Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục. Người tu phải phát thiện nguyện dùng tánh giác thấy rõ tâm niệm tại lòng là Quán Âm Tầm Thinh Cứu Khổ nguyện. Phật dạy, Phật Pháp bất ly thế gian giác. Sự giác ngộ không rời pháp thế gian, giác ngay cuộc đời, nên có câu rằng đạo ngay trước mắt. Khi ngộ bản tâm các pháp đều bình đẳng, sự hiểu biết là chơn lý, biết pháp thành tựu do duyên hòa hợp, có tâm cũng do duyên mà thành, gặp hoàn cảnh niệm khởi dính mắc sanh tâm vui, buồn, thương, giận, tâm đang tức, đang sân, sự chán ghét đến làm tâm bực bội cho là tôi, trạng thái bất mãn, bất bình tự đến cũng nhận cho là tôi bực bội, lấy pháp huyễn là nóng nảy cho là tánh tôi nóng, chớ sự thật khi chưa có hoàn cảnh xuất hiện, thì bản tánh tự nhiên an ổn thanh lặng vô cùng, tất cả đều tùy duyên mà có pháp biến hiện, mê lầm cố giữ nên sanh có tâm, không pháp không tâm nào thật cả. Buồn vui, chán ghét là các vọng tận hư không, chẳng là của ai, giác biết được những điều này mà buông xả các pháp, tâm sẽ an, sẽ định vì không còn chấp trụ. Người tu thiền hay niệm Phật khi tâm chạy theo điều gì phải biết rõ, hiện coi tâm niệm chạy nhảy đi đâu? Có chạy nhảy tìm vào ngũ dục không? Ngũ dục là sắc, tài, danh, thực, thùy, mê thân, mê tiền, mê của, mê ăn, mê ngủ hay theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là lục trần, tất cả đều là vọng. Ý phàm phu giống như vượn khỉ chạy nhảy hết nơi này chuyền đến nơi khác, tìm kiếm những gì hưởng thụ khoái lạc cho thân, tìm cách phục vụ cho thân, phục vụ nô lệ cho ngũ dục. Ý mê muội nên tâm không bao giờ được an, ý còn điên đảo, loạn tưởng, đến lúc công phu tu thiền hay niệm Phật do thói quen tồn tại, nên tư tưởng là vọng tưởng, niệm là vọng niệm khởi sinh mãi, tâm không an định được. Công phu thường bị vọng tưởng, vọng niệm hoành hành hả hê vì trong đời sống hằng ngày ta không tự kềm chế, khắc phục được chúng. Chỉ giác ngộ được giáo lý nhà Phật, biết buông xả vọng tưởng, vọng niệm, tâm mới định tĩnh giải thoát. Tổ dạy:
Áo trần con lỡ mặc vào
Nợ trần con biết ngày nào cởi ra
Ví như đứa trẻ lạc nhà
Lạc loài càng bước, càng xa xa mờ.
Cũng niệm khởi nhưng nếu sáng suốt, khéo sử dụng pháp là hiếu thảo với cha mẹ, niệm sự thương yêu giúp đỡ mọi người, biết dừng mọi ham muốn, biết sống với tánh giác ngộ, đó là thường sống với chánh niệm. Chính tâm người giác ngộ vẽ lên bức tranh đạo đức tuyệt đẹp để mọi người nhìn ngắm, chiêm ngưỡng qua đức hạnh thương yêu từ ái, là hành động của bậc Bồ Tát. Chỉ cần chuyển đổi tâm niệm phàm phu chuyển thành niệm giác, hiểu biết các pháp, không đắm lụy phàm trần là nghiệp chuyển. Thập kiết sử là thập ác, khi giác biết buông bỏ trở lại thập thiện là tu thập thiện nghiệp, tức thời hóa giải mê muội thành giác. Kiết là cột chặt, sử là chịu sự sai sử nô lệ của ác pháp gọi là kiết sử. Tham sân si là nghiệp của tam ác đạo, mạn là tự cao ngã mạn. Ngã mạn tưởng rằng ta là hơn cả, nghi ngờ không nhân quả, cứ làm điều ác mà không hề biết sợ. Nếu ai tu thì giác ngộ, ai làm ác thì đọa địa ngục, nhất định phải tin nhân quả, tin Tam Bảo ( Phật, Pháp, Tăng ), tin ta có trí tuệ sáng suốt mà tiến tu, tin pháp Phật cứu độ chúng sanh ra khỏi luân hồi sanh tử, tin chư Tăng thanh tịnh là người gần gũi thân thiết, thay mặt Phật chỉ dạy cho ta giác ngộ, tất cả đều do tâm tạo. Nếu tạo pháp lành thì đất tâm sẽ trồng được cây lành, có cả thế giới thiện lành ; tạo ác có cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đều tại tâm, vạn pháp do tâm tạo đó là sự thật. Nếu mê muội thì tâm làm nô lệ cho ma ngũ dục. Vì tâm tạo niệm ác nên có hành động sát sanh, tham lam, nói dối, dâm dục, rượu chè, cờ bạc. Kinh nói, khi ý sáng suốt thì khôn vô cùng biết làm điều nghĩa nhân, đạo đức công hạnh tuyệt vời, khi ý mê muội thì dại dột tội lỗi tràn đầy, nên chính nơi ý : công vi thủ, tội vi khôi, có công ý đứng đầu, tội cũng do ý dẫn đầu, tu là khéo léo làm cho ý giảm tội, tạo được công đức. Cũng từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nếu ta biết dùng trí giác chuyển đổi thì công đức vô cùng. Tu là sáng suốt, tu là sử dụng trí tuệ tự tạo ra công đức, tạo hạnh chứ không ai cho cả, phải tự tạo tự giữ lấy, tự phát huy, tự giác, tự tu chứng. Thân miệng ý trong sạch là của cải tài sản đạo đức người tu, tự giác là tự giữ chánh niệm, chánh đạo thường ở trong chánh giác.
Khi mê đắm thì bất luận cõi dơ sạch nào vẫn niệm vào được, tham lam cũng niệm, giành giật cũng niệm, trộm cướp, dâm ô, chửi rủa, chém giết, cờ gian bạc lận, lừa đảo... cũng niệm vào, không từ một hành động nào, dù tan nhà nát cửa, tù tội, đày đọa khổ sở vẫn niệm vào. Nếu sáng suốt, quyết lòng chừa bỏ, nên khôn, hay dại, mê ngộ chỉ ở tâm mình. Bản nhiên thanh tịnh của tâm là phi tướng, phi khứ lai, vô tướng, không thể tìm kiếm được, không đến, không đi, nếu biết lìa bỏ tâm là bất khứ bất lai, là chơn như bất biến. Thật tướng là Niết Bàn diệu tâm, là Bồ Đề Bát Nhã. Cũng giống như hư không, nhưng không phải hư không, mà khả năng là trùm khắp hư không, bền vững gọi là Như Lai, không sai biệt cao thấp, lớn nhỏ, hay dở, khen chê, giàu nghèo, khổ vui nên bỏ tất cả để trở về, thăm lại bản tánh chơn như mà từ lâu ta quên bỏ. Bỏ vị Cổ Phật Nhiên Đăng, vì mãi chạy theo khách trần mộng huyễn, đánh mất đường về, về lại nhà Như Lai thường trụ bất biến. Như Lai vẫn thường trụ mà ta chạy theo bên ngoài bỏ tánh giác là bỏ Phật hiện hữu tại nguồn tâm. Nên niệm Phật nhất tâm để tìm lại tánh giác từ lâu vì mê trần mà đành quên bỏ. Nếu cứ chạy theo pháp cầu cúng, bùa ngãi, phép tắc là theo đạo ngoài (ngoại đạo), không sống được với nguồn tâm. Tổ dạy: Ngoài tâm không có Phật Nào khác, không thế giới, không có cõi nào cả. Có tâm nên mới xây dựng Tây Phương Cực Lạc (Cực Lạc tại tâm), Phật tại tâm. Tâm có ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh, các cõi đều do tâm tạo ác, tạo tội lỗi, từ tâm tham dục nên địa ngục tại tâm mà có, Niết Bàn do tâm tạo, Địa Ngục tự tâm sanh. Nếu tu mà bỏ tâm là tu theo ngoại đạo, trở về nguồn tâm mới quyết thành chánh giác, nghĩa là nhất định bỏ mê trở về tỉnh giác, là trở về sống bằng chân lý. Thập đại đệ tử Phật có ngài A-Nan. A-Nan có nghĩa là diệu hỷ, chỉ vào đức tánh vi diệu, hoan hỷ, luôn sống bằng đức hạnh vui tươi, an lạc, sống bằng Tứ Vô Lượng Tâm là Từ, Bi, Hỷ, Xả. Bốn tâm từ rộng lớn, sự hoan hỷ bằng lòng xả bỏ không ôm chấp niệm nào cho là của ta. Người tâm vi diệu, hoan hỷ, lúc nào cũng có hạnh vui tươi, tha thứ, hoàn cảnh thuận, nghịch đều bằng lòng, nên trong kinh, Phật thường mở đầu kinh với đức tánh diệu hỷ, tượng trưng gọi tên ngài A-Nan. A-Nan cũng là trí tuệ biện tài đệ nhất đa văn tâm hoan hỷ, vì thế người tu cần học giáo lý, nghiên cứu kinh điển. Phật nói, nếu ai thường đọc tụng, nghiên cứu kinh điển thì trí tuệ như hải. Khi đọc tụng kinh, trí tuệ mở khai sáng suốt tâm liễu ngộ là diệu hỷ, sự hỷ lạc sẽ hiển hiện khi thông suốt được lý kinh, thông hiểu được giáo lý là phương tiện giúp ta ra khỏi vô minh, phiền não. Muốn trở về với chơn lý, tu đúng chánh pháp, bước đầu phải quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Học Phật, nghĩa là lúc suy nghĩ, muốn nói, muốn làm việc gì đều phải sáng suốt, nói lời hạnh đức, ái ngữ, nhớ nghĩ chơn chánh tất cả đều có sẵn pháp bảo cho ta sử dụng. Hạnh hiếu thảo có ngài Mục Kiền Liên, đức tánh quang minh sáng suốt Đức A Di Đà có ngài Pháp Tạng Tỳ Kheo, hạnh đầu đã có ngài Đại Ca Diếp, ngài A Nan là diệu hỷ biện tài đệ nhất đa văn vô ngại, đại trí huệ là ngài Xá Lợi Phất, mật hạnh đệ nhất là ngài La Hầu La, ngài A Na Luật đệ nhất thần thông, ngài Tu Bồ Đề là đệ nhất giải không… Ta tu, phải cần kinh điển thường tắm mình, tẩm ướp bằng giáo pháp, học từng đức hạnh để nhuần gội, thanh lọc tâm cho được trong sạch, sống được với chân lý sẽ mất đi thân phàm tục, pháp tham, sân, si trần tục đổi lại là pháp thân Phật, là sống được với pháp bảo, lấy pháp bảo làm thân mạng gọi là chánh mạng, cũng là pháp thân Phật, là Pháp Tạng Tỳ Kheo. Chỉ sống bằng giáo pháp, hành động bằng giáo pháp, thân hiện là giáo pháp gọi là pháp thân hay là chư Phật hiện toàn thân, là pháp giới tạng thân A Di Đà Phật. Ta tu mà thực hiện đủ 48 lời nguyện sẽ đầy đủ công đức, Tín, Nguyện, Hạnh là Tam Tư Lương. Phải nguyện thiết tha, lập chí nguyện xuất khỏi thế gian vì thế gian là gian dối, gây gổ, giận hờn, đấu tranh, hơn thua, là người của thế gian. Xuất thế là bỏ hết các niệm ác, xuất khỏi thế gian là đạo thân, là thân Thánh, không còn tục thân nữa, đã chánh giác. Học Phật, phải có vô lượng trí tuệ vì chúng sanh chất chứa vô lượng phiền não, cần tinh tấn mới thoát luân hồi sanh tử. Tài sản, vật chất, danh lợi, chồng vợ, con cái, người thân đều từ vọng tâm mà sanh, chớ thật sự không là của ai cả, do duyên hợp tan, tự đến tự đi, tất cả đều trở về hư không. Vì chấp thật có thân, cứ niệm vào vật chất, bồi đắp cho thân sung sướng mà không màng tội lỗi. Có thân cũng là một tâm niệm, thân cũng là một pháp trong vạn pháp, phát xuất tại lòng, tự đến, tự đi, không thể nắm giữ dù không bao giờ ta muốn bỏ xác thân này. Thân chỉ do tứ đại hợp tan sanh diệt, không là của ai cả, sanh tử cũng huyễn. Ta nên sáng suốt hiểu biết, tự trả lại cho đời khi mãn duyên, mà lòng không sanh niệm luyến tiếc đó là hạnh đại thí, thí hết những gì thuộc về ta, thí mọi sự sung sướng cho thân ta, thí tất cả thế gian đang hưởng thụ gọi là bố thí pháp. Đức độ này chính từ Thái tử Sĩ Đạt Ta đã thí ngai vàng điện ngọc, vợ con, thí thân mạng là sáu năm khổ hạnh, thí hết mọi tham đắm cuộc đời mà lòng không vướng bận. Ngài là bậc đại thí, đại thí chủ, bậc toàn năng toàn giác, Ngài giác ngộ viên mãn, ngài không màng gian khổ đi giáo hóa chúng sanh trong 49 năm dài, Ngài là bậc vô thượng.
Đời sống bằng vô minh vô cùng đau khổ, khổ luân hồi, khổ sanh già bệnh chết, đời này đau bệnh, tai nạn, chết, đời sau cũng vậy, cứ quanh lên lộn xuống vô lượng kiếp, khó thoát được thế gian. Tu là phục hồi trí tuệ để tự cứu ta, cứu chúng sanh tại cõi tâm qua khỏi sông mê biển khổ, mãi lạc loài không tìm ra lối thoát.
Bàng hoàng giữa chốn rừng mê
Không ai giùm chỉ đường về cho con
Ngây thơ trí nhớ đâu còn
Lại thêm nạn chướng giết mòn tánh linh
Đồng thời nhiều kẻ chung quanh
Rủ con vào nghiệp tử sanh luân hồi
Dây oan khi đã cột rồi
Tên ghi hồn gởi thì thôi còn gì
Giấc mơ nhiều kiếp li bì
Càng quanh lộn mãi, càng mê si hoài.
Ta thường ở trong vô minh tăm tối gọi là đêm dài lắm mộng, của cải, tài sản người thân đều sanh diệt không thật, gọi là mộng. Vì u tối, khi khởi niệm toàn là tham sân si mê muội, gọi là ác mộng, đêm dài khổ não, không biết đến bao giờ mới gặp lại tánh giác, gặp lại đạo đức trí huệ Phật, là gặp nhiên đăng cổ Phật. Đèn trí huệ vẫn sáng suốt tự nhiên sẵn của chính ta, vì mây vô minh che phủ mất đi sự sáng suốt. Đạo là tự cứu mình, cứu chúng sanh hết khổ. Đạo không làm giàu, làm của riêng tư vì tiền cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh. Trong chúng sanh, có ông bà, cha mẹ ta, do nhiều đời nhiều kiếp chuyển hóa. Nếu đời này ta tu giác ngộ, độ được Cửu Huyền Thất Tổ là ông bà, cha mẹ đã luân hồi lui tới từng gặp gỡ vô lượng kiếp trước, đó là mục đích của đệ tử Phật.
Căn lành là các căn linh diệu của mọi người, mắt huệ sáng suốt. Huệ nhĩ nghe hiểu được chơn chánh, miệng nói lời lành tiếng phải là ái ngữ, thân làm lợi ích cho chúng sanh, ý trong sạch cao thượng. Lục căn là sáu căn lành linh diệu sẵn có, gọi là linh căn. Nếu mắt tham đắm, tai nghe xằng bậy, miệng nói lời tội lỗi độc ác, ý nghĩ đến sân si là đánh mất căn lành, mất ánh sáng trí tuệ, các căn không là linh diệu. Tu là đổi sáu căn mê muội thành sáu căn linh thiêng vi diệu thanh tịnh. Pháp trần vốn là tánh không, chơn như, khi các căn trong sạch thì linh thiêng vi diệu. Căn và sắc đều như, nhưng ngược lại vừa khởi niệm mê đắm sắc thì cả hai căn và trần đều mất chơn như gọi là nhiễm bụi trần. Bồ đề là giác ngộ, giác các pháp hữu tình, giác vạn vật, biết vũ trụ luôn biến chuyển đổi thay, không còn lầm lẫn cuộc đời, bằng lòng sống cùng sự vận hành của vũ trụ, tùy thuận pháp tánh, quyết định đả phá, khống chế, sửa đổi những gì đã vấp ngã, phải tiêu trừ quyết thành tựu Bồ đề. Thế gian là vô lượng thọ nhận, nếu tự giác thì không vướng trụ vì đã ngộ được bản tánh A Di Đà chính ta, không còn bị mất tánh giác, trở lại vô lượng quang là hào quang chiếu khắp.
Thế giới thanh tịnh là cõi an lành vi diệu, không hề có sanh già bệnh chết, phải tự tu, tự sửa sang mới thành tựu, phải trồng nhiều duyên lành trong đời sống là nhân hành chánh pháp, càng tích công dồn đức là càng trồng sâu căn lành nơi tâm điền, nơi mỗi người. Tâm càng lành, càng thiện là càng sám hối được nhiều nghiệp báo, không cầu xin ai cho hay đổi chác bằng gì được. Thế giới Cực Lạc chính thật tại tâm mỗi con người, là thế giới thiện lành, không vướng bận cuộc đời. Cuộc đời chỉ là hiện tượng do duyên sanh, khi hết duyên sẽ tàn hoại. Cõi an lành xây dựng bằng pháp đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, phải có đầy đủ công đức mới xây dựng được. Thời đức Phật có người hỏi rằng, “Bạch Thế Tôn, người thân của con lúc sanh tiền, con biết họ đã gây nhiều tội lỗi, giờ đây vì thương họ, con có thể nhờ người cầu cúng, hộ niệm, nguyện xin cho họ siêu thoát được không?”. Phật lấy một hòn sỏi liệng xuống giếng và hỏi “Vậy có bao nhiêu người đến hộ niệm cầu nguyện cho hòn sỏi nổi lên? Nếu mười người, một trăm, một ngàn người hay thật nhiều người cầu cho sỏi nổi lên cũng không được”. Rồi Phật cũng đem một ít dầu đổ xuống giếng, Ngài hỏi “Vậy có bao nhiêu người cầu cho dầu chìm, dù có bao nhiêu người đến cầu dầu cũng không chìm”. Như người ta đã từng gây nhiều tội lỗi, làm ác không biết tu sửa gọi là nặng nghiệp, nhân đã không lành, dù có bao nhiêu người cầu cũng không có quả siêu thoát, không hết tội được. Nếu không biết tu sửa chuyển đổi tâm, điều xấu ác vẫn còn trong tâm thì làm sao cõi tâm có Cực Lạc được? Họ vẫn còn ôm chấp tội lỗi bởi các niệm mê si, tự đày đọa mình, dù cầu cúng thế nào cũng không sáng suốt được, phải tự quyết chuyển mê thành ngộ, không ai có thể chuyển cho ta được cả. Nếu có tội lỗi, muốn được cứu vớt bằng cách phải nghe lời Thiện Tri Thức, là bậc đã sáng suốt dạy cách buông xả ác niệm, tà niệm ra khỏi tâm, bỏ tất cả tham mê, bỏ sân si, bỏ phiền não, bỏ dục lạc thế gian, bỏ hờn giận, ghét ganh, không nghĩ nhớ niệm lại, nguyện quyết lòng chừa bỏ bằng tâm kiên quyết thiết tha, nguyện không sai phạm, khi niệm ác không còn tái diễn thì lập tức vãng sanh Tịnh Độ. Tâm đã tự tịnh, niệm Phật tức là phương pháp tìm đường trở về nhà an vui hạnh phúc là nhà Như Lai. Khi các niệm xấu ác đã chết, không sanh khởi lại nữa, là các tà niệm đã chết thì tâm tịnh không còn não loạn, gọi là vãng sanh Tịnh Độ, tâm trong sạch hoàn toàn, tự cứu lấy mình bằng tự lực, tự giác. Tu theo chơn lý là tu tại tâm, siêu thoát tại tâm, “Tâm là thế giới, thế giới là tâm”.
Cõi tâm thế nào thì tạo thế giới y như vậy. Nếu tâm không còn tham sân si thì thế giới tại tâm không có phiền não, không còn niệm vào hành động nghĩ đến sát sanh, trộm đạo, tà dâm, dối gạt, cờ bạc, đàng điếm, rượu chè, đất tâm không có thế giới địa ngục. Nếu tâm trồng toàn là từ bi, hỷ, xả, tha thứ, bố thí, thương yêu, nhịn nhường thì thế giới đó toàn là xa cừ, mả nảo, san hô, lưu ly, hổ phách, đất tâm là vàng ròng. Người của thế giới là người có tâm chơn chất thật thà, là bậc có tâm Thánh thiện, là bậc Thinh Văn quốc độ của quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán.
Đất tâm là Bát Chánh Đạo. Đường đi của bậc Duyên Giác. Cũng có những Bậc Bồ Tát đang độ chúng sanh với hằng sa công đức, những người ấy đã vào Phật quốc.
* 3000 thế giới chỉ một tâm
* 3000 thế giới bằng hột cải.
Tâm thể vốn vắng lặng, mà thường tuôn chảy như suối nguồn không bao giờ ngưng nghỉ.
Chúng sanh gọi là thân tục vì mê đắm vào ngũ dục. Đức Phật là một con người nhưng đến thế gian vì đem lợi ích cho muôn người nên ai cũng quý trọng tôn kính, lễ lạy, thân Phật là thân vàng, thân lưu ly trong sáng, không còn vướng vào tam độc, hào quang sáng suốt chiếu khắp gọi là thân pha lê, thân ngọc thân lưu ly quang. Như Lai đến đâu Ngài cũng chan rưới lòng từ bi. Từ là ban ơn, bi là cứu khổ, lòng từ đã dẹp hết tham sân si, phiền não, ích kỷ, nhỏ mọn, lòng từ là hết vô minh, tự cứu độ được ta làm lợi lạc khắp chúng sanh, hướng vào thập pháp giới mà thương yêu, giúp ích muôn loài mà không có tâm niệm ghét bỏ, chê chán, không lấy không bỏ vì tất cả đều là hàm linh, chẳng qua vì thọ nghiệp nhiều đời mà thọ mang thân tướng, họ đều có phật tánh như nhau tánh linh người vật vốn đồng Phật, là sự sáng suốt trí tuệ giác ngộ đỉnh cao tuyệt vời, vô thượng.
Người ham học, ham làm lành, làm thiện, thích nói pháp, nghe pháp, thường ngồi thiền, niệm Phật là trồng căn lành, muốn giúp đời nên trí tuệ rộng lớn, thương chúng sanh sống bằng tịnh huệ, là sống với bản tâm trong sạch, sáng suốt. Đời sống phạm hạnh, ít muốn biết đủ, không làm điều ác, không tham lam, dối gian, lừa đảo nên trí huệ chiếu khắp mười phương, tâm lúc nào cũng thanh tịnh. Thân có đi bất cứ nơi đâu, kể cả bỏ xác thân, hào quang tuệ giác vẫn thường chiếu, soi rực sáng không hề gián đoạn. Nhất định ra khỏi Thập Kiết Sử và ba đường ác, thường sống trong tánh giác, bỏ xa mọi tội lỗi, hằng kiểm tra thân khẩu ý. Dòng tâm thức ta xoay vòng tận hư không tuôn chảy mãi, chảy mãi không dừng vô tận vô số niệm. Nên các Bồ Tát thực hiện hạnh đức tu hành, công phu giữ gìn tâm không gián đoạn, cho đến khi thuần thục, đến khi đã xả bỏ trong sạch cõi tâm. Ta tu cũng phải buông bỏ giống như hạnh các Bồ Tát. Có thân không chỉ một đời, nếu chỉ một đời thì không tu để làm gì, nó theo nghiệp kéo dài mãi. Phật dạy, thân hiện có là tiếp nối niệm đời trước, từ nghiệp vô minh niệm sinh khởi mà sanh có thân đời này, khổ hay vui tùy thuộc vào nhân quả. Nếu nhân hiện tại có chánh niệm, chánh giác thì đời sau trí huệ sáng suốt được tiếp nối. Ta cứ mãi sống trong ác niệm vì vô minh thì quả đời sau tiếp nối thọ nghiệp đau khổ Ngạ Quỷ, Địa Ngục, Súc Sanh. Niệm niệm tuôn chảy mãi trong hư không biến cùng khắp pháp giới, hiện có thân này từ niệm khởi thành nghiệp mà luân hồi. Trí tuệ và pháp bảo cũng là pháp quay vòng trong hư không, niệm niệm không ở trong lòng ngực nên ngài Thần Quang tìm tâm không được, “Mấy bận tìm tâm, tâm chẳng thấy”.
Tánh giác trùm cả hư không, còn niệm niệm ở trong hư không sanh diệt, diệt sanh mãi mãi nên khi gần bỏ thân xác cũng phải tu. Tu đến hơi thở cuối cùng gọi là cận tử nghiệp cũng phải giữ chánh niệm, giữ chánh niệm lúc mạng chung để giữ tròn chánh giác.
Khi thành tựu viên mãn tích lũy công đức, sống được với tánh giác thì ánh sáng chiếu khắp mười phương cõi nước. Vì mỗi người ai cũng có hào quang trí tuệ, là nguồn sống vô tận vô biên, là bản thể thanh tịnh thường chiếu soi vạn pháp gọi là chơn tâm hay viên giác diệu tâm, tự tánh vô tướng nhưng thật tướng. Tất cả chúng ta nương nhờ vào những pháp tu, Thiền, Tịnh, Mật, Pháp Hoa tông, mục đích đều trở về bản thể chơn tâm thường tịch quang minh tịnh, là căn bản chủ đích tối thượng của người tu phát nguyện trở về hào quang Phật quốc. Phật bảo A-Nan, oai thần quang minh của Phật A-Di-Đà tối tôn bậc nhất. Tại sao Phật gọi danh hiệu ngài A-Nan để mở đầu pháp hội ? Vì danh từ A-Nan nghĩa là khánh hỷ, là diệu hỷ, nói lên sự vi diệu hoan hỷ tại tâm. Lúc thuyết phẩm kinh này, Phật khởi lòng hoan hỷ muốn đem phương pháp diệu hỷ là sự hạnh phúc an lạc chính quả đức tại trí tuệ Ngài. Phật đem quả diệu giác chơn tâm khả chiếu, ấn vào tâm tất cả con người trong pháp hội. Ngài muốn hết thảy chúng sanh đều thấy, hiểu biết sáng suốt thông thấu giống như sự giác ngộ chính Ngài, đồng trở về bản thể quang minh là tự tánh A Di Đà tối tôn, tối thượng, bậc nhất. Vậy oai thần là gì?
Ý kinh chỉ vào oai lực của tự tánh, đủ uy thế thần lực thông suốt trí tuệ tuyệt vời, hào quang vô thượng, có khả năng chiếu thấu mười phương thế giới. Tự tánh A Di Đà chính là tánh chơn của mỗi con người sẵn có, là tuệ giác hằng chiếu hào quang vô ngại. Nên kinh nói, oai thần của tự tánh chiếu soi tất cả pháp, thông thấu mọi tâm niệm khắp tam thiên đại thiên thế giới, mà chư Phật mười phương chẳng sánh kịp, “biến chiếu phương Đông hằng sa cõi Phật, phương Nam Tây Bắc cùng bốn phương phụ, hai phương trên dưới cũng lại như thế”. Tự tánh là tánh vua oai thế bậc nhất, trong sạch tự nhiên, tự tánh không già không chết, trùm khắp hư không, chứa muôn loài vạn vật. Tự tánh là trí tuệ thường chiếu soi sáng suốt, thấy biết vạn vật cùng vạn pháp từ vô thủy đến vô chung. Tự tánh không giới hạn thời gian hay không gian, không đầu không cuối, bất sanh bất diệt, không màu sắc mà hằng hữu. Tự tánh là chơn như, đa thọ dụng, chứa vô lượng vô biên pháp. Các pháp tham sân si, gian xảo, hẹp hòi, nịnh bợ, độc ác... đều thọ dụng chứa tất cả. Dù pháp thế gian hay xuất thế gian, đến khi có duyên lành, tự giác biết làm điều thiện, tu học nghiên cứu kinh điển, học từ bi hỷ xả, tập sống tha thứ, buông xả, độ chúng sanh. Tự tánh có công năng thọ dụng đầy đủ nên nói tự tánh Di Đà là vô lượng thọ, chiếu soi trùm khắp là vô lượng quang. Tự tánh có năng lực biến chuyển tất cả pháp, điều khiển xoay chuyển tất cả pháp, chuyển hóa được các niệm gọi là vô lượng công đức. Tự tánh trùm các cõi, khắp thế giới mười phương, năng lực thông suốt không dính trụ phương nào, vô lượng vô biên quang minh bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn. Tự tánh làm được người ngu, cũng làm được người trí, diệu dụng đa dạng, không riêng pháp nào cả. Tự tánh có khả năng chịu đựng dù giàu nghèo, xấu đẹp, sang hèn, khôn dại, lúc đau bệnh hay bị người mắng chửi, tự tánh cũng có khả năng chịu đựng vượt qua. Nếu si mê tự tánh cũng vào địa ngục, khi giác ngộ sống buông xả tự tánh cũng ở Cực Lạc. Tự tánh là chơn thường, chơn định, chơn huệ, chơn giải thoát. Tự tánh là bình đẳng rộng khắp không giới hạn, ngăn ngại bởi một pháp nào, gọi là phổ đẳng tam muội. Tự tánh chiếu soi từ địa ngục tới Trời Hữu Đảnh. Tự tánh là vô lượng thọ dụng, trùm pháp giới, chiếu soi vạn pháp, trùm cả hư không. Nên kinh nói, oai thần quang minh A Di Đà là tối tôn bậc nhất, chư Phật mười phương chẳng sánh kịp. Mật ý chỉ vào Phật tánh của mỗi con người, tất cả mọi người đều có, mà ta vì mê từng quên bỏ, mãi chạy theo bóng đen ngũ dục, đời đời làm nô lệ cho các pháp huyễn giả, đánh mất oai thần linh diệu sáng suốt sẵn có là tự tánh Phật, vô cùng quang minh tối tôn, tối thượng. Bản thể tự tánh là thường tịch quang, vô cùng linh diệu, vậy tự tánh là gì ?
Tự tánh là bản giác sẵn tự nhiên nơi mình, không ai cho cầu xin hay làm gì mà có được. Tự tánh là bản thể chơn như, là Niết Bàn diệu tâm, tinh anh, trong sáng, tự nhiên, vi diệu, thường chơn, không tăng giảm hay thanh trược. Nếu khởi niệm tham sân si làm não loạn, tức thời tâm là điên đảo. Vì đòi hỏi do thói quen ô nhiễm thế gian, đã từng huân tập bởi quá trình luân hồi nhiều đời nhiều kiếp khó bỏ, gọi là tánh hay tánh phàm phu, không còn là chơn tánh hay Phật tánh nữa, không chánh giác. Tu là hằng quán xét vào tâm, soi rọi tự tánh coi còn tánh tà dại, nịnh bợ, xiêng xỏ, tự cao, ngã mạn, tham, sân, si, ái, dục vọng, muốn ham. Nếu thấy còn tà tánh thì liền nhớ lời Phật dạy buông xả ngay, đoạn lìa hết tánh thế gian mới là chơn tánh, chơn giác, chơn giải thoát. Tà tánh cũng là tà niệm, tà mạng, tà tư duy, tà nghiệp, tà kiến, tà ngữ, tà định, tà huệ, nếu mãi xoay vòng vì tà pháp thì không sống được với chánh niệm, tâm loạn không nhất tâm, nhất niệm được. Tánh thanh tịnh là không nhớ nghĩ, đeo níu vào pháp thế gian, phải quyết bỏ tà pháp tâm mới an ổn được. Trở về Phật tánh là về với bản thể sáng suốt chiếu soi, vắng lặng các pháp, không niệm vào ác pháp mới thật sống với tánh chơn vô nhiễm.
Tự nhiên tánh Phật hiển bày
Tâm an, tự tại thoát ngoài thế gian
Đến đi tự nghiệp đeo mang
Đoạn trừ tham ái, thánh nhân xuất trần.
“Trên đảnh Phật hóa hiện tròn sáng hoặc chiếu một, hai, ba, bốn do tuần hoặc trăm ngàn vạn ức do tuần. Quang minh chư Phật chiếu sáng đặng một hai cõi Phật hoặc chiếu trăm ngàn cõi Phật chỉ có quang minh A Di Đà chiếu khắp vô lượng, vô biên, vô số cõi Phật”. Khi mỗi niệm si mê được giác biến chuyển thành một niệm tự giác là có một cõi Phật. Nhiều niệm tự giác gọi là chư Phật, đã tự chứng ngộ bản tâm, là giác từng phần nên ánh sáng đó chỉ chiếu soi tùy thuộc trình độ phần giác. Buông xả tâm niệm được bao nhiêu thì giác bấy nhiêu, chưa viên mãn, chỉ sáng được một, hai, ba, bốn do tuần, chứng ngộ trang nghiêm một, hai, ba, bốn cõi Phật. Hào quang này không là vô lượng quang, còn giới hạn vào trình độ căn tánh các quả giác, như quả Thinh Văn là nghe lời Phật dạy giác ngộ thế gian vô thường, khổ, không, vô ngã, vì sợ khổ nên lo tu. Trình độ hiểu biết, giác các pháp thế gian là khổ, sự sáng suốt còn giới hạn chỉ chứng ngộ vào dòng Thánh (tứ Thánh quả). Bậc Duyên Giác biết thập nhị nhân duyên hay thập nhị duyên khởi, vì vô minh, không hiểu chơn lý nên sanh niệm tham muốn, mê pháp mà sanh hành động phát khởi do tâm kết cấu tạo nghiệp thức, biến hiện vướng mắc vào nghiệp trần, gọi là danh sắc ngũ uẩn, tức sắc thân do lục nhập liên hệ kết tập căn và trần xúc chạm, nên thọ chiêu cảm sanh ái là yêu mến, thích ưa, tưởng thật nên bảo thủ cho là của mình, mê đắm tham giữ lấy tài vật, lo cho cái riêng tư, sanh càng nhiều niệm, nhiều pháp, lo bảo thủ gìn giữ các pháp, các niệm tự sanh diệt, có, không, tan, hợp, nên có sanh, già, bệnh, chết. Vì có sanh tử tan hoại nên ưu, bi, khổ, não. Vì mãi niệm vào sai lầm, tăm tối, gọi là vô minh. Ta tự xoay vào tâm, tư duy lúc chưa vào thai mẹ, vậy ta ở đâu? Tự hỏi hiện tại đang có thân vậy thân là ai? Ai là thân? Nếu thật là người thì sau khi bỏ thân tứ đại sẽ đi đến đâu? Khi đủ duyên hợp lại, cũng chưa chắc trở lại tướng con người. Kinh Phật dạy, “dễ gì tái kiếp được làm người, sanh đặng làm người há dễ duôi”. Vì tâm lượng nghiệp báo không đồng nên có người giàu, kẻ nghèo, người đẹp, người xấu, sang hèn, bệnh tật, ngu đần hay thông minh, hoàn toàn khác nhau. Nên Phật nói, hiện là người mà không thật là người, bởi từ vô thỉ, vô lượng đời trước, từ bản giác vốn thanh tịnh vì khởi một niệm bất giác, niệm khởi là vô minh, niệm vào dục vọng thế gian, duyên theo một pháp, sanh ra có hằng hà vô số, vô lượng pháp. Khởi một niệm là rời tánh giác để biết pháp này, pháp nọ, pháp kia ngoài thế gian, nên từ bản giác chơn như khởi niệm mê muội, mà kinh Pháp Hoa nói đến Gả Cùng Tử, con nhà Trưởng giả giàu có, bỏ nhà đi hoang, bị nghèo đói khổ sở, thiếu ăn thiếu mặc. Nên cha là ông Trưởng giả biết mình có đứa con đã bỏ nhà đi, vì thương con nên cho người tìm kiếm đem về. Khi người đến dẫn về, chàng kêu gào khóc kể, không chịu về nhà vì sợ, nên bỏ chạy. Giống như ngày nay, ai cũng muốn tu để trở về nhà Như Lai giàu có, mà luôn sợ sệt vì cho mình là kẻ thấp hèn, thân phận chất đầy vô minh, nghiệp báo, tự cho mình là hèn hạ, ngu si, mãi sợ nghèo đói nên suốt đời cứ đi tìm cái ăn, cái mặc, bận rộn, không tự do. Vạn pháp tự tâm sanh. Ta có thân cũng do tâm niệm sanh khởi mà hiện ra sắc thân. Nên tu là bỏ tâm niệm thế gian, quay lại bản thể ban đầu là chơn tâm thanh tịnh, chưa hề vướng niệm thế gian. Lòng là cõi an ổn gọi là Cực Lạc, bỏ nghiệp nghèo khổ, hạ tiện là tham sân si, bỏ cõi tâm cực khổ để trở về quê cha là nước Cực Lạc an vui. Từ lâu nay vì mê loạn mà ta bỏ cõi yên lặng, tự nhiên, sáng suốt, tịch lặng để chạy ra ngoài thế gian ăn chơi sa đọa, trác tán, ăn giành, ăn giật, ăn gian, ăn lừa đảo, ăn mạng, bỏ nhà Cực Lạc là An Dưỡng Quốc, rơi vào tà mị sống với vô minh. Phật nói, vì dốt nát si mê không hiểu biết nên lầm đường lạc lối, làm khổ mẹ là tự tánh. Mãi nghe lời vọng trần là bạn bè hư đốn, chạy đuổi bắt theo pháp tạm giả bên ngoài, theo các niệm say sưa lầm lạc, cứ gieo nhân ác làm chết lịm hào quang, chìm vào sa đọa ngũ dục đau khổ vì thiếu hiểu biết. Phật nói là vô minh làm mất hẳn tánh minh quang. Trở lại ban đầu khi chưa vào thai mẹ từ vô lượng kiếp trước chỉ là bản giác sáng suốt, vì muốn tìm hiểu thế giới Ta Bà, vì muốn biết nên đi mãi, niệm niệm mãi không dừng, nên Tổ nói:
Áo trần con lỡ mặc vào
Nợ trần con biết ngày nào cởi ra
Cũng như đứa trẻ lạc nhà
Lạc loài càng bước càng xa xa vời
Bơ vơ trên quãng đường đời,
Kia là hang vắng, nọ thời rừng hoang
Thập thò mãnh hổ ác lang
Trí con khủng khiếp kinh hoàng khóc la
Chập chờn bóng quỷ hình ma
Tâm con hồi hộp thiết tha nguyện cầu
Rừng dời càng bước càng sâu
Là càng rùng rợn lo âu phập phồng
Yếu thơ trước cảnh hãi hùng
Nhỏ nhen con thấy lạnh lùng thân côi
Đường về nhà đạo xa xôi
Đường theo cuộc thế thì thôi đoạn trường
Sấn vào trong cõi bi thương
Trăm ngàn nỗi thảm vấn vương bên mình
Chung quanh đầy những khổ hình
Chẳng hay con mắc tội tình chi đây?
Ngán cho số kiếp đọa đày
Tủi cho thân phận lạc loài éo le
Bàng hoàng giữa chốn rừng mê
Không ai giùm chỉ đường về cho con
Ngây thơ trí nhớ đâu còn
Lại thêm nạn chướng giết mòn tánh linh
Đồng thời nhiều kẻ chung quanh
Rủ con vào nghiệp chúng sanh luân hồi
Dây oan khi đã cột rồi
Tên ghi hồn gởi thì thôi con gì?
Giấc mơ nhiều kiếp li bì
Càng quanh lộn mãi càng mê si hoài
Mãi lo xây đấp mộng dài
Ở nơi huyễn cảnh dặt dài thời gian
Niên qua mấy độ nở tàn
Chủ nhân (tánh giác) khuất bóng
trong màng vô minh
Cõi trần kiếp kiếp lụy mình
Dây thương vấn vít lưới tình bủa giăng
Áo quần vật chất trói trăn
Cửa nhà nhốt phạt, miếng ăn hành hà.
Vì vô minh, ta đi khắp cùng pháp giới. Nếu khởi niệm trụ vào thế giới nào là đọa ngay cõi đó, mãi duyên theo niệm sanh có sắc thân, có vui, buồn, thương, giận, thích ưa, chán ghét... Nếu niệm khởi theo nghiệp nào dẫn ta có sắc thân theo thế giới đó, tùy nghiệp mà hiện tướng nam hay nữ, người hay vật, đẹp xấu, sang hèn, đủ căn hay khiếm khuyết tật nguyền. Người tu cần quán xét thật kỹ, có danh sắc là do nghiệp dẫn tạo, nên phải tránh niệm ưa thích, muốn ham, ái yêu, gọi là xả ly lòng dục, mới ra khỏi cõi dục giới được. Những sở thích là sự cảm thọ bởi tâm tham dục, mà ta lăn lộn, quẩn quanh trong khổ luân hồi điên đảo. Nếu khởi niệm ái yêu có chồng vợ, có con cái, có gia đình, muốn thỏa mãn đời sống sung sướng, cần giàu sang, danh vị v.v... nên càng tăng trưởng lòng ham muốn, vì lẽ đó khó ra khỏi vô minh. Chấp thủ tất cả pháp, tự cho là của ta, sợ mất tài sản, địa vị, sợ mất chồng, mất vợ, sợ mất con, sợ mất những pháp huyễn vô thường giả hợp vì không thấu lẽ có hợp sẽ có tan, cứ tưởng thật còn, mãi tranh đua, bảo thủ, gìn giữ, càng nuôi lớn vô minh, tạo thành không biết bao nhiêu sự khổ gọi là tạo nghiệp hay nghiệp dẫn. Khi sự nghiệp được tạo dựng, con cái lớn khôn, nhớ lại thân huyễn đã già, bệnh, rồi sợ chết. Tu là sáng suốt, biết sắc thân không thật, người không thật, của cải, tài sản, vật chất không thật, buồn vui, thương ghét cũng không thật, tất cả đều do duyên khởi, pháp tự đến, tự đi tùy duyên. Nếu còn ham muốn là còn tạo nghiệp ác, nghiệp từ tâm niệm sanh khởi tạo ra có thế giới. Bảo vệ tâm niệm tham lam là tạo ra thế giới Ngạ Quỷ, còn niệm sân hận là đang nuôi dưỡng thế giới A Tu La, tâm niệm phiền não là vun bồi thế giới Súc Sanh, tâm niệm si mê là xây dựng cõi Địa Ngục càng thêm chắc chắn ; tâm vắng lặng, tịch tịnh, thanh thoát là cõi vô sanh, thế giới Cực Lạc đã sạch dứt niệm trần lao sa đọa, không còn cực khổ. Có hành động ác từ tâm ý sanh, là tự sanh địa ngục. Nghiệp sanh khởi từ sáu căn tiếp xúc cảnh mà có tâm niệm. Mỗi người do căn thấy biết, sanh niệm ưa thích, tiếp xúc vật cảnh, sanh có nghề nghiệp. Mỗi nghề theo mỗi nghiệp thiện hay nghiệp ác từ căn mà sanh.
Người bán vàng, trong mắt ( nhãn căn ) họ lúc nào cũng có vàng, vì thường niệm vào vật là vàng, dùng kinh nghiệm từ vàng mà sanh lợi nhuận. Ăn trộm, ăn cướp, trong ý ( ý căn ) họ hoàn toàn nghĩ nhớ niệm vào tài sản người khác, tìm cách mở khóa thế nào, vào nhà cách nào, làm sao giết người lấy của, đó là ý đang tạo nghiệp, nghiệp dẫn vào địa ngục. Người bài bạc trong ý, trong mắt họ ra sao? Ăn thua bằng cách nào? Đó cũng là nghiệp. Mắt bác sĩ khác, mắt kỹ sư khác, mắt buôn bán khác, mắt giành giật, rất nhiều con mắt nên có tướng Đức Phật ngàn tay ngàn mắt để đối trị, giáo hóa chúng sanh. Người chuyên tạo ra tội ác thì mắt họ thấy toàn là pháp ác. Người làm phước, thiện lành, mắt họ thấy sự đau khổ của mọi người, nghèo đói, thấy họ đang cần bố thí, nơi mắt thấy pháp gì thì sanh ra có hành động của pháp đó. Trong kinh nói đến bà Thanh Đề lúc còn sống, trong mắt bà toàn là tội lỗi, hận thù, nên chết liền thấy địa ngục, thấy ma quỷ, là các niệm tội lỗi, độc ác đã kết tựu nuôi dưỡng tại tâm bà. Chính họ là nghiệp dẫn đến bao vây bắt trói. Nếu hiện tại, ta cứ mãi tạo tội ác, lúc lâm chung sẽ thấy chúng ngạ quỷ, đia ngục, súc sanh đón chờ. Người sanh tiền mang tâm phiền não, hung tợn, trong mắt họ là tư tưởng thế giới của loài thú, khi bỏ thân xác, cảnh giới trong tâm là nghiệp sẽ hiện ra, dẫn dắt sanh vào loài đó. Họ không thấy được cõi Phật, cõi Thánh. Người chuyên tu luôn sống bằng thanh tịnh sáng suốt là hào quang trí tuệ, mạng sống là chơn lý, khi nhắm mắt, bỏ thân tạm giả, thì quốc độ thanh tịnh, an vui, hằng gìn giữ tự nhiên tiếp dẫn, vì tâm lúc nào cũng là Tạng Hoan Hỷ. Phải thường sống bằng mắt trí tuệ, đạo đức, nhân nghĩa, thương yêu, khôn khéo, chia sẻ, nhẫn nhịn. Hiện tại có thân đủ duyên làm người, biết tu hành, gặp bậc giác ngộ, dùng trí giác nhắc nhở, biết rằng còn sinh ra kiếp con người là vẫn còn khổ. Khổ già, khổ bệnh, khổ chết, khổ tranh đấu, khổ giành giật, đủ thứ khổ, tự giác biết các pháp nên sống hạnh viễn ly, lìa khỏi thế gian, tuy sống với cuộc đời mà tâm không phiền lụy, tập sống hạnh xuất trần, thì tâm niệm tự nhiên ra khỏi thế gian gọi là giải thoát. Nếu tâm có hành động sai lầm thì thân khổ, miệng nói lời quấy ác, độc địa, chửi rủa thì thân khổ, lời thiện lành ôn hòa nhã nhặn, ái ngữ thì quả an lạc, vui tươi, trồng nhân nào thì hái quả nấy. Mọi việc trên đời có hành động, điều hiện nhân quả mà sanh ra pháp, nhân quả đều y như vậy. Suy nghĩ, tính toán, tác ý như thế nào, quả là sanh pháp y như vậy. Nếu tác ý có hành động gian dối, độc ác, xảo huyệt là tự hành hạ làm tâm đau khổ, bất an, không đổ thừa Trời hại, Phật hại, Quỷ Thần phạt, mà chính vì lòng tham lam, mê muội, tự ta hại tâm ta khổ não, rã rời, bất an, do thiếu sáng suốt thiếu trí tuệ, thiếu giáo lý, vì mê sắc thân, muốn thân sung sướng làm tâm khổ sở. Nếu cho chết là hết, Phật nói đó là Đoạn Kiến. Tự cho rằng hiện tại có thân nữ hay nam, sau khi chết sẽ sanh lại y như vậy gọi là Thường Kiến. Hai sở chấp này đều hiểu sai lầm gọi là Tà Kiến. Người sống bằng trí tuệ, thông hiểu rõ các pháp, không lầm pháp, là giải thoát sẽ vào Phật quốc. Còn người hiếu thảo, nhân nghĩa, sống thuận hòa với mọi người, thác sanh vào thế giới loài người. Người bố thí, cúng dường, làm phước, giúp đỡ mọi người, tu thập thiện, sanh cõi Trời. Người tâm độc ác, tham lam, sanh cõi Ngạ Quỷ, Địa Ngục, Súc Sanh, rất rõ ràng, theo nghiệp dẫn chúng sanh luân hồi “vạn pháp tự tâm sanh, Niết Bàn do tâm tạo”. Địa Ngục do tâm sanh, nếu hiện tại mang tâm người mà không giữ được giới hạnh tâm người, tâm Phật, tâm Bồ Tát, chỉ sử dụng bằng tâm niệm của ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh là tham sân si, thì không thể vào cõi lành được, nhân quả rất công bằng. Có hành động giống Phật vào cõi Phật, hành động giống người vào cõi người. Nếu hành động, tư tưởng giống ma quỷ thì vào thế giới loài ma, tự tâm mà có sanh ra các cõi. Như ở thế gian, nếu người ăn học trí thức thì làm việc nhẹ nhàng, không trí dốt nát thì làm việc nặng nhọc để sinh sống. Cũng là con người nhưng nghiệp quả, mặt mũi, hành động khác nhau vì căn tánh không đồng, mọi sự hiển hiện có tướng trạng đều từ tâm ý, thể hiện hành động, việc làm, bởi sự hiểu biết từng trình độ, chủng tánh minh hay vô minh mà sanh nghiệp, không thể do ý muốn, cầu xin mà được. Tâm còn gian dối, độc ác mà vào trước tượng Phật cầu xin bình an, hạnh phúc thì không có Phật Trời nào ban cho điều này được cả, chính tự đôi tay khối óc tự tạo hoàn cảnh cho ta. Ta không vĩnh viễn mãi là con người, tùy vào nghiệp báo dẫn ta vào pháp giới. Đời này được làm người, có thể đời sau tùy vào nghiệp mà đổi khác. Xác thân tùy nghiệp tạo dẫn ta mang kiếp thú cầm hay sanh vào địa ngục, ngạ quỷ. Người đạo đức không vào các cõi này. Nếu tâm địa độc ác, sau khi bỏ thân này, trong vòng 49 ngày, với trạng thái tâm lờ mờ gọi là thân trung ấm. Thân này dài lắm là 49 ngày, nếu người có tâm niệm tham lam sẽ là loài quỷ đói, trở lại tìm người thân xin ăn đòi cúng kiến, than đói lạnh. Còn các tâm niệm khác sẽ tùy duyên theo nghiệp báo vào bào thai mà thọ sanh. Con người sanh ra không trụ tướng trẻ sơ sinh, tướng trẻ con, tướng thanh niên, tướng thiếu nữ mãi, sẽ thay đổi theo luật thế gian là sanh, già, bệnh, chết. Phật nói, các pháp đều vô thường không bền chắc, những gì hình tướng có danh sắc đếu vô thường, luôn luôn thay đổi. Uy quyền, chức tước, địa vị, đều tạm huyễn, thay đổi vô thường, biến hóa tùy hoàn cảnh, ta cần sáng suốt biết rõ điều này thì không khổ. Các pháp là như vậy, không quyền lực, không thay đổi, nắm giữ, hay xua đuổi pháp được. Ta đến thế gian trắng tay, về cũng tay trắng, thật là chắc chắn như vậy.
Nhân quả tùy vào miệng nói, hành động của việc làm. Tu có phước là ý nghĩ lành, miệng nghĩ lành, thân làm lành, là phước, đó là giới luật giữ được tam thiện nghiệp. Nếu thiện đã giữ được, tức ba nghiệp thanh tịnh, là đã trì giới, thường sống với trí tuệ mới là Phước Huệ Song Tu. Luật nhân quả, luật vô thường đều y như vậy, không thay đổi, không thiên lệch, vốn tự nhiên. Ác nghiệp, thiện nghiệp tự nơi tâm người tự tạo tác, tự xây dựng, tự lãnh thọ, tự đày đọa, không ai thưởng phạt, trừng trị cả, tùy nhân mà có quả, vậy ta tu bằng cách nào? Phật nói “Đạo ta rất khó”. Nếu ta tu chịu khó, chịu cực, chịu nhẫn nhục, chịu xả ly vọng tưởng, vọng niệm thì hiện tại đời sống sẽ bình an. Khi bỏ xác thân còn lại thân Phật là bản thể trong sạch, thanh tịnh, giác ngộ giải thoát. Khó là giữ lỗ tai không nghe, không chứa chuyện quấy ác, không nghe chuyện phù phím thị phi nhân ngã, chỉ nghe điều lành, điều tốt ; mắt không đắm đuối hệ lụy vào danh sắc, không phải quấy, hơn thua, bỏ hết các niệm đòi hỏi. Mắt, mũi. thân, khẩu, ý phải giữ gìn cho chơn thật. Phật dạy, “Nếu người nào giữ gìn lục căn cho trong sạch, mắt, tai, thân, miệng, ý đều trong sạch, không để bợn nhơ, chắc chắn sẽ hết khổ”. Lục căn thanh tịnh, dù thấy biết hết vạn pháp là rõ thấu sự thật cuộc đời nên dứt tham, không còn dòm ngó, vướng bận cuộc đời, dùng tài sản là trí tuệ đem ra làm phước điền, không còn tranh đua, giành giật vì đã biết được vạn pháp. Trong vạn pháp có sắc thân con người cũng là vô thường. Giác thì không còn niệm vào ngũ dục, đời sống trong sạch, thúc liễm thân tâm, không còn ô nhiễm, bợn nhơ. Đất tâm là vàng ròng, sáng chói hào quang gọi là bổn giác, chơn tâm hay Cực Lạc. Tu là gìn giữ, nuôi dưỡng, bảo vệ chơn tâm. Giới luật là hàng rào che chắn không để cho khách lạ vào nhà. Khách trần là vọng tâm, vọng niệm. Nhà là bổn tánh chơn tâm, bổn lai diện mục, quang minh thường chiếu. Bậc A La Hán không còn khởi niệm lầm lỗi, dứt sạch phiền não, định lực kiên cố, tư tưởng tự do, không còn ràng buộc bởi các pháp, tâm trí tự tại thông suốt, đã buông bỏ tất cả các niệm trói buộc trong đời sống, làm chủ ý niệm, làm chủ tư tưởng, làm chủ pháp, làm chủ mọi ái nhiễm. Các danh từ tên gọi Phật đặt ra, để chỉ vào trình độ sáng suốt giác ngộ của mỗi người tu. Ngài đặt ra có quả vị không đồng, tùy vào Phật lực trí tuệ hiểu biết chiếu soi. Tự tánh A Di Đà là quang minh vô lượng chiếu khắp, rọi soi vô số cõi Phật. Từng niệm tự giác là từng công đức được xây dựng bằng Phật hạnh, là hành động đạo đức buông xả cõi tâm, tùy vào sự công phu, giữ gìn phạm hạnh, tự phát nguyện kết tựu đạo hành, công đức lớn nhỏ chẳng đồng. Đạo là nhân quả, là trí tuệ rộng lớn hay nhỏ hẹp tùy thuộc vào nguyện lực tu hành mà cõi tâm tự tại. Tự tánh A Di Đà là hào quang rực rỡ, siêu tuyệt hơn cả ánh sáng mặt trời, mặt trăng ngàn vạn ức lần mà kinh nói là tối tôn, tối thượng, cao tột. Tự tánh là tánh vua đối với các chư Phật nên có danh hiệu là vô lượng thọ. Tự tánh bền lâu, trí tuệ không hạn lượng, vô lượng hào quang chiếu suốt, vô cùng, vô tận là Vô Lượng Quang, hào quang rộng lớn không thể nghĩ bàn là Vô Biên Quang. Trí tuệ soi sáng không ngằn mé, không ranh giới, không chỗ cùng tận, chiếu đến đâu thì chúng sanh mê muội cũng đều giải thoát. Vô Ngại Quang là chiếu suốt vào mọi cảnh giới, không bị cản trở chướng ngại, không gì che chắn, tự tại thông suốt như hư không, bất luận nơi đâu cũng soi tới. Vô Đẳng Quang là hào quang trí tuệ bình đẳng không phân biệt, dù cõi Trời, Người, A Tu la, điạ ngục, ngạ quỷ, súc sanh đều chiếu diệu mà cứu vớt chúng sanh. Trí Tuệ Quang là trí tuệ sáng suốt chiếu khắp ba cõi tam thiên đại thiên thế giới, chiếu đến đâu đều phá tan ngục tối, cõi mê dục, si ám, dù tối tăm cũng đổi thành Cực Lạc thanh Tịnh. Thường Chiếu Quang là trí tuệ con người vốn thường chiếu, tự tánh hằng hữu, chỉ vì niệm mê nhiễm lục trần, làm che mờ hào quang chiếu soi tại cõi tâm. Thanh Tịnh Quang là hào quang tự tánh rất trong sạch, tự nhiên, không nhơ bợn một mảy trần. Tổ nói, “Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai”, sự thanh tịnh có công năng trừ tam độc cho tâm thanh tịnh. Hoan Hỷ Quang, tự tánh là tạng hoan hỷ, hạnh phúc. Nếu ta tu, chạm được vào hào quang ấy là đã có duyên gặp được bậc chân tu hay thiện tri thức khuyên nhắc, nhận được ánh sáng này làm tư lương tu tập, được hào quang chiếu ấn vào cõi tâm sẽ thơ thới, tự tại, an lạc, vui tươi. Giải thoát Quang, Phật lực của tự tánh khiến cho chúng sanh mê muội đoạn trừ các tội nghiệp, vượt chướng nạn ra khỏi thế gian, giải thoát sanh tử, chứng quả Bồ đề, sống chết tự tại. An Ổn Quang, năng lực sáng suốt của tự tánh giúp chúng sanh si mê chuyển hóa cho tâm an lạc. Siêu Nhật Nguyệt Quang là quang minh tự tánh A Di Đà Phật, vượt hơn sức sáng mặt trời, mặt trăng, vì sức sáng của mặt trời, mặt trăng còn giới hạn, không thể chiếu soi tới các cõi trong tâm, ánh sáng còn bị ngăn bít, chướng ngại, không chiếu được tới cõi địa ngục thiết vi, không thấu đáo được tâm ý con người, hào quang tự tánh A Di Đà tại tâm người, giác ngộ thanh tịnh chiếu soi, biết tất các pháp rất thù thắng, không hào quang hay sức sáng nào sánh kịp. Bất Tư Nghì Quang, bản giác trí tuệ sáng suốt của tự tánh nơi con người đã thanh tịnh, không thể suy nghĩ, diễn tả, giảng nói, bàn luận, phân tích được, chỉ có người trí tuệ giác ngộ được bản tâm tri kiến được tự tánh là thấy Phật tâm mới biết mà thôi.
Tất cả các danh từ diễn bày bằng danh hiệu chư Phật đều là pháp tướng. Phật dàn dựng phương tiện đặt ra, mục đích để chỉ bản giác, là chơn tánh của khắp chúng sanh mà trong mọi người ai ai cũng có, đó là hào quang trí tuệ. Tuệ giác của chúng ta cũng là hào quang giác ngộ của Đức Phật. Ngài đem quả diệu giác này chiếu soi từ trí tuệ Ngài truyền đạt ấn vào tâm chúng ta, gọi là truyền tâm ấn, tâm truyền tâm, đăng truyền đăng, mồi đèn trí tuệ. Ta tự chiêm nghiệm, khơi lại đèn tâm, (tâm đăng) cho tỏ rạng, để tiếp nhận những hào quang giác ngộ rực rỡ tại tâm mà sử dụng. Mục đích Phật mượn danh từ để chỉ tài sản quý báu của ta sẵn có, mà ta như Gã Cùng Tử mù mờ chịu nghèo đói, cơ cực, sự thật tôn quý tại lòng ta mà đành quên bỏ, để chạy theo những ảo tưởng giả tạm bên ngoài, đời đời phải chịu luân hồi đọa lạc.
Bản giác A Di Đà chính tự tánh ta đủ hào quang là vô lượng quang, vô lượng ánh sáng trí tuệ Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang, Vô Đẳng Quang, Trí Huệ Quang, Thường Chiếu Quang, Thanh Tịnh Quang, Hoan Hỷ Quang, Giải Thoát Quang, An Ổn Quang, Siêu Nhật Nguyệt Quang, Bất Tư Nghì Quang, trong tâm có tất cả. Phật dạy, những gì còn tướng hình, âm thanh, đều là huyễn giả. Nên Ngài không dùng những sắc tướng để dạy chúng ta. Tất cả đều là phương tiện để chỉ cho ta tri kiến bản tâm, thấy lại những gì tại tâm, vì vô minh ta quên bỏ. Đó là những quang minh sẵn có của con người, chỉ cần buông xả các pháp thế gian thì tánh Phật hiển bày, chiếu sáng khắp mười phương thế giới. Hào quang trí tuệ là bản tánh tuyệt vời nơi mỗi con người. Vì bất giác, mê lầm, khởi niệm trụ vào pháp giới, vô minh giữ chặt niệm tham lam, đắm lụy, sa đọa vào ba đường ác. Nếu ta cứ quán xét vào tâm, thấy được tam độc, quyết lòng lìa bỏ, tuy rằng các niệm si dại trong tâm bị bứt ngặt, đày đọa, khổ đau là những chúng sanh tại tâm, khi các niệm mê lầm gặp được hào quang A Di Đà thì nghiệp chướng tự tiêu tan, nhẹ nhàng siêu độ hết những ưu phiền, não loạn, hoan hỷ phát Bồ đề tâm, được quang minh tiếp dẫn thoát khỏi vòng tăm tối, bước sang đường giải thoát. Kinh nói, “Nếu chúng sanh nào chạm vào quang minh này cấu diệt, thiện sanh, thân ý nhu nhuyễn. Nếu trong tam đồ chỗ vô cùng khổ, thấy quang minh này đều được dừng dứt, đến khi mạng chung đều được giải thoát”. Người sống được với tự tánh A Di Đà là trang nghiêm được cõi tâm, nghiêm tịnh các dục vọng, tất cả mê lầm đã trống vắng, tư tưởng trừu tượng không còn chuyển lại, là thần thông trí tuệ. Đã thấy bản tâm, tự rà soát, định đoạt, kiểm điểm niệm lưu xuất qua từng hơi thở. Công phu là đạo hạnh dọn dẹp mọi vướng bận khổ sở, phiền muộn, lăng xăng. Tư duy để thông suốt pháp Phật, trách nhiệm của tự tánh là giác, tự nhắc nhở các chúng sanh tại cõi lòng, tự giảng giải thanh lọc sự mê nhiễm của các niệm đang duyên vào thế tục, nhất định viễn ly xa lìa, để chân thật sống bằng tánh giác. Cõi tâm là Tịnh thổ, đất địa bằng phẳng, rộng rải, được trang nghiêm bằng những tánh đức thánh thiện là từ, bi, hỷ, xả, dọn dẹp nhà Như Lai để đường đi không còn nhỏ hẹp, được xây bằng Bát Chánh Đạo trí tuệ là công trình xây dựng bằng Chánh Kiến, là sự thấy chơn chánh đúng chơn lý. Chánh Ngữ là lời ái ngữ, chân thật, ngay thẳng, trực chỉ vào tâm trong sạch, không nói thêu dệt, hoa mỹ bằng pháp thế gian. Chánh Tư Duy là suy lường bằng giáo pháp, suy nghĩ tìm lối thoát ra khỏi ba đường ác. Chánh Tinh Tấn là nhất định đoạn trừ tà vọng, tà niệm, buông xả hết những tập tục cá nhân, thói quen, vì bảo thủ tư lợi cho cuộc đời từ lâu mãi bám giữ. Chánh nghiệp là không còn đeo đuổi ảo vọng, tham sân si ái, quyết lìa ác nghiệp, luôn sống với nghiệp lành là chơn lý. Chánh mạng là thông suốt được sự thật cuộc đời là khổ, biết mạng sống tứ đại là tạm bợ vô thường, quyết lòng sống với tánh giác, trí tuệ sáng suốt thanh tịnh là nguồn sống, tuy mang thân tứ đại mà không đắm mê, chơn lý là mạng sống là chánh mạng. Chánh Định là xa rời địa vị, danh lợi chức quyền, không còn mê chấp niệm vào những tư tưởng ảo vọng, những lợi dưỡng cuộc đời không dành riêng cho mình, không niệm nhớ vào các cõi ác, cõi tù ngục, tâm rộng lớn đại bi, không ngăn ngại một pháp nào, tất cả đều vì đại chúng, không khởi niệm phân biệt là chánh định. Chánh Huệ là thấy biết các pháp như thật, nhìn vạn pháp bằng tuệ giác rộng lớn, cảm thông, không vướng chấp một pháp nào, sống bằng tánh không, là không tham, không sân si, không ái. Huệ là gương lòng chiếu diệu, tâm là ngọc bích minh châu, soi rọi giúp ta biết rõ pháp, tự kiểm tra từng đức hạnh tự trang nghiêm cho tâm càng thánh thiện. Khi nhìn vào quốc độ cõi tâm thấy ta còn tham, còn nóng nảy, u tối. Nếu phát hiện được các tâm niệm này, nhờ đọc tụng kinh điển, nghe Thiện Tri Thức nhắc nhở, tu tập hằng ngay nên biết xả tâm, xả các duyên, tâm tà vọng xả ly thì chơn tâm hiển lộ, cõi tâm là quốc độ trang nghiêm thanh tịnh thì vô cùng hoan hỷ, vô lượng an lạc, tuyệt diệu, thù thắng cùng cực an lạc gọi là nước Cực Lạc, bắt đầu thấy Như Lai ảnh hiện. Như lai không phải là hình tướng, âm thanh mà Như Lai là bản giác thanh tịnh, trong sáng tại cõi lòng, là hào quang trí tuệ, là chơn như bản giác. Vào được quốc độ này là hoàn thành đại sự nhân duyên mà chư Tổ, chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền đều y như vậy, gọi là truyền đăng tục diệm hay truyền tâm ấn. Kinh nói, “Nếu chúng sanh nào chạm vào quang minh kia, oai thần công đức, ngày đêm xưng nói, chí tâm chẳng dừng, chỗ nguyện tùy ý, sanh đặng nước đó”. Nước đó là Thường Tịch Quang, là chỗ của ba đời chư Phật.
Ai thấy duyên khởi là thấy pháp
Ai thấy pháp là thấy Như Lai
Những ai thấy Ta qua sắc thân Ta
Những ai nghe Ta qua tiếng nói Ta
Là những người ấy dấng thân vào sai lạc
Họ sẽ không nhìn thấy ta ( lời Phật dạy )
Tự nhiên tịch lặng pháp đời
Âm thầm tuôn chảy sống đời Thánh nhân
Vô tâm chẳng gợn não phiền
Sắc thân phàm tục giác chơn Niết Bàn.

Phẩm 13 :

THỌ MẠNG
ĐẠI CHÚNG VÔ LƯỢNG

Phật bảo A-Nan, “Phật vô lượng thọ mạng sống dài lâu, không thể tính kể, lại có vô số chúng Thinh Văn thần trí thông triệt, oai lực tự tại, lòng tay nắm cả thế giới”. Vậy chúng Thinh Văn là ai? Là người đã nghe được lời Phật thuyết, tu theo Phật, là biết sử dụng tánh giác, tu chứng ngộ đạo quả của Thế Tôn. Đạo quả ra sao?
Sử chép rằng, ngộ trận ma quân dưới cội Bồ đề khi thiền định, Ngài đã thắng ma quân, chứng Tam Minh Chánh Đẳng Chánh Giác lúc sao mai vừa mọc. Tam minh là Thiên Nhãn Minh, Túc Mạng Minh và Lậu Tận Minh. Ngài thắng ma quân thế nào? Ma quân có hai : một là ma ngoài thế gian, sắc, tài, danh, thực, thùy, là ngũ ma, gọi là ngũ dục. Gồm những điều ham muốn của ta ngay cuộc đời, vì ngũ dục này mà người tu khó chứng đạo quả, dễ biết mà khó buông bỏ. Hiện nay, người hướng tâm tu rất nhiều. Nếu có niệm khởi muốn tu được thành đạo, muốn được chùa to, muốn đệ tử đông, Phật tử nhiều, muốn được mọi người cung kính, tôn trọng, muốn được cung phụng, hầu hạ... hoàn toàn đều là lòng ham muốn. Phật dạy trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, tất cả đều là Ấm Ma, rất khó thoát ra vì còn Thập Kiết Sử. Ngũ ma mê sắc dục, mê tiền tài, mê vật chất, mê danh, mê địa vị, mê ăn uống, mê ngủ nghĩ. Ấm ma, cung phụng, nuôi dưỡng lòng dục là dục lạc gọi là nội ma. Ngày xưa trong sáu năm ròng rã, mỗi ngày Đức Phật chỉ ăn vài hạt mè, ngồi suốt để tu thiền định. Ngài dứt lìa danh vị, vợ con, ngai vàng, điện ngọc, bỏ thế lực uy quyền vương giả, bỏ hết các thú vui, bỏ sự hưởng thụ sung sướng cung phụng cho xác thân, sống đời phạm hạnh, dứt muốn biết đủ, Phật chứng đạo quả là nói được làm được, bỏ dục lạc được. Đạo Phật chủ đích tối ưu về nhân quả, gieo Bồ đề bao nhiêu thì hưởng bao nhiêu quả Bồ đề. Các pháp đến đi rất bình đẳng, rất chính xác và rất thực tế. Bỏ giả theo chơn là bỏ những gì không bền, không thật, sống với sự thật chơn tâm, bỏ việc làm điên đảo không chạy theo huyễn hóa. Bất cứ ai tu cũng hy vọng vào cõi Cực Lạc, nhưng ngày xưa Đức Phật muốn tu đến cõi tâm là Cực Lạc, phải tu đến lúc sắp bỏ thân mạng mới thấy được nguồn tâm, chứng ngộ đạo quả, phải trải qua quá trình cực nhọc mới chuyển tâm thành Cực Lạc. Nhiều lần té ngã rồi tự đứng lên, mỗi lần té ngã chỗ nào thì về sau đến chỗ đó cho ta kinh nghiệm, cảnh giác, giúp ta đứng vững, vượt lên. Bản lai chơn tánh vốn thanh tịnh hằng sáng, bởi luân chuyển nhiều đời, nhiều kiếp nên dễ sa ngã, vì vô minh cứ đuổi bắt theo sắc, theo tiền tài, theo vật chất, đọa vì tình ái, té ngã vì danh vị. Nếu quán xét thấy té ngã phải tự đứng lên. Pháp trùng trùng theo duyên khởi, không của riêng ai. “Lại có vô số Thinh văn, thần trí thông đạt”. Nếu nghe được lời Phật dạy, xây dựng lại những gì đã gãy đổ, đứng thẳng là hạnh Tịnh độ, không sa ngã theo tình ái, tiền tài, danh lợi. Đạo vốn ngay trước mắt, chỉ tại ta hành không được. Khi nghiên cứu, đọc tụng kinh hay nghe thuyết giảng, nhận ra ta đã lầm vấp vào những điều sai quấy, lập tức buông xả, trí tuệ sẽ khai mở thông đạt, vì tánh giác đã nhận ra các pháp là huyễn, không thật, buông xả vọng thì tâm trí thông thoáng, sáng suốt, trí tuệ rộng lớn, là thần trí thông đạt. “Oai đức tự tại, lòng tay nắm trọn cả thế giới”. Khi hiểu biết rành các pháp nên không còn chướng ngại, mê nhiễm. Pháp đến dù thuận hay nghịch, lòng vẫn tự tại, không xao động bởi khổ vui. Trí tuệ nhận biết, thông thấu tất cả pháp như nắm trong lòng bàn tay, đã làm chủ vạn pháp cùng tất cả thế giới, các cõi tại tâm, vì thế giới tự tâm sanh. Thấy lòng ta còn ham muốn thì thế giới cõi tâm là ham muốn, tham lam. Tâm còn sân si, nóng nảy là thế giới cõi tâm đầy hận thù, độc ác. “Trong hàng đệ tử Ta, Đại Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất”. Mục là mắt, Kiền Liên là hoa sen. Ý Phật dạy, ta hãy mở mắt hoa sen ra sẽ có thần thông là hào quang trí tuệ sáng suốt, thấy lại tánh giác ( thấy Phật ). Nếu không mở được mắt hoa sen, không phải là đệ tử Phật. Mắt phàm tục chỉ thấy ngũ dục là sắc, tài, danh, lợi, là mắt ô nhiễm, là đệ tử của Ma Vương, không sống được với bản tánh Như Lai. Như Lai chính là tự tánh A Di Đà, thường sáng suốt, chỉ vì ta mù mắt hoa sen nên không nhìn thấy. Đó là chướng nạn bị mù, một trong tám nạn của người tu. Nếu khai sáng mắt hoa sen thì thần thông bậc nhất. “Trong một ngày đêm thì biết rõ tinh cầu trong tam thiên đại thiên thế giới cùng các chúng sanh”. Kinh nói, Thánh nữ Quang Mục trong kinh Địa Tạng. Thánh nữ cũng là tâm niệm một người đã tự chuyển đổi niệm thấp hèn, bỏ mê tự giác, tâm phàm phu chuyển đổi thành tâm thánh thiện gọi là Thánh Nữ, đã tự quy y Phật, là quay vào bản tâm tìm mẹ. Mẹ là tự tánh thường sanh ra muôn pháp. Tự tánh là Mẹ nhưng vì bất giác khởi niệm sanh ra các niệm mê lầm, sống bằng các sự tham muốn dục vọng bên ngoài, bỏ tâm thanh tịnh, bỏ chơn lý nên nói mẹ là ngoại đạo. Khi gặp đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai nghĩa là từ tánh giác chiếu diệu hào quang trí tuệ gọi là giác hoa, tâm tự tại an định là định tự tại. Tánh giác thống trị làm chủ pháp, là vua các pháp, gọi là Vương Như Lai, là bản giác chiếu soi bất động trùm khắp pháp giới. Ý kinh dạy ta quay vào tánh giác có sẵn, dùng trí tuệ mà quán sát cõi lòng, ngồi ngay thẳng là thiền Xa-Ma-Tha, chỉ định quán trực tâm, chỉ nhớ trí tuệ là tánh giác thiền định suốt một ngày đêm, được qua bờ biển bên kia là ra khỏi biển mê qua bờ giác, nhìn vào tâm bằng tuệ giác thấy tất cả niệm ác tại tâm vô biên, vô số chúng sinh thoạt chìm nổi trong biển mê, bị các thú dữ giành nhau ăn thịt, cũng là các tâm niệm chính ta, ngay ở cuộc đời vì miếng ăn mà sát phạt, giành giật, chém giết, giận hờn, căm ghét, lừa đảo nhau vì tiền tài, sắc đẹp, địa vị, ăn ngủ mà loạn tâm, bất an vì tham vọng.
“Thánh Nữ nhờ nương sức niệm Phật nên tự nhiên không kinh sợ”. Người sống bằng thiền định giác ngộ khi biết các pháp thế gian luôn sanh diệt, tạm gá, vô thường, đến đi tùy duyên, tùy nhân quả, không thật, nên lòng tự tại an ổn, dù thuận hay nghịch duyên, đến đi đều tự nhiên, tâm là thiền định nên không khiếp sợ, biết không pháp nào là của ta nên lòng an ổn bình thường. Có Quỷ Vương Vô Độc (niệm không độc) là chúa loài quỷ, chuyên cai quản các tâm niệm độc ác, giúp đỡ các niệm thâm độc chuyển hóa thiện lành gọi là Vô Độc Quỷ Vương. Thánh Nữ hỏi rằng, “Tôi nghe trong núi Thiết Vi là núi nghiệp cứng chắc như sắt thép, khó phá vỡ, khó chuyển đổi được, việc ấy có thiệt như thế chăng?” Nếu ta dùng hào quang sáng suốt quán tâm vào tánh nghe thanh tịnh, nghe tại cõi lòng ta có những tâm niệm khổ đau, phiền não, oán hờn, còn bị đày đọa chưa chuyển hóa, vì tham muốn, sân hận, muốn tiền của, muốn tình ái, muốn danh lợi... không được như ý thì sân hận, trách móc, đó là cõi tâm thiệt có Địa Ngục, tâm hiện có các sự khổ của cõi địa ngục. Quỷ Vương nói rằng, có đến nghìn trăm cũng không lường được sự thống khổ. Thánh Nữ hỏi Quỷ Vương, “Thân mẫu của tôi mới khuất gần đây, không rõ thần hồn của người phải sa vào chốn nào?”. Thân mẫu của tôi, ý kinh chỉ tự tánh, mới khuất là bị vô minh che khuất hào quang trí tuệ bởi mây ngũ dục, mây cống cao ngã mạn, mây gian tham, mây lợi quyền, mây thập kiết sử làm khuất tánh giác. Các tâm niệm si mê là các chúng sinh trong cõi tâm sa hầm, lọt hố. Cứ mỗi niệm mê trụ vào pháp nào là sa đọa vào cõi đó. Tham thì vào cõi ngạ quỷ, niệm sân thì vào cõi súc sinh, si vào cõi địa ngục mà thọ nhận nghiệp.
Quang Mục nói, “Ngày còn sống, thân mẫu tôi ưa ăn thịt loài cá trạnh con hoặc chiên xào hoặc nấu, tha hồ ăn cho thỏa mãn”. Chúng sinh theo thói quen cuộc đời ưa thích ăn gian, ăn lận, ưa lừa đảo, giành giật vì miếng ăn mà ăn nuốt lẫn nhau. Cá trạnh là cá nhân, cạnh tranh bởi tham sân si phiền não. Cứ chiên nấu là luân hồi sanh diệt, làm món ăn nuôi thân phàm tục mê muội, không sợ tội lỗi, nhân quả, niệm niệm là nhân ác, chất chồng vô số vô lượng khổ đau, bởi quá nhiều niệm ác chất chồng, gọi là nghiệp dẫn chúng sanh luân hồi.
Khi bậc tu hành lòng trong sạch là vào dòng Thánh nên là Thánh nữ Quang Mục. Quang là sáng suốt, mục là mắt, tâm trong sạch là A La Hán, chứng quả vô sanh, kiến tánh là thấy được tánh giác, thấy được những niệm mê lầm đã tự chuyển đổi, thấy được tất cả, lòng đã trong sạch hay còn đau khổ tự mà thanh lọc, đã giác ngộ bản tâm vốn sẵn thanh tịnh, không còn vướng trụ vào pháp thế gian nên cõi tâm bình an, quốc độ là Cực Lạc, không còn não loạn. Nên kinh nói, “Thánh Nữ hãy về, chớ đem lòng thương nhớ, buồn rầu quá, mẹ người đã được sanh lên cõi trời, đến nay đã ba ngày rồi”, ba ngày là vượt qua 3 cửa nghiệp tham sân si. Cực Lạc không tìm đâu xa, không chờ đợi hay cầu xin, chỉ buông xả hết các niệm mê nhiễm, giữ tâm thanh tịnh, không luyến ái, đắm lụy pháp trần là chứng ngộ Vô Sanh, quả A La Hán. Nên kinh nói, Thánh Nữ được vị La Hán phước lành độ Quang Mục thuở đó chính là Vô Tận Ý Bồ Tát. Là ý sáng suốt vô tận, vị Bồ tát ngay trong lòng ta. Thân mẫu Quang Mục là ngài Giải Thoát Bồ Tát, tức là tự tánh sáng suốt, là trí tuệ giải thoát tất cả luyến ái cuộc đời ra khỏi tăm tối, vô minh. Tâm là cõi an nhiên tự ta, còn Thánh Nữ Quang Mục chính là Bồ Tát Địa Tạng. Địa Tạng là tạng tánh, là ý trong sáng tại tâm địa, tự giác ngay chính tại tâm ta, sẵn sàng cứu vớt, rước các tâm niệm mê lầm về cõi Tây Phương Cực Lạc. Bồ Tát Địa Tạng tại tâm ta phát nguyện rằng, “Nếu địa ngục chưa trống không thệ không thành Phật”, là nguyện độ vô biên chúng sanh trong tâm đắc thành chánh giác. Nếu ta chuyên cần tu thiền định trong một ngày đêm, khi quán xét vô tận tu trong tứ oai nghi, khi đi, đứng, nằm, ngồi thường giác như Thánh Nữ Quang Mục trong Kinh Địa Tạng, tự tánh sẽ chiếu soi thấy hết cả các pháp tham sân si, phiền não, ích kỷ, hẹp hòi, xiểm nịnh, ngã mạn, tự cao... gọi các niệm này là vô số chúng sanh ở trong tâm. Tam thiên đại thiên thế giới đều biết rất rõ, biết ta còn bao nhiêu chúng sinh tham lam, còn bao nhiêu chúng sinh ích kỷ, còn bao nhiêu chúng sinh ham muốn, được bao nhiêu chúng sinh đã giác ngộ, tự thấy rõ ràng, nếu có mắt hoa sen thì chỉ trong một ngày đêm biết tất cả. “Giả sử chúng sanh trong mười phương đều chứng quả Duyên Giác, mỗi mỗi Duyên Giác thọ vạn ức năm”. Bậc Thinh Văn nhờ đọc tụng kinh điển, nhớ lời Phật dạy, lo tu, thần trí đã thông, thường nghiên cứu kinh điển, thường Văn, Tư, Tu, nghe kinh văn thực hành mà tu vì sợ khổ. Thinh Văn thì chưa biết nhân quả, chỉ y theo lời Phật dạy mà tu, biết Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, biết sanh già bệnh chết, biết ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ. Sau khi nghe Phật dạy, giác ngộ nhân quả tu hành, biết rõ các duyên do vô minh mà sanh ra các pháp, giác ngộ nhân duyên nên trình độ tu chứng ngộ là quả Duyên Giác. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ý cũng diễn nói thế giới Cực Lạc phương tiện cũng giống nhau. Tất cả các kinh đều chỉ vào tự tánh. Cực Lạc có vô số Thinh Văn thông đạt tất cả pháp. Thế giới của vô số Duyên Giác cũng ở ngay tự tánh, đã chiêm nghiệm đủ các duyên, tạo ra mọi hoàn cảnh cõi thế gian, Cực Lạc tại tâm ta, vạn pháp do tâm sanh. Nhờ tu học biết sửa tâm, giữ tánh mà tâm có Thinh Văn, Duyên Giác, biết tâm có đủ các cõi, các quả vị. Các thế giới đều ở tại ( lòng ) chính tâm ta, không mơ hồ, cầu khẩn nơi đâu mà có. Còn tâm niệm cầu xin là người sơ cơ mới tập hướng tâm, mới hướng vào đường tu, chưa tỏ ngộ được tự tánh, nên còn nương dựa pháp tướng là pháp thế gian, cho tạm an ổn tâm. Ta cần biết rõ tự quy y Phật là tự quay về nương tựa Phật tánh, tự độ, tự tịnh cõi tâm. Khi còn mê thì nhờ Phật độ, khi giác ngộ rồi tự tánh con tự độ lấy con. Mê thì còn van lạy cầu xin Phật, khi giác ngộ rồi tự ta thành Phật. “Mỗi mỗi Duyên Giác thọ vạn ức tuổi, có thần thông như Mục Kiền Liên”. Mỗi mỗi ý là cứ mỗi lần niệm khởi, mỗi niệm đều hằng giác đều phát sáng thần thông, sáng suốt khi duyên khởi lên gọi là Duyên Giác. Cứ giác được một duyên là kinh nghiệm tăng lên sức mạnh, tự tích lũy cho thọ vạn ức năm. Vì mỗi khi vấp ngã, ta tỉnh thức, giác biết tự sửa chữa, đó là kinh nghiệm về sau. Khi khởi niệm tự sáng suốt an định, không để niệm duyên theo cảnh, sanh tâm sa vào sai phạm, nên niệm niệm sáng suốt, sống mãi, giác mãi là thọ vạn ức tuổi, nghĩa là tánh giác sống vạn ức năm, không còn bị pháp sanh diệt vô minh giết chết trong sa đọa. Mỗi niệm tự giác sống vạn ức năm, nên pháp thân Tỳ Lô Giá Na có vô lượng niệm giác, đã thành tựu trí tuệ viên mãn, nhiều niệm giác hợp lại gọi là đại chúng. Nên kinh nói, thọ mạng đại chúng vô lượng vạn ức năm, không còn sa đọa vào sanh tử luân hồi. Nếu vấp ngã phải dùng mắt hoa sen, tự đứng dậy là tự giác sửa sai. “Dùng hết thọ mạng, vận hết trí lực cùng đem so tính với số Thinh Văn trong hội Phật kia trong ngàn vạn phần chưa được một phần”. Nếu không hiểu giáo lý, không sống được với chơn lý, ta vẫn mê muội, không thể dứt mê lầm, cứ tưởng đời cứ mãi như vậy. Khi được nghe giảng kinh, thuyết pháp, biết tu học, được giác ngộ, mới biết xưa nay ta mê quá nhiều, không biết bao nhiêu lần mà tính hết. Không biết bao nhiêu lần đã niệm rơi vào sa đọa, nhờ mở mắt hoa sen thấy được vạn pháp biết không thật, nên tự giác đã sáng suốt, nên không tái phạm vấp ngã vào sai lầm. Mỗi lần vấp ngã, tự giác vượt lên, là kinh nghiệm cho sự thành công. “Ví như biển lớn sâu rộng vô biên, nếu lấy sợi tóc chẻ ra trăm phần, nghiền thành bụi nhỏ, lấy mỗi bụi nhỏ thấm với nước biển, nước nào nhiều hơn”. Lời dạy dỗ của Phật thật nhiều, dạy từng đường tơ kẽ tóc, giống như lấy sợ tóc tán ra thành một trăm phần, rồi lấy hạt bụi thấm vào nước biển, mà so với nước trong biển cả, thì nước từ bụi tóc chẳng được bao nhiêu. Tự tánh trùm khắp pháp giới, rộng lớn như biển cả, không thể chỉ đếm, nói, dạy hết được. Ta cần ngồi tư duy, tu thiền định. Thiền là một danh từ, một pháp tu có tên gọi để diễn tả cách hành trì chiêm nghiệm vào tâm. Vui mừng, hoan hỷ khi giác biết những niệm sai lầm mà ta thường vấp ngã, đã bắt gặp những sai lầm, phải tự phát nguyện, khi hành động phát sinh đều từ những tâm niệm tốt đẹp. Phải thấy thật rõ ràng Tín Nguyện Hạnh, là sự cao thượng nơi lòng từ bi hỷ xả. Không tự dối lòng mà bao che tội lỗi, tự dối mình. Nguyện quyết chừa bỏ không tái phạm, nguyện rất kiên cố. Tín, Nguyện, Hạnh là Tam Tư Lương, hành trang dùng làm lương thực cho ta trên đường về Cực Lạc. Đường Cực Lạc là xả bỏ lòng tham, trị lành hết mọi ung nhọt là bệnh hoạn, làm lở loét tâm hồn, phải trị lành bệnh tham, sân, si, ái tại lòng ta, tự mà trị bệnh, không thể nguyện cầu, van lạy mà hết bệnh được. Tham, sân, si, ái, là những chúng sinh bệnh hoạn, đau khổ, vô lượng, vô biên tại cõi tâm, đang chờ hào quang của tánh giác là các niệm sáng suốt đã giác, cũng tại tâm ta. Những hào quang có danh từ gọi là Thinh Văn, Duyên Giác, các Bồ Tát, Phật, Vô Biên Quang Như Lai, Thanh Tịnh Quang Như Lai, Hoan Hỷ Quang Như Lai, An Ổn Quang Như Lai, Trí Huệ Quang Như Lai, Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai, Vô Ngại Quang Như Lai, Bất Đoạn Quang Như Lai v.v... Các Bồ Tát Thường Tinh Tấn, Bồ Tát Hiền Hộ, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí v.v... Có Bồ Tát Địa Tạng tại tâm ta, thường phá ngục tham sân si bằng tích trượng, bảo châu. Tích trượng là gậy như ý, kim cang cứng chắc. Bảo châu là ngọc trí huệ chói sáng hào quang, các báu này ai cũng có, là pháp bảo. Bồ Tát Địa Tạng tại tâm ta, tự dùng pháp báu tại tâm ta mà tự cứu vớt niệm mê ra khỏi ngục tại cõi lòng ta. Nên kinh dạy :
“Chúng sinh vô biên thề nguyện độ
Phiền não vô tận thề nguyện đoạn”.
Ta dùng chí lớn ngay cuộc sống có danh hiệu là Đại Thế chí Bồ Tát tại tâm, mà quán xét, cứu vớt chúng sinh đang đọa đày, bứt ngặt, khổ não nơi tâm ta. Khi nhận biết được hào quang đức độ quán âm, là ta đã được thọ ký cứu khổ. Ta biết xả tâm, ta biết từ bi, hoan hỷ, đã được quang minh, là hào quang quán âm chạm đến, nên kinh Phổ Môn dạy :
Quán Âm thọ ký làm tin
Tùy duyên thuyết pháp độ mình hết mê
Nương theo Bồ Tát trở về
Thấy mình ngồi gốc Bồ đề giống in.
Gốc Bồ đề chính là bản tánh chơn tâm, gốc tại lòng ta giống in như Phật.
“Này A-Nan! Các vị Mục Kiền Liên thảy còn biết được số lượng, còn nước nơi biển cả so với bụi tóc không thể tính đếm được”. Mục Kiền Liên là danh hiệu của người chứng ngộ thần thông sáng suốt. Mục là mắt, Kiền Liên là hoa sen. Mắt hoa sen mọi người đều có, mắt nhìn vào đức tánh hiếu thảo, gương hiếu hạnh cứu mẹ ra khỏi địa ngục là đại hiếu. Đức hiếu thảo nằm ngay tự tánh, niệm si mê cũng trong lòng tự tánh, là các pháp thường sanh diệt. Các pháp đều nằm trong lòng mẹ là tự tánh. Có người đặt danh từ là Địa Mẫu là chỉ ngay tâm địa của ta. Mẹ rất hiền từ, chịu thương chịu khó, thanh tịnh tự nhiên, nhẫn nhục mà không than trách. Ta là những vọng niệm có tướng hình, sinh sống, sinh hoạt ngay mình mẹ, ăn uống, trồng tỉa nhờ thân mẹ, tiểu tiện, đào bới, xây dựng nhà cửa, khi chết bỏ xác thân cũng nằm vào lòng mẹ, tất cả đều nhờ sự đùm bọc thương yêu của mẹ, sống hay chết đều ở trong lòng mẹ, nên có danh từ gọi mẹ là từ mẫu. Các tâm niệm thương giận, ghét ưa, vui buồn, từ bi hỷ xả đều trong lòng mẹ sanh ra. Nên bậc hiếu thảo là chọn lựa những tâm niệm thanh cao, đức độ, hiếu hạnh mà sử dụng trong đời sống, không để mẹ đau khổ, hổ thẹn, không làm nhơ uế cõi tâm là tâm địa. Tự giác là biết dọn dẹp đất tâm ngày càng trang nghiêm, tráng lệ, không làm tâm phiền não, khổ đau. Lúc nào mẹ cũng vui là lòng ta thường hoan hỷ, thanh lương, nên người có tâm đại hiếu là tự cứu lấy các niệm si mê, tăm tối, không còn uế nhiễm, vẫn đục, để cõi tâm là Cực Lạc. Đã giải thoát khỏi vô minh các niệm tham, sân, si, hờn oán, đã buông xả là vãng sanh, siêu thăng không còn sự điên đảo trên đất tâm gọi là Tịnh độ hay tâm địa là Tịnh Thổ. Vạn pháp đều tại tâm ta. Tâm có đủ hạt giống, nếu nuôi dưỡng giống ác thì đất tâm toàn cây ác, chăm sóc tưới tẩm giống thiện lành là cây Bồ đề thì Bồ đề càng ngày thêm to lớn. Vậy ta nên dùng hào quang trí tuệ, dùng mắt hoa sen mà tu sửa bản tâm, săn sóc tâm, tự cứu tâm là cứu mẹ, cứu tự tánh ra khỏi đọa đày đau khổ trong hận thù, tham, si, ái, dục. Vì Phật muốn chỉ hiếu hạnh tại tâm nên Ngài chỉ vào Kinh Vu Lan mà thuyết Báo Hiếu Phụ Mẫu Trọng Ân. Có sự tướng là bà Thanh Đề, chỉ vào tâm niệm con người chỉ biết sống với niệm hận oán, thù hằn mà quên tánh giác, quên niệm nhớ Phật tánh chính mình. Sự hận thù là nghiệp tại tâm, chấp chặt, trói buộc, dẫn tâm bà vào cõi địa ngục vô gián, bị hành hạ khổ đau không gián đoạn không ngơi nghỉ. Ngài Mục kiền Liên dù trong tay có đủ thần thông cũng không cứu bà được, nghĩa là ta cũng có sẵn sự sáng suốt, trí tuệ, nếu không sống được với trí giác này, vẫn si mê, sân hận, thì không ai cứu được. Cơm mà ngài Mục Liên dâng cho mẹ là cơm Hương Tích, là giáo pháp chánh minh, nhưng cõi lòng bà đầy lửa sân hận rực cháy nên cơm bị lửa sân đốt cháy. Bà không tiếp nhận được lời khai thị của ngài Mục Liên, không ăn được cơm Hương Tích. Tâm bà là u mê, ám độn nên không siêu độ được chúng sinh tại lòng bà là các niệm thù hận, độc ác còn mãi, cho dù Ngài là thần thông đệ nhất nhưng không cứu được mẹ ra khỏi khổ đau. Ngài phải quay về thỉnh Phật, nghĩa là tìm phương pháp chỉ bà quay về tự tánh, tri kiến được Phật tánh, buông xả những tà tâm, tà niệm mê si, sân hận, liền khi đó bà giác ngộ, được vãng sanh. Các chúng sinh ở địa ngục là các tâm niệm độc ác tại lòng bà đều giác ngộ, khi dùng trí tuệ để thí xả, giải thoát mọi hận thù, sân nộ, cõi lòng là trong sạch, an tịnh, không còn vướng mắc vào các pháp não loạn. Tất cả các niệm mê muội, độc ác là những chúng sanh tại tâm, đồng thoát khỏi địa ngục, siêu thăng Tịnh độ. Nếu ta dùng mắt như ngài Mục Liên là mắt hoa sen, sẽ thấy tại lòng ta đau khổ vì vô minh, si ái, phải tự giác cứu vớt ta, chuyển mê khai ngộ, chuyển các niệm phàm phu thành những niệm của bậc Thánh Nhân, là đức độ của bậc đại hiếu, tự cứu mẹ là cứu tự tánh ta được trong sáng, không bị mây trần che mờ, mất hẳn hào quang trí tuệ. Hiếu có ba bậc : Tiểu hiếu, Trung hiếu và Đại hiếu.
1. Tiểu hiếu : Là người biết nuôi dưỡng, hầu hạ, lo ăn mặc, ốm đau, chu toàn đầy đủ cho cha mẹ là tiểu hiếu.
2. Trung hiếu : Là đạo đức, tánh hạnh sống trong đời, làm điều nghĩa nhân, đem tiếng thơm lành cho cha mẹ vui lòng, không làm cho cha mẹ buồn khổ dó là hạnh hiếu.
3. Đại hiếu : Là đức độ người giác ngộ, tự độ mình, đem trí tuệ khuyên nhắc cha mẹ biết niệm Phật, tu sửa bản tâm, bỏ lòng ác, sống thiện lành, tu giải thoát, không còn luân trầm đọa lạc là bậc đại hiếu. Đối với mọi người cùng các loài, người đại hiếu phải có lòng từ bi hỷ xả, sống bằng hạnh nhẫn nhục, thương yêu, coi tất cả như chính thân mạng ta, hết lòng giúp đỡ, tìm cách làm lợi ích cho muôn loài. Vì tất cả mọi tướng hình, từ con người đến súc sinh có mặt trong cuộc đời đều do nghiệp dẫn, theo từng quả báo, nhân quả mà mang tướng nghiệp, đều có nhân duyên cùng nhau, những đời trước họ cũng là ông, bà, cha, mẹ, con cái, chồng vợ, anh em của ta, do luần hồi xoay chuyển tử sanh quanh lên lộn xuống từng là quyến thuộc nhiều đời, thương yêu oan trái cùng nhau. Vì vậy hiện tại có thân ngay đời sống, cần giác biết sống nhẫn nhục, yêu thương, không cấu xé, tranh giành, sẵn sàng giúp đỡ mọi lúc mọi nơi, coi mọi loài như ruột thịt, lòng hiếu thảo cùng đại chúng, nên tâm hiếu lan rộng khắp nơi, chan rưới khắp loài mới gọi là đại hiếu. Tánh đức hiếu thảo này mọi người đều có, dùng mắt hoa sen sẽ thấy được tại lòng ta, gốc của bản thể chơn như là đại hiếu. Khi mắt trí tuệ hoa sen được khai mở, biết tánh giác là vô lượng hào quang, nên các pháp so với tự tánh cũng không biết hết được. Nếu một giọt nước từ bụi tóc so với biển cả thì không có nghĩa gì cả. Cứ mỗi lần vấp ngã, liền giác, là tự giác phần, giác từng phần. Tự giác là khi mắt thấy, tai nghe, trí phải thật nhanh lẹ, khi đối diện các pháp là các hoàn cảnh trước mắt, lập tức sử dụng bằng tánh giác. Ngày xưa Phật tu như vậy, ngày nay ta cũng tu như vậy mới là y pháp. Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai đều y như vậy. Ta ở trong tài sản, vật chất thế gian, phải thật giác biết rõ ràng, biết pháp nào là khổ, khổ từ tội lỗi, khi có mặt của sắc đẹp ái dục xuất hiện tại lòng, liền giác nhanh lẹ, kịp thời, không để nghiệp si mê cuốn hút vào tội lỗi. Kinh phật dạy, bất cứ việc gì dù nhỏ hay lớn, vật của thế gian, ta không xin tự ý lấy cũng là tham. Phạm tội ăn cắp sẽ đọa địa ngục, ngạ quỷ vì cõi tâm hiện là ngu tối, u mê, ám độn, không sử dụng được tánh giác. Tu là thường cảnh giác, giữ gìn từng ý niệm gọi là thường giác. Ăn cũng giác, ngủ cũng giác, giác từng phần, tích lũy xây dựng từng tâm niệm thiện lành không gián đoạn.
“Các vị Mục Kiền Liên kia, chỗ đếm biết được như nước bụi lông, chỗ chưa biết được như nước biển lớn, mạng sống Phật kia, cùng chư Bồ Tát, Thinh Văn, Trời, Người, thọ mạng cũng vậy, không thể nào dùng toán số ví dụ mà biết hết được”. Nói đến thọ mạng danh từ các vị là chỉ các niệm sáng suốt tại đất tâm con người đã giác, là hào quang Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Trời, Người. Các chúng sinh trong tự tâm nhiều vô cùng, vô tận, không có toán số nào giải nói hết được. Khi đã mở được mắt hoa sen (Mục Kiền Liên) là mở được thần thông trí tuệ sáng suốt, thấy biết hết mọi chúng sinh nhiều vô số tại cõi tâm, khắp mười phương, khắp pháp giới, to lớn vô cùng. Sự to lớn là bản giác thanh tịnh, thênh thang, soi sáng thấy hết chúng sinh, bủa lòng từ bi là hào quang trí tuệ mà giáo hóa, nhắc nhở, khuyên dạy dỗ chúng sinh, không đoạn diệt hay sát hại một chúng sinh nào, dù có rất nhiều chúng sinh là các tâm niệm vô minh, mê loạn ở tại cõi tâm còn ngu muội cũng bủa lòng từ bi nguyện độ. Chơn lý Phật không hề đoạn diệt mà chỉ sửa sang, trang nghiêm cuộc đời, là quốc độ cõi tâm cho tốt đẹp, thanh cao, không ghét, tham, sân, si, phiền não, không ghét bỏ hay ham muốn, lòng không vướng trụ, chỉ một lòng nguyện độ cho đến khi các niệm mê được giác, biến tham, sân, si, phiền não, hận thù, ái dục là các niệm khổ trở thành trí tuệ. Nhờ các Bồ Tát tưới tẩm chúng sinh bằng lòng từ bi, tưới bằng cam lồ là ánh sáng chơn lý bao dung, là nước mát cam lộ có sẵn trong bản giác tại tâm ta, tự sáng suốt tri kiến nhận ra, mà thỉnh mời đúng với thuyết lý nhà Phật, Phật tại tâm ta. Nam Mô Cam Lộ Vương Bồ Tát, không bực bội, phiền não mà chặt bỏ cây ấy mà dùng trí tuệ giác ngộ chuyển hóa cây phiền não tức Bồ đề. Không khởi tâm ác là chặt đứt, giết bỏ pháp, không khởi niệm chán ghét, chỉ thể hiện lòng giác chơn thật, nguyện tu độ chúng sinh dang chịu đọa đày trong rừng mê, biển khổ tại cõi tâm. Pháp giới là địa ngục vì hiện cuộc sống tâm đang là vô minh, u ám, sân hận ngút ngàn. Hãy dùng Phật lực là hào quang nơi lòng ta tìm các tâm niệm Bồ Tát thị hiện sự an lành, từ Hoan Hỷ Tạng hiện lên thuyết minh, tìm cách nuôi dưỡng mà giáo hóa chúng sinh khắp mười phương thoát luân trầm khổ ải. Vì thế, nên Phật nói các chúng sinh đã giác là Thinh Văn, Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát, Phật, Trời, Người, A Tu La, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh hiện tại ở nơi lòng ta. Nếu mỗi niệm khởi giới hạn, trụ vào một cõi, gọi là vào một pháp giới. Ra khỏi các niệm mê là giác, sáng suốt tỏ ngộ khắp mười phương cõi nước, thấy bằng mắt hoa sen, dùng mắt thần thông giác từng pháp là tự giác phần, giác đến vô lượng giác. Nhiều niệm giác, niệm niệm đều giác là chư Phật, chư Bồ Tát, dạo khắp mười phương thế giới. Đó là các tâm niệm thường giác không gián đoạn, rất nhiều đại chúng thọ mạng đầy đủ, không dùng số đếm mà nói cùng tận được, bất khả tư nghì, toán số cũng không ví dụ mà biết hết được.

Phẩm 14 :

CÂY BÁU KHẮP NƯỚC

Thế giới Cực Lạc có rất nhiều cây báu, là các loại cây quý. Ở thế gian cũng có rất nhiều loại cây, đất có sẵn muốn có cây thì phải trồng, phải chọn giống. Đất tâm cũng vậy, có cây báu là nhờ người sáng suốt biết lựa giống cây quý báu mà gieo trồng chăm sóc, nuôi dưỡng cho kỹ. Muốn xây dựng đất Cực Lạc bằng cây quý phải tự trồng cây báu ngay tâm địa, là cõi lòng tại đất tâm mỗi người. Trồng vào tâm cây thanh tịnh là cây Bồ đề. Bồ đề được chăm sóc mau lớn gọi là Bồ đề đại thọ, gọi là Đại thừa. Đại là lớn, thừa là xe, đại thừa là xe lớn, là tự tánh có khả năng chở tất cả pháp, chở tất cả chúng sinh đến bờ giác ngộ. Ý Phật muốn chỉ ngay vào tấm lòng rộng lớn quảng đại, sẵn có nơi mỗi con người tại thế gian. Có hai hạng : Tiểu nhân và Quân tử.
Quân tử : Là bậc đại nhân, chỉ vào con người có lòng nghĩa nhân cao thượng, đại lượng, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả.
Tiểu nhân : Là người nhiều lòng sân si, ích kỷ, nhỏ mọn, hẹp hòi, ganh tỵ, độc ác.
Nói đến hai hạng người này, mục đích chỉ vào tâm lượng của phàm phu thấp hèn và tâm rộng lớn của bậc Bồ Tát, còn tâm nhỏ mọn không thể vào cõi này được.
Kinh nói, cây báu khắp nước là chỉ ngay vào thế giới cõi tâm con người hiện là Cực Lạc hay Địa Ngục. Cõi tâm là Cực Lạc thì có vô số cây báu sáng suốt tốt đẹp, thương yêu đạo đức, từ bi, tha thứ. Nếu đất tâm hiện là cõi địa ngục thì hiện tại có tâm niệm tham lam, sân hận, oán thù, sân si, khổ đau, dằn vật, bứt ngặt là loại cây gai gốc, xấu xí.
Cực Lạc có nhiều cây báu, vậy cây thế nào gọi là Báu? Cây báu chính tự ta trồng, tự chăm sóc, tự nuôi dưỡng, tưới tẩm, tưới bằng nước Cam Lồ. Cây báu là cây Bồ đề, là hạt giống chánh giác, chánh minh, lựa chọn bằng chánh tri kiến, là hạt giống đạo đức. Đức là công hạnh, hành động của các niệm giác gọi là Bồ Tát tại tâm. Cây báu là loại không chen cây ác, cây độc, là niệm ác độc không có cây ích kỷ hại người, chỉ tâm thiện lành, bố thí, cúng dường, làm mọi công đức qua hành động thánh thiện. Tất cả việc làm đều phục vụ cho cuộc đời tươi vui, mà không cầu riêng tư gì cho cá nhân cả, dù gặp nghịch cảnh, nghịch duyên, có ai nặng nhẹ, chửi mắng, tâm vẫn bình an, không giao động, bất bình, đau khổ hay phiền não. Dù cho người thương ghét cũng biết pháp là không thật, lòng không bận rộn, ưu tư, đó là tự trang nghiêm, săn sóc cây báu, không hề để sơ sót ô nhiễm, cõi tâm không tỳ vết, đầy đủ đức độ. Nếu con người sáng suốt vì hiếu đạo là trồng được cây hiếu. Giống cây quý của con người trồng vào tâm điền. Người thương yêu chúng sinh hành động vì lợi ích cho mọi người, lòng không hề mong cầu, đòi hỏi, tư lợi, là trồng cây báu từ, bi, hỷ, xả tại cõi nước tâm mình. Người tu nhất định phát Bồ đề nguyện, nhất tâm nguyện trồng tất cả việc lành, dù lớn hay nhỏ, nguyện xa lìa các điều độc ác, tội lỗi, để đền ơn khắp chúng sanh, khắp vũ trụ. Vạn Phật là vạn niệm giác, là nhiều duyên lành kết tụ, nuôi dưỡng cho ta có được mà tu học. Mỗi hành động phát ra từ tâm ý vì hết thảy muôn loài, muôn người mà làm lợi ích chung. Hiện ta đang có thân, mà thân cũng là một pháp của nuôn vạn pháp hợp thành. Thân tứ đại là sắc pháp nhưng biết dụng sắc pháp làm lợi ích chung, không tác ý riêng tư, mọi việc đều là thiện hạnh đạo đức, được tích lũy bởi vô lượng giác mà hợp thành pháp thân Phật là Bản Giác Chơn Tâm, chiếu soi vạn pháp mà không vướng trụ vào khổ vui, lợi hại, khen chê, tốt xấu nên khắp nước trồng vô số cây báu. Cõi Cực Lạc tại tâm tự xây dựng từ các công trình đạo hạnh, công đức, không là ảo tưởng trừu tượng sẽ gặp ở trên trời, nơi cõi hư không mênh mông, không tìm kiếm bằng ảo giác, mà từ xưa nay chưa ai tìm được cả. Nên chư Tổ nói rằng, Cực Lạc chẳng ở đâu xa, mà chính ngay lòng rộng lớn bao la đầy đủ tuệ giác của người ta. Nếu lòng người eo hẹp thì không bao giờ cõi tâm có Cực lạc, ta phải biết lòng rộng lớn như thế nào? Đức Thích ca đã nhiều đời làm Bồ Tát, vậy Bồ Tát làm gì ? Tại triều đình đầy vật chất vàng son, địa vị, quyền lợi, vợ đẹp, con ngoan, mà lòng Bồ Tát không hề bị các pháp đời cám dỗ. Ngài buông xả tất cả để sống với chơn lý vì biết vạn pháp vốn không, hoàn toàn không thật. Vật chất thế gian đối với Bồ Tát là vật dùng bố thí, không có ý gìn giữ riêng tư. Cõi tâm Ngài đã sẳn cây báu là thế giới Cực Lạc, quảng đại rộng lớn mà vắng lặng các dục vọng. Tâm Cực Lạc là không gì của riêng mình, một lòng cứu giúp người hoạn nạn, đau khổ được an vui, đó là lòng của Đại Nhân Quân Tử, đất tâm toàn là cây quý báu, không có cỏ dại, là không có niệm hèn hạ, nhỏ nhoi.
Dấu Đức Phật đã đi rõ lắm
Khuyên chúng sinh càng bấm đi theo
Muốn tu đừng có sợ nghèo
Muốn làm con Phật chớ đeo lòng tà.
Vậy lòng tà là gì? Tà là những dục vọng đòi hỏi, thích muốn, làm cho thân ta được sung sướng, thỏa mãn, ai khổ mặc ai. Lòng chơn chánh là nhìn vào sự khổ của người cũng như của ta. Cõi Cực Lạc ở tại lòng Bồ Tát luôn luôn đem hạnh phúc, an ổn, đem thương yêu trao tặng mọi người, đem Cực Lạc nơi tâm Bồ Tát mà cho mọi người, muốn tất cả chúng sinh đều sống thế giới bình an. Tâm Cực Lạc không còn niệm bảo thủ quyền lợi gì ở thế gian cả. Kinh dạy, bất cầu Thanh Văn, Duyên Giác vì Thinh Văn, Duyên Giác chỉ là một danh từ của người có tâm sợ già bệnh chết. Giác ngộ nhân duyên mà tu, còn danh từ Bồ Tát chỉ vào tâm con người giác ngộ, giúp đỡ chúng sinh, không sợ gì cho mình cả, nên Bồ Tát thì vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở sợ, không sợ khổ, già, bệnh chết, xông pha vào cuộc đời, đem lòng thương yêu, trí tuệ ra phục vụ chúng sinh. Bồ Tát không hề muốn một ai khổ vì trần. Muốn có tâm là Cực Lạc, trồng toàn cây báu thì phải chọn giống quý báu là đạo đức, trí tuệ, nghĩa nhân, tự vào biển khổ mà cứu vớt chúng sinh, có đầy đủ lòng đại bi, đại đức, đại hạnh, cõi tâm là Cực Lạc, dứt hết mọi sự khổ. “Có cây thuần bằng vàng”, không phải vàng của thế gian mà là tấm lòng vàng. Rất khó chỉ được tấm lòng trong sáng quý báu, phải mượn pháp tướng thế gian là những vật quý đối với con người, để nói lên tấm lòng đẹp đẽ, trang nghiêm, trong sạch, không còn lẫn lộn tạp chất là tâm thanh tịnh, không chen lẫn tạp niệm như vàng ròng nguyên chất. Các báu là những tâm niệm đã tự giác, tự hiểu biết, sống bằng tánh giác thù thắng, không sống bằng tâm ác độc, tạp loạn như xưa, chính là đạo tự giác, tự xây dựng, không xin ai cả. Tổ dạy :
Xin nhiều người ghét người phiền
Xin mà chẳng đặng ta liền buồn ngay
Vậy nên ta chớ xin ai
Đặng cho an lạc khoan thoai nhẹ nhàng.
Nếu còn van lạy, cầu xin, kinh nói là tâm còn những chúng sinh nịnh bợ, quỳ mọp, cong queo, phải đứng thẳng bằng tự lực, không còn tâm lợi dụng Phật, Thánh, Tiên, Thần, không lợi dụng ai đó là hạnh thẳng, không vì của cải tà vọng mà nô lệ các pháp tà mị thế gian, quỳ mọp van cầu. Phật đã nói, Ta không ban phước hay giáng họa cho ai cả. Phước họa do ta tự gieo trồng mà có nhân và quả. Như ta có ruộng thật nhiều mà không lo chọn giống tốt gieo sạ, cày cấy, siêng năng, gìn giữ, bảo vệ chăm sóc, mãi lo cầu khẩn van xin thì không thể có lúa mà gặt hái. Phải tự lực, do trí tuệ bồi đắp mà có thành quả tốt đẹp. Chữ Thuần là thuần thục, trọn vẹn, thường quen. Vàng là chất lượng vật quý không chen tạp chất khác. Tu tự xét cõi nước tâm còn xấu ác, còn thâm độc, tham nhiễm, nhỏ mọn, hẹp hòi, ích kỷ, kiêu mạn là còn tạp chất ô nhiễm. Tự ta tu, tự chỉnh sửa cho tâm trong sạch, không còn tác ý lẫn lộn, niệm vào mong cầu được gì của cuộc đời cả. Các pháp đều vô thường, huyễn hóa, không thật, dù cho được gì cũng là tạm gá mà thôi, còn niệm muốn ham là cõi nước đã bị xen lẫn tạp niệm, tạp chất đất tâm không còn là thuần vàng, đất vàng mới trồng cây thuần vàng được. Cây báu cõi Tịnh Độ Cực Lạc là thuần thục, sống với đức Tín, Nguyện, Hạnh. Tín là lòng tin, Nguyện là lời hứa, Hạnh là hành động. Phát nguyện gìn giữ, săn sóc đất tâm, nuôi dưỡng cây báu, sửa sang đất tâm bằng cách tiêu trừ tham, sân, si, phiền não là cỏ dại, tội ác, gai gốc, dua dại, hầm hố, tăm tối, vô minh. Đạo đức cần phải sửa sang cho đất tâm bằng phẳng, trang nghiêm, thuần bằng vàng, là tâm vàng quý báu. Giác ngộ trình độ Thinh Văn là thuần Bạc. Trình độ Duyên Giác là Thập Nhị Nhân Duyên, ra khỏi vô minh. Tâm niệm trong sáng gọi là Lưu Ly. Thủy tinh là tâm người tự giác, sáng suốt, biết rõ ràng các pháp chơn chánh. Tâm là sáng sạch, không mập mờ, xen lẫn. Tu theo Phật mà còn niệm vào pháp mê tín, tin theo sự lường gạt, cám dỗ do lòng tham bày vẽ, trí tuệ thông thấu tất cả pháp chánh tà, trí tuệ giống như trăng, nhưng trăng bị mờ vì bởi mây che. Con người mê muội vì mây tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, làm vẩn đục nên tâm không trong suốt như thủy tinh. Cần phát nguyện xả ly những gì xấu ác làm che mờ chơn tánh. Pháp thân Bồ Tát là thân lưu ly trong suốt, không nhơ bợn. “Cây Mỹ Ngọc” chỉ tâm niệm đẹp đẽ, sang trọng, tôn quý vô cùng, không chen lẫn pháp thấp hèn. Mỹ Ngọc là hành động thanh cao, ngầm chỉ đức hạnh vẻ đẹp các Bồ Tát. Hành động khất thực của các vị Bồ Tát đi hóa duyên, có ý nghĩa nói đến đức hạnh, tâm nguyện Bồ Tát và chúng sinh đồng kết duyên hóa độ. Chúng sinh mượn vật bên ngoài là mượn vật chất gieo duyên cùng Bồ Tát, vật thực nuôi thân tứ đại cho Bồ Tát. Đức độ từ đức hạnh cao quý của Bồ Tát, giáo hóa, nhắc nhở, nuôi tâm chúng sanh để được giác ngộ biết rành các pháp, phát huy trí giác, buông xả mê lầm, sửa lòng trong sạch, chuyển tâm miệm phàm phu của chúng sinh trở nên tâm niệm bậc thánh thiện giác ngộ, nhiều niệm tự giác gọi là vô lượng giác. Hình ảnh bình bát là vật đựng thức ăn của người xuất gia, cũng là ý nghĩa tượng trưng làm phương tiện Bồ Tát ứng dụng vào sự dẫn dắt chúng sinh. Bình bát chứa pháp bảo là những món ăn tinh thần đi trên đường Bát Chánh Đạo, tu trở lại tánh giác chánh đẳng chánh giác, bước lần vào thế giới Cực Lạc. Nếu ôm bình bát mà cõi tâm còn tác ý lợi dụng, độc ác, tính toán vì lợi dưỡng cá nhân, không đem lợi ích được cho chúng sanh, cõi tâm đó hiện là cõi tâm ăn mày, ăn xin vì còn sử dụng tâm hạ tiện. Vẫn hành động ôm bình bát mà cõi tâm là Cực Lạc. Đi hóa duyên vì muốn đem lợi ích, dùng trí tuệ Bồ Tát cứu độ cho chúng sinh hiểu biết, tu hành thông suốt chơn lý, thoát luân hồi, khổ não. Hành động khất thực hóa duyên mà cõi tâm hiện thanh tịnh, không khởi niệm ham muốn, đòi hỏi của ngon vật lạ là việc làm của bậc tôn quý. “Hổ Phách”, có khả năng trừ được các bệnh, ngăn chặn gió chướng cảm mạo, nên sử dụng tâm niệm Hổ Phách sẽ trừ được những chứng bệnh như tham dục, ham muốn của cuộc đời. Nếu không có tâm Hổ Phách sẽ nhiễm gió Bát Phong là Khổ, Vui, Lợi, Hại, Khen, Chê, Tốt, Xấu. Thấy tài sản, vật chất, thấy người, thấy tình ái đều ham, là sa vào ngũ dục. Nên Hổ Phách có nghĩa trừ được tà tinh, yêu mị, là tà vọng, tà tưởng, tà niệm. “Duy chỉ có một thứ báu mà thành, không có xen tạp hoặc có hai báu, ba báu cho đến bảy báu chuyển hợp mà thành”. Tất cả pháp Phật nói ra đều là phương tiện, Phật diệu dụng để dẫn chúng sinh trở lại tánh giác. Phương tiện là cành lá hoa, mà gốc chính là tự tánh, chỉ một thứ báu mà thành, vì tất cả các pháp đều nằm trong tự tánh. Phật thì rất nhiều, rất nhiều niệm giác nhưng mỗi niệm giác tùy vào trình độ sáng suốt, theo từng căn tánh mà có sai khác, mà tất cả đều quy về tự tánh. Người tu nên chọn một pháp tu thực hành chơn chánh mà áp dụng sửa tâm. Pháp Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Trí Tuệ, đều là pháp bảo, là các thứ báu xen kẽ nhau, là phương tiện dẫn ta trở về tánh giác. Bồ Tát thì đa hạnh, mà tất cả công hạnh đều là các báu, dù xen tạp, hỗ trợ nhau nhưng chung quy mục đích là trở về gốc làm cho tâm thanh tịnh, chứng ngộ tri kiến bản tánh chơn như. Tu hạnh Bố Thí Ba La Mật là xả tất cả, bố thí xả lòng tham, thí mọi tà tưởng, tà tri, tà kiến, thí mọi vui buồn, thương ghét, ái yêu, xả từ tư tưởng đến hình sắc, tâm không còn vướng bận, điên đảo, bằng lòng mọi hoàn cảnh, không còn phiền não. Sống được với hạnh thí này nhờ trì giới. Có giữ giới mới ngăn chặn được lòng tham. Pháp nhẫn nhục không còn luyến tiếc khổ vui. Hạnh tinh tấn tâm an, tâm an lạc là thiền định, nên trí tuệ chiếu soi vạn pháp. Pháp lục độ là các cây báu, là pháp bảo, cũng là giới luật hợp thành, phương tiện dẫn ta về bản thể thanh tịnh nhất như, không còn pháp ô nhiễm xen tạp, nhờ công hạnh đức độ của Bồ Tát, thân cành ngọn đều do các báu là pháp bảo tạo giúp ta quay về gốc là tự tánh. “Hoa lá quả quý, làm bởi báu khác”. Bồ Tát là hạnh nguyện đem lợi ích hạnh phúc cho chúng sinh, như cây đều có nhiều lá hoa quả, cũng phải nhờ gốc mà sanh. Bao nhiêu niệm giác nhờ tánh giác là cây Bồ đề nên cành, lá, hoa, trái là các báu khác chỉ vào sự tích lũy công đức, tích lũy những tâm niệm thiện lành hợp lại mà thành các công đức Tứ Vô Lượng Tâm là Từ, Bi, Hỷ, Xả. Tứ Nhiếp Pháp là Bố Thí, Ai Ngữ, Lợi Hành, Đồng Sự v.v... Tâm là gốc sanh ra vô số lượng niệm, cũng là vô số vô lượng chúng sinh, vì có vô số vô lượng chúng sinh nên căn tánh không đồng. Phật phải nói vô lượng pháp, nhưng rốt cùng vạn pháp cũng quy tâm, trở lại cứu cánh là bản tâm thanh tịnh, chính là gốc của cây báu Bồ đề, vậy cây Bồ đề là gì? Là cây giải thoát Bồ Đề Tát Đỏa, giác hữu tình, giác ngộ giải thoát cho ta và giải thoát cho mọi người, ích lợi cho ta và cho người. Dù Bồ Tát hành pháp nào, báu nào, tâm cũng không vướng bận, ham muốn thế gian, chỉ vì muốn lợi lạc cho người mà bố thí tất cả. Nếu hành động là bố thí, cúng dường, tụng kinh, niệm Phật mà ta và người được an lạc, lợi ích thì pháp nào cũng chánh, cũng đúng, là pháp bảo. Còn vẫn hành động giống nhau thực hiện các pháp nêu trên mà không đem an ổn, hạnh phúc, an lạc, ích lợi, tâm ta và tâm người là sai gốc Bồ đề. Cổ Đức dạy :
Nay gặp gốc khá mau giữ gốc
Gốc vững rồi cành lá sum suê.
Cho nên lá, hoa, bông, trái, cành, nhánh đều phải nương bám vào thân Bồ đề. Mọi hành động phát xuất từ lòng Bồ Tát, đều nhắm thẳng vào gốc Bồ đề ( tâm ) vì lòng từ, bi, hỷ, xả mà hành đạo. Ngày xưa Bồ Tát Hộ Minh tu như vậy, ngày nay con người tu hạnh Bồ Tát hành Bồ Tát đạo cũng phải y như vậy. “Hoặc có cây báu, chất vàng làm gốc, chất bạc làm thân, lưu ly làm cành, thủy tinh làm ngọn, hổ phách làm lá, mỹ ngọc làm hoa, mả nảo làm quả”. Tất cả các pháp bảo nếu thành tựu đều từ con người giác ngộ, phát Bồ đề tâm nguyện dẫn chúng sanh thoát khỏi luân hồi, cũng như cành, lá, hoa, trái, các báu thành tựu cũng từ cây báu Bồ đề luân hồi có hai pháp :
1. Pháp tướng : Là chết bỏ thân tứ đại, sanh thân tướng khác, trở lại theo ác nghiệp hay thiện nghiệp. Ác nghiệp thì đến thế gian sanh làm người, trâu, bò, gà, vịt, ngựa, heo, chó, mèo. Thiện nghiệp là về cõi Thiên, là luân hồi cục bộ, hiện tùy pháp mà có tướng.
2. Pháp tưởng : Là luân hồi bằng niệm tham, sân, si, hờn giận, ghét thương, vui buồn là trần cảnh, mãi chạy vòng trở tới lui trong tư tưởng, ngày này qua ngay khác, gọi là tư tưởng luân hồi sanh diệt, diệt sanh không dừng. Ý khởi có hành động phải thường quán xét vào tâm, thấy biết có hành động qua từng niệm khởi. Ta có thoát khỏi vòng luân hồi không? Bậc Bồ Tát, tâm đã dứt luân hồi, nhưng thân vẫn vào luân hồi, thị hiện qua nhiều hình tướng vì tâm nguyện độ chúng sanh, vì thương xót chúng sanh còn mê muội mà Bồ Tát phải mang thân giống chúng sinh, nhưng tâm niệm thì không luân hồi, không đắm nhiễm, không vướng mắc các pháp. Các Ngài hoàn toàn thanh tịnh, chỉ đem tấm lòng đại bi, đại ái, đại hỷ, đại xả mà giáo hóa chúng sanh, hiện có thân mà tâm không có luân hồi, vẫn có thân nhưng không khổ vì thân, tâm vô quái ngại. Cây lá hoa quả bông trái là niệm niệm toàn bằng báu, là những công hạnh của Bồ Tát. Cây báu Bồ đề trổ hoa báu là hoa trí tuệ, hoa đó là huệ hương, định hương, giải thoát, giải thoát tri kiến hương, hương thơm thiện lành của các Bồ Tát, pháp bảo vô lượng vô biên, nhưng đều xuất phát xuất từ bản thể chơn như. Quả là thành quả các pháp bảo, hương thơm từ trí huệ sinh mà có các quả vị như quả Thinh Văn, quả Duyên Giác, quả La Hán, quả vị Bồ Tát. Theo tinh thần pháp tu là trực chỉ nhân tâm, cõi nước ở đâu thì cõi tâm ở đó là nước Bồ đề. Ta không sáng suốt, mãi tìm Cực Lạc bên ngoài là tu theo ngoại đạo, đạo ngoài. Sao gọi là đạo ngoài? Sao gọi là chánh đạo? Ta nên chiêm nghiệm tư duy cho thật kỹ. Ngoại đạo là còn tư tưởng, nghĩ suy bằng ảo giác, tìm cầu vẩn vơ bên ngoài, cầu Thần, Thánh, cầu sau khi chết được sanh về nơi cai quản của Thần Thánh nên chưa được giải thoát, muốn vào cõi Trời mà nuôi mộng, mong chờ, cầu khẩn vào tư tưởng hoang mang, nuôi ảo vọng, gởi gấm tâm hồn hứa hẹn bằng trừu tượng ngoài tâm, nhưng ngoài tâm không có thế giới hay Phật nào cả. Nếu tìm cầu, còn tìm kiếm quốc độ ngoài tâm gọi là ngoại đạo. Tinh thần của Phật dạy là vạn pháp tự tâm sanh vì có niệm sanh nên có pháp tất cả đều do ý mà sanh ra. Ngài Mã Thắng nói với Ngài A Nậu Lâu Đà.
Chư pháp tùng duyên sanh
Diệc phục tùng duyên diệt
Ngã Phật đại Sa Môn
Thường tác như thị thuyết.
Các pháp tự duyên sanh, cũng do duyên mà diệt, Thầy tôi là Đại Sa Môn, thường dạy điều như thế, có cõi nước, thế giới quốc độ đều tùy ý mà sanh ra. Ta tu theo Phật là tri kiến ( thấy ) được tâm, niệm, ý. Nếu không làm chủ được điều này là tu theo ngoại đạo, không phải theo Phật giáo, là theo sự giáo dạy của Phật. Nên dù có quy y, có cúng dường cho chùa, xây dựng chùa hay làm bất cứ điều gì nữa mà tâm là mơ tưởng, cầu tìm Phật ngoài tâm, cầu khi chết có người xin đưa về quốc độ nào, tin bằng tà kiến, còn tư tưởng mơ hồ là tu theo ngoại đạo, đây là điều khẳng định rõ ràng. Tu theo Phật, cần nhận định rõ pháp tu, thấy được cõi nước tại tâm có rất nhiều cây báu. Báu là giống cây quý tuyệt vời như lòng yêu thương, nhẫn nhục, nhu hòa, tinh tấn, trì giới... tất cả đều là của báu trong tâm Bồ Tát. Bố Thí, Nhẫn Nhục, Trì Giới, Tinh Tấn, Thiền Định, Trí Huệ, các pháp này là pháp bảo trong tâm, là cây báu, muốn đất tâm có cây báu thì ta phải trồng. Tu là gieo trồng tích lũy công đức, nhân là hạt giống gieo trồng, quả là kết quả gặt hái được. Kinh nói đến cây báu, dụng ý chỉ người có tu, đã thực hành 48 lời nguyện A Di Đà là nhân, tâm địa có cây báu là quả, cõi Cực Lạc có nhiều cây báu là có nhiều pháp môn tu, nên Phật nói 84 ngàn pháp tu. Tu là trồng cây công đức, công hạnh. Ao thất bảo chính tại cõi tâm người, nếu chí thành chuyên lòng niệm nhớ Phật thì sen lòng sẽ nở tươi tốt. Nhưng khi mê muội chạy đuổi theo thế tục, không còn nhớ tánh Phật, không còn Phật tại tâm thì sen lòng sẽ héo úa, trong lòng không còn Cực Lạc. Nếu trì tâm niệm Phật, nhớ Phật thì người có tâm niệm ở Cực Lạc tức là các chúng sinh đã giác ở tại đất tâm sẽ thấy sen nở. Thường niệm Phật là thường tưới tẩm cho sen tươi tốt, cõi tâm được hứng nước mưa cam lồ, mưa Mạn-thù-sa, Mạn-đà-la, do công đức thường niệm Phật mà hoa sen càng thêm lớn đó là tâm đã trồng cây báu. “Có cây thuần bằng vàng hoặc thuần bằng bạc”, nghĩa là người thường sống trong chánh niệm, tâm an lạc vô cùng, tâm thật thanh tịnh, không xen tạp niệm quấy ác, dù chung quanh là gây gổ, vang vọng âm thanh thô tục mà lỗ tai giác, không hề bận rộn căn trần không khổ vì âm thanh nghe không nhiễm, mắt không thấy, mũi không nhiễm, không tác ý khởi niệm, thân không sanh hành động. Kinh Bát Nhã gọi là vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, chỉ thuần A Di Đà Phật, tức là các niệm phàm tục đều vắng lặng, niệm phàm tục đã chết, đã vãng sanh, không còn niệm sanh khởi, nên tâm an định, tự tại, giải thoát trước các pháp. Sống được với chánh niệm cõi tâm, tự trang nghiêm, trồng cây thuần vàng, có cây thuần bạc là người cũng tu niệm Phật, tâm cũng được an định. Nhưng thỉnh thoảng còn niệm xen tạp, còn chợt nghĩ nhớ vào thế gian, là chợt buồn, chợt vui, chợt tiếc nuối, tâm chưa thật an nên đất tâm cũng trồng được cây nhưng là thuần bạc. Nếu niệm là nhân nào thì cõi tâm có quả y như vậy. Người niệm Phật được thù thắng xuyên suốt vì đã buông bỏ được những niệm vô minh nên càng niệm, tâm càng sáng, là thanh lọc tâm được trong sạch, thanh khiết như lưu ly. Niệm Phật nhờ có đèn trí tuệ nên tâm sáng. Có người miệng vẫn niệm Phật mà tâm vẫn u tối. Nên người niệm Phật cõi tâm sáng suốt. Phật nói, đã trồng cây lưu ly vào đất tâm trong sáng thanh tịnh, không còn các niệm thế tục chen lẫn thì đất tâm đã trồng cây báu thủy tinh, niệm niệm đều trong suốt, cõi tâm đã buông bỏ, không còn các duyên đắm nhiễm, thì sự trong sáng tâm như thủy tinh, không một mảy nhơ bợn, không lu mờ bởi niệm mê tín, chạy theo pháp lường gạt bày vẽ của loạn trần. Tuệ giác sáng suốt, thấy được chánh pháp hay tà pháp. Trăng mờ vì bởi mây che, mây tham, mây ích kỷ, ngã mạn làm tâm dấy đục, nên tâm không có cây trong suốt như thủy tinh, cần phát nguyện xả ly những gì xấu ác, che mờ chơn tánh. Xấu ác là tham mê, độc ác, tranh giành, hơn thua... cần xả bỏ. Hổ Phách là cây bàng, sống trên núi lâu năm, khi bị sâu đục, chất mủ từ thân chảy xuống, thấm lâu nơi đất đông đặc, dùng làm chuỗi, mủ này có tính chất hút chất độc từ con người. Hổ Phách có khả năng trừ các bệnh, nên kinh nói đến hổ phách là vật quý báu, có khả năng trừ được bệnh hoạn, tham nhiễm của tâm, là giống cây quý báu được trồng ở đất tâm, có khả năng hút được những nhơ uế trong tâm. Người tu là buông xả được các niệm thô ác, thuần giác các niệm vô nhiễm, như cây báu hổ phách hút hết những tham lam, nhỏ mọn, ích kỷ là bụi trần làm ô nhiễm tâm, trị lành bệnh, cho tâm trở nên tốt đẹp, không còn cáu cặn, bẩn nhơ, hết chất độc, tâm không còn độc địa, đã thuần khiết, thanh lương.
Mã Não ở thế gian là chất liệu bằng đá, có tác dụng trừ ma quỷ, báu quý ngăn chặn tà tinh không xâm nhập vào người. Ý kinh nói đến tự tánh cũng có pháp bảo trừ khử được lòng ham muốn, trừ được các ma vọng, trừ niệm độc ác, chuyển hóa thành niệm thuần vàng, thuần bạc. Các niệm này ẩn chỉ vào đức hạnh bậc sáng suốt, ngăn chặn, giáo hóa các niệm độc ác, mê nhiễm trở nên thanh tịnh không còn xen tạp.
Pháp bảo là Thất Bồ Đề Phần, là bảy báu. Bát Chánh Đạo phần là tám báu, Lục Độ Ba La Mật là sáu báu. Nguyện tu nhất thiết ác, nguyện tu nhất thiết thiện, nguyện giữ lòng thanh tịnh. Ba mươi bảy báu là ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Ý kinh muốn diễn nói tất cả trạng thái, tâm trạng từ cõi lòng. Nếu không sử dụng các pháp báu nơi tâm mà tu sửa, mãi chạy theo pháp bên ngoài là còn tu theo ngoại đạo.
Tất cả pháp đều tôn quý, tùy vào căn cơ cho người tu học theo từng trình độ, đều trở về tự tánh chơn như sẵn có, vốn thanh lặng như như, không hề xen tạp một pháp nào cả. Các báu là pháp bảo, xen lẫn nhau, mục đích hỗ trợ, trợ lực cùng nhau, dẫn tâm về cõi an tịnh trí tuệ. Các pháp xen nhau có nghĩa, ta cũng có thể tu, giữ Tam Quy Ngũ Giới, Niệm Phật, Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Trí Tuệ, là nhiều pháp xen lẫn nhau mà thành tựu sự giác ngộ, giải thoát, tất cả đều là pháp Phật, nhưng cứu cánh, là hợp thành một báu, là quay về tự tánh thanh tịnh chánh đẳng chánh giác. “Gốc thân cành ngọn do báu ấy tạo”. Bồ đề là gốc của đạo giải thoát, vì mê nhiễm nên phải nói đến pháp trợ lực bên ngoài như bố thí, làm phước, làm việc thiện lành. Còn pháp bên ngoài là pháp hữu lậu chỉ là hoa lá. Vì còn tâm ham muốn cho được phước, được hạnh phúc, giàu có, cây này cũng quý nhưng còn bên ngoài, vì còn niệm vào mong chờ, ham muốn, có được. Cũng hành động bố thí, cúng dường, từ thiện, làm điều thiện lành nếu trí tuệ sáng suốt biết buông xả các sự muốn ham cho tâm trong sạch, không còn vướng bận là việc làm biết nuôi dưỡng tánh giác, tích lũy công đức. Hạnh đức là từ bi hỷ xả nên kinh nói, duy chỉ có một thứ báu hợp thành, nghĩa là chỉ một pháp tu tâm niệm buông xả các pháp mà thành tựu giác ngộ. Nên gốc thân cành ngọn do báu ấy tạo mà hoa lá là quả do báu khác. Nếu tu niệm Phật mà còn nghĩ nhớ, cầu vào sự tướng bên ngoài chỉ là lá mà gốc là buông xả giải thoát an lạc. “Hoặc có cây báu chất vàng làm gốc, chất bạc làm thân, lưu ly làm cành, thủy tinh làm ngọn, hổ phách làm lá, mỹ ngọc làm hoa, mã não làm quả”. Ta nên biết rõ gốc là bằng vàng, gốc chính là tâm. Dù ở cuộc đời vẫn làm ăn, mua bán nhưng giác biết đó chỉ là việc bên ngoài, phải thường niệm Phật, là nhớ cõi tâm lúc nào cũng là Cực Lạc. Dù lá là các báu xen nhau bằng bạc, thủy tinh, lưu ly, hổ phách, xà cừ, mã não, san hô, các pháp xen là nhánh lá, mà gốc là tâm phải bằng vàng Cực Lạc, là Tịnh thổ, nói đến sự an lạc cõi tâm.
Kinh Bi Hoa nói đến Vua Vô Tránh Niệm, là tránh hết các niệm tà vọng, tránh niệm vào tham, sân, si, tránh niệm tranh đua, tránh thù hận, tránh tất cả niệm vô minh, mê lầm, dục vọng. Lúc vua bố thí cúng dường cho Phật Bảo Tạng bằng tài vật trong ba tháng an cư kiết hạ, gặp Đại Thần Bảo Hải nói với vua rằng, “Nếu cầu phước thì hiện tại Đại Vương đã là vua, nếu cầu giàu sang danh vị thì Đại Vương cũng có rồi. Nếu cầu phước muốn về cõi Trời thì cũng sẽ trở lại làm vua nữa, vẫn còn luân hồi ở cõi người chỉ là hoa lá, sao Ngài không phát nguyện chánh đẳng chánh giác? Thì phước nào hơn?”. Kinh nói, dù ta làm việc gì tốt đẹp mà tâm niệm còn lẩn quẩn vào Thập Kiết Sử thì cũng giống như hoa lá. Bố Thí tâm thuần vàng là Bồ đề, tâm nguyện thoát luân hồi sanh tử thành Phật. Ngoài ra không cầu gì cả, phương tiện chỉ là lá hoa cành không nắm giữ. Tu pháp môn niệm Phật mà tâm chơn chánh là dự khóa Đại thừa, nghĩa là nguyện tu giải thoát, gốc là vàng, lá hoa là bạc, là phương tiện, nếu phương tiện rất nhiều mà không có gốc tươi tốt thì lá hoa cũng héo khô, chết, rơi rụng. Nên ta niệm Phật phải phát 48 lời nguyện thật kiên cố. “Còn những cây khác cũng có bảy báu hợp làm thân gốc, cánh lá hoa quả, tạo ra nhiều loại”. Khi hành động phát ra từ tâm ý thiện lành, dù không bằng vàng vì quên phát nguyện giải thoát, hành động thiện mà còn cầu được pháp hữu lậu bên ngoài thì cũng có hoa lá bằng bảy báu xen nhau, vẫn nương tựa vào gốc thiện lành nhưng không phải là giải thoát, giác ngộ. Cũng hành động công đức bố thí, từ thiện, cúng dường, niệm Phật, ngồi thiền, nhưng tùy duyên phát tâm hướng về gốc nào, vẫn trồng cây lành mà kinh nói đất tâm còn xen lẫn những cây khác, còn xen các niệm hữu lậu. Có rất nhiều loại cây tượng trưng như Bồ Tát thì đa hạng. Ý kinh nói về quang minh cõi Cực Lạc, là chỉ nơi tâm lượng của các Bồ Tát, hoa là hoa trí huệ. Mỗi người tâm lượng không đồng, mỗi người mỗi khác, người biết sâu, người biết cạn, nên nói hoa quả trổ khác nhau. Quả to lớn, quả còn đầy hay quả đèo lép. Phẩm cây báu khắp nước nói lên thành quả người tu thực hành 48 lời nguyện. Nếu tròn nguyện thì đất tâm là cõi Cực Lạc. trồng được cây báu gốc bằng vàng, lá, bằng lưu ly, thủy tinh, mã não, san hô, hổ phách, hoa quả đầy đủ thù thắng, không trái đèo hạt lép. “Mỗi loại, mỗi hàng, hàng hàng thẳng tấp, thân đối nhau cành lá hướng nhau, hoa trái như nhau, sắc đẹp lộng lẫy, không gì hơn được”. Các pháp đều hỗ trợ, trợ lực cùng nhau, ta phải mạnh dạn tiến tu, như pháp ăn chay không thành Phật, nhưng pháp trường chay hỗ trợ cho sự giữ giới để thành Phật nên muốn thành Phật phải ăn chay. Tụng kinh không thành Phật nhưng pháp tụng kinh hỗ trợ khai thông trí tuệ. Thường đọc tụng kinh, thâm nhập kinh tạng là tha lực từ Phật, là hào quang kinh nghiệm, hỗ trợ cho ta khai mở trí tuệ phát sáng. Nếu không đọc tụng, nghiên cứu kinh, trí tuệ sinh rất chậm nên kinh nói các pháp bảo như hoa lá xen lẫn. Nếu ta từng gieo trồng cây báu là từng tích lũy công đức thì cõi đất tâm cây báu trồng hàng hàng lớp lớp xen lẫn nhau, cành lá hướng nhau, hoa quả tươi tốt, sinh tươi rực rỡ, đẹp không tả xiết. Khi tâm đã thành tựu các báu thì đất tâm an lạc, tự tại, hạnh phúc vô cùng, thế giới cõi tâm là Cực Lạc. “Khi gió mát thổi phát ra ngũ âm, giai điệu vi diêu, hài hòa, tự nhiên, các cây báu này, khắp cả nước ấy”. Kinh dạy, gió Bát Phong là tám loại gió. Nếu con người trụ trúng gió khổ, vui, lợi, hại, khen, chê, tốt, xấu. Nghe tốt thì vui, nghe xấu thì buồn, nghe lợi thì mừng, nghe hại thì khổ, đó là tâm chúng sinh. Bậc giác ngộ đã trồng vào đất tâm các loại cây báu thẳng hàng là giới luật, nên cản được các gió độc kia, tâm vô nhiễm, thanh tịnh. Cõi tâm phát ra những âm thanh vi diệu. Khi gió lợi hại đến, các bậc giác ngộ không sanh khởi tâm niệm ham thích, yêu mến, đau khổ, làm cho tâm điên đảo. Gió này trở thành thanh tịnh, vi diệu, không còn là gió độc, gió hại dẫn đến mà không sanh tâm chán nản, thù ghét, tâm vẫn như như nên cõi tâm an lạc. Tám gió độc trở thành gió vi diệu, hài hòa tự nhiên, không lay động, không sanh phiền não, không sanh đau khổ. Các tâm Bồ Tát khi gặp hoàn cảnh nghịch duyên hay thuận duyên, cõi tâm vẫn bình an, thanh lặng, không xao xuyến vì gió chướng, làm cõi tịnh của tâm ngăn ngại, cây báu vẫn thẳng hàng, phát ra âm thanh vi diệu thù thắng. “Nhờ các cây báu khắp cả nước”. Nước là thế giới của tâm. Cây báu là các công đức, đạo hạnh, từng hành động sáng suốt, giác ngộ, không còn thứ gió nào làm tâm xao động, cõi tâm đó đã chứng đắc vô sanh vì không còn niệm sinh khởi, không còn niệm điên đảo. Dù ở nơi nào cũng không sanh phiền não, ở hoàn cảnh nào cũng không sanh tâm lo sợ, không sanh tâm chán ghét, đó là đối cảnh bất sanh tâm, tâm không còn hướng ngoại, không sống bằng ảo tưởng, chỉ quay vào nội tâm mà quán xét. Kinh Phật nói Tiểu thừa theo bên ngoài, Đại thừa sống bằng nội tâm. Người niệm Phật tâm chơn chánh là theo Đại thừa vì tâm chơn tức Phật, không theo niệm nào tức Phật là tâm. Buồn, vui, giận hờn, ưa thích, đồ vật, của cải, tài sản không tức Phật được, mà chỉ có tâm tức phật, phật tức tâm. Người theo Đại thừa là theo Phật, mà theo Phật tức là theo tâm. Tâm là gốc, ngoài ra những gì bên ngoài đều không phải là pháp bảo. Gió Bát Phong đã thanh lặng nhờ ngũ căn, ngũ lực nên phát ra ngũ âm thanh tịnh vi diệu, hài hòa, là hài lòng, hòa nhập vào lòng mọi người mà không có niệm chán bỏ, phiền não, đau khổ. Vì sáng suốt biết tám gió vốn tự nhiên, do nhân quả tùy duyên mà biến hiện, lúc nào cũng cần nuôi dưỡng tưới tẩm, chăm sóc các cây báu khắp nước tâm. Người tinh tấn tu học không dãi đãi, sẽ nhận thấy được các đức hạnh quý báu, là trồng các cây quý ở cõi tâm mà tích lũy, giữ giới thanh tịnh mà điểm tô, xây dựng trang nghiêm tâm địa, đem vào lòng mọi người sự mát mẻ mà không có tâm chán bỏ, phiền não, đau khổ, vì sáng suốt biết tám gió vốn tự nhiên, tùy duyên mà biến hiện, lúc nào cũng cần nuôi dưỡng tưới tẩm chăm săn sóc các cây báu khắp nước tâm. Cõi tâm là đạo tràng đã giác ngộ tri kiến bản tâm. Cõi nước đầy đủ cây báu nói lên đại chí, đại nguyện, đại hạnh, từng quán xét các tâm niệm, tự trang nghiêm tâm bằng đức độ thành tựu gốc Bồ đề là Tánh Đức A Di Đà vô lượng quang minh, vô lượng công đức. Ta tu là tự quán xét cõi lòng ta, gọi là Quán Tự Tại Bồ Tát, là nương theo hào quang Bồ Tát Quán Âm tại tâm ta mà giáo hóa, thọ ký cho các niệm vô minh được quang minh sáng suốt, cứu vớt những chúng sinh đang khổ nàn chìm nổi, lặn hụp khổ đau, đọa đày, cõi tâm còn bị bức ngặt bởi nghiệp buồn, khổ, phiền não, tham sân, si, ái. Kinh Phổ Môn dạy :
Quán Âm xem xét thế gian
Rước người chìm nổi mười phương phiêu trầm
Mau mau niệm nhớ Quán Âm
Tai qua nạn khỏi định tâm sáng lòa
Đương cơn lửa cháy đốt ta
Niệm danh Bồ Tát hóa ra sen vàng
Quán Âm thọ ký làm tin,
Tùy duyên thuyết pháp độ mình hết mê
Nương theo Bồ Tát trở về
Thấy mình ngồi gốc Bồ đề giống in
Tay cầm bầu nước tịnh bình
Tay cầm nhành liễu quang minh thân vàng
Cam Lồ rưới khắp thế gian
Tốt tươi mát mẻ mười phương thanh nhàn
Quán Âm cứu hết tai nàn
Độ người an lạc mười phương thái bình
Quán Âm điểm đạo độ mình
Quán Âm Bồ Tát chứng minh độ đời.
Nếu tự quay vào quán tự tại lòng ta, xem xét các tâm niệm còn mê mờ chìm nổi, đọa đày, đau khổ, phiêu lạc, trầm luân, là các vọng trần thế gian, là cõi dục. Niệm nhớ lại đức độ sáng suốt là nhớ hào quang Quán Âm tại lòng ta, thấy được các pháp là huyễn ảo vô thường, quyết lòng buông bỏ thì tâm an định, trí tuệ mở khai sáng suốt. Dù đang khởi niệm sân si mà niệm nhớ đức Quán Âm, là nhớ hào quang trí giác thường tầm thinh cứu khổ tại lòng ta, thì lửa sân nào cũng tắt, tâm không còn là hỏa diệm sơn bốc cháy, sẽ an định như sen vàng. Tám gió bát phong thổi vào biển thức, lòng Bồ Tát cũng không giao động, dù cho giông gió, sóng trần khổ vui, lợi hại, khen chê, tốt xấu, tâm Bồ Tát cũng an, cõi lòng vẫn thanh lặng an ổn. Tà niệm, tà vọng là những bóng ma không thật, làm cho ta mê lầm điên đảo. Nếu nhớ đến niệm sáng suốt Quán Âm sẽ trừ hết bệnh mê, trí tuệ thông sáng, rừng vô minh nơi cõi tâm rất nhiều thú dữ, cọp beo hung tợn, là niệm muốn ăn nuốt lẫn nhau vì giành miếng ăn, giành danh lợi, những niệm độc ác như rắn độc sẽ tiêu tan vì niệm danh Bồ Tát, là tự nhớ đến đức độ trong sạch tại lòng ta, mà không đuổi bắt duyên theo tâm niệm độc ác. Tâm niệm ta thoát khỏi địa ngục, thoát khỏi sự khảo tra, đau khổ, sáng suốt, xả niệm là được thả ra khỏi ác đạo tâm nhẹ nhàng, niệm niệm là thanh tịnh. Dù niệm thường sinh diệt mà lòng không vướng mắc nên tâm tịnh, bình thường, an ổn. Một lòng tin nhớ quán sát tâm, là sống với sự giáo hóa của tánh giác. Quán Âm xem xét duyên nào đến cũng tự giảng nói, tự nhắc nhở, tự ta độ lấy tâm ta là tự độ, nương theo đức độ tĩnh thức tại lòng là Bồ Tát, quyết trở về nhà Như Lai, sống với Bản Giác Chơn Như, ba đời chư Phật, Phật quá khứ, Phật hiện tại, phật vị lai, giờ ta cũng giống in như vậy, đều trở về tánh giác gốc là Bồ Đề Tâm chánh giác. Tâm tịnh vốn sẵn trong tay tại cõi lòng ta, hào quang sáng suốt quang minh Quán Âm giúp ta liễu ngộ, trở về Kim Cang Tâm là thân vàng. Cam Lồ là chất liệu hoan hỷ, từ bi, chan hòa, rưới mát mẻ khắp mọi tâm người được sáng suốt, nhẹ nhàng, thường sống với hào quang Quán Âm, thường quán xét cõi lòng sẽ cứu hết các tâm niệm mê si, lầm lạc, tội lỗi khắp cõi tâm đều chuyển thành Cực Lạc, thái bình. Tự ta quán xét cõi lòng, tự tu, tự độ cho tâm an ổn, cõi tâm là vô hình nên :
Vô hình siêu thoát, hữu hình thảnh thơi
Vô hình bị đọa, hữu hình mang gông
Vô hình không ổn, hữu hình không an.
* * *
Một niệm vô sanh đắc thành chánh giác
Tâm uế sanh uế độ, tâm tịnh tức Tịnh độ.
* * *
Nghiệp là ma, ta là con Phật
Vì lẽ gì con Phật sợ ma?
Hào quang tủa khắp hằng sa,
Chiếu soi vô lượng quang minh tuyệt vời
Nghiệp do tâm huyễn tạm thời
Hiệp tan, tan hiệp đổi dời bởi duyên
Tâm bình vốn thật lặng yên,
Thiện lành tâm chánh ố hoen bởi trần
Ái yêu, thương ghét xoay vần
Chạy theo huyễn cảnh mờ lần tâm chơn
Khi giác ngộ thấu nguồn cơn
Vô biên phiền não quyết tâm đoạn lìa.
Phẩm 15 :

BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG

Bồ đề là giác ngộ, chánh đẳng chánh giác, giác biết những gì chính ở tại tâm người, giác bản tâm thông suốt hiểu biết. Cây Bồ đề là cây công đức to lớn, che mát, làm lợi ích cho mọi người mà không dính mắc niệm riêng tư, chí nguyện rộng lớn, lòng tự tại hoan hỷ, không trụ vào buồn vui, đòi hỏi, tranh giành, ham thích là Giác, là tánh Phật. Nếu ta sống bằng đức hạnh này, là thường chăm nom canh giữ Bồ Đề Tâm, Bồ Đề Nguyện. Cõi tâm ta có vô lượng giác nên nói là chư Phật hay vô số các Đức Phật. Tâm ta có vô số niệm giác, đất tâm có vô số Bồ đề. Nếu nói lên danh từ Bồ đề là nói đến giác ngộ các niệm. Ta sống được với vô lượng niệm đã giác là sống với vô lượng tâm Bồ đề, sống với hằng hà sa số Phật, sống với lòng từ bi sáng suốt, gọi là chư Phật hiện toàn thân. Nếu cùng hai người đều đi ngang chỗ sa đọa, là cờ bạc, rượu chè, ma túy, đàng điếm. Một người vì khởi lên niệm ham muốn, bị nghiệp dẫn liền bước vào ăn chơi cho thỏa thích, còn người kia sống với tánh giác, biết đó là tai hại, là sai, là sa đọa, nên không sanh tâm ưa thích, biết đây là niệm vào sự nguy hại, nên tách lìa pháp sa đọa này rẽ sang lối khác. Vậy ta hãy nhận xét cả hai người, ai mê, ai giác, ai theo Phật, ai theo ma, rất rõ ràng. Tu là quán xét vào quốc độ, xét cõi nước là thấy thế giới tâm chính tại lòng mình mà tự nhận thấy, có lìa được ma chưa? Sống được bao lần giác. Mỗi niệm giác là mỗi đức độ Phật, nhiều niệm mê được giác gọi là chư Phật, chư Bồ Tát, chư Duyên Giác, chư Thinh Văn, hằng hà sa số chư Phật hiện tiền, hiện toàn thân. Khi niệm khởi sanh pháp, pháp nào xuất hiện đều cũng giác là toàn giác. Vẫn sống chung với pháp, niệm vẫn khởi mà không mê đắm nhiễm pháp, gọi là sống với pháp thân Phật, là ta đang niệm nhớ Phật ( thường giác ). Nếu ngược lại, tâm là quốc độ chính ta, mà không giác được phần nào, cứ niệm vào sa đọa, ham muốn nào cũng niệm, cũng vướng mắc đắm mê, cõi tâm hiện là hằng hà sa số chúng sanh ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục... Khi ta thấy mê và giác kề bên thật rõ ràng gọi là chánh kiến. Xưa nay ta nản chí, cho rằng sao tu mãi, tụng kinh, niệm Phật mãi mà không gặp Phật? Phật chẳng ở đâu xa, Phật - Ma, Ma - Phật tại lòng ta, còn mê là chúng sanh, giác chính là Phật. Ta cần sáng suốt quay vào tâm là tự quy y Phật chính nơi lòng ta. Vì mê, thường đuổi theo vọng trần huyễn tạm nên Phật ta tịch diệt, tự giác là Phật hiện tiền.
Kinh Mười Nguyện Phổ Hiền có dạy : Một nguyền lễ kính chư Phật. Vậy Phật là gì? Là bản giác thênh thang rộng lớn, tràn khắp hư không, trùm khắp pháp giới. Bản giác thanh tịnh bao gồm hết muôn loại gồm hữu tình và vô tình. Nếu ta tôn kính Phật, thương yêu Phật thì đối với chúng sanh, muôn loài, cũng bủa lòng thương như thương kính Phật. Lòng ta là đại từ, đại bi, phổ biến, chan hòa cùng vạn loại, đó là tâm hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.
Hai nguyền xưng tán Như Lai, sao gọi là xưng tán như lai? Phật là giác, Phật không phải là Như Lai vì Phật là một người tu giác ngộ, chứng đạo quả, có thân ngũ uẩn, mượn tứ đại thị hiện đến với cuộc đời để giáo hóa chúng sanh, mượn tướng Thái tử Sĩ Đạt Ta tu hành, làm gương cho chúng sanh nương theo trở về bản giác tại lòng, là giúp mọi người tri kiến Phật.
Như Lai vô tướng là bản giác, bản thể chơn như tự nhiên thanh tịnh thường chiếu soi của mọi người, không đến, không đi, không hình tướng, bất khả thuyết, bất khả tư nghì, không thể suy nghĩ hay bàn luận mà chỉ Như Lai được. Ta phải biết rõ danh từ Như Lai và Phật, cả hai đều là danh từ để mượn tên chỉ vào hào quang trí tuệ Phật, là tánh giác, giúp ta nhận biết được bản thể chơn như vô tướng. Phật dùng tướng, mượn sự thị hiện để chỉ tánh giác. Thái tử Sĩ Đạt Ta là con người giác ngộ, tu chứng đạo quả, tự giác làm chủ pháp. Dù thân ở cõi Ta Bà mà tâm vô nhiễm, thường giác, tâm vô nhất vật, đời sống thanh bần, cõi tâm bình thường an ổn khi đối trước pháp. Phật là người tâm không còn lăng xăng, điên đảo, tâm không não loạn, thực tại ngay đời sống là tự giác, tỉnh thức, không bản ngã, khổ đến không oán trách, vui không đắm mê, không vọng tưởng về quá khứ, tương lai, không mong cầu hay chán bỏ hiện tại đó là Phật, đây cũng là chứng ngộ của ngài Huệ Khả ngộ tâm không.
Ba thuở cầu tâm tâm chẳng có
Tấc lòng tầm vọng, vọng hoàn không
Vọng nguyện không xứ tức Bồ đề
Đó mới là tâm chứng đạo.
Từ vô lượng kiếp đã từng sống chết tử sanh, vùi chôn tánh giác trong chiêm bao, vọng tưởng, chịu luân hồi, điên đảo, đày đọa vì u mê. Ta tu là tỉnh thức, Bất Thực Tại Đương Xứ là không đem một niệm nào vào tâm, tâm thường là chơn như bản giác.
Ta cần chú ý rằng, khi còn là Thái tử không thuyết được pháp Phật, đến khi Thái tử tu chứng đạo quả cõi tâm là nhờ trí tuệ giác ngộ, gọi là thành Phật, mới đúng là Phật thuyết pháp Phật. Nên bậc giác tứ quả Thinh Văn là Tư-Đà-Hoàn, gọi sơ quả mới dự lưu vào dòng Thánh. Tư-Đà-Hàm, quả thất lai, là còn niệm nhớ luân hồi, lui tới thế gian bảy lần. A-Na-Hàm quả nhất lai, còn chợt niệm nhớ vướng pháp thế tục một lần hồi trở lại. Ba quả vị này chỉ đoạn được ngũ lợi sử là ác kiến - ý nghĩ ác, tà kiến có thường kiến, là ý nghĩ tầm thường, cho là chết sẽ trở lại làm người, còn gặp lại kiếp sau và đoạn kiến là luôn có tư tưởng cho rằng, chết sẽ tiêu ra tro bụi, không còn tánh giác hay tánh mê. Tâm thức cho là đoạn diệt nên không lo tu hành, cứ lầm lẫn, sống buông thả theo dục trần sa đọa. Biên kiến là thấy theo một bên. Kiến thủ sự chấp trước cho mọi việc phải theo ý mình. Giới cấm thủ, mãi bảo thủ cho mình là đúng, không sống theo hạnh lắng nghe, không thông được lời dạy của Thiện Tri Thức. A- La-Hán là quả vô sanh, đã dứt sạch thập kiết sử, là dứt ngũ độn sử và ngũ lợi sử. Ngũ độn sử là tham, sân, si, mạn, nghi. Chỉ có bậc A La Hán mới dứt sạch mười kiết sử này, vì vậy Thanh Văn không thể thuyết cho Duyên Giác, Duyên Giác không thuyết cho Bồ Tát, Bồ Tát chỉ thuyết pháp Bồ Tát không thuyết được pháp Phật. Nếu ta học được nhiều pháp thế gian mà không sáng suốt chứng ngộ tại tâm, dù có thuyết pháp cũng chỉ là vị thầy thuyết pháp thế gian, nói pháp nhân gian, không phải là Thanh Văn, Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát hay Phật thuyết pháp vì chưa chứng ngộ bản tâm, chưa thấy được sự sai sử của các pháp biến hiện, thay đổi sanh diệt tại tâm. Nếu giác quả Phật là Phật thuyết pháp, quả Bồ Tát thì Bồ Tát thuyết pháp, quả La Hán thì La Hán thuyết pháp, quả Thanh Văn thì Thanh Văn thuyết pháp. Học pháp mà không chứng ngộ được bản tâm, dù nói kinh cũng là người thuyết pháp thế gian, vì Phật tức tâm mà chưa chứng ngộ bản tâm là chưa có Phật thị hiện, nên không nói được pháp Phật, đạo Phật chủ đích về tâm. Tâm chưa có Phật thì không làm Phật sự được, tâm ma thì làm ma sự, tâm Phật thì làm Phật sự. Người sống bằng tâm niệm hướng về Tứ Thánh Quả thì thuyết pháp dạy cho chúng sinh biết sợ khổ mà lo tu, nhưng vẫn còn luân hồi. Các Bồ Tát với trí tuệ thanh tịnh, lòng thương yêu chúng sanh, dạy thấy các sự khổ, lo tu tự chuyển hóa nghiệp si mê bằng pháp thí xả tâm tham, biết nhẫn nhục, lòng thương muôn loài, không sát hại nhau bằng pháp trì giới, tinh tấn, giữ gìn Bồ Tát hạnh, lòng luôn thiền định, thức tỉnh đối trước các pháp, hiểu biết bằng tuệ giác, quyết lòng độ tận vô tình chúng sinh tại cõi tâm, bên ngoài là khuyên nhắc chúng sinh hữu tình với chí nguyện cao cả, dẫn dắt tất cả chúng sanh thoát luân hồi vô minh tăm tối.
Vị Phạm Thiên dạy chúng sanh tu phước cõi Trời. Vì còn ham phước nên chưa giải thoát, tâm niệm vẫn còn vướng trụ vào phước là cõi nhân. Quả vị giác ngộ từng bậc do tâm niệm con người sinh khởi đều khác nhau, Phật pháp tùy do trình độ, tâm lượng con người mà thuyết pháp. Nếu cõi tâm người là A-Tu-La là vẫn còn mang niệm nóng nảy, sân hận, dù họ rất giỏi đối với pháp thế gian, thì cần nói pháp dạy họ buông xả sân hận là thuyết giáo cho A-Tu-La. Người tâm còn phiền não thì nói về loài súc sanh tại lòng họ nghe. Cõi tâm đầy chật vô minh thì bậc giác ngộ thuyết cho loài địa ngục, nói pháp địa ngục cho họ. Nếu tâm người là các niệm nhiều ưa thích, muốn ham, chất chứa nhiều thủ đoạn lường gạt, lừa đảo, gian ngoa, ích kỷ, hẹp hòi thì dạy họ ra khỏi địa ngục. Nếu mãi ôm chấp, nuôi dưỡng thì cõi tâm càng tăng trưởng thêm tham vọng của loài ngạ quỷ. Tất cả chúng sinh muôn loài khắp các cõi đều diễn nói kinh Phật được, giảng kinh Phật được, nhưng khác nhau. Thực tại là cõi tâm người đang thuyết có phát xuất từ công hạnh đạo đức sáng suốt của bậc giác ngộ, trí tuệ tự giác biết được bản tâm hay cõi tâm người đang thuyết pháp đầy ngút tham, sân, ái, dục, đầy niệm độc ác, vô minh, họ vẫn nói pháp Phật nhưng tâm còn mê, hành động, lời nói còn nô lệ, chịu sự sai sử của tạp niệm thế gian trói chặt.
Người thuyết pháp thế gian cũng nương kinh Phật dạy chúng sanh niệm Phật và hành động vào các pháp thiện lành, biết sống hiếu thảo, mà không dạy được pháp cho chúng sanh giác ngộ, giải thoát hết khổ được. Chỉ thuyết pháp chỉ về nhân đạo, vì sao? Vì người thuyết pháp chỉ dạy chúng sanh sống nhân đạo, sống hạnh phúc với gia đình, con, chồng, vợ, anh em, cha mẹ làm đẹp xã hội là đạo cõi người ( nhân đạo ). Tâm của đạo nào thuyết theo trình độ tu của cõi đó, không thuyết cao hơn được nữa. Tất cả đều nương theo thần lực của chư Phật, tùy trình độ mà thuyết giáo. Cũng đồng là người xuất gia nhưng tùy vào căn cơ trình độ cõi tâm người xuất gia mà dẫn đạo, thể hiện hành động công hạnh khác nhau. Người thì trị bệnh, người soi căn, bói quẻ, người từ thiện, phóng sanh, bố thí, người thuyết pháp chỉ dạy chơn lý, muốn cho mọi người tu giác ngộ, thấy lại bản tâm, tất cả tùy vào nhân duyên chủng giống tướng đồngo1 tướng, có các hành động tùy cõi tâm sai khác mà có các pháp khác nhau. Do tâm lượng căn tánh không đồng nên hạt giống là nhân tại cõi tâm là gì thì quả là hành động phát xuất y như vậy, cõi tâm đâu thì có hành động và thuyết ngay chỗ đó.
Khi nghiên cứu, đọc tụng kinh, tuệ nhãn của người chứng ngộ quả Phật, Bồ Tát sự hiểu biết khác với người chứng ngộ quả Thinh Văn, Duyên Giác, La Hán, là mắt của Tiểu thừa. Xem kinh cần nâng trình độ hiểu biết vượt lên gọi là từ tối ra sáng. Trong pháp hội Phật thường hội tựu đầy đủ đại chúng tại quả giác từ trí tuệ Ngài có Bồ Tát, La Hán, Duyên Giác, Thanh Văn, Càn Thát Bà, A Tu La, Khẩn Na La, Ca Hầu La, Trời Rồng, Nhơn, Phi Nhơn là các danh từ của những tâm niệm hiện cư trú tại quốc độ cõi tâm Ngài. Cũng một thời giảng pháp tùy thuộc vào sự hiểu biết từng chủng loại mà có vô số thế giới, vô số tâm niệm là vô số chúng sanh. Nghe thì đồng giống nhau, mà hiểu biết có hành động cõi tâm biến chuyển khác nhau nên danh từ Như Lai tạm gọi là Bản Tánh. Bản tánh vốn là vô tướng nhưng thanh tịnh là thật tướng, không lụy thuộc vào danh từ, vốn thật không tên gọi tánh chơn như là gọi Bản Giác hay gọi Như Lai Tạng Tánh.
Như Lai khác với Phật vì Phật là người tu giác ngộ, tự chứng quả giác, có tướng là Thái tử Sĩ Đạt Ta, còn Như Lai không tu mà vốn sẵn là bản giác thanh tịnh bất khứ bất lai, bất tăng, bất giảm, chính thật tại con người, tạm gọi danh từ là Như Lai. Như Lai là kêu ngay bản giác chính mình, gọi danh từ Phật là kêu ngay quả vị Giác Ngộ, chứng đắc tại con người. Ta tu cần sáng suốt xác định thật rõ ràng, tránh sự lầm lẫn, mọi người đều có bản giác Như Lai. Ta đọc kinh Phật, nghe lời Phật dạy, niệm Phật, tu Thiền mục đích là trở về bản giác Như Lai sẵn có. Các quả vị Thinh Văn, Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát, Phật là chỉ vào trình độ tự giác, tự chứng phần của từng niệm giác. Tất cả đều giảng pháp Phật, nhưng chỉ nói được bằng trình độ của mình, không giảng nói đầy đủ pháp Phật được. Trí tuệ Phật là vô lượng, vô biên, không thể đo lường. Như Lai là vô tướng, không bóng, không hình, không danh từ, chỉ vì diễn nói tạm có danh từ Như Lai để chỉ vào Bản Giác cho chúng sinh được biết. Nếu ai có duyên lành mới tri kiến hiểu biết và chứng ngộ được bản thể Như Lai, và nghe hiểu được pháp Phật.
Đức Thế Tôn giảng thuyết Thinh văn thì gọi ngài Xá Lợi Phất, chỉ vào trí giác nơi con người. Giảng Bát Nhã, gọi tên ngài Tu Bồ Đề là đệ nhất giải không. Giảng Lăng Nghiêm, Ngài gọi A-Nan là đệ nhất đa văn biện tài. Mỗi pháp là mỗi đức hạnh của quả giác. Ngày nay người nào đã kiến tánh thuần giác mới nói được Như Lai. Phần đông người tu có duyên với Thinh Văn rất nhiều nên Phật tùy duyên mà thuyết pháp. Ta cần biết rõ hai danh từ thật minh xác:
1. Phật là người tu chứng đạo quả.
2. Như Lai là bản giác thanh tịnh của con người.
Mọi người đều đầy đủ hạt giống tốt lành hay xấu ác tại tâm.
* Giống thương yêu : thích giúp đỡ, làm lợi ích cho mọi người là giống bố thí.
* Giống tinh tấn : có khả năng vượt qua mọi trở ngại.
* Giống nhẫn nhục : luôn bỏ qua mọi lỗi lầm của mọi người chung quanh nên tu là thường quán xét kỹ tâm hiện là Tu-Đà-Hườn, A-Na-Hàm, Thinh Văn, Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát hay Phật. Tất cả danh từ đều xuất phát qua hành động, việc làm của ta mà có tên gọi, từ đó mà nói lên hành động hay công đức con người đã tích lũy. Nếu phát hiện ta có hành động của A-Tu-La, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục là các niệm tham, sân, si, hờn giận hiện ở cõi tâm, phải lập tức quy ngưởng về tánh Phật mà sám hối. Nói đến Phật, phải biết ngay Phật là tánh giác mà nơi mỗi tâm người, ai ai cũng có. Nên Tổ nói, “Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh”, nhưng tùy vào căn cơ, trí tuệ tánh giác của con người tự chọn hạt giống mà sử dụng. Thanh Văn chọn giống Thanh Văn. Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát, Phật tất cả tên gọi đều là các hạt giống tự ta chọn lấy. Đến Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục, A Tu La, Trời, Người cũng do ta tự chọn mà sanh ra có tâm và các cõi. Tất cả đều có dòng họ, quyến thuộc nên Phật khuyên dạy ta nên chọn giống Bồ đề. Tu cần phải thấy được ta đang chọn lựa hạt giống gì? Có phải là giống Bồ đề hay giống Dạ Xoa vì trong tâm có tất cả mà kinh nói Phàm Thánh đồng cư. Ta thường ở trong nhà Phật mà cứ gieo giống Dạ Xoa, Càn Thác Bà, Ngạ quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục. Ta tu là tự quy mạng lễ tự tánh, tự quy y Phật, các niệm tự giác đồng hướng về Phật, nghe tự tánh A Di Đà tại cõi lòng sáng suốt đang thuyết pháp. Kinh dạy, người đới nghiệp vãng sanh còn ở trong hoa sen, tuy còn nghiệp mê nhưng vẫn là hoa sen, chờ nghe tự tánh tại lòng sáng suốt là tánh Phật A di Đà thuyết pháp hoặc Thiện Tri Thức khai thị, buông bỏ thêm, đến khi dứt các niệm mê thì mới về thế giới Cực Lạc an dưỡng tu tiếp, gọi là về cõi An Dưỡng Quốc Cực Lạc. A Di Đà Phật là tánh giác. Thường cứu độ các chúng sanh, chờ rước, tiếp dẫn các chúng sanh là các niệm mê muội ở đất tâm còn thổn thức, phiền não, đau khổ tận đáy lòng, lúc nào cũng có các Bồ Tát là quang minh sáng suốt tại tâm. Bồ Tát Thường Tinh Tấn, Bồ Tát Hiền Hộ, Bồ Tát Bảo Tràng, Bồ Tát Địa Tạng là những trí tuệ thiện hạnh hộ trì, gìn giữ Đạo tràng, tức là thường tinh tấn siêng năng, gìn giữ Đạo tràng. Bồ Tát Địa Tạng gìn giữ đất tâm. Ta nên chú ý lắng nghe âm thanh của Bồ Tát Huệ Biện Tài, thường dùng đức hạnh khuyên lơn, nhắc nhở, an ủi, dạy dỗ các niệm đau khổ tại lòng, còn mê lầm, được thoát ra khỏi địa ngục vô minh u tối. Bồ Tát Tịch Căn dạy ta điều phục, giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Bồ Tát Giải Thoát là hào quang sáng suốt, không còn vướng bận tham muốn, không vướng vào đắm nhiễm vọng trần, dìu dắt các niệm vô minh đã có. Bồ Tát Bảo Anh là ánh sáng tinh anh, soi đường cho các niệm não loạn tại lòng ta, biết hướng về tự tánh, cho cõi tâm thuần an ổn gọi là Cực Lạc. Tất cả đều nương vào thần lực của chư Phật, là nương vào các niệm đã tự giác, sáng suốt trí huệ, soi rọi tại cõi tâ, mà trang nghiêm tịnh thổ.
Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng khắp cả chúng sinh, mục đích là giác ngộ tự tánh, nhưng sự chứng ngộ mỗi người mỗi khác không đồng tùy duyên nghiệp mà thọ nhận quả vị sai khác, vì vậy mỗi người tự giữ lấy quốc độ tại cõi tâm. Các pháp giới đó gọi là Ma giới, Bồ Tát giới, Phật giới. Tất cả đều biến hiện từ tận hư không mà biến ra có pháp giới, gọi là các cõi. Ta tu, phải biết quốc độ cõi tâm là pháp giới nào, nước nào? Tánh ta khi còn mê muội, tham, sân si, phiền não, tự ái, tự cao, kiêu căng, ngã mạn, ích kỷ v.v… gọi tánh chứa đó là A-Lại-Da hay tánh phàm phu. Khi giác biết, xả dần từng bậc gọi là từng quả Thánh, bỏ sạch tham sân si gọi là La Hán. Lòng trong sạch biết cứu độ chúng sanh làm lợi cho mọi người, lúc này không còn gọi là A-Lại-Da mà duy thức gọi là Bạch Tịnh Thức hay Như Lai Tạng, Thiền Tông gọi là Phật Tánh, Tịnh Độ gọi là tự tánh A Di Đà vì đã sáng suốt trí tuệ chiếu soi, không còn vướng bận thế gian. Mọi biến chuyển chính tại tâm ta, thay đổi biến hóa mà thành Thinh Văn, Duyên Giác. “Hóa Bồ Tát chúng vô cùng vô biên”. Sự chuyển hóa từ các tâm niệm si mê trở thành giác ngộ, trí tuệ được sáng suốt, gọi là thành Phật, Bồ Tát, Thinh Văn, Duyên Giác, La Hán. Nếu vướng trụ, đắm nhiễm pháp trần, lập tức biến lại phàm phu, nên có câu : Thánh nhiễm trần, trở lại phàm phu.
Sự biến hóa tâm người vô lượng, vô biên nên Phật nói tâm vô thường, thay đổi từng sát-na. Ta tu phải thường giữ gìn tâm niệm, tỉnh thức, sáng suốt trong chánh niệm, chánh định, chánh tư duy, vậy Phật là ta khi đã giác, ma cũng chính là ta lúc còn mê muội. Tất cả con người đều có Bản Giác Như Lai Tạng Tánh. Đây là bản đồ học Phật giúp ta khai mở trí tuệ, thấy tất cả cõi nước tại tâm, thấy được sự biến chuyển. Nếu thấy con người bên ngoài bằng tướng, thì phải dùng trí huệ thấy tâm hiện là chủng giống gì mới không lầm lạc. Ta tu học Phật phải thấy được Phật tại tâm. Phật chính là bản thể chơn tâm. Không nhận biết được là xa cách Phật muôn trùng. Vậy Như Lai là bản thể thanh tịnh, bình đẳng, tuyệt diệu, viên mãn mà tất cả chúng sinh, chư Bồ Tát, Chư Phật, Trời, Người, A Tu La, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh đều xưng tán.
Ba nguyền quảng tu cúng dường: Quảng là rộng lớn, tròn đủ. Cúng dường là nuôi dưỡng, bố thí, đem cho bằng lòng cung kính. Theo giáo pháp của Thế Tôn, cúng dường bố thí pháp là cao quý nhất, là cúng dường vô thượng. Cúng dường Phật Pháp bằng trí tuệ giúp bản tâm ta và mọi người phá mê, khai ngộ, tu chứng, nhớ lại tự tánh, giúp người thấy lại tâm mình mà tu học, y theo chơn lý tu hành, ta và người đều lợi ích, giác ngộ, giải thoát, là công đức cúng dường thù thắng.
Bốn nguyện sám hối nghiệp chướng: Nghiệp là thói quen thường ngày ta sống với niệm niệm không dừng, hết niệm này đến niệm khác, tuôn chảy sanh diệt liên tục. Vừa mống khởi niệm là đã có tâm gọi là nghiệp. Có tâm là đã vướng mắc, chướng ngại, che khuất bản tánh thanh tịnh của ta. Bản tánh thanh tịnh thường chiếu soi đầy đủ trí tuệ và đạo đức. Kinh Hoa Nghiêm dạy, “Tất cả chúng ta đều có đủ trí tuệ, đức tánh giống Như Lai, vì mộng tưởng chấp trước mà không thể chứng đắc”. Vọng tưởng là tâm sân, si, phiền não, là chướng nạn của người tu làm cho tâm ô nhiễm. Nên niệm Phật là xả bỏ các niệm thế gian, nguyện không khởi niệm tà vọng, thường sống với bản giác chơn như, lòng không mong cầu, chờ đợi được gì của thế gian, là sám hối nghiệp chướng.
Năm nguyện Tùy hỷ công đức : Người có tâm tùy hỷ không hề ganh ghét, tỵ hiềm, luôn vui vẻ, hoan hỷ, tán thán các việc làm đạo đức của chính mình và mọi người. Không khởi niệm ganh tỵ với một ai, lòng phấn khởi khi thấy mọi người sống tốt đẹp, có những hành động thanh cao, hết lòng trợ giúp.
Sáu nguyện Thỉnh chuyển pháp luân : Tập đế là thói quen của đời sống con người là buồn vui, vinh nhục, lợi hại v.v... đó là các pháp đưa con người đi vào tội lỗi. Khi giác ngộ được chơn lý, nghe lời Phật dạy, biết nếu đời sống mãi ôm chấp các pháp thế gian là khổ. Nguyện tu sửa đổi tâm niệm ra khỏi sự muốn ham, không còn nuôi dưỡng nữa nên tự chuyển đổi tâm niệm y theo giáo pháp, y theo lời Phật dạy, gìn giữ, lo tu học và nhắc nhở, giúp đỡ mọi người cùng chuyển tâm, tự tu sửa đời sống là chơn lý chuyển mê khai ngộ. Khi mê lầm sống bằng tâm phàm phu, giác ngộ bản tâm, chuyển tâm phàm thành tâm Phật đó là thỉnh chuyển pháp luân.
Bảy nguyện thỉnh Phật trụ thế : Ta tư duy thật kỹ, quán xét tận đáy lòng, nhớ rằng Phật tức tâm, vậy Phật là ai? Chính là tánh giác, tâm giác là tâm Phật. Khi biết được các pháp là vô thường, niệm niệm vô thường, vọng tưởng không thật, ta không duyên theo, biết được điều này là nhờ tánh giác. Nếu thường sống với sự sáng suốt, giác biết tâm không ô nhiễm, là thường thỉnh Phật trụ thế.
Tám nguyện thường tùy Phật học : Phật dạy ta rất nhiều phương pháp dùng làm phương tiện tu học, mục đích là tri kiến Phật, thấy tánh thành Phật, nhưng căn tánh trình độ chúng sinh không đồng nên các quả vị tu chứng khác nhau, tùy nghiệp chướng năng lực tu hành mà nương vào pháp môn công phu tu tập khế hợp theo trình độ, nhưng tất cả phải y theo kinh điển mà tu để chứng ngộ bản tâm, theo dấu Phật đã đi, tránh tu sai lạc, đó là thường tùy học Phật.
Chín nguyện hằng thuận chúng sanh : Chúng sanh vô biên thề nguyện độ. Tâm ta có vô số vô lượng chúng sanh vô tình, bên ngoài cũng có vô số vô lượng chúng sanh hữu tình, khi tự độ được các chúng sanh trong cõi tâm, ta được giác ngộ, mới đem kinh nghiệm tu học chính mình, tùy thuận trình độ hiểu biết mà giáo hóa chúng sanh bên ngoài, nhìn vào tâm họ khuyên nhắc, hết lòng vì mọi người là lòng hiếu thuận, gọi là hằng thuận chúng sanh.
Mười nguyện phổ giai hồi hướng : Tất cả các công đức tu hành, mục đích đều là dẫn ta về tánh giác, những phước báu từ công hạnh tu hành đều giúp ta nhận ra bản thể chơn tâm, bất sanh bất diệt. Nếu ta tu chánh tư duy hướng về bản giác thì sẽ hội nhập, hồi nhớ lại tự tánh A Di Đà là pháp giới tạng thân, là phổ giai hồi hướng.
Phật dạy, “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Ta tu phải quyết lòng giác, đạo Phật không phải khó thành, chỉ tại ta không chịu thành hay không dám thành mà thôi. Ngày xưa khi Lục tổ đến với Ngũ Tổ cùng quyết định kiên cố “Con đến với Ngài vì muốn thành Phật”, tức là muốn tìm trở lại để thấy được tánh giác ( tri kiến Phật ). Người phát nguyện tu phải có chí lớn, sử dụng đức độ tại nơi con người ta, là đức lớn nơi lòng, có danh từ Đại Thế Chí, ai ai cũng có chí rộng lớn, quảng đại, chỉ vì tâm niệm hẹp hòi, ích kỷ, nhỏ nhen nên đất tâm eo hẹp cõi lòng, không quảng đại. Đức là đạo hạnh, trí tuệ của con người. Đại là rộng lớn, trùm khắp. Thế là tại thế gian cõi phàm tục. Chí là chí nguyện, chí hướng, tự chọn con đường quyết lòng không thối chuyển. Bồ Tát là giác tất cả hữu tình, là Bồ-đề-tát-đỏa. Những văn tự này dùng để chỉ vào một con người giác ngộ, trí tuệ rất thù thắng, cao thượng, gọi là Đức Đại Thế Chí Bồ Tát. Ta muốn thành tựu 48 lời nguyện vào thế giới A Di Đà thì chí nguyện phải rộng lớn. Nếu tu mà không có chí rộng lớn thì không thể hỗ trợ cho đức độ Quán Thế Âm Bồ Tát. Quán là tự quán sát vào cõi tâm. Âm là âm chất tánh hạnh tại lòng ta. Thế là cõi thế gian ngay cuộc sống. Tầm Thinh là tự tri tìm, lắng nghe lại cõi lòng, nghe tiếng kêu cứu, than khóc, khổ sầu của các chúng sinh, là những tâm niệm mê muội đang bức ngặt vì sa đọa, chịu đọa đày, khổ não. Tự coi lại tâm ta có Bồ Tát hay không? Hãy Quán Tự Tại Bồ Tát, quán tại lòng mà thỉnh mời các Bồ Tát để tự giáo hóa các niệm mê si ra khỏi biển trầm luân qua bờ giác ngộ, giải thoát. Nếu có Quán Âm ( có quán sát tâm ) mà không có chí lớn là Đức Đại Thế Chí thì cũng không vượt qua khổ ách. Có quán biết đó là các pháp cám dỗ, sa đọa, mà không có chí lớn quyết định buông xả, lìa bỏ thì cũng không ra khỏi lưới ma. Nếu quán xét tại lòng, biết nếu ta sắp có ý trộm cướp, giết người, lừa đảo... là niệm vào ác đạo, đang là nhân tạo nghiệp, đưa ta vào tội lỗi sẽ là con đường dẫn ta vào địa ngục, ngạ quỷ. Nếu không có chí lớn là Đức Đại Thế Chí tại lòng thôi thúc, khuyên lơn, nhất định buông bỏ các niệm ác, thì Địa Ngục chính tự cõi tâm ta tự tạo. Từ ý sanh khởi vì si mê, vẫn xây dựng pháp ác, không sử dụng đức độ Đại Thế Chí là chí nguyện lớn tại tâm ta. Chí lực tâm ta là niệm cương quyết bằng khả năng rộng lớn, che trùm, soi sáng vào cõi vô minh tăm tối, dẫn dắt các tâm niệm sai lầm ra khỏi rừng mê biển khổ. Người nguyện tu giác ngộ không còn khiếp sợ hoàn cảnh thế gian, nhưng ta giác ngộ để làm gì? Để độ chúng sanh, giúp ích chúng sanh. Bậc giác ngộ đã giác các pháp, làm chủ các pháp, phải làm việc của người giác ngộ, là đem ánh sáng chơn lý đã giác, cứu độ chúng sanh hết khổ. Kinh dạy, “Chúng sanh khổ con nguyền phổ độ”, không chối bỏ chúng sanh vì “Chúng sanh vô biên thề nguyện độ”. Bồ Đề Đạo Tràng là nơi nói lên tâm trạng của người giác ngộ. Như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết ra kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh là nói lên kinh nghiệm giác ngộ bình đẳng trước các pháp, là phương tiện Đại thừa đã trang nghiêm, chuyển các pháp hoàn toàn giác, thanh tịnh, tịch lặng, là lòng không vướng bận, vô trụ, không tâm, không niệm ác, tất cả lời thuyết đều là quả Diệu Giác, đem ấn vào tâm tất cả chúng sanh, mồi đèn trí huệ cho mọi người đều được giác. Ngài đem ánh sáng chơn lý chiếu diệu cho chúng sanh biết rõ mê và giác, tự mà chuyển hóa, sửa đổi cõi lòng cho chơn chánh, đó là việc làm của bậc giác ngộ. Ngài muốn chỉ tâm niệm là những công hạnh của con người đều có đủ đức độ khi đã được chuyển hóa thành những công trình quý báu, là những hạt giống Bồ đề được gieo trồng khắp cõi đất tâm, thế giới toàn là cây quý, là cây báu khắp nước.
Ta nên tự quán xét tự tại tâm, kiểm soát lại tâm địa, thấy đã trồng được bao nhiêu cây báu, là tự tích lũy công đức để vào Tây Phương Cực Lạc. Cực Lạc chính tại đất tâm. Tây Phương Cực Lạc phải từ những cây Bồ đề, là những đức hạnh thanh cao, tôn quý, tự xây dựng, gieo trồng, từ công hạnh đạo đức mà thành tựu đạo quả, là thành tựu Đạo tràng gọi là Bồ Đề Đạo Tràng. Khi đã giác ngộ, dù ở đâu, xứ xứ đều là Đạo tràng vì trực tâm là Đạo tràng. Như vị bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo, dù đi đến xứ nào, địa phương nào cũng vẫn là nơi làm việc của họ. Vì kinh nghiệm đã sáng suốt, thông hiểu rành mọi phương pháp tại tâm họ. Người giác ngộ cũng vậy, cũng đầy đủ kinh nghiệm, biết rành các pháp, biết từ trí tuệ giác ngộ, liễu thông mọi việc nên đi đến đâu tâm cũng là Đạo tràng, lúc nào cũng thường sáng bằng trí tuệ giác ngộ, vậy Đạo tràng là gì? Tràng là trường, đạo là con đường dẫn đến giác ngộ, là trường dạy tu học chơn lý. Người đã giác, đâu đâu cũng là Đạo tràng, dùng trí giác để dẫn dạy chúng sanh. Khi Đức Thích Ca thành đạo dưới gốc cây Bồ đề, nơi đó không hề có Chùa, Tịnh xá, Tự viện mà vẫn gọi là Bồ Đề Đạo Tràng. Vì người giác ngộ ở đâu thì Đạo tràng ở đó. Nơi nào có người giác ngộ đều thuyết giảng, giáo hóa, làm lợi ích cho chúng sinh được, không cần quy mô hình thức. Nếu tạo cảnh lớn lao mà nơi đó không có người giác ngộ, còn những tâm tranh giành, hơn thua, còn lợi quyền, địa vị, tranh chấp mất còn, thì nơi đó dù là chùa to lớn cũng không phải là Đạo tràng. Vì Đạo tràng là nơi gương mẫu, tạo dựng bằng đạo đức cho chúng sanh nhìn vào học hỏi tập tu, nơi dạy cho người lầm mê được giác ngộ. Nếu hình tướng là Đạo tràng mà còn tổ chức mua bán, kinh doanh, hơn thua giống ngoài thế gian thì nơi đó lài5. Đạo tràng mà còn người sử dụng bia rượu là quán nhậu, nhà hàng, còn bài bạc là sòng bài. Người ở tướng đạo tràng mà còn bói toán mê tín dị đoan, đem não loạn bởi những vọng tưởng mơ hồ làm phiền chúng sanh, là nơi lừa đảo. Ở Đạo tràng mà tâm còn tham, sân, si thì nơi đó tự con người biến Đạo tràng thành địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Thân ở Đạo tràng mà tâm còn tranh giành quyền lợi, giành chức vị thì nơi đó là chiến trường, không nói là đạo trường hay Đạo tràng gì cả. Chơn lý ở đâu thì Đạo tràng ở đó, sáng suốt ở đâu thì chơn lý ở đó. Ta cần hiểu biết rõ ràng nơi đâu là Bồ Đề Đạo Tràng mà tự chiêm nghiệm lấy. Kinh Duy Ma nói, trực tâm là Đạo tràng, thâm trọng tâm là Đạo tràng.
“Cây Bồ Đề cao bốn trăm ngàn dặm”, ý kinh muốn nói sự giác ngộ nơi con người cao vòi vọi không thể đo lường, rộng lớn vô cùng, không thể tính đếm bằng con số. “Chu vi gốc cây rộng năm ngàn do tuần, cành lá tỏa ra hai mươi vạn dặm, do các báu tự nhiên hợp thành”. Ý này cũng nói đến sự to lớn không thể nghĩ bàn. Cành lá là chỉ vào đạo hạnh, công đức của người tu cao lớn vô cùng, đức độ, nhu hòa, cao thượng, gọi là Hòa Thượng. Hòa là nhu hòa, Thượng là cao tột, chỉ vào bậc có tấm lòng bình đẳng, nhẫn nhục tuyệt vời, đức độ diệu cao. Kinh dạy, hết thảy hương thơm thế gian không thể bay ngược gió, nhưng hương thơm đức hạnh của bậc chơn tu hương trí huệ, hương đức hạnh, giới hương, định hương, giải thoát, giải thoát tri kiến hương, bay khắp mười phương, không sợ ngược gió bao giờ. Như hương thơm của Đức Phật, của chư Tổ đến ngày nay vẫn bay ngược thời gian, luôn luôn được mọi người tôn kính, tin tưởng bái lạy. Mùi hương thơm này không hề mất, là hương thơm chân thật, hương trí tuệ nơi mỗi con người còn đang tàng ẩn, đó là đạo đức trí tuệ của con người. “Hoa quả xanh tươi lộng lẫy chiếu khắp”. Hoa là hoa trí tuệ, quả là thành quả của các công đức, công hạnh của vô số niệm giác sum suê cùng khắp, nhưng quả của đạo đức vô tướng, muốn truyền đạt hay bố thí thành quả này. Phật nói giữa người cho và người nhận tánh giác phải tương ưng, sắc đẹp xinh tươi lộng lẫy của đạo đức không thể khoe được với người mù. Người cõi tâm vô minh u tối thì không thể thấy được. Giọng nói, lời ca, tiếng hát, du dương ngọt ngào, ấm áp, truyền cảm, không thể cho người điếc nghe mà nhận được. Cả hai người, cho và nhận, tâm địa phải tương ưng đồng chủng tánh. Phật nói, “Giáo pháp của Ta chỉ truyền cho người sáng mắt và người biết nghe, không thể cho người mù hay điếc được”. Vì khó truyền đạt, Tổ Sư Đạt Ma phải vào chùa Thiếu Lâm, ngồi quay mặt vô vách chín năm, gọi là Cửu Niên Diên Bích, chờ đến khi có ngài Huệ Khả là Thần Quang, có căn tánh tương ưng mới truyền thừa tâm ấn. Vì Ngài muốn cho mà không có người đủ khả năng lãnh hội gìn giữ pháp tu. Pháp Đại thừa chỉ giao cho người có tâm Đại thừa. Sự giác ngộ chỉ giao được cho người có tâm cầu giác ngộ, tánh giác chứa đầy đủ các pháp bảo, là những cây báu xen nhau. Pháp Đại thừa chỉ giao cho người có tâm Đại thừa đang phát triển. Sự giác ngộ chỉ giao cho người có tâm cầu giác ngộ cầu thành Phật. Mỗi sự hướng tâm, tùy thuộc vào trình độ căn cơ mà có pháp. Khi tâm niệm biến hiện xoay chuyển từ tận hư không biến khắp pháp giới, đều tùy vào niệm ưa thích, muốn ham nhiễm ô hay thanh tịnh mà biến ra pháp giới, tùy vào ý chí mà phát nguyện thành Phật, Thinh Văn, Duyên Giác, là giác các pháp vô thường, biết thân người chỉ là tứ đại hợp thành, các duyên có đều từ vô minh mà sanh khổ não, là giác lý nhân duyên. Tâm cõi Trời nhờ tu thập thiện, cõi tâm A-Tu-La, bởi tài giỏi mà còn tâm niệm sân si, nóng nảy, cõi Ngạ Quỷ vì tâm niệm giành giật, tham lam, ích kỷ, người luôn sống bằng tâm phiền não, đau khổ tâm là cõi Súc Sanh, vì lòng mê loạn là cõi Địa Ngục. Đó là cách xác định tâm lượng của con người. Niệm do nghiệp dẫn sanh tâm trụ vào các pháp giới ở tận hư không. Tận hư không đầy đủ pháp giới, nếu vạn sự đều vô ngại thì chẳng có cao thấp, chẳng pháp giới nào để nói đúng sai, mê hay ngộ thiện ác gì cả, trí tuệ sáng suốt chứng thật biết rành các pháp là tâm tự tại vô ngại, giải thoát nhờ chánh kiến, không ràng buộc niệm trụ vào pháp nào. Tâm không còn giới hạn cột trói niệm vào pháp thì không có pháp giới nào cả. Lòng vô ngại, giải thoát nhờ vào hào quang trí tuệ chiếu soi, là ta đang niệm nhớ nhà Như Lai vô quái ngại, Nam Mô Vô Ngại Quang Như Lai. “Lại có màu sắc, hồng, lục, xanh,, trắng, các Ma-Ni quý, vua các món báu, đươm chuỗi Anh Lạc, mây tụ báu kết, trang sức trụ báu”. Ngọc Ma-Ni rất nhiều màu sắc, ý kinh muốn nói nơi Đạo tràng là trực tâm tánh giác có rất nhiều hào quang chiếu soi, là vô lượng quang, vô số quả diệu giác thông suốt, biết từng pháp bảo quý báu khác nhau đủ màu sắc, mỗi báu đều là pháp bảo, chiếu soi, dẫn các niệm vô minh trở về tánh giác. Hồng, xanh, lục là các niệm đã giác màu sắc trong suốt, tùy tâm lượng mà chỉ vào màu sắc. Ngọc trắng sáng trong sạch chỉ vào Chơn Tánh Sáng Suốt Diệu Minh, tất cả đều trong sáng. Tự tánh chiếu soi là ngọc Ma-Ni, vua các món báu trân quý. Chơn Giác Diệu Minh là vua các món báu là Đạo Tràng Chơn Giác tại tâm người, được xây dựng tích lũy bằng các báu tôn quý, giàu đức độ. Đạo hạnh của các Bồ Tát kết tụ nhiều vô số, vô lượng, vô biên, kết liên tục bởi các báu vi diệu không gián đoạn, kết bằng hào quang sáng chiếu bởi trí tuệ mà thành chuỗi. Chuỗi được đúc kết bằng pháp báu tinh anh đạo đức quý báu trang nghiêm cõi lòng mãi an lạc gọi là chuỗi Anh Lạc, là pháp tốt đẹp trang nghiêm tối thượng, là vua của các báu. Đạo tràng phải xây dựng trang nghiêm bằng bảy báu mới sang trọng, người biết trang hoàng Đạo tràng phải là bậc chơn giác, mới là đạo tràng chơn chánh. Đạo tràng là chơn lý, vậy người tâm chơn chánh chính là chơn lý, chỉ có bậc giác ngộ mới biết chọn lựa cây báu mà trồng vào tâm địa, gọi là Trạch Pháp. Biết trang hoàng công đức quý báu cho cõi nước tại tâm ngày ngày càng thêm diễm lệ, là người biết sử dụng chơn lý chánh chơn. Vì sao ta tu mãi mà không thấy Phật? Nếu người chuyên là thợ hột xoàn thì vừa cầm lên liền biết hột xoàn thật hay giả. Nên pháp rất nhiều. Cuộc đời là biển pháp mênh mông. Nếu không trí tuệ là không chuyên tu, sẽ không biết được pháp nào là chơn, pháp nào là giả, chỉ có kinh nghiệm chuyên môn đầy đủ sáng suốt mới thông thấu được, đây là điều ta cần nên biết. Phải thường giám sát, kiểm tra đạo tràng tại cõi tâm, hiện xây dựng bằng những ngọc quý báu. Phải thấy tâm qua hành động từng sát-na đang trồng loại cây gì? Cần dùng mắt trí tuệ mà quán xét, pháp nào ta cần sử dụng, pháp nào nên buông xả, đó là Trạch Pháp. Phải siêng năng lựa pháp, muốn trang nghiêm đất tâm thì không để cỏ dại là các tạp niệm mọc xen tạp, các linh khánh bằng vàng ngọc không thể lộn tạp chất chì đá được. Tất cả pháp xây dựng đạo tràng, chỉ vào các quang minh, dẫn con người đến tánh giác, thực hành đạo đức chính tâm mình. Đạo Phật là đạo trí tuệ đa phương tu, có 84 ngàn pháp tu. Từ 48 lời nguyện, tương ứng rộng khắp mười phương, thành 84 ngàn pháp môn. Pháp chánh chơn không tương ưng với căn tánh thiển cận, si độn “vàng ngọc chuông khánh treo khắp nơi”. Nếu từ các báu trang nghiêm Đạo tràng được lộng lẫy thì khắp cõi tâm đâu đâu cũng rực rỡ thù thắng, vì cõi nước đã đủ các báu mầu vi diệu. Niệm nào cũng là vàng, bạc, lưu ly, xích châu, mã não, san hô, hổ phách, ngọc ngà sang quý, là nhà Trưởng giả giàu có, là nhà Phật, nhà Như Lai, diễn nói sự giàu sang tôn quý của thế giới cõi nước đó. Tất cả lời dạy trong kinh, Phật thuyết hoàn toàn về tự tánh. Phật không nói theo sự tướng thế gian. Dù nói vàng bạc là vật quý nhất, nhưng chỉ là phương tiện mượn sự tướng thế gian để chỉ vào tâm niệm. Ta đừng lầm chấp mà rơi vào tư tưởng sai lạc chấp pháp, chấp tướng. Phật chỉ nói đến con người giác ngộ có đạo đức quý báu. “Lưới báu trân diệu che trùm lên trên”. Chung quanh bên ngoài là hư không, trong lòng vẫn có hư không, ta phải biết bên trong lẫn bên ngoài. Lưới báu trân diệu là các pháp báu, không hình tướng, ngầm chỉ là đạo đức, tánh hạnh của con người. Biết sử dụng tuệ giác, không ở lồng ngực, không trụ nơi nào, mà tỏa khắp sáng soi. Ý kinh chỉ vào đức độ tâm người giác ngộ, nói đến bản thể chơn không vi diệu. Chơn không là tánh minh trong sạch, trùm khắp, là lưới báu giăng phủ che trùm. “Trăm ngàn vạn sắc, rực chiếu sáng nhau, vô lượng hào quang, vô biên chiếu diệu tất cả trang nghiêm, tùy ứng mà hiện”. Tâm giác ngộ tốt đẹp trùm khắp, niệm sáng suốt khởi là vàng, là bạc. Lời nói ái ngữ là châu ngọc. Lặng thinh cũng là vàng. Lặng thinh mà tâm thanh tịnh, tĩnh lặng, sáng suốt. Trong hư không chứa vô số thiện ác, nếu sáng suốt trí tuệ lìa hết các pháp nên không mê lầm, không nuôi tà vọng, niệm niệm liên tục, là hào quang được kết giăng, gọi là lưới báu trân diệu chiếu soi muôn vạn sắc sáng đẹp tinh anh, giăng mắc cõi không vô lượng ánh sáng đủ màu sắc phản chiếu lẫn nhau rất là thù thắng. Chiếu đến nghĩa nhân, đức độ, công đức đem cho mọi người an lạc hạnh phúc. Hào quang lưới báu này chiếu đến đâu, Trời, Thần đều kính lạy, tỏ lòng tôn kính công đức tuyệt diệu. “Gió nhẹ len qua cành cây, kẽ lá, diễn ra pháp âm vô cùng vi diệu, tiếng pháp chan hòa khắp cả nước Phật. Mười phương thế giới, mầu nhiệm, thanh thoát, vi diệu hòa nhã, cao tột bậc nhất”. Tiếng nói phát ra nương hơi thở là nương theo gió, âm thanh nương gió phát ra lời ái ngữ êm diệu, nhu hòa, là âm thanh chân thật, sáng suốt, từ tuệ giác bậc giác ngộ phát ra, dạy ta và các chúng sanh biết niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm Xả, niệm Giới v.v... Các Ngài dạy ta biết các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã, biết lìa bỏ vọng tưởng, xả ly tà tâm, tà niệm. Âm thanh phát ra là lời đạo đức, thuần lương, dạy ta pháp nhu hòa, nhẫn nhục, bố thí, trì giới, dạy ta sống bằng tâm niệm từ bi hỷ xả, biết buông bỏ vọng tưởng trần lao, đời sống là thanh cao, tốt đẹp. Các Ngài dạy ta tự trang nghiêm, tự giữ lấy quốc độ thanh tịnh, cõi tâm thường lạc. Tất cả lời nói của bậc giác ngộ nương theo gió phát ra âm thanh vi diệu. Các Ngài nói pháp chan hòa đưa chúng sanh qua bờ giác ngộ giải thoát, đó là độ chúng sanh hữu tình. Tâm ta cũng có vô số, vô lượng chúng sanh vô hình, cũng có bậc giác ngộ trí tuệ là chư Bồ Tát, là các niệm sáng suốt thường tinh tấn, tự nhắc nhở cõi lòng, buông bỏ những gì không thật ở thế gian. Niệm tự giác dạy ta biết sám hối khi làm điều sai phạm, khi đã giác biết, dạy niệm độc ác chuyển đổi sửa sai, đó là những âm điệu giác ngộ tận đáy lòng của Bồ Tát Vô Tận Ý, là ý sáng suốt vô cùng, vô tận, dạy ta biết quay về Quy Y Phật Tánh, biết sống với bản giác thường chiếu soi. Trí tuệ giác ngộ là chơn lý nhẹ nhàng len vào lòng người, là hào quang dẫn ta thoát tục, khẽ len qua các niệm si mê, tự mà thuyết giáp. Kinh nói là niệm tự giác chen lẫn niệm u mê là chen qua cành cây kẽ lá, để giáo hóa, diễn thuyết bằng trí tuệ, là pháp âm tự thức tỉnh cõi lòng, giáo hóa trang nghiêm hết thảy chúng sanh khắp cùng mười phương pháp giới, chúng sanh các cõi tại tâm đều giác trở thành thế giới Phật. Có vô số âm thanh từ tánh giác vi diệu, hoàn toàn là âm điệu từ ái, đem hạnh phúc, an vui khắp cùng chúng sanh. Lời nói là âm thanh vô ngôn, bằng trí tuệ, tuy vô tướng nhưng có khả năng tuyệt diệu khuyên nhắc tại lòng, nói bằng tâm sen. Lời nói là gió báu vi diệu, tỉnh thức cho cõi lòng thức dậy, không còn mê vùi trong sanh tử. Gió trí tuệ thổi vào tâm người mát mẻ, thông sáng, trong sạch mọi cấu nhiễm trần lao, quên đi mọi mệt mỏi của kẻ tha hương, Cùng Tử, xa nhà Như Lai, xa rời đạo đức, xa hào quang tuệ giác. Khi tánh giác trao đổi được pháp âm, liễu ngộ giáo lý, trí tuệ càng tăng trưởng. Từ một niệm tự giác sẽ dẫn dắt được vô lượng niệm giác, gọi là chư Phật, hằng hà sa số vạn niệm đã giác gọi là vạn Phật. Một pháp sanh ra vạn pháp, một duyên sanh ra vạn duyên, một niệm tự giác, tất cả niệm giác đều sanh.
Một niệm sanh ra một thế giới, mười niệm sanh khởi vướng trụ, có mười phương thế giới. Nên Thập Kiết Sử do mười niệm sanh ra, mà có mười phương là Tham, Sân, Si, Mạn Nghi, Ác Kiến, Tà Kiến, Thân Kiến, Biên Kiến, Giới Kiến Thủ, là nguồn gốc, những thứ phiền não. Nên mười phương thế giới là các thế giới của thập kiết sử, cần nghe được âm thanh của bậc giác ngộ là tánh minh tận nơi đáy lòng, thanh thoát len nhẹ vào, mà tự cúi đầu quy mạng lễ tự tánh là quy mạng lễ Phật.
“Nếu có chúng sanh thấy cây Bồ đề, nghe đặng âm thanh, ngửi đặng mùi thơm, nếm đặng quả vị, xúc chạm hào quang, nhớ cây công đức, sáu căn thanh triệt, không có não loạn, trụ bất thối chuyển đến khi thành Phật”. Người kiến tánh thấy được Tự tánh là thấy được cây Bồ đề, biết được cõi tâm là người giác ngộ, đã thấy được cây Bồ đề ở trong đất tâm. Đất thế gian cũng có cây Bồ đề nhưng chỉ là tướng bên ngoài thế tục. Bồ đề trồng ở đất tâm, mới là Bồ đề cõi Phật, Bồ đề của Tánh giác. Nếu thấy được cây Bồ đề bằng tánh giác, bằng mắt trí tuệ, nghe âm thanh bằng tánh nghe Bồ đề, ngửi mùi thơm bằng tánh Bồ đề, nếm các quả vị là thông suốt hương vị quả Thanh Văn, quả Duyêna3 La Hán, quả Bồ Tát, quả Phật đã giác, là chạm vào quang minh trí tuệ, thường sống bằng phạm hạnh, công đức trí giác thì sáu căn đều thanh tịnh. Kinh dạy, được làm người là điều khó, gặp được chơn lý, gặp Phật càng khó, nghe lời Phật dạy thực hành càng khó hơn, gặp Phật là gặp được người trí tuệ giác ngộ. Khi thấy được cây Bồ đề thì các điều phiền não, đau khổ từng chất chứa làm tâm não loạn, tự nhiên tiêu biến. Kinh dạy :
Nguyện tiêu tam chướng não phiền
Nguyện thành trí huệ vô biên tuyệt vời
Nguyện bao tội nghiệp xa rời
Nguyện thành Bồ Tát đời đời độ tha.
Nếu thấy nghe, ngửi, nếm, chạm được cây Bồ đề, tự nhiên những phiền trược, đau khổ đều tiêu tan. Được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm được tánh giác là xuất thế gian, ra khỏi thế gian, không còn niệm nhớ trở lại phàm tục vì kiến Phật dứt sanh tử. Thấy Phật không còn luân hồi sanh tử, hết già hết chết có đâu luân hồi. Trước mọi hoàn cảnh ngay đời sống, sự thay đổi xã hội như thế nào, người thấy tánh Phật vẫn một lòng gieo trồng công đức tu tiến cho đến khi thành Phật, lòng không thối chuyển.
“Lại nữa khi thấy cây Bồ Đề kia, đắc đặng ba nhẫn”.
1. Thân nhẫn : Là chịu đựng tất cả tiếng nặng nhẹ, trù rủa, mắng nhiếc, sỉ nhục, chê trách, mạt sát. Chịu đựng cả sự khắc nghiệt đến với thân, như gió, mưa, nóng, lạnh, đau bệnh, đều nhẫn, mà không có chút bực bội, khó chịu, ưa thích, chán ghét.
2. Khổ nhẫn : Là không thù oán khi có người xúc phạm thân thể, khi bị chửi mắng, áp bức cũng không buồn phiền đau khổ.
3. Ý nhẫn : Không phản đối, trả thù, không ganh tỵ, hơn thua, không khởi ý tham muốn, ý không sanh dục vọng, đòi hỏi.
Cũng là âm hưởng nhẫn, nhu thuận nhẫn, vô sanh pháp nhẫn, nếu sống được với ba nhẫn này thì tâm như mực nước bình lặng, không vơi, không đầy, không lo sợ, phiền muộn. Nghe khen tặng cũng không ưa thích, tự hào ngã mạn, tâm hoàn toàn bình an.
Người sống đời nhẫn được thì Trời, Người đều cung kính. Nhu thuận nhẫn là mềm mỏng như nước, dù cho có người bực dọc, hâm dọa, họ làm nhiều cách cho ta bực bội, như đem lửa đốt cháy ta. Quân tử thì tánh như thủy, tiểu nhân tánh như hỏa. Tánh như hỏa là vừa chạm vào là cháy ngay, lửa sân rất dễ phát, tánh nhỏ hẹp. Tánh như thủy là tâm rộng lớn như nước đang chảy, nếu có vật ngăn chận, nước liền dâng cao lên tự nhiên, không bực bội, luôn mềm mỏng, thuận hòa với mọi người, không mất đạo hạnh.
Vô sanh nhẫn là bản tánh tự nhiên, vô ngại trước các pháp, biết các pháp tự nhiên đến, sẽ tự nhiên đi, sanh diệt, vô cùng, vô tận mãi mãi. Biết như vậy, nên chẳng mong cầu, lòng an nhiên, bất động, chẳng lung lay đối trước pháp. Tâm tịch lặng là không vướng trụ vào một pháp nào, thuận không mừng, nghịch không buồn chán, việc thế gian coi như hoa rớt trên áo, rớt lên mình mà tâm không vướng bận, phiền não. Lòng không hề chao động khi có âm thanh nặng nhẹ, mắng nhiếc chê trách, được khen ngợi hay đề cao, cõi tâm vẫn tự tại vì thường giác quang minh sáng suốt nơi lòng sẵn có là Vô Ngại Quang Như Lai, hằng chiếu soi vào ác pháp, lòng không nao núng, nét mặt điềm nhiên, tịnh tọa, không biến hiện sắc tướng tức giận, sân si hay cố gắng đè nén pháp, không diệt bỏ pháp mà bằng lòng chấp nhận, sự cảm thông trí tuệ tự tại, gọi vô sanh pháp nhẫn. Tâm giác giống như chất vàng, dù thiêu đốt bao nhiêu, vàng vẫn nguyên chất, không thêm không bớt. “Phật bảo A-Nan, “Cõi Phật như thế. Cây cối, hoa quả, cùng các chúng sanh đều làm Phật sự, đây thảy đều do nơi sức oai thần, nơi sức bổn nguyện, nơi minh liễu nguyện, kiên cố, nguyện của Phật Vô Lượng Thọ”. Nếu như ta bố thí, từ thiện, cúng dường, gặp duyên không vừa ý, liền sanh tâm bực bội, sân si, cáu gắt, bất mãn, bất bình, gây gỗ, phiền não đó chỉ là ma sự, không phải là Phật sự. Còn việc làm dù nhỏ nhưng làm bằng lòng hoan hỷ, buông xả, vô chấp, đó là Phật sự, vì đang gieo trồng công đức bằng tâm giác ngộ từ bi hỉ xả. Lòng hoan hỷ là trồng cây bằng vàng cao quý nên cõi nước tại tâm đã có cây báu bằng vàng và những tâm thay Phật làm việc ích lợi cho chúng sanh, để còn giữ gìn được chơn lý. Nếu hành động là từ thiện, bố thí, mà tâm nổi sân hận là thay mặt ma làm ma sự nên ta thường phải cảnh giác, đừng thay mặt ma mà làm ma sự. Muốn trở lại quy y tánh Phật, tánh ta là A Di Đà Phật thì phải hoàn thành đầy đủ các công đức trong công việc tại thế gian mà tâm ta thường thọ nhận vô lượng pháp, gọi là vô lượng thọ, là thọ nhận vô số, vô biên, vô lượng pháp, trùm vạn loại, không phân biệt Thánh Phàm. Nguyện mạn túc là nguyện viên mãn, thực hành 48 nguyện chẳng sai khuyết. Nguyện kiên cố, là sức kiên trì tâm không thối lui, bất hoại, liễu thông sáng suốt, rõ ràng, chơn chánh, quyết thành Phật, đó là nguyện đến cứu cánh.



Phẩm 16 :

NHÀ CỬA LẦU GÁC

Những phương pháp cúng lạy cũng là pháp Phật nhưng còn giới hạn bởi tâm là Quốc độ. Do hành động mà sanh trình độ, căn tánh. Trình độ gieo trồng hạt giống do ý niệm con người mà có hành động, tùy vào công hạnh của ý tạo tác mà có Pháp Giới, tùy xứ kiết tường, không thể nói đúng hay sai. Nên ngày xưa Ngài A-Nậu-Lâu-Đà đọc lại cho Ngài Mục Kiền Liên nghe lời Phật dạy :
Chư pháp tùy duyên sanh
Diệc phục tùng duyên diệt
Ngã Phật đại sa môn
Thường tác như thị thuyết.
Các pháp tùy duyên sanh, không theo ý ai cả, các pháp đều cảm thông, pháp là như vậy, Phật là giác, không có pháp nào thật để thuyết, nhưng có thuyết chỉ vì phương tiện diễn nói cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, tùy duyên mà nói pháp, vì chúng sanh nhiều đau khổ, Phật mới đem pháp an ủi, vỗ về, khuyên dạy. Kinh dạy, “Phật pháp còn phải bỏ huống chi là phi pháp” hay Phật nói, “Trong 49 năm ta không thuyết gì cả”. Phật pháp vốn vô tranh, không pháp nào thật cả. Ta tu, cần phải biết đó chỉ là mượn phương tiện khuyên dạy, đưa con người ra khỏi sông sầu, biển khổ. Pháp bất khả tư nghì, không ôm giữ, không bàn luận. Khi thực hành pháp nghe lòng an lạc, hạnh phúc, tự biết, không nói ra hết được. Ta tu, cần thấy được nguồn tâm, không theo cảnh bỏ quên tâm. Tất cả chúng sanh đều có nguồn tâm.
Phật tánh đồng đẳng, không sai khác, vì ta mãi theo vật, theo cảnh mà bỏ quên Phật tánh. Khi mất vật, thay đổi cảnh, chấp ngã cho cảnh, vật là của ta, vì tham cảnh, tham vật, niệm sanh mà có tâm đau khổ, khởi niệm tiếc nuối, buồn, vui, vì vật và cảnh đã vướng mắc vào tâm, dù pháp đã qua mà lòng còn buồn vui, tiếc nuối là còn vướng bận bởi trừu tượng, niệm chấp vương vấn, gọi là tâm. Thường giác là hằng sống với Phật tánh không theo vật, theo cảnh, theo người, theo phiền não, theo giận, vui, buồn, yêu thích, danh lợi, tranh đua... mà bỏ quên tánh giác. Thường giác là tự quy y Phật là quy y bản giác, về với chơn lý. Nếu ta mãi chạy theo bên ngoài là tu theo ngoại đạo, bỏ tâm theo cảnh. Ta tu, nên tự hỏi lại lòng xem cảnh, vật có phải là của ta không? Con cái, tài sản, vợ chồng, tiền bạc, buồn vui, danh vị, ái yêu, chán ghét... có phải của ta không? Sự thật đó chỉ là pháp đối đãi vì nhân quả luân hồi của thế gian. Khi duyên đến ta vẫn tiếp nhận ứng xử, nhưng tự giác biết pháp không là của ta. Thân là sắc pháp chỉ là Ngũ Uẩn, không thật còn mãi của ta. Cũng thọ nhận thân, sử dụng thân như mọi người nhưng sáng suốt, điều khiển thân bằng trí giác, không mê muội, để thân đòi hỏi, ham muốn được sự cung cấp, phục vụ bởi pháp trần vọng huyễn. Tâm tham đòi thỏa thích, đòi sung sướng, đòi quyền lợi, gọi đó là thân đắm lụy, ô nhiễm. Nếu làm chủ được thân, biết dùng thân mạng sống để công phu, tâm thường thiền định, giác biết hết thảy pháp không gì là ta cả, là vào đại định, không còn niệm lăng xăng, sanh diệt, đó là có Phật hiện tiền tại cõi tâm. Nếu thấy có tướng Phật xuất hiện, chấp tướng cho là thật, khởi niệm duyên theo, là lầm vì chấp thật có pháp, đuổi theo tướng thì Phật tại tâm đã tịch diệt. Nếu biết âm thanh, sắc tướng là không thật thì không vướng trụ pháp nào vào tâm. Không có tướng nào là thật cả thì cõi tâm nhẹ nhàng, rỗng lặng, thanh tịnh, giải thoát. Nhục nhãn chỉ tiếp vật không có gì cả, mà bên trong nhãn căn có tánh thấy, biết nhận định rất rõ ràng, đó là Phật tánh sáng suốt, giúp ta nghe thấy rõ ràng nhờ tánh biết mà ta nhận biết mọi sự vật, biết người, biết cảnh, biết vật. Nếu chấp việc làm là của ta, là chấp pháp. Vọng trần là giả, lầm tưởng là chơn, lầm lạc bởi ảo tưởng, không theo cảnh, theo vật là về với chơn như bất cấu, bất tăng, bất giảm, mới là đệ tử của Phật. Có hai hạng : hữu học và vô học. Từ Trời, Người, Tu-đà-hoàn, A-na-hàm vẫn phải học mới bước được vào dòng Thánh. Cần phải học đến khi chứng quả A La Hán gọi là quả Vô Sanh. Gọi là vô học, đã dứt mười Kiết Sử đoạn dứt tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, tà kiến, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, đoạn lìa được thập kiết sử, các niệm ác đã siêu, tức vãng sanh siêu thăng Tịnh độ. Nên kinh Vô Lượng Thọ, phẩm 18, dạy người niệm Phật từ một đến mười niệm. Tất cả niệm khởi vào thế gian đều thanh tịnh, không vướng trụ niệm vào Thập Kiết Sử nữa, tức đã vãng sanh, không còn niệm vào ba đường ác. “Lại nữa, nơi Phật Vô Lượng Thọ Giảng đường, Tịnh xá, lầu quán, lan can cũng do bảy báu tự nhiên hóa thành, lại thêm các loại ngọc trắng Ma-Ni, trùng trùng giăng bủa, sáng diệu vô thượng, các vị Bồ Tát, cung điện, chỗ ở cũng lại như thế. Nơi đó có chỗ giảng kinh, kinh hành, quán chiếu, tọa thiền, trên không giảng tụng, thọ nghe, kinh hành quán chiếu”. Khi phát nguyện tu 48 lời nguyện A Di Đà thì phẩm kinh này là thành quả của 48 đại nguyện đã thực hành, công đức tu hành là chánh nhân, các đạo hạnh được tích lũy, là công đức xây dựng cõi Cực Lạc, được phát triển tu sửa tại tâm, do công đức mà thành tựu thành quả tốt đẹp tuyệt diệu là nhà cửa, lầu gác. Các niệm cao thượng là các báu tại cõi tâm. Các báu đầy đủ trí tuệ và tri kiến là pháp bảo tự trang nghiêm quốc độ, đất tâm được bình an, hạnh phúc do chính người tu tự xây dựng, tô điểm, tu sửa quốc độ bằng những công hạnh, đạo đức. Bậc Bồ Tát đã tự độ mình và độ cả chúng sanh. Tự độ mình như Bồ Tát Sĩ Đạt Ta. Sử chép rằng, ngộ trận ma quân, Ngài đã tự chiến thắng ác ma là các dục vọng mới thành Phật, là trang nghiêm, sửa sang quốc độ cõi tâm. Phá ma quân là phá giặc tham, sân, si, ngã mạn, tự cao, phá sự nghi ngờ Phật Pháp. Phá ác kiến là không còn nghĩ nhớ đến điều ác. Phá tà kiến là bỏ suy nghĩ sai lầm. Phá biên kiến là bỏ sở chấp nghiêng một bên theo sự thấy của ta, theo thế gian cho ý mình là đúng... Bảy báu là những tâm niệm quý báu minh bạch gọi là Thất Thánh Tài là : Tín, Giới, Tàm, Quý, Đa Văn, Trí Tuệ, Xả Ly, là tài sản, vốn liếng, nhiên liệu, trợ giúp ta xây dựng, sửa chữa, tu bổ cho tâm tốt đẹp. Cõi Cực Lạc được trang hoàng bằng lầu gác. Lầu gác là đức Từ, Bi, Hỷ, Xả, Bát Chánh Đạo, Thất Bồ Đề Phần, 37 Phẩm Trợ Đạo. Nhờ những pháp báu này giúp ta tu tâm, sửa tánh, phục hồi đạo đức, nhân nghĩa, phát huy trí tuệ, bằng cách thường đọc kinh điển, nương theo lời Phật dạy, để áp dụng dò xét tâm niệm, ý, sửa tâm trong sạch giống như Phật. Ta phải tu theo chơn lý, thường dò xét tâm ta bằng kinh điển coi có giống Phật không? Giống Phật, giống Bồ Tát không? Phật, Bồ Tát thì bỏ cung vàng, điện ngọc, còn chúng sanh thì tham cung vàng, điện ngọc, ham địa vị, danh lợi, mãi mê muội cầu xin mong được Phật, Bồ Tát ban cho những điều mà các Ngài đã dạy ta phải buông bỏ, trả lại cho cuộc đời, vì các Ngài biết pháp vọng là huyễn giả đó là dục vọng thế gian làm con người vướng bận mà chịu đau khổ, đọa đày trong phiền trược, ác thế. Vì lầm tham của thế nên tâm ta đã chọn sai đường Phật, Tổ chỉ dạy, đi khác con đường các Ngài nên chịu đọa lạc. Phật thì không ham tiền của, không sân si, không địa vị, không lăng xăng, não loạn, không tranh giành, ganh tỵ, đó chính là bản thể chơn không. Tài sản là Thánh Tài, nguyên liệu bằng các báu để xây lầu các, đền đài, cung điện, được xây bằng vô lượng công đức.
Ta tu pháp tụng kinh nghe lời Phật dạy, tự tích lũy công đức bằng cách sửa lại bản tâm cho trong sạch, thanh cao. Nếu mãi chấp vào pháp tụng kinh mà không biết tu sửa tâm cho trang nghiêm thì chẳng ích lợi gì cho tâm cả. Câu chuyện Ngài Pháp Đạt chấp vào pháp tụng kinh Pháp Hoa, cho là đã tụng thật nhiều kinh để thành Phật, bị Tổ quở trách “Ông tên Pháp Đạt mà chẳng đạt pháp”. Vì tụng kinh không thể thành Phật, mà muốn thành Phật phải tụng kinh. Tụng kinh là nương vào kinh, nghe, tư duy, hiểu lời Phật dạy, thông suốt giáo lý, giúp ta thâm nhập kinh nghiệm của Phật. Kinh nghiệm Phật dẫn ta đi đúng lộ trình học Phật, giúp cho cõi tâm an ổn, là quay về thế giới Cực Lạc tại tâm mình. Cực Lạc là bản giác chơn như thanh tịnh. Đức Phật thị hiện đến cuộc đời, mục đích là cứu độ chúng sanh, làm lợi ích cho cuộc đời, không muốn gì ở cuộc đời cả, chỉ vì muốn xây dựng chỉ ta thấy lại tâm địa tại tâm mỗi con người sửa sang cho tốt đẹp. Ta đừng dùng tâm niệm thấp hèn, biến Đức Phật thành vị Thánh, Thần, ban phước giáng họa cho chúng sanh mà mãi cầu xin, ước muốn trong vọng tưởng. Nếu ta có những ý nghĩ này là phỉ báng Như Lai, làm cho Phật tại lòng ta chảy máu, tự cắt đứt con đường giác ngộ.
Người thế gian muốn xây dựng lầu đài, nhà cửa, phải nhờ Kiến trúc sư đã từng học tập có nhiều kinh nghiệm tài ba, mới có thể kiến thiết xây dựng được tòa nhà cao chọc trời mà không thất bại, thành đạt tiếng tăm lừng lẫy, được mọi người tin tưởng, khen tặng, người tầm thường tăm tối không có khả năng làm được. Người tu học một thời gian cũng là những Kiến trúc sư, âm thầm tu sửa bản tâm, dùng trí huệ sáng suốt là kinh nghiệm chuyên môn tài giỏi, xây dựng lầu các tại cõi tâm bằng tuệ giác bừng sáng, tự xây dựng kiến tạo cho tâm mình, còn đem kinh nghiệm nơi khả năng sẵn có, kiến lập cho tâm nhiều người khác được trang nghiêm tốt đẹp. Xây dựng bằng đạo hạnh, tự độ, độ tha, tự giác, giác tha thì giác hạnh mới viên mãn. Tất cả đều nhờ có Ngọc Ma-Ni. “Ngọc Ma-Ni trắng”. Ngọc Ma-Ni là ngọc như ý thanh tịnh, trắng sạch, là hào quang chiếu sáng của mọi người, khi tâm đã vắng lặng các pháp. Ngọc tại lòng có sẵn là Như Ý Bảo Châu, không thiếu một điều gì mà ngọc không soi đến. Ta nhận biết được mọi vật, mọi hoàn cảnh trên cuộc đời, biết ứng xử phải quấy, biết viễn ly điều dữ, biết làm lành, làm thiện, học hành thông suốt nhờ Ngọc Ma-Ni. Ma-Ni trắng là hào quang thanh tịnh, khi cõi tâm đã trắng sạch, minh bạch. Ngọc Ma-Ni là trí huệ hằng soi rọi khắp mười phương thế giới, có khả năng thông suốt biết hết bảo pháp của Như Lai và cũng biết rành các cõi thiện lành hay cõi độc ác. Soi thấu từ cõi Trời Hữu Đảnh đến cõi Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh. Nghe được tiếng kêu cứu của các loài, mà đem ánh sáng quang minh cứu độ các chúng sanh đang đọa đày đau khổ tại cõi tâm người mê loạn. Ta cần nghe lại tiếng lòng nghe những chúng sanh là các niệm đọa lạc kêu cứu trải lòng từ bi sáng suốt mà giúp họ thoát khổ, ra khỏi vô minh não loạn.
Hãy niệm Phật cứu tôi với, hãy cứu chúng tôi, hãy niệm Phật mau đi cứu tôi với! Cần quán tự tại nghe lại tiếng lòng, nghe các niệm mê kêu cứu. Những niệm u mê là những kẻ tối tăm đang chờ ta phá địa ngục tham, sân, si, hãy mau niệm Phật mà cứu họ! Họ trông chờ ta phá địa ngục, hằng hà sa số chúng sanh tại lòng ta, đang chờ ta niệm Phật cứu họ. Họ là Cửu Huyền Thất Tổ đang chờ ta, họ là thân bằng quyến thuộc, là những người thân quen, là những tâm niệm, là nghiệp từng theo ta nhiều đời nhiều kiếp, luân hồi quanh lên lộn xuống, tất cả đang chờ ta niệm Phật cứu họ. Đừng để tâm niệm ta trôi dạt theo thói hư tệ phàm phu tục tử. Chúng sanh tại tâm ta là vô lượng tán loạn, ta phải là Bồ Tát tự giác có vô lượng định mới cứu được họ thoát mê thoát đau khổ.
- Chúng sanh vô cùng biếng nhác, ta niệm Phật là có vô lượng tinh tấn mới cứu họ được.
- Chúng sanh có vô lượng phiền não, đau khổ, ta phải có vô lượng an lạc mới cứu độ chúng sanh ra khỏi vòng tù ngục.
- Chữ tín là ta tin ta có tâm Phật là tâm giác mà tâm giác cũng tin ta. Nếu ta xa Phật hay tánh giác xa ta thì rất khổ, rất não loạn.
- Tam độc là tham, sân, si, khi thấy nó nổi lên phải niệm Phật để buông xả nó.
- Người ở thế giới Cực Lạc là ai? Là những chúng sanh đã giác ngộ, ai cũng có lòng từ bi vô lượng, trí tuệ sáng suốt vô cùng, vô tận. Vậy muốn về thế giới Cực Lạc phải nuôi dưỡng lòng từ bi, hỷ xả và trí huệ vô cùng, vô tận, vô biên thì mới về Cực Lạc được.
- Tại sao ta không bỏ thế giới đau khổ để đổi thế giới Cực Lạc?
- Tại sao ta không chịu bỏ cái đầu ngu si tăm tối đổi lấy cái đầu sáng suốt trí tuệ, nên tự hỏi lại lòng ta, tự chất vấn mà tìm lối thoát.
- Chết trí phàm phu thì trí tuệ sanh, phàm tâm tử thì đạo tâm sanh.
Ngọc Ma-Ni là ngọc lòng, ngọc người, là tuệ giác có sẵn nơi ta, thường nhắc nhở, cản ngăn ta khi sắp phạm điều tội lỗi. Nên con người vốn sẵn đầy đủ sáng suốt hiểu biết, chỉ tại ta bỏ quên, không biết sử dụng, đành làm người bần cùng, nghèo khổ, ti tiện, nhỏ nhoi. “Kinh hành trên đất, tọa thiền trên không”. Mọi hành động phát xuất đều từ tâm địa chính mình. Kinh hành là từng bước đi từng niệm giác chiếu rọi vào đất tâm, kinh nghiệm của từng bước là từng niệm tự quán xét mọi hành động, việc nào cũng sáng suốt hiểu biết bằng trí tuệ, lòng luôn nhẫn nhục. Tánh hạnh là từ bi hỷ xả, biết sám hối, thương người, tâm chánh định, chánh niệm, các tà tưởng, tà niệm đều vắng lặng, rỗng rang, sáng suốt, thường nhiên là tọa thiền trên không. Các niệm sinh khởi đều từ tận hư không biến khắp pháp giới thường hóa hiện. Chánh định là tự tư duy biết xét việc làm, cần phát xuất bằng đức từ, bi, hỷ, xả, đạo đức, không trụ chấp tham, sân, si, mạn, nghi, độc ác, thù hận, oán hờn, ưa thích, thương yêu mỗi niệm khởi là hành động của giới luật, đạo hạnh. Kinh nghiệm là chơn lý, hành động thanh cao. Đất tâm là chánh định, chánh giác, đó là kinh hành trên đất. Khi kinh hành có tướng bên ngoài là từng bước nhẹ nhàng, thanh thoát trên mặt đất, thì từng niệm, từng niệm khởi trong tâm cũng là từng bước thanh tịnh trên đất tâm, niệm niệm đều trong sạch, giải thoát, xa lìa mọi trần lao cấu nhiễm, không nghĩ nhớ tham, sân, si, viễn ly thập sử, mười phương thế giới cõi tâm không còn điên đảo chuyện thế gian, sáu căn tịch lặng là kinh hành trên đất tâm là kinh hành trên đất, tọa thiền trên không, là tư duy tu, xa lìa ái nhiễm, lìa mọi tư tưởng luôn luôn biến hiện trong hư không. Tất cả tư tưởng ý niệm đều ngưng bặc, tịch lặng là tọa thiền trên không, biết sự thật các pháp thế gian chỉ là không. Tọa thiền là ở trong bản giác chơn không sáng suốt, không vướng bận tà vọng tư tưởng cuộc đời. Pháp tọa thiền cũng như pháp niệm Phật, tu đến vô biệt niệm, là không còn vướng niệm nào nữa thì trí tuệ sáng suốt, biết hết các pháp cũng ở trong không trung, không trụ đâu cả, chẳng bận rộn việc gì, không bận rộn pháp trần là bổn lai vô nhất vật hà xứ nhạ trần ai. Lúc này tâm ta không còn nghĩ vào điều gì tham muốn thích ưa thế gian nữa là niệm Phật nhất tâm. Không loạn niệm là vô biệt niệm, dù niệm là các vọng tưởng từ tạng thức vẫn khởi, mà tự giác giữ tâm an định không duyên theo pháp là tâm định. “Hoặc đã chứng Tu-Đà-Hườn, A-Na-Hàm, A-La-Hán”. Ta tu đã xả lần những điều ham thích, ngã mạn, tự cao, bớt giận hờn, ghen ghét, tất cả đều buông xả ra khỏi tâm, không còn chấp trụ niệm nào cả, đã thanh tịnh. “Người đặng A Duy Việt Trí” là giải thoát tất cả, không còn thối chuyển, quyết lòng xây dựng công đức không thối lui. “Mỗi tự niệm đạo, nói đạo, hành đạo, thảy đều hoan hỷ”. Khi thực hành 48 lời nguyện tự độ mình, hành đạo Bồ Tát, dẫn dắt chúng sanh, tâm không niệm trụ, vướng bận vào tư lợi. Mỗi niệm khởi cõi tâm đều vì đạo, niệm nào cũng đem hoan hỷ cho mình, cho người, chỉ vì lợi ích cho đại chúng.
Thế gian vật đổi sao dời
Tu hành tâm chẳng bồi hồi mà chi
Thấy đời ta tự quy y
Quy vào tâm tịnh là y Phật rồi!.!.!

Phẩm 17 :

AO SUỐI CÔNG ĐỨC

Cực Lạc là thế giới an định cõi tâm, muốn xây dựng mọi kiến trúc đất tâm phải bằng kinh nghiệm xuất thế, siêu phàm vô lượng công đức. Nói đến cách kiến trúc, Phật mượn sự tướng biểu trưng là ao suối sâu cạn hay thông nhau, ẩn chỉ vào trình độ công hạnh của người tu. Dùng tướng ao, suối, sâu, cạn để nói đến tâm lượng, trình độ căn tánh, trí tuệ cạn sâu của chúng sanh không đồng. Các tâm niệm sáng suốt hiểu biết được các pháp là sự thông suốt, không làm tâm não loạn, tâm an định, không chê chán, đều cảm thông nhau. Đối với các chúng sanh hữu tình căn cơ sâu cạn, có bậc hiểu cao, bậc hiểu thấp, rộng lớn tùy vào từng quả giác Thanh Văn, Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát. Nếu trình độ Thanh Văn cũng được tắm trong ao công đức, tắm bằng nước pháp Ma Ha Bát Nhã, nước này chỉ ngập tới chân vì trình độ sơ quả còn bậc hạ. Bậc Duyên Giác, nước pháp công đức ngập tới gối, trình độ bậc trung. Bậc La Hán nước mát công đức ngập tới lưng, là bậc thượng. Bậc Bồ Tát nước tắm tới cổ, tùy vào trình độ giác ngộ tự giác của chúng sanh, công hạnh tu tích lũy công đức tới đâu thì tiếp nhận nước pháp dâng mát sảng khoái, hỷ lạc đến đó. Chư Bồ Tát cũng tùy vào trình độ thu nhận của chúng sinh mà thuyết giáo, tùy thuận căn cơ mà có nước pháp ấm lạnh. Dùng nhiều pháp làm phương tiện cho người nghe, tùy căn nhanh hay chậm từng bậc mà thuyết giáo. Nước chảy nhanh, chảy chậm là dùng pháp cho vừa trình độ, tùy thuận căn tánh nhanh lẹ hay mê độn mà giáo hóa chúng sanh. Không chấp trước, bắt buộc mọi người phải theo ý mình, bằng tâm hoan hỷ hằng thuận chúng sanh. Cực Lạc có chín phẩm Liên Hoa, Hạ Phẩm Hạ Sanh, Trung Phẩm Trung Sanh và Thượng Phẩm Thượng Sanh, rất nhiều trình độ. “Có chỗ rộng lớn đến trăm ngàn do tuần”. Nghĩa là tấm lòng rộng lớn của người giác ngộ, bản thể chơn như vốn sẵn nơi mỗi người đều thơm tho, sạch sẽ, rộng lớn, phẳng lặng, trong sáng, trọn vẹn công đức, đã đi trên đường Bát Chánh Đạo thì tất cả đều thơm lành, tinh khiết, sực nức mùi hương, hương giới, hương định, hương giải thoát, hương tri kiến sẳn giống là nhân lành sẽ trổ quả tốt. “Lá chen rợp trời”. Tự tánh là Bồ đề đại thọ, đầy đủ cành lá chen lẫn nhau. Ý kinh nói, tự tánh chứa tất cả pháp là chứa tất cả tâm niệm chen rợp cả hư không biến khắp pháp giới, tánh giác bao trùm. Tất cả tâm niệm, trí huệ là tự tánh, trùm phủ đều sáng suốt, thanh tịnh, không còn một niệm mê nào, hoàn toàn tỉnh giác, tỏa muôn ngàn hương giải thoát, quyện theo gió pháp, nương theo dòng nước Ma-ha. Niệm sáng suốt là hào quang trong sạch có danh từ là Bồ tát tại tâm, giáo hóa những chúng sanh là các niệm vô minh dìu dắt rước về tự tánh, như lá lành đùm lá rách, tỏa ngát hương thơm đạo đức từ bi, tạo thành thế giới hoa sen được trang sức bằng bảy báu. “Đất trải cát vàng, hoa Ưu Bát La Bát Đàm Ma, hoa Câu Mâu Đầu, hoa Phân Đà Lợi muôn sắc lộng lẫy, chan hòa mặt nước”. Các Bồ Tát đem những trạng thái mát mẽ, trong sạch, ích lợi, dùng đạo hạnh, công đức, trí tuệ chính mình làm gương mẫu cho mọi người hướng tu, rưới hương từ bi, hoa trí tuệ, các loại hoa thơm đẹp là đức độ cao cả từ ánh sáng chơn lý đến cho mọi người. Tùy sự khó khăn mà Bồ Tát tùy thuận giúp đỡ. Tất cả công đức đều là giới hạnh đã được các Bồ Tát sửa sang, trang hoàng cho cõi tâm lộng lẫy, đem ấm êm, an ổn, hạnh phúc tròn đầy làm dịu mát tâm người tu học. Mục đích các của Bồ Tát là giúp mọi người phát hiện được tánh giác chơn như thanh tịnh, phá mê khai ngộ, vậy phá mê là gì? Nếu tự lầm lẫn, cho tiền bạc, nhà cửa, vợ chồng, con cái, tài sản, vật chất, vui buồn, thương ghét tưởng thật là của ta, gọi là mê, vì không biết các pháp vốn vô thường. Khai ngộ là dẫn giải cho tấm lòng con người được trong sáng, sạch sẽ, thanh cao. “Các báu dưới nước cùng tận thâm sâu, sóng lui, sóng tới, thong thả bủa giăng, tiếng vang vi diệu, vô lượng âm thanh hoặc giả nghe đặng tiếng Phật, Pháp, Tăng”. Nếu là bậc Bồ Tát dẫn độ chúng sanh thì luôn luôn có hào quang sáng suốt, phản chiếu của trí tuệ, đạo đức, ngay thẳng, chơn chánh, không tư lợi hay phân chia cao thấp, không làm khổ não, bực bội, bất bình, bất mãn chúng sanh. Vì họ mà Bồ Tát đem lợi ích đến, dù pháp thế gian sanh diệt, nơi biển thức là sóng trần giăng bủa, não loạn như sóng tới, sóng lui, nhưng lúc nào tiếng nói của Bồ Tát thốt ra là vô số diệu âm minh bạch, đem an ổn hạnh phúc vào lòng người. Tiếng nói vi diệu là diệu âm đưa vào tận đáy lòng lắng nghe mà tầm thinh cứu khổ. Đem âm thanh vi diệu từ diệu tánh chơn như, tưới tràn ngập vào lòng người nghe, chuyển hóa các niệm u mê, độc ác, trở thành nhu hòa, đạo hạnh. Cử chỉ, hành động, không còn tham, sân, si, không phiền não, không vì tư lợi riêng tư, tất cả đều vì đại chúng. Tâm niệm các Bồ Tát chỉ thuần tiếng Tam Bảo. Tam Bảo là phước báu trùm khắp thế gian.
1. Phật bảo : Là trí giác sáng suốt, mà bất cứ ai ở thế gian đều có sẵn. Nếu quên tánh giác là mất Tam Bảo, con người mất sáng suốt, mù lòa trí tuệ.
2. Pháp bảo : Là những lời dạy từ kinh nghiệm của Đức Thế Tôn, phát xuất từ trí tuệ giác ngộ tuôn tràn kinh nghiệm, cho chúng sanh được tưới tẩm chơn lý hiểu biết hào quang trí tuệ, trong sáng, vi diệu.
3. Tăng bảo : Là những người giác ngộ cuộc đời, thay mặt Thế Tôn hoằng truyền chánh pháp. Kinh dạy, “Chư Tăng tại tiền là chư Phật tại thế” nhưng Tăng phải thật giống như đạo hạnh đức độ của Phật mới gọi là Tăng. Đời sống phạm hạnh, lòng từ bi thương yêu muôn loài. Tăng bảo gần gũi chúng sanh nhất, vì vậy ta nên cung kính Tăng như cung kính Phật. “Tiếng Ba La Mật” là Ba-Ra-Mi-Ta nghĩa là qua bờ bên kia. Ý nói việc làm đã xong, đã hoàn thành, chỉ vào đức độ người tu đã viên mãn. “Chỉ tức là tịch tịnh”. Chỉ là trực chỉ, hằng sống với tánh giác. Khi đã tu chỉ, chơn tâm hoàn toàn tịch lặng, vắng hết mọi niệm tưởng vào thế gian, hoàn toàn tỉnh giác thanh tịnh, gọi là chỉ tịch tịnh. Không còn bỏ tâm chạy theo cảnh vật, không vào pháp thiền mà tâm vẫn tịch tịnh. “Vô sanh vô diệt, mười lực vô úy” là không còn tâm niệm sanh diệt. Lực là sức mạnh thắng được phiền não, tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, tà kiến, biên kiến, kiến thủ. Phải dùng mười lực chiến thắng thập kiết sử là ra khỏi Thập Điện Diêm Vương. Cần phải tu đi trên đường Bát Chánh Đạo. Vô úy là không còn sợ sệt điều gì cả, không sợ mất thế gian, không sợ nghịch duyên, biết mọi việc đều có nhân quả, bằng lòng trước các pháp, không sợ mất thân vì biết thân là duyên của thất đại tạm gá, nhóm hợp, do Ngũ Uẩn mà thành. Chỉ có tánh Phật là tự tánh A Di Đà tại lòng sáng suốt, vô lượng thọ dụng được tất cả các pháp mà không đắm nhiễm, dùng pháp bảo mà tích lũy vô lượng công đức. Xây dựng thế giới an tịnh tại cõi nước là sửa sang tâm địa, đất tâm là Cực Lạc. Tịnh thổ tại lòng được sửa sang, trang nghiêm, lộng lẫy, không xen tạp nhơ uế. Mười lực vô úy là sức mạnh chiến thắng giặc vô minh, không khiếp sợ ma quân, tự tánh vô lượng quang vi diệu chiếu soi, dù đến thế giới nào, cực nhọc, nghèo đói, vẫn ung dung sống bằng tánh giác, không chấp Ngã, Nhân, Chúng Sanh, Thọ Giả, không sợ sanh nơi nào vì vô sở sanh, vô sở xứ, sanh chỗ nào cũng là chỗ đến, làm lợi ích an ổn cho chúng sanh nên chư Bồ Tát lòng rất hoan hỷ, tự tánh mãi mãi trường tồn. Thân tướng chỉ là sắc pháp tạm huyễn, mất còn, không khiếp sợ, tùy xứ vẫn kiết tường, là mây lành dạo khắp mười phương cõi nước. “Tiếng Cam Lộ quán đảnh thọ vị”. Nếu lòng ta đang đau khổ, gặp được bậc Bồ Tát tự cõi lòng thị hiện quán căn cơ trình độ mà thuyết giảng, dẫn dắt, đưa tâm đang niệm vào khổ đau nhập ánh sáng chơn lý, thông hiểu lý vô thường, không chấp cuộc đời là thật tâm sẽ an ổn, chánh định, xả ly mọi tà vọng, tà niệm, cõi lòng trở nên an lạc là nếm được vị Cam Lộ mát mẻ, ngọt ngào, linh diệu. Lời chánh ngữ êm ái từ trí tuệ giác ngộ, cảm hóa được các niệm, sẽ tiêu tan phiền não. Thân tuy ở hoàn cảnh bứt ngặt, nghịch duyên mà tâm liễu ngộ các pháp chơn như. Lòng không còn chua chát, đắng cay, đau khổ vì cuộc đời. Tâm được nhẹ nhàng, thanh thoát là uống được vị cam lộ của các Bồ Tát. Bên ngoài cũng có Bồ Tát, là các bậc chơn Tăng đã giác ngộ, có những hào quang sáng suốt trong tâm cũng là chư Bồ Tát, thường thuyết giảng khuyên nhắc, vỗ về, an ủi, giáo hóa cho cõi lòng ta. Những lúc đau khổ, các Ngài sẵn sàng ban cho, bằng lòng hoan hỷ, ta cần quán vào tâm địa để nghe mà niệm nhớ, là chư Bồ Tát có sẳn nơi đất tâm mọi người. Nam Mô Cam Lộ Vương Bồ Tát. “Tiếng vô sanh diệt”. Khi giác ngộ thường sống với tánh giác, tuy tai nghe tất cả âm thanh vẫn không khởi tâm, không tác ý phân biệt tốt xấu, hay dở, không phiền, không chấp là của ta, nên tâm không sanh diệt. “Vô tánh, vô tác, vô ngã”. Con người thường có tánh nóng, tánh giận hờn, tánh ích kỷ, tánh ghen ghét, tánh ngã mạn, tánh tự cao, kiêu căng, tánh tham muốn... tất cả tánh này đều là huyễn vọng, tà kiến, không là của ai cả. Phật tánh vốn không màu sắc là vô tướng, vô ngã, vô tác, không thể nói hết. Vô tác là không tác ý, vẫn làm mọi việc mà ý niệm là vô tư, không khởi niệm tư lợi cho cá nhân, là không tác ý. Người tu chỉ sống với tánh giác, không gì là của ta cả nên không có ngã để tác ý phân biệt của ta hay của người. Những âm thanh, sắc tướng, đều là của chung, do duyên tan hợp, không của riêng ai, sáng suốt những điều này là là vô ngã. “Tiếng đại từ đại bi đại hỷ đại xả”. Những âm thanh vi diệu được phát ra bởi lòng từ của các Bồ Tát thuyết giảng, chan rưới vào lòng chúng sanh, làm tiêu tan mọi phiền muộn, khổ sầu nên không có các sự khổ, dù nghịch duyên, nghịch ý, vẫn hoan hỷ bằng lòng với sự bố thí, nhẫn nhục, không hề khổ gọi là bạt khổ.
Có hai loại chúng sanh, chúng sanh trong tâm và chúng sanh ngoài tâm. Cả hai loại chúng sanh này, ta không có quyền đem sự khổ đến cho họ, mà phải tìm cách làm cho họ lìa khổ gọi là lòng đại bi. Dù khó khăn, cực nhọc như thế nào, luôn luôn sử dụng bằng lòng tha thứ, hoan hỷ, xả bỏ, không một vật trần ai nào vướng bận. Sống bằng tánh giác là sống bằng sáng suốt trí tuệ, đã gieo trồng, gìn giữ, nhiều đời nhiều kiếp không gián đoạn. “Khi nghe các âm thanh như vậy, lòng thanh tịnh không hề phân biệt”. Không phân biệt là vẫn nghe thấy mà không hề chấp trụ vào niệm phân biệt tốt xấu. Vẫn nghe thấy mà không thích, không ưa, không phiền não, nóng giận, mê đắm, nắm giữ, bảo thủ. Vẫn nghe thấy vật, thấy cảnh, vẫn sử dụng mà không đòi hỏi cho là của ta, của người. Đối diện mọi âm thanh, sắc tướng tâm là tịch lặng an vui, tỉnh giác, không phân biệt đúng sai. “Chánh trực bình đẳng”. Sống trực chỉ cùng tánh giác, chánh định, không xao lãng mà niệm trụ vào cuộc đời, cõi tâm là bình đẳng vô phân biệt. Nam nữ đều có tánh giác giống nhau, tánh thấy nghe đều bình đẳng. “Thuần thục căn lành”. Căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, tất cả đều linh động nhờ tánh giác. Thuần thục căn lành là sáu căn thanh tịnh, không nhiễm vào ngũ dục, sanh tâm ham muốn, thích ưa, vui buồn, giận ghét, khi ngửi, nếm, thấy, nghe, xúc, chạm, khi tác ý, thường có tánh giác, tự tánh thường chiếu soi vạn pháp, sáng suốt làm chủ pháp bằng tuệ giác, biết tất cả mà không sanh tâm đó là tuệ chiếu. “Ý muốn nghe pháp nào là pháp đó phát ra, nếu không muốn nghe liền im lặng vĩnh viễn chẳng thối tâm Bồ đề”. Tự tánh là tuệ giác nên khi tâm đắc pháp nào kề bên có tánh giác, thường tư duy, tìm phương tiện thiện lành để độ chúng sanh trong tâm hay chúng sanh bên ngoài được an ổn gọi là chánh tư duy. Biết dùng pháp là phương tiện để tự độ lòng mình và độ người. Phương pháp tư duy tương ưng cùng pháp tướng, sau khi đã giải quyết được chuyện thế gian gọi là Thế Gian Giải, tâm liền yên lặng trở về tánh giác là nhập vào chánh định, vĩnh viễn không thối tâm Bồ đề, dù khó khăn, bậc xuất thế vẫn bền lòng, cứu độ các chúng sanh, không hề thối chuyển, tâm Bồ đề vẫn kiên cố, không nản chí. “Những người trong mười phương thế giới, chư vị vãng sanh đều ở trong ao Thất Bảo, bất sanh, bất diệt, không còn nghe tiếng khổ não, không có tên ba đường ác”. Các chúng sanh trong mười phương thế giới, khi thành tựu 48 đại nguyện tức vãng sanh hết các niệm ác. Tâm ta là hào quang hiện trong ao thất bảo. Tất cả niệm đều là sen đầy đủ nguyện lực, từ, bi, hỷ, xả. Tài sản là Thất Thánh Tài. Chất liệu các pháp bảo giữ tánh giác trong sạch, cư trần bất nhiễm. Vẫn thấy nghe các pháp mà lòng không vướng bận khổ, vui. Ở trong ao Thất Bảo là ở trong giới luật, như hoa sen chỉ ở trong ao báu, tâm niệm toàn là pháp bảo và giới hạnh. Lời nói là chánh ngữ, nói ra là những pháp cao quý. Nghĩ nhớ bằng pháp bảo là chánh tư duy. Thấy bằng pháp bảo là chánh kiến. Ý sanh khởi thiện lành là pháp bảo. Làm lợi ích cho mọi người, không ngã mạn là chánh mạng. Ý không điên đảo, loạn tưởng là chánh niệm. Tâm an ổn là chánh định. Tinh tấn vượt qua mọi chướng nạn là chánh tinh tấn. Tâm an lạc, trí tuệ thông suốt các pháp, làm chủ sự thấy nghe là chánh huệ. Không còn nghe tiếng khổ nạn của tam đồ ác đạo. Dù sống trong hoàn cảnh bức ngặt, vẫn tinh tấn vượt lên không để niệm khổ xâm nhập vào tâm, không hề có tiếng rên la than oán, kêu khổ sở, môi thường nở nụ cười hoa sen, sen không hề tắt héo bởi lửa sân si, huyễn tạm thiêu đốt, sắc diện tự nhiên thanh thoát, không hề có các sự khổ dày xéo, úa tàn, làm tắt lịm hào quang tánh giác, chỉ có tiếng phát ra âm thanh vui vẻ, từ ái tự nhiên gọi là cõi nước Cực Lạc.


Này Phật tử nghe Thầy giảng thuyết
Bấy lâu nay ta chưa rõ tận tường
Đạo Phật là đạo tình thương
Thương người mến vật ta ương Bồ đề
Dẫn người ra khỏi rừng mê
Nhắc rành đạo chánh Bồ đề Như Lai
Tâm Phật lìa chỗ đúng sai
Tự mình chấp nhận, đắng cay yên lành
Hạnh tu chí nguyện tập tành
Tập sao tâm ý thực hành chánh chơn
Cuộc đời ganh ghét, giận hờn
Tâm mình là quả chánh chơn không buồn
Mặc dầu cực nhọc luôn luôn
Có khi nạn chướng không buồn sanh tâm
Lòng từ như Bồ Tát Quán Âm
Không màng sự thế cho tâm nhẹ nhàng
Đường tu đi thẳng một đàng
Nhứt tâm, nhứt niệm, tâm vàng như như
Phật tâm lòng chẳng riêng tư
Phật là đại chúng, mình như mọi người
Chúng sanh đau khổ chẳng cười
Chúng sanh đang khóc, ta cười sao yên?
Phật dạy dù lắm oan khiên
Phận mình chấp nhận tròn duyên học trò
Người tu như thể đưa đò
Bến mê, bờ giác dặn dò phải qua
Phật tâm vẫn có lẫn ma
Nơi lòng cũng chứa ma quân quá nhiều
Ma lòng độc ác tự kiêu
Thêm ma lười biếng, thật nhiều người ôi!!!
Ma tham tính lỗ, tính lời
Tánh ghen, tánh ghét, hại đời thiếu chi
Con ma độc ác phân bì
Ma trần làm việc ích khi thiện lành
Con ma giật, con ma giành
Loại nào cũng dữ, hoành hành lòng ta
Đoạn lìa cho hết tánh ma
Tánh lành tánh thiện cho tâm rạng ngời
Gọi kêu Phật tử của Thầy ơi!!!
Làm lành nhứt định cuộc đời yên vui
Từ nay quyết chí không lui
Ta là tánh giác, là tâm thương đời
Tâm thanh chánh niệm vài lời
Nguyện sao khắp chúng thoát đời muội mê.

Phẩm 18 :

HIẾM CÓ
SIÊU VƯỢT THẾ GIAN

Hơn 2550 năm, phẩm kinh Vô Lượng Thọ được Thế Tôn tuyên thuyết. Ngài dùng rất nhiều phương tiện làm cho con người sáng tỏ, nhận lại bản tâm, tức là ngộ nhập tri kiến Phật. Nếu ai là Phật tử, đủ duyên lành, tu theo 48 đại nguyện, tu đúng theo lời Phật dạy sẽ hội nhập Tự tánh A Di Đà, là sự thật tự giác sống được với bản tánh chơn như, trí tuệ, hằng giác chiếu soi, là điều hiếm có, siêu vượt thế gian mà phẩm kinh thứ 18 Phật đã thuyết trong Kinh Vô Lượng Thọ. Mục đích dạy cho những ai có duyên tu pháp môn Tịnh Độ, thực hành đúng bản nguyện của Ngài. Nếu tu Tịnh Độ mà không thông suốt chơn lý, tự phát nguyện tu theo 48 đại nguyện thì thật là vô phước vì những kinh nghiệm Phật dạy trong kinh giống như Cơm Hương Tích thơm ngon, đã được dọn lên sẵn sàng cho tất cả chúng sanh là những người con Phật đang đói, vì tu mà còn thiếu giáo pháp. Nếu không ăn được cơm để nuôi dưỡng trí tuệ là không có phần được thừa hưởng pháp bảo, gọi là thiếu phước. Người giác ngộ Phật Pháp thật là hiếm có nên 48 đại nguyện là chánh nhân thực hành gieo vào tâm địa, chánh giác là sự thành tựu của tánh giác. Kinh nói, nếu có chánh báo sẽ có y báo, các pháp đều y như vậy. Chánh báo là tự đức hạnh ta gieo trồng công hạnh tu hành, tích cực dành dụm từng niệm tự giác của nhiều hành động thiện lành đã tích lũy sẽ là y báo. Vậy ta thấy nhân và quả rất rõ ràng. “Nước Cực Lạc có các chúng sanh dung sắc vi diệu, vượt đời hiếm có, đồng cùng một loại, không tướng sai khác, chỉ vì thuận theo phương tục nên có các tên Trời, Người”. Nếu ở tại thế gian là một con người, tâm đã an định, xả bỏ hết mọi phiền muộn, sân si, không con tâm niệm tham lam, đã thanh tịnh trong sạch, thì cõi tâm là Cực Lạc. Nên người hiện sống với tâm này dung sắc rất hoan hỷ, tự tại, không còn vướng mắc thất tình lục dục. Kinh Pháp Hoa, Phẩm Tín Giải nói về Ngài huệ mạng Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, sau khi nghe Phật thọ ký cho Ngài Xá Lợi Phất được Vô Lượng Chánh Đẳng chánh Giác, biết rằng những Thanh Văn như mình rồi cũng được Phật thọ ký, rất vui mừng, xin Phật cho một thí dụ để chỉ rõ, nên các quả vị Thanh Văn, Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát là những danh từ Phật đặt tên gọi đến từng trình độ, căn cơ tự giác của con người, để Ngài diễn nói chỉ vào tự tánh, gọi là chư Phật khi các tâm niệm hoàn toàn giác ngộ. Kinh Pháp Hoa có nói Gã Cùng Tử, vậy Cùng Tử là gì? Là ai? Cùng là cùng tận, cùng mạc, nghèo xơ xác, chỉ vào người mê muội. Nghèo xơ xác là cõi tâm nghèo nàn giáo lý, không thông hiểu pháp Phật, không một vốn liếng giác ngộ để tu học. Gã Cùng Tử là ai? Chính thật là Ta, hiện tại dù ta đang tu vẫn bị nghèo nàn giáo lý, nghèo xơ xác vì vô minh nên dung mạo hình sắc cõi tâm tiều tụy, xấu xa, thô tục. Gã Cùng Tử là con nhà giàu sang tột bực, Trưởng giả chính là Đức Phật, ta là con Phật. Phật giàu tài sản, giàu chơn lý, khắp thế gian đều nhờ tài sản giáo lý, mượn phước báu trí tuệ của đức Phật để tu học. Nếu là Phật tử, là con Phật mà vẫn thiếu thốn, nghèo nàn giáo pháp thì gọi là Cùng Tử. Vì mãi mê muội, lầm lạc, chạy theo thói quen của cuộc đời, sợ thiếu ăn, thiếu mặc, mãi sống trong lo sợ nên cuộc sống tâm là lo lắng, tìm kiếm lục trần, vun đắp vào ăn, mặc, ngủ, nghĩ, suốt ngày lo quây quần vào tiền bạc, nhà cửa, vì sợ thiếu ăn, thiếu uống, thiếu chỗ ở, thiếu phương tiện, thiếu tiện nghi trong đời sống. Tự nhìn lại ta là Phật tử, là con Phật, gốc xứ sở là nhà Như lai, vì ham chơi, tâm bỏ đi hoang, chịu làm người nghèo khổ, thiếu thốn vì u mê, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ tài sản của Phật mà sống đời lưu lạc. Ý kinh nói, nghèo nàn chỉ lòng ích kỷ, nhỏ mọn, hẹp hòi, chật hẹp, tham lam, không một ánh sáng chơn lý rọi vào cõi tâm. Phật là trí tuệ rộng thênh thang, lòng cao lớn, vô lượng. Ta vì mê nên tâm sa đọa trong nghèo nàn, cơ cực, vất vả. Bỏ xứ là bỏ tâm thanh tịnh, an lạc, bỏ trí tuệ hào quang sáng suốt, bỏ chơn lý, bỏ đạo đức, bỏ hạnh phúc tự tại, tự do. Tuy biết cha mình là Trưởng giả, biết ta có sẵn tánh Phật, giàu có tột cùng mà không dám trở về, đi mãi vào luân hồi rất xa, chất chồng thêm nghiệp quấy, càng xa chơn tánh, lạc loài, càng bước càng xa xa vời.

Ta cứ ngỡ xuống trần trong chốc lác
Nào ngờ đâu ở mãi đến hôm nay.
Khi nghe được lời dạy của bậc giác ngộ hay Thiện Tri Thức nhắc nhở, được nghiên cứu đọc tụng kinh Phật, thông hiểu lý kinh thấu rõ chơn lý, tức là đã tìm được đường trở về nhà. Nhà Như Lai có đầy đủ tài sản quý báu là những Pháp Bảo. Vì cứ ôm chấp Ngũ Uẩn nên nghĩ thân phận mình nghèo khó, dãi đãi không dám nhận pháp bảo là tài sản quý giá là của mình, trong tâm mình thường chứa đủ, mà Tổ nói, “Trong tâm có tất cả, trong tâm chứa muôn pháp”. Vì tự ti thân phận nên không dám nhìn nhận cha, nhìn thân nghèo nàn, đen đúa, là nghèo giáo pháp. Tâm u tối gọi là đen đúa, bẩn thiểu là các niệm ô uế, xấu xí bần cùng là tâm niệm hạ tiện, vùng bỏ chạy là chối bỏ tánh giác. Ông Trưởng giả biết đó là con mình nên cho người tìm kiếm đem về. Tự tánh hằng chiếu soi vào các tâm niệm bằng vô lượng quang, tìm kiếm các chúng sinh cùng tử là các niệm si mê đau khổ tại tâm mà nhắc nhở, giáo hóa đem về cõi an lạc là Cực Lạc, sống đời an ổn không hề chán bỏ một chúng sanh hay bỏ một niệm nào cả, chỉ quyết lòng giáo hóa. Vì quá sợ nên Gã Cùng Tử mới van lạy xin tha, khi tỉnh ngộ, sợ nhân quả, sợ nghiệp báo đã gieo trồng, nhìn vào cõi lòng đầy tội lỗi, tự van lạy mà sám hối. Ông Trưởng giả vì quá thương con phải giả làm người nghèo khổ rách rưới để gần con. Ông Trưởng giả là đức Phật vì thương chúng sanh như con đỏ nên thị hiện đến cuộc đời có thân người, mượn ngũ uẩn có sắc tướng vô thường, chịu thọ nhận sanh, già, bệnh, chết, để gần gũi ta và các chúng sanh mà giáo hóa, khuyên lơn dạy dỗ. Cũng làm việc hốt phân, nhận hành động vào các pháp thấp hèn, có vợ con, có tài sản, danh vị, bày ra đủ ngũ dục nhưng Ngài không mê đắm đọa trong ngũ dục. Hạnh buông bỏ Đức Phật làm gương mẫu cho chúng sanh, xa lìa những niệm thấp hèn, nghèo đói, tham lam, giành giật, ngã mạn, đua tranh, chấp thật, xả bỏ tất cả pháp thô thiển vô thường tạm giả, lo tu để trở về tấm lòng trong sạch, an vui là về Cực Lạc cõi hạnh phúc, giàu có, đủ pháp bảo sang trọng quý báu, an ổn tuyệt diệu. Cực Lạc là tấm lòng an lạc vô cùng, vô cực. Ngài dạy ta làm công việc hốt phân, là hốt những pháp trần là phân nhơ uế, vướng mắc, ô nhiễm, không thật, bỏ vọng tưởng, dạy ta sống đời phạm hạnh, chịu đựng mọi khó nhọc, dạy bố thí, cúng dường, làm phước công quả, công phu tu sửa lần lần cho quen. Bố thí là xả bỏ vật chất cho tâm thí xả hết lòng tham. Bố thí hết tâm niệm là các pháp keo kiệt cho tâm rộng lớn, rỗng không, bố thí hết các pháp cho tâm trong sạch không còn chứa những điều tham vọng tệ ác là Đại Bố Thí. Kinh nói, lúc Đức Phật còn là Tiên Nhẫn Nhục, Ngài nguyện bố thí tất cả, bố thí đầu, bố thí mắt, bố thí tai, bố thí miệng, lưỡi mà tâm không hề luyến tiếc, đây là pháp đại bố thí, thí tất cả, thí luôn thân mạng. Trong đầu ta có vô số tư tưởng, muôn ngàn ý niệm, vô lượng niệm tính toán, vô biên niệm tranh giành, tư lợi, hơn thua, phải quấy, đúng sai, thua được, lợi hại, khen chê, tốt xấu... thật nhiều pháp điên đảo, làm não loạn cõi tâm, đó là những nghĩ nhớ tư tưởng trừu tượng, ảo giác không thật, bởi các niệm riêng tư lầm chấp là pháp có thật, mãi ôm giữ. Nếu tự giác biết các pháp không thật, như huyễn ảo thì sẵn sàng buông xả, thí tất cả pháp thế tục, không nuôi dưỡng chấp giữ mọi tư tưởng, bỏ hết suy nghĩ tính toán. Tâm rỗng rang là không còn giữ đầu mê muội, không đầu dụ lợi, mất đầu tham lam si dại, bỏ đầu cá nhân, đã bố thí đầu phàm phu tục tử, đổi lại là đầu của bậc Thánh. Nếu ta biết bố thí, bỏ đầu ma, thì còn đầu trí tuệ là đầu Phật, đầu giác ngộ, đầu hào quang. Người phát nguyện tu hành, phải bỏ dứt khoát mọi ác tưởng gọi là thoát tục. Nên Phật dạy, ta phải bố thí, là dẹp đầu mê muội, bỏ sự thấy, nghe, bỏ dục vọng tham muốn đê hèn, bỏ tánh tham ăn, ăn gian, ăn giành, ăn giật, ăn trộm, ăn cướp, ăn xin, ăn mạng. Bố thí miệng lưỡi là bỏ lời độc ác thô tục. Pháp bố thí này Phật dạy ta thí xả, chuyển đổi trí tuệ Siêu Vượt Thế Gian. Người tu pháp này quả là hiếm có, điều này cần phải tu tập thật là tinh tấn mới quen dần. Sống hạnh buông xả, bỏ các niệm uế nhiễm gọi là hốt phân, vì mang tâm niệm phàm phu, mãi lăn lóc với bùn nhơ cặn bả. Người được phước ở thế gian cũng khổ, khổ vì con, khổ vì vợ, khổ vì chồng, khổ người thân, khổ vì tài sản, gọi là đọa trong phước. Chỉ vì phước hữu lậu vì vạn pháp có sanh thì có diệt không bền, lầm chấp, cứ khổ sở mãi vì lo toan gìn giữ. Nghèo hèn thì đọa trong cơ cực, đói lạnh, thiếu thốn thật là khổ ải vạn trùng ba. Làm người chơn chánh, phải giữ gìn năm giới, đặc biệt là không sát sanh, không gian tham, không trộm cắp, không nói dối ác, không cờ bạc rượu chè thì phước báu vô lượng, nếu phạm những điều này thì cõi tâm rơi vào chỗ thấp hèn, xấu xa, tâm đã đánh mất sự cao quý. Nếu ta giữ được những điều này là tự quay về nhà Như Lai tôn quý sang trọng, giàu có, nhiều của cải tài sản Phật Pháp. Dù là Cùng Tử nhưng khi đã quyết tâm nguyện tu cũng chuyển đổi thành bậc tôn quý, trở về nhà Trưởng giả. Tâm ra khỏi cõi tham lam, buồn giận, ngã mạn, tự cao, ích kỷ, bỏ tà kiến, bỏ mê tín dị đoan, bỏ dần những niệm hèn hạ, là bỏ nhà dưới, từ nhà bếp là Tiểu thừa bước lên nhà giữa là Trung thừa, lên đến nhà trên là Đại thừa, nhận được tất cả tài sản quý báu của Phật, đã thật sự vào nhà Như Lai tôn quý. Gìn giữ, thọ trì, bảo vệ, truyền bá tài sản quý báu của Phật giao phó là Trưởng tử Như Lai. Muốn vào thế giới này, phải tu pháp môn niệm Phật, là pháp tu buông xả các niệm phàm tục. Dẫn Gã Cùng Tử là dẫn các niệm thường phóng túng đi hoang về với ông Trưởng giả cao thượng tôn quý. Vậy niệm Phật là sao?
Niệm Phật là nhớ Phật, hướng về quy y với Phật. Tự quy y Phật, hành động giống y như Phật, lòng biết thương yêu mọi người, mọi vật, là tâm như Phật. Niệm Phật là gìn giữ tài sản của Phật, thường nhớ tánh Phật. Niệm Phật là buông bỏ các niệm ích kỷ, bỏ các niệm điên đảo, bỏ niệm hẹp hòi, bỏ niệm gian tham, bỏ các tư tưởng trừu tượng, bỏ vọng niệm, bỏ tà niệm, bỏ tất cả niệm phàm phu, bỏ mọi uế nhiễm, là bảo vệ, giữ gìn tánh Phật. Vậy ta thương yêu Phật như thế nào?
Thương yêu là bảo vệ, giữ gìn chơn lý, nhớ bản giác thanh tịnh, nhớ trí tuệ trong sáng, nhớ Phật hiện tại lòng. Lòng ta là từ, bi, hỷ, xả, không tu bằng miệng niệm Phật mà lòng niệm nhớ ma. Niệm Phật như vậy là vô ích phải niệm Phật giống như Gã Cùng Tử gặp được cha là ông Trưởng giả. Nếu biết giữ chánh niệm thì ta nhận lại sự chơn thành, chơn thật của chơn tâm, được trở về sống với niệm thanh cao giàu có chơn lý. Sống với tâm trong sạch, chớ nên quay lại là nhớ cuộc sống bần cùng, thấp hèn, nuối tiếc vào nhà ăn mày, ăn xin, mãi đòi hỏi muốn được Phật cho, được ban phước thế gian, những thứ mà Ngài đã buông bỏ, vì Phật nói các pháp đó là ô uế, thì không thể đem cho ta. Phật thị hiện đến thế gian mục đích chỉ cho ta thấy tánh, trở lại bản thể Như Lai giống như Ngài, dẫn ta về cõi an lành, dứt khổ, là giải thoát, giác ngộ. Miệng niệm Phật cần giữ ý tốt đẹp, không khởi ý niệm nhớ chuyện thế gian, không còn tâm niệm của Gã Cùng Tử, cứ cho mình là kẻ yếu hèn, rách rưới, lang thang, đói khát vì nghèo nàn giáo lý. Người có lòng như Phật, tâm như Phật, là đem an lành, sáng suốt, hạnh phúc, đến với ta và mọi người mà không cần đòi hỏi đáp trả, thường sống bằng tâm hạnh đạo đức, đời sống vẫn sinh hoạt bình thường, ăn uống tự nhiên nhưng không sống bằng tâm đắm nhiễm, mê si, ái dục.

Nếu ăn phải biết cách ăn
Không ăn lường lận, không gian hại người
Ăn sao như thể vàng mười
Ăn bằng đạo đức người người bình an
Tham lam ăn lận ăn gian
Làm cho người khổ thế gian đau phiền
Ăn gian, ăn bạc, ăn tiền
Ăn mà mất đức người phiền người lo
Vậy ta vẫn cứ ăn no
Ăn bằng đạo hạnh cho no thiện lành
Ăn sao lòng được tịnh thanh
Ăn mà tu học thiện lành người thương
Ăn vào tủy, ăn vào xương
Ăn bằng đạo đức Tây Phương là nhà
Ăn sao cho thuận cho hòa
Ăn mà độc ác người người khóc la
Khi ăn đạo hạnh bên ta,
Ăn lành, ăn thiện, ăn nên Thánh Hiền
Ăn sao chẳng lụy bạc tiền
Ăn bằng phước đức mối viền Như Lai
Ăn sao chẳng vướng nạn tai
Nếu ăn lầm lạc ăn sai hết rồi
Ăn bằng độc ác đắng cay
Quả là đau khổ luân trầm thiết tha
Ăn lầm nạn ách sanh ra
Đố ai thành Phật độ tha khắp loài?
Từ Bi Minh Tánh diệu thâm
Dắt về Cực Lạc sống hoài muôn năm
Mọi người sáng suốt định tâm
Tánh ta trí huệ thâm thâm diệu huyền
Đây nay pháp hữu thiện duyên
Tâm minh tánh Phật giáo truyền chẳng phai
Nguyện tu theo Phật hoài hoài
Không theo phiền não, sắc, tài, lợi, danh
Tâm thanh gạn lọc tinh anh
Tánh là chư Phật thiện nhân độ người
Đời là biển khổ người ơi! ! !
Nhắc cùng Phật tử đời đời nguyện tu.
Người sống bằng tâm thí xả, tâm trong sạch, dung sắc lộng lẫy, tươi đẹp hơn người sống bằng tâm thế gian. Nếu người giàu có giáo lý, ăn toàn thức ăn sang trọng, cao quý, trân bảo, không ăn mày bằng cách khẩn thiết cầu xin. Nên Phật nói với Ngài A-Nan, “Ví như ở thế gian có kẻ hành khất nghèo khổ, rách rưới, đứng bên cạnh vua, mặt mày hình trạng đâu thể sánh bằng. Nếu vua so với Chuyển Luân Thánh Vương thì vua quá quê hèn, cũng giống như hành khuất đứng bên cạnh vua Chuyển luân Thánh Vương oai tướng bậc nhất, nhưng so với Vua Trời thứ sáu, dù gấp trăm ngàn lần cũng chẳng tương đồng. Vua Trời thứ sáu nếu đem so với Bồ Tát, Thanh Văn trong nước Cực Lạc, dung nhan tươi sáng, dù vạn ức lần cũng không bì kịp”. Người ăn xin không thể sánh với vua, người đầy đủ phước đức trí tuệ đứng với người thiếu phước còn vô minh sẽ ra sao? Kinh dùng tướng trạng, diện mạo để chỉ vào đạo hạnh đức độ tâm người. Người tu chơn chánh, phước huệ đầy đủ, cao thượng, không thể đem tâm lượng so sánh với kẻ nghèo nàn đạo đức được. Vua cõi nhân gian không thể sánh với Chuyển Luân Thánh Vương. Vua Chuyển Luân Thánh Vương không thể sánh với Vua Trời thứ sáu. Vua Trời Thứ Sáu không thể sánh với Bồ tát, Thanh Văn cõi Cực Lạc, dù được các phước báu của người cõi Trời cũng không bằng phước từ trí đức. Nếu thường sống bằng tâm hỷ xả là Siêu Vượt Thế Gian, tâm là Bồ Tát của cõi Cực Lạc, phải thường niệm nhớ Phật tại lòng ta.
Niệm Phật thì niệm rất nhiều
Mà sao nghiệp chướng chưa tiêu bao giờ
Miệng niệm Phật, tâm đừng mơ
Miệng thầm niệm Phật phải sờ vào tâm
Niệm như Bồ Tát Quán Âm
Quán lòng đức độ thậm thâm diệu huyền
Niệm Phật tâm địa rất hiền
Đó là quả đức cao siêu tuyệt vời
Niệm Phật tâm sáng ai ơi !!!
Lòng không biết niệm công trình không ngơ
Niệm mà tâm rối như tơ
Niệm đời giả tạm hiện giờ là đây
Nếu ta niệm Phật như vầy
Biết đời huyễn tạm còn lo toan gì?
Niệm Phật tâm có từ bi
Thương người mến vật ta đi đường lành
Niệm Phật lòng dạ cao thanh
Đó là trí tuệ tuyệt vời cao siêu
Niệm Phật tâm thiết tha yêu
Thương mình, thương đạo, bao nhiêu cho vừa
Niệm Phật linh diệu ai ơi !!!
Nếu không biết niệm khó ngồi tòa sen
Niệm Phật đừng có lấn chen
Nhịn nhường giúp đỡ cho quen tâm mình
Niệm Phật lòng hiện hiển linh
Hoài hoài niệm Phật tâm in Phật Đà
Niệm Phật tâm địa sáng ra
Sáng mình, sáng đạo, sáng ra xứ người
Niệm Phật lòng được vui tươi
Niệm bằng tất dạ tâm điền cao sâu
Niệm Phật mà niệm ở đâu?
Niệm bằng tâm niệm in sâu lòng người
Niệm phật phát hiện trí khôn
Tuệ lòng là đạo không khôn theo đời
Huyền thâm đạo lý chẳng vơi
Thật lòng phân tỏ cho đời ráng tu
Tu khôn đừng có tu mù
Tu bằng trí sáng là tu giúp đời
Lời phân diệu pháp tuyệt vời
Tâm thanh là phước từ đời sanh ra
Ai ai cũng có mẹ cha
Nếu không tu học mẹ cha khổ sầu
Lời lành nhắc nhở từ đâu?
Từ tình bạn lữ từ câu Bồ đề
Khuyên đời đừng sống muội mê
Tâm lành phước báu cận kề tòa sen
Chuông ngân thức tỉnh reng reng…
Kêu về với Phật cho quen bớ người
Kệ thi bày tỏ dừng lời
Chúc cho con Phật sống đời nhớ tu.
Ta là Gã Cùng Tử nghèo nàn trí tuệ, nếu bỏ lòng tham dục là trở về Cực Lạc, bỏ nhà ác là vào nhà thiện, bỏ nhà xấu vào nhà tốt, bỏ cực khổ vào Cực Lạc. “Cung điện, chỗ ở, quần áo, ăn uống, cũng như cõi Trời Tha Hóa tự tại, đến như oai đức, giai cấp phẩm vị, thần thông biến hóa, tất cả Trời, Người không thể đem sánh, trăm ngàn vạn ức không thể tính kể. A-Nan nên biết, Phật Vô Lượng Thọ, cõi nước Cực Lạc công đức đoan trang, nghiêm tịnh như thế, không thể nghĩ bàn”. Dù sự giàu có, sang trọng to lớn ở cuộc đời, có danh vị chức quyền cũng là phước hữu lậu vô thường, cũng không bằng thế giới Cực Lạc.
Vậy Cực Lạc chẳng ở đâu xa
Lòng vui an lạc chính ta tạo thành
Sao ta chẳng cố tập tành?
Tập làm phước đức, hạnh lành thanh cao
Gọi kêu tất cả mau mau
Trở về Cực Lạc cùng tu mọi loài
Kệ thi Thầy tạm dứt lời
Chúc cho Phật tử sống hoài Như Lai.

Phẩm 19 :
THỌ DỤNG ĐẦY ĐỦ
Tất cả pháp đều do tâm tạo, Phật, Thánh, Thanh Văn, Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát, Cực Lạc, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, muôn vạn sự việc đều do hạt giống tại tâm phát sanh, không hư, không lộn. Biết được điều này là phước báu, nếu biết sử dụng trí tuệ đó là Phật, người gọi là chúng sanh, vì sử dụng hạt giống mê muội, tâm địa sanh tứ quả, gọi Tứ Thánh cũng từ tâm mà có, không từ bên ngoài mà có được, đó là pháp Đa- La-Ni. Mọi người đều có pháp bình đẳng tự biết lấy. Tạo việc thiện lành thì tâm được an vui, tâm làm Phật được, tâm làm ma được. Kinh Kim Cang là kinh dạy ta biết đường vào tâm, dạy cho tứ chúng biết niệm, dạy từ chúng sanh sơ cơ biết được bản tâm, hiểu rành ý đạo, sống bằng chánh tri kiến, không bị mê hoặc vào các pháp thế gian. Phải tu bằng trí tuệ, tu pháp Đà-La-Ni, gọi là Kim Cang Tâm. Nếu thấy được tâm này sẽ hiểu được đạo quả chơn chánh. Vậy thế nào là Kim cang Tâm? Tâm này rất bình đẳng, ai ai cũng đều có, tự biết lấy, tất cả điều lành dữ đều ở tại tâm ta, từ tâm mà sanh ra. Nếu hành hạnh lành thì tâm sẽ an vui, tâm tạo việc dữ thân sẽ chịu khốn khổ. Tâm là chủ của thân, thân là dụng cụ của tâm. Đức Phật cũng tự tâm sáng suốt trí tuệ mà thành. Mọi tạo tác do tâm, đạo đức do tâm chứa, phước do tâm làm nên, họa do tâm tạo. Tâm làm ra thiên đường, tâm tạo ra địa ngục, tâm làm ra Phật, tâm làm ra chúng sanh, tâm chánh thành Phật, tâm tà làm ma. Tâm thập thiện là người cõi Trời, tâm ác là người của La-sát, Dạ-xoa. Tâm là hột giống của tội phước. Nếu giác ngộ, nhận thấy được bản tâm, nếu đã làm chủ tâm chắc chắn sẽ không tạo điều dữ, thường làm các việc lành, hành trì hạnh nguyện y như phật. Phật nói người này không bao lâu sẽ thành Phật. Nếu tu cầu ngộ được phật đạo mà không rõ được chính tâm mình thì không trọn thành Phật đạo. Nếu rõ được tâm, thấy được tánh, y theo lời Phật dạy, tu hành quyết định thành Phật. Phật nói, nếu cứ mãi nghĩ rằng tụng kinh nhiều sẽ thành Phật là sai. Phật nói, dù tụng 30 biến Kinh Kim Cang cũng không sánh kịp người thấy được tâm, vì sao? Vì hết thảy các đức Phật chứng A-Nậu-Đa-La Tam Miệu Tam Bồ Đề đều từ tâm mình mà phát sinh ra vô cùng, vô tận, không hư, không lộn, gọi là đã ngộ Phật tâm. Nên Phật cùng chúng sanh tâm tánh đều như nhau, chỉ tại tâm minh hay vô minh mà không giống nhau, do đức tin hay không tin nên có người làm phật, người làm chúng sanh. Tại sao gọi là tâm Kim Cang? Kim Cang là bản tánh của mình, kinh là thí dụ cho tâm mình. Nếu thấy rõ tâm tánh mình thì tại trong thân có trí tuệ, sáu căn thường hiện ra hào quang sáng suốt, chói lòa mười phương pháp giới, đầy đủ công đức, nhiều vô số như cát ở sông Hằng, sanh có Tứ Quả, Tứ Thánh, Thập Thánh Tam Hiền, Nhân, Thiên, đến 32 đức tướng Như Lai và 80 mươi vẻ đẹp, hết thảy công đức đều tự mình tự tâm địa mà ra, không tìm cầu bên ngoài mà được, vì sao? Nếu có ai thường nghe tâm Phật chính lòng mình thường thuyết pháp, thường độ chúng sanh, thường hiện thần thông, thường làm việc Phật, hiểu biết chơn chánh, chính chắn là thọ trì gìn giữ Kim Cang, là sứ mạng Như Lai không gián đoạn, gọi là thân Kim Cang bất hoại. Tâm vốn thăng trầm sanh diệt, chỉ vì mê hay ngộ, chúng sanh vì mê nên sa đọa, chư Phật đã giác ngộ nên an lạc. Phật nói, không phước nào lớn bằng tu hành được, thọ trì Tứ Cú Kệ. Tứ cú kệ là : không thân, không tâm, không tánh, không pháp.
1. Không thân : Thân do cha mẹ sanh ra, duyên hợp từ tứ đại là đất, nước, gió, lửa. Vì duyên hợp nên vô thường sẽ tan hoại, vì có hợp sẽ có tan. Nếu giác biết sắc thân là giả tạm, không chấp thân, tuy chưa chết tưởng như đã chết, tạm mượn giả thân để học Phật, làm việc Phật, tu hành, gọi là sắc tức không, là không thân.
2. Không tâm : Thường quán tâm an định, không sanh diệt, không vọng động bởi pháp trần. Pháp có đến, qua rồi như không, không mê, thường giác, chẳng theo vọng tưởng chỉ nương chơn tánh, làm chủ là ngộ được tâm không.
3. Không tánh : Quán tánh thường lặng yên, tịch tĩnh, không lay động. Nếu cảm thọ, liền thông thấu, sáng lặng làu làu, oai linh chiếu diệu, tự tánh ngộ hiểu thấu tận cùng nguồn gốc các pháp và những tâm niệm, cõi tâm vắng lặng, vô vi, không rời các pháp thế gian là tánh không.
4. Không pháp : Quan sát bản giác Như Lai, biết các pháp là phương tiện, dẫn dắt chúng sanh vào tâm. Pháp giống như nước, dùng để rửa bụi tâm, pháp như thuốc trị bệnh. Nếu biết không thân, không tâm, không tánh, không pháp là như người đã hết bệnh, không cần đến thuốc nữa, đó là ngộ pháp không.
Bốn câu kệ này là đường vào đạo chơn không, siêu phàm nhập Thánh, là chỗ đi đến quả cứu cánh. Câu kệ thứ nhất y giáo tu hành là Tu-Đà-Hoàn, quả Dự Lưu. Ngộ câu kệ thứ hai, tu hành là quả Nhất Lai Tư-Đà-Hàm. Ngộ câu kệ thứ ba, y theo nghĩa kinh tu hành thì chứng quả Bất Lai A-Na-Hàm. Ngộ câu kệ thứ tư, tu hành thì chứng quả Vô Sanh A-La-Hán. Tứ cú kệ là mở rộng cửa Thánh đi vào đạo quả của các Đức Phật. Nếu ta thọ trì, đọc tụng, sao chép vào tâm giảng nói cho chính mình và cho mọi người được nghe thì quyết định thành Phật, không nghi ngại. Nên Thế Tôn nói, phước đức này rất lớn. Tâm thọ dụng được đầy đủ các pháp nên nói là Vô Lượng Thọ, đa thọ dụng. Nếu ta sống bằng trí giác, tuy thọ dụng đầy đủ mà niệm không vướng mắc. Trong tâm có tất cả pháp, vạn pháp do tâm tạo. Đức Phật trước khi thành Phật, Ngài cũng là một con người như tất cả mọi người, cũng như chúng ta, nhưng Ngài sống bằng sự giác ngộ, biết sử dụng giống Bồ Tát có tên là Bồ Tát Hộ Minh. Bồ Tát là giác ngộ, Hộ Minh là bảo vệ, giữ gìn hào quang sáng suốt trí giác. Hộ là bảo vệ, minh là sáng suốt. Ngài đã dùng hạt giống trí tuệ, phát nguyện cứu độ chúng sanh. Nếu ta tu theo hạnh đức Phật Thích Ca, hạnh Quán Âm, là hạnh từ bi, buông xả. Khi đứng trước Phật tượng còn tác ý khởi tâm niệm cầu xin, muốn được các Ngài cho của cải tạm bợ thế gian, các vọng trần này Phật đã dạy ta là huyễn giả, nhơ uế, dạy ta buông bỏ, đoạn lìa, đó là hành động xả ly, xả tất cả vọng tưởng, vọng trần, không cầu mong được gì ở cuộc đời cả. Vẫn sử dụng đủ các pháp mà tâm không khởi niệm ưa thích, muốn ham hay chê chán. Ta tu, tự làm chủ hành động là biết chọn giống để gieo vào tâm địa, không gieo vào tâm điền giống là nhân ăn mày, ăn xin, không nuôi dưỡng giống xấu sinh khởi ở cõi tâm, không cầu xin của tạm giả mà Phật nói các pháp thế gian là huyễn ảo, nhơ uế. Ngài dạy ta hốt phân trong kinh Pháp Hoa là hốt bỏ, xa lìa những gì ô nhiễm tại lòng ta, sửa dần cho đất tâm trong sạch. Vì mê lầm, ta cứ tưởng tình ái, tài sản, người thân, hạnh phúc, địa vị, lợi quyền là thật, tâm chấp giữ mê đắm, mãi cầu xin, đòi hỏi nên không sử dụng được tánh Phật, khó giải thoát ra khỏi cuộc đời vì chưa giác ngộ. Người hành đạo ngoài cũng có ngủ thông biến hóa, vì tất cả pháp đều có trong tâm, nhưng chưa thoát luân hồi sanh tử, còn tâm niệm vào các pháp giới, còn ham là còn vướng trụ. Phật thì có lục thông, đã dứt sạch phiền não, sân si. Vì vậy, muốn tu phải chọn pháp thật chắc chắn, không tu bằng tư tưởng mờ ảo, tin bằng tà kiến không thật, nghĩa là pháp tu niệm Phật, nhớ Phật thì phải thấy Phật. Vậy ta thấy Phật ra sao? Ta không thấy bằng âm thanh, sắc tướng, không thấy bằng hình ảnh, bằng cầu xin, đó là con đường tìm thấy Phật. Vọng tưởng là pháp ma, thường biến hóa quyến dụ ta, chỉ có bậc trí tuệ thông suốt mới thấy được điều này rõ ràng. Phật trí tuệ như thế nào? Phật trí tuệ là hào quang tinh anh sáng suốt, không nhiễm niệm giận hờn, trách móc ai, không ghen ghét, không tranh giành, không bất bình, bất mãn, không tham, sân, si, không phiền não, không kiêu căng, ngã mạn, không buồn vui, chê chán, không xiểm nịnh, dua dại, không khoe khoang, không tự ti, mặc cảm v.v... tất cả vọng trần đã vắng lặng là chơn không. Nếu quán xét vào tâm địa thấy còn những điều này là còn trồng cây xấu ác, chưa dọn dẹp cho đất tâm trang nghiêm thì không phải là Tịnh thổ, không có chỗ để thỉnh Phật, an vị Phật, là chưa đủ duyên rước Phật, thờ Phật, Tam Bảo cõi tâm chưa có Phật, chưa thấy Phật để tôn thờ. Muốn thấy Phật, phải dùng trí giác Quán Tự Tại, quán bằng hào quang sáng suốt Quán Âm Bồ Tát là trí tuệ tại lòng ta thường soi rọi, thấy cõi tâm còn giận hờn, còn phiền não, còn thấy những điều xấu ác, nhơ tệ là đang thấy ma, thấy chúng ma còn ở tại lòng ta. Phải dùng chí lớn, đủ nguyện lực, tu là buông xả những niệm này ra khỏi đất tâm, đến khi nghe lòng không còn tham sân si, ích kỷ, nhỏ mọn, thấy tánh Phật hiển hiện rõ ràng, thấy Bản Giác là tự tánh A Di Đà Vô Biệt Niệm, Phật tại lòng ta, tại tâm ta, tại con người ta, trí tuệ ta. Phật không là ảo hóa của sự tưởng tượng bên ngoài. Phật không phải là vị Thần ban phước, giáng họa cho chúng sanh. Ngoài tâm không có Phật nào khác vì Phật tức tâm, tâm tức Phật. Sự mờ ảo, trừu tượng, huyễn hóa, mong cầu, tự tưởng tượng cho là Phật, là mê lầm, lạc đường về nhà Như Lai, xa lìa bản giác, bỏ tự tánh A Di Đà vô lượng quang minh, mãi làm Gã Cùng Tử lang thang, hoang đường nơi đất khách, khó trở lại đường chánh giác. Tu chánh kiến là trực chỉ vào tâm, thấy tánh thành Phật. Chánh tinh tấn, vượt qua mọi cám dỗ cuộc đời. Phật không tham lam, gian dối, Phật không sát sanh hại mạng, Phật không ái nhiễm, Phật không cờ bạc, rượu chè. Nếu xét thấy lòng ta còn những điều này thì chưa thấy được tánh Phật ta bao giờ. Không niệm Phật bằng cách miệng thì niệm Phật mà lòng thì niệm ma. Tu Tịnh độ là tịnh cho được tâm, phải xác nhận tự độ, dọn dẹp, gạn lọc cho tâm ngay chỗ này mới là tự giác. Đã ngộ được pháp không thì tất cả ham muốn, dục vọng đều khiếp sợ, không còn lai vãng. Trời, Người đều lễ kính đức siêu phàm xuất thế, gọi là Thiên Nhân Sư làm thầy của trời người trong mười danh hiệu Phật, tu là tự khó với chính mình, không sống bằng tâm dãi đãi buông lung chạy long bong phan duyên theo vọng trần điên đảo.
Tu hành thì phải dụng công
Tu hành thì phải hết lòng mới nên
Tu hành tâm dạ cho bền
Tu hành chắc thật mới nên con người
Tu mà còn biếng, còn lười
Tu còn như vậy người đời chê ta
Tu không cần tướng xuất gia
Tại gia làm được xuất gia không bằng
Đừng ham sắc tướng bên ngoài
Sắc là giả tạm có ngày sẽ tiêu
Tu không ngã mạn, tự kiêu
Thương người, mến vật là yêu lòng từ
Tu khi tiền bạc thấy dư
Thấy ai đau khổ lòng từ giúp cho
Nếu ăn cho bụng ta no
Thấy người đói lạnh ta no sao đành?
Thấy ai rách mình được lành
Thương người giúp ngặt mới là hiền nhân
Tu đừng phết, tu đừng sơn
Phết dày hay mỏng thì sơn tiêu dần
Tu là đền Tứ Trọng Ân
Ân cha, ân mẹ, ân đời khó khăn
Ân sâu Tam Bảo dạy rằng
Nhiều đời, nhiều kiếp, chăm nom độ mình
Thâm ân đất nước vẹn tình
Mà ta lìa bỏ thân là cỏ rơm
Vì thương nhân loại mà ôm
Dù đời đau khổ nghĩa nhơn phi thường
Ân chúng sanh vẫn thường giúp đỡ
Nhớ ân này mà ta nở tòa sen
Sống đời đừng lấn đừng chen
Tâm nhường lòng nhịn đường quen điều lành
Tu mà ham muốn tranh giành
Ấy là còn đọa lạc đường muội mê
Tu đời chẳng chán cùng chê
Thà thân đau khổ nặng nề phải mang
Miễn sao xứ xứ bình an
Thân dù mang nặng người vui ta mừng
Tu đừng xa cách người dưng
Mọi người cật ruột mới ưng Phật Đà
Lòng thương trẻ dại người già
Thương như là ruột thịt mới là chị em
Tu hành như thể gói nem
Phải luôn cột chặt cho nem được thành
Đừng tu theo nhánh theo cành
Nhả nhồi đau khổ thực hành khó yên
Đạo chơn là hạnh cần chuyên
Chánh chơn, thánh thiện gọi khuyên khắp đời
Tâm thanh nhắc nhở đôi lời
Tu hành chánh trực tuyệt vời cõi tâm
Lòng chơn chẳng nghĩ xa xăm
Chánh minh sáng suốt thậm thâm diệu huyền
Tình thương ôn luyện tinh chuyên
Thương như cật ruột giống in một nhà
Tâm đừng siêu lệch chênh nghiêng
Lòng ta như Phật gia đình cõi Tiên
Thấy người tốt đẹp ta yên
Người còn đau khổ giáo khuyên tu hành
Ai ơi! Pháp lý sẵn dành
Tại nơi tâm địa thực hành luôn luôn
Miệng cười nước mắt sao tuôn?
Cười sao thế sự mãi mê chê đời?
Dù cho vật đổi sao dời
Lòng in như Phật tuyệt vời chơn tâm
Nguyện lòng như đức Quán Âm
Tầm thinh cứu khổ thậm thâm diệu huyền
Ai đang dư bạc dư tiền
Thấy người khổ lụy tâm hiền ban đi
Đây là hiện tánh từ bi
Đạo là trong sáng vô vi khó lường
Ta đi thẳng một con đường
Con đường chắc thiệt tâm điền lòng ta
Tu thời tránh trược xa ma
Đời là tà mị điêu ngoa hại người
Tu không biếng nhác làm lười
Siêng năng đẹp tánh tuyệt vời nghĩa ơn
Tu lòng chẳng nở bất nhơn
Đó là chánh đạo mười ơn dạy mình
Khi ta còn tại gia đình
Mắt linh nhìn lại xem mình tu chưa?
Hay lòng còn mến còn ưa?
Tiền, tài, sắc đẹp, xưa nay hại người
Vì mê cứ tưởng vàng mười
Tham lam mãi mãi hai đời khó khăn
Mê giành trâu ruộng ham ăn
Tham nhà, tham cửa, họa tai khổ hoài
Trí minh khuyên nhắc một bài
Tu bằng trí tuệ hằng ngày sửa sang
Sửa sau tâm được bình an
Là ta cùng Phật thế gian một nhà
Tu là thuận, tu là hòa
Trên hòa dưới thuận nhà nhà sướng vui
Gọi kêu Phật tử Thầy ơi !!!
Nghe lời khuyên nhắc cho vơi lòng phiền
Đừng nên tham lụy bạc tiền
Lắm khi được của mà phiền nhiều hơn
Trách đời sao lại bất nhơn
Ta là người đạo nặng ơn mọi nhà
Tu sao giữ đạo thuận hòa
Tu là tâm thật, tu là ăn năn
Ai còn tội lỗi lăng xăng
Sửa đời thành đạo nói năng thuận hòa
Chúc cho hết thảy ông bà
Anh em cô bác thảy là tình thâm
Chúc tâm chiếu diệu Quán Âm
Nói lời mật ngọt cho tâm nhẹ nhàng
Quang minh tỏa sáng vạn an
Chúc cho con Phật điểm trang tâm vàng.
Người ở thế giới Cực Lạc, khi đã xa rời mọi cấu nhiễm thì có các tâm giác đã sanh, đang sanh hoặc sẽ được sanh, đều được sắc thân vi diệu, đã tự trang nghiêm Quốc độ tại cõi tâm, gọi là thế giới Cực Lạc nên hình mạo đoan nghiêm, vô lượng phước đức, trí tuệ sáng suốt, thần thông tự tại. Nếu thiếu giáo lý, nghèo nàn pháp Phật, thì cõi tâm tiều tụy, khổ sở vì thiếu phước huệ, không có pháp thân vi diệu. Bậc giác ngộ sống bằng trực tâm, không vì vật chất giả tạm mà cúi mọp cầu xin, vô minh, sẽ làm mất vẻ đoan nghiêm. Ta vẫn quỳ lạy Phật, trước Phật tượng, Thánh tượng, lạy Tổ, đảnh lễ bằng lòng tôn kính, nhớ ơn, nhớ công đức các Ngài đã vất vả, cực nhọc, xông pha vào rừng mê biển khổ, vẹt mây mù, phá ác ma, tìm đường chánh giác, hoằng pháp cứu độ chúng sanh. Ta tu là nguyện noi theo gương hạnh các Ngài, nguyện chừa bỏ thói hư, tật xấu, tự cứu ta và cứu chúng sanh, được nguyện này thì một lễ vừa lạy xuống sẽ có hào quang trí tuệ tại lòng chói sáng. Tâm là chơn không, trong sạch mà kinh dạy, “lạy phật một lạy thì phước báu hà sa”. Khi được thành tựu công đức này, khắp cõi dữ, ác, mê muội trong tâm là các niệm u mê rung rinh chuyển đổi. Cung điện, lầu đài của chúng ma, ma tuần đã xây dựng kiên cố từ lâu đều sụp đổ. Ma-ba-tuần là ma ba cõi Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, tích chứa tam độc tham, sân, si, tuần tự luân hồi bằng các pháp sanh diệt, xoay vòng, từng làm khổ ta đời này qua kiếp khác, gọi là Ma-ba-tuần. Cũng lạy Phật mà van xin, cầu khẩn, đòi hỏi, mong được Phật ban cho, xin được các pháp huyễn vọng thế gian. Hiện tại nhân là tham lam, sẽ có kết quả trụ vào địa ngục, ngạ quỷ, còn mang niệm thiếu thốn, đói khát, tâm niệm là đòi hỏi xin nọ, xin kia. Nếu hai người đồng lễ lạy Phật, hành động cũng giống nhau, mà hai cõi tâm, hai niệm khác nhau, tác ý khác nhau. Người lạy bằng lòng chơn chánh thì trí tuệ hiện là sáng suốt, thông tuệ, đã giác ngộ hết các pháp ô nhiễm, lạy vì tôn kính công đức Phật. Còn người lạy bằng lòng muốn ham, van xin, đòi hỏi là vẫn còn vướng trụ vào pháp thế gian, còn là nghiệp niệm vào lục đạo. Nhân quả chính tại tâm niệm là nghiệp dẫn ta vào pháp giới. Chánh nhân sẽ thành tựu chánh quả không hề sai khác.

Vậy ta hằng nhớ từng câu
Phật tâm ở tại nơi đâu mà tìm?
Phật ta ngự tại trong tim
Tim này chơn thật không tim hại người
Tim này chất ngất vẹn mười
Tim chơn không độc, thói đời điêu ngoa
Tim này tim thật không ma
Tim vàng của Phật Thích Ca lưu truyền
Tim này chẳng kiếm chẳng xin
Tim này chứa sẵn thâm tình thế gian
Tim vàng cực nhọc chẳng than
Hy sinh khắp cả thế gian yên bình
Tim này, tim Phật như in
Tim này cao thượng giống in Phật Ngài
Tu thời rạng rỡ đức tài
Đức mà không có, tu hoài chẳng xong
Tu mà chẳng ngộ Chơn Không
Rối ren điên đảo uổng công tu hành
Nếu ta muốn hết đọa đày
Tu bằng tánh Phật có ngày thành công
Mặc dù phong vũ gió giông
Gió thời mặc gió, giông thời mặc giông
Ta tu chẳng đổi tấm lòng
Quyết theo gương Phật thẳng xông một đường
Ngày nay huynh đệ cùng trường
Lắng nghe Thầy nhắc phi thường hay không?
Tu thời nhường nhịn uống ăn
Để giành giúp đỡ khó khăn mọi nhà
Tu tâm nên chánh đừng tà
Nếu lòng ham muốn pháp tà hiện ra
Khuyên đời nên bớt bôn ba
Lòng ngay tốt đẹp nhàn an muôn người
Khuyên tu nhắc nhở mấy lời
Tu hành chắc thật mới là vô sanh
Tu thời vắng lặng chiến tranh
Không giành, không giật, không tranh mọi loài
Nếu tâm còn bạc còn bài
Tu bằng cách đó còn lòng dối gian
Tu hành dù khổ không than
Tu là nhất quyết sửa sang mọi nhà
Lòng tu nở đẹp như hoa
Mọi người đều hưởng hương hoa thơm lừng
Tu sao huynh đệ vui mừng
Thầy đem đạo pháp vô chừng đến đây
Cúi câu Thầy nhắc như vầy
Tu nên đoàn kết hợp bầy thành công
Đừng tu theo nghiệp long bong
Lòng còn đau khổ còn mong chi thành
Tâm kinh tạm dứt lời lành
Nguyện cho Phật tử trọn thành đạo chơn.
“Các thứ thọ dụng, thảy đều đầy đủ, thảy đều phong phú, cung điện, phục sức, hương hoa, phan cái, đồ dùng trang nghiêm, chỗ cần tùy ý, đều được như ý. Nếu khi muốn ăn chén bằng bảy báu, tự nhiên hiện trước, trăm món ăn uống, tự nhiên sung mãn”. Tự tánh vốn dung chứa hết tất cả pháp, bậc tự giác thì xả bỏ các pháp ô nhiễm, nên cõi tâm là Cực Lạc, đầy đủ pháp bảo, vì tâm địa đã được trang nghiêm, thuần thục, biết sử dụng các pháp bảo, biết hết thảy các cõi, dạo khắp pháp giới, biết pháp nào ứng dụng vào quả vị chứng ngộ tại cõi tâm mà sử dụng, đã thông suốt các pháp. Nên kinh nói, chỗ cần tùy ý, đều được như ý. Món ăn là thiền duyệt thực, ăn vào tinh thần, thức ăn bằng hoa trí huệ, bảy báu, là đức độ cao thượng, đã thực hành nhờ biết trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, xả. Chén bảy báu chứa trăm món ăn là chứa trăm pháp báu thiện lành, ăn vào thông suốt nhờ món ăn là từ bi hỷ xả đầy đủ giới định huệ. “Tuy ăn như thế nhưng thật chẳng ăn, sắc lực tăng trưởng, không có tiện uế, thân tâm nhu nhuyễn, không tham đắm vị, ăn xong đồ dùng biến mất, khi cần lại hiện, lại có các báu diệu là áo, mũ, đai anh lạc, quang minh vô lượng, trăm ngàn diệu sắc, thảy đều tự nhiên đầy đủ trên thân, nhà cửa, chỗ ở xứng hợp với hình sắc, lưới báu giăng bủa, linh báu treo khắp, lạ lùng trân quý, trang hoàng khắp khắp, quang sắc lộng lẫy, vô cùng vô tận, trang nghiêm diễm lệ. Lầu gác, lang cang, điện đường, phòng gác, vuông, tròn, rộng, hẹp hoặc lớn hoặc nhỏ, hoặc ở hư không hoặc ở đất bằng an ổn, thanh tịnh, vi diệu, khoái lạc, vừa nghĩ liền hiện thảy đều đầy đủ”. Các danh từ được kinh nêu lên có sự tướng, nói lên khả năng thọ dụng của tự tánh, chỉ vào thành quả đã tu hành, huân tập, làm phương tiện đưa con người trở lại tánh giác, giúp trí huệ lan rộng. Món ăn là các pháp bảo nuôi lớn sự giác ngộ, trong cuộc sống hiện đủ hoàn cảnh, mà hào quang trí tuệ rất quang minh, chiếu vào muôn vạn pháp, tùy căn cơ trình độ tự giác mà xứng hợp tương ưng. Sử dụng pháp bảo không tiện uế là không chấp xấu tốt, tất cả đều có sẵn trong tâm nên kinh nói đầy đủ trên thân. Danh từ các báu chỉ vào tên từng niệm giác, từng công đức đã tích lũy của từng phần giác. Mỗi niệm tự giác là linh báu trân diệu, tinh anh, trang nghiêm cõi tâm nguy nga diễm lệ. Các niệm khởi từ tấm lòng trong sạch gọi là hào quang trí tuệ minh bạch, làm lợi ích cho chúng sanh, không tư lợi cho cá nhân. Niệm nào, pháp nào đều thanh tịnh, trong sáng. Tánh giác có năng lực thọ nhận đầy đủ pháp thế gian và xuất thế gian nhưng không hề vướng mắc vào buồn giận, tham, sân, si, mê đắm. Khi quang minh tự tánh chiếu soi, mỗi mỗi pháp hiện đến đều vô sự, biết tất cả mà lòng tịch lặng. Chánh nhân là cõi tâm an ổn, chánh quả là Cực Lạc tại tâm, thọ dụng đầy đủ các pháp bảo rất vi diệu thù thắng.

Khắp vạn vật pháp nào cũng có
Có thân ta có đủ nhân duyên
Biết rằng tạo tác do tâm
Mà người không rõ nên lầm đường tu
Sống đời muốn thoát ngục tù
Pháp là buông bỏ tâm lành sạch trong
Từ bi nhẫn nhục nằm lòng
Hành tâm tứ lượng thoát vòng trầm luân.

Phẩm 20 :

GIÓ ĐỨC MƯA HOA

Tất cả các pháp môn Thiền, Tịnh, Mật... đều là pháp là phương tiện, dạy cách hành trì, mục đích hướng dẫn người tu sống bằng cõi tâm an tịnh, thảnh thơi. Nương pháp tu, tự độ, giữ cho tâm định tĩnh hiện tại ngay đời sống. Tâm địa thực tại phải hướng về bản giác chơn không, rời xa các pháp thế gian, không niệm nhớ các vọng trần, lìa xa vọng niệm huyễn tạm mà Phật nói là vô thường. Nếu ta tu, mãi hướng tâm vào cõi nào, xứ nào thì mục đích là vào ngay sự hướng tâm, từ ý niệm mà ràng buộc sự thế hay giác ngộ, giải thoát. Nhân là hướng tâm, quả là kết quả, tùy theo nhân mà thành tựu. Kết quả do công đức tu, tự chăm sóc, nuôi dưỡng chí hướng ta đang tu học. Nghe hiểu biết chơn lý là bước đầu thực hành áp dụng công phu. Công hạnh là tu theo chơn lý, tu ngay đời sống là điều khó, nên Phật dùng phương tiện để chỉ vào sự tu học, theo trình độ mỗi người mà có nhiều pháp môn, có từng cõi là Hạ Phẩm Hạ Sanh, Trung Phẩm Trung Sanh, Thượng Phẩm Thượng Sanh, danh từ gọi chung cho tất cả là 27 phẩm Liên Hoa cõi Cực Lạc. Tùy vào khả năng hành trì mà phát huy trí tuệ, hiểu biết giác ngộ rộng lớn hay eo hẹp mà nói vào đẳng cấp Hạ, Trung, Thượng. Cần thông thấu hiểu biết pháp tu, nếu còn lờ mờ thì kết quả khó mà viên mãn. Tu phải nương vào kinh Phật, đọc tụng, nghiên cứu thường xuyên, cần thấu triệt giáo lý kinh nghiệm nhà Phật cho thuần quen với giáo pháp là đạt được thiên nhĩ thông, đã nghe được thông thấu lời Phật dạy, giác ngộ các pháp, xông thấu huệ hương khắp mười phương các cõi trong tâm địa, nhờ giữ gìn Giới hương nên có Định hương. Tri kiến các pháp bằng quang minh chiếu soi là Giải thoát tri kiến hương. Hương lòng trí huệ xông đến chư Bồ Tát cùng chư Phật. Nếu không có giới hương thì đường tu sẽ sai lạc. Giới như áo giáp sắt, là vũ khí chắc chắn chống đỡ giặc ma. Cần giữ giới nghiêm mật, mùi hương của giới bay khắp mười phương, không sợ ngược gió. Người tu giữ đầy đủ hương giới thì Trời, Người đều cung kính. Lan tỏa hương đức độ như mây lành trùm phủ gọi là quang minh vân đài biến pháp giới, trí huệ bao phủ, trùm khắp. Chư Thánh, chư Thiên đều lễ lạy vì người tu có đủ trí lực, vầng mây trí huệ sáng tỏa gọi là Phổ Chiếu Bồ Tát. Nếu ta tu, không giữ giới, sẽ không có kết quả. Người giới đức không sai phạm là viên mãn Ngũ phần tâm hương. Giữ được giới đức thì có Thần Quang Minh, lúc nào cũng bảo vệ, gìn giữ tài sản trí tuệ. Giới là vị Đạo Sư dẫn đường cho người tu vượt qua biển pháp, không đọa luân hồi sanh tử. Nếu có duyên làm người, vẫn gặp và nhớ Phật, Pháp, Tăng, sống với tâm thiện lành, an ổn, hạnh phúc, trí tuệ. Người thật tu là thắm nhuần kinh tạng, hiểu rõ ẩn dụ bí yếu trong kinh, thông suốt chơn lý, là thấy Phật hiện tiền, thoát luân hồi sanh tử. Người tu, tâm khỏe mạnh là đầy đủ giới luật, dù gió độc có thổi đến cũng không khiếp sợ, tự tánh vững chắc, chiếu soi sừng sững, gọi là gió bát phong không làm lung lay tự tánh núi báu. Không chao đảo, khởi niệm tham muốn nên không trúng gió độc phàm phu. Lòng an định, dù gió có thổi đến cũng dùng trí giác gìn giữ tâm niệm, nên gió có đến là gió đức mát mẽ. Nếu của cải, tiền bạc, vật chất là các pháp thế gian đến, chỉ là những cơn gió do các duyên trong cuộc đời thổi đến, mà tâm là giới luật khít khao, không khởi niệm phan duyên theo ngoại cảnh, không thấy pháp bằng tà kiến, là thấy tâm không còn tham chấp, không muốn nắm giữ vì bảo thủ quyền lợi, là sống trọn vẹn trong giới pháp. Nếu có những duyên trong cuộc sống bất như ý, như thất bại, mất mát, tai nạn mà không sanh tâm khổ vui, lợi hại, khen chê, tốt xấu là không trúng nhiễm Gió bát phong, tâm vẫn bất động. Nếu tài sản, của cải đến hay đi mà không có đức độ trí tuệ, không cẩn thận cảnh giác, không chánh định thì tài lợi đó sẽ là gió ác phong. Người giàu có địa vị cũng rất khổ, khổ vì sợ mất của cải, sợ mất mát, rất sợ nghèo. Người danh vị chức quyền thì sợ mất danh, mất chức, mất địa vị, mất tiếng tăm. Tiền bạc nhiều, sợ cướp bóc, trộm cắp, còn người nghèo thì không sợ những điều này nhưng cũng khổ vì thiếu thốn. Đức Phật là người vô cùng giàu có, danh tiếng, địa vị, có cung vàng, điện ngọc, có tài sản, uy quyền, có tất cả những điều mà người thế mong muốn ước ao, tất cả đều là gió nghiệp. Vì biết rõ pháp thế gian mà Ngài bủa lòng từ bi, đem tiền của ra bố thí, để xoa dịu những vết đau cho những người cơ cực, nghèo đói, khó khăn, nên phước báu giàu có của Bồ Tát Sĩ Đạt Ta cũng là gió từ cuộc đời, mà gió đến, Ngài dùng trí giác ngộ tự chuyển đổi thành gió đức, đổi bằng đức từ bi, sử dụng tiền của bằng đức hạnh siêu phàm vượt thế, đem đức độ xuất thế đến cho mọi người, làm mát lòng muôn dân, cũng nhẹ lòng Bồ Tát. Gió thế gian thổi đến với bậc giác ngộ, không là gió nghiệp vì lòng các Ngài không vướng bận.
Nghiệp trần mãi mãi không tiêu
Càng theo nghiệp chướng càng nhiều oan khiên.
Nếu sử dụng đồng tiền không sáng suốt sẽ mù quáng lương tri. Bồ Tát sử dụng bằng lòng đại bi, đại ái nên khắp nơi đều mát mẽ, an lành. Gió bất hạnh, độc ác, là tham, sân, si, phiền não, vì cho là thật, cứ chấp giữ, nhiễm độc vào cõi tâm, là những niệm tham đắm. Tu là tự tháo cởi tâm mê muội, là biết tháo gở oan khiên nghiệp chướng.
Phật đi Phật biết đường về
Mình đi mình lạc u mê tại mình.
Vì mê bước đi, cứ đi đi mãi, đi mãi là niệm niệm mãi, niệm mãi không dừng, niệm theo cuộc đời không đứng lại là tâm không định, mê lầm không biết vật chất tiền tài là giả tạm, chợt đến, chợt đi, lòng đắm nhiễm dục. Niệm dẫn dắt, làm cõi tâm ta u ám, tâm biến thành suy độn, đam mê. Học Phật là sáng suốt, biết đang sống bằng tâm tỉnh hay tâm mê. Trí tuệ sáng suốt thì cõi tâm hạnh phúc, vui tươi. Mê độn chất chồng thì cõi tâm là ngậm ngùi đau khổ, tán loạn. Tu cần hiểu rành giáo lý, tập làm hạnh lành, tập trải lòng từ bi, tập tháo cởi, bỏ những tâm niệm làm ta và mọi người đau khổ.
Hạnh lành như hoa nở trên tòa sen
Bỏ đi thói nhiễm thấp hèn
Làm điều thiện đức cho quen tâm mình
Dù gió đến là vinh hay nhục
Nhục hay vinh cũng giả mà thôi
Cũng như người mới ăn rồi
Ăn hoài cũng vẫn suốt đời không no
Ăn hoài ăn mãi bụng to
Nghiệp đời càng vướng núi to to hoài
Tu là vượt khỏi nạn tai
Chuyên trì niệm Phật thường thường mới yên
Khi tâm khổ vướng lụy phiền
Cũng không loạn động tâm điền chẳng mê
Tuy đi vẫn biết đường về
Tâm là phước báu tâm là tòa sen
Bỏ đi nghiệp lụy thấp hèn
Quen chi nghiệp chướng ố lem thảm sầu
Chăm gieo phước đức nhiệm mầu
* * *
Gieo giống Phật công phu nhiều kiếp
Nay tu hiền chuyển tiếp Thánh Nhân
Tu như căng sợi dây đờn
Dây vừa âm tốt, dây căng đứt đờn
Biết nghiệp chướng biết oan khiên
Cần nương đạo đức mới yên tâm hồn
Nếu học đạo trí thông viên mãn
Trải hạnh lành phước đức càng nhiều
Học chi ngã mạn tự kiêu
Học làm hạnh đức học điều nghĩa nhân
Ai ai cũng ở trong trần
Khác nhau tâm Phật đem ân mọi nhà
Lòng từ nở đủ loài hoa
Hoa lòng là đạo lòng là Thánh Nhân
Suy xét kỹ mười ân Phật dạy
Tứ đại thân suy nghiệm rõ ràng
Tu là chí quyết thẳng xông
Không mong, không đợi, không chờ, không trông
Nhanh chân bước vào trường học Phật
Lòng hướng tu do dự không nên
Không tu như bèo nọ bấp bênh
Tu như tên bắn thẳng xông không dừng
Nương Phật lực tu cho thành đạo
Mượn lời vàng Phật đã giáo khuyên
Nếu ai hết dạ tu hiền
Tịnh lòng niệm Phật cần chuyên không rời
Niệm phải biết sắc tài giả tạm
Vì mê lầm ám độn lương tri
Tu thời nhất quyết nhớ ghi
Theo lời Phật dạy tự quy y mà hành
Tu cần lìa bỏ tánh tham
Sân, si, hỷ, nộ, còn ham chi mà
Trồng hành, trồng ớt, trồng hoa
Hoa thì tươi thắm, ớt hành thì cay
Nhân hiện tại quả tương lai
Nhân là kiên định nhớ hoài công phu
Gió có đến lòng đầy giới đức
Tiếng âm thanh nương gió phát ra
Nếu nương đức nhẫn nhu hòa
Từ bi chan rưới thiện lành phát âm
Tiếng vi diệu nương theo gió đức
Hạnh thanh cao gió mát tư duy
Do duyên tứ đại có thân
Đất nước gió lửa hợp thành mà nên.
Pháp thành tựu phải đủ nhân duyên. Khi có người thiếu thốn vì nghèo đói, bệnh hoạn cần được giúp đỡ, mà có bậc đức độ đem tiền của ra cứu giúp, chia sẻ, là người đang khổ, được gió đức từ người nhân đức thổi đến, làm vơi sự đau khổ, đem hương mát mẻ an lành, đến xoa dịu cho họ vơi bớt nỗi đau. Khi đủ duyên học giáo pháp, học theo gương hạnh, hành động bậc chơn tu, nghe lời đạo đức từ bi trí tuệ truyền dạy làm ta sáng suốt, thoát ra khỏi đời sống u tối, si mê, mù quáng, phát sinh trí tuệ, được nghe thuyết giảng sửa tâm trong sạch, ngộ nhập giáo pháp, buông bỏ tham, sân, si, tâm thơ thới nhẹ nhàng là tắm được nước pháp chơn lý, tắm nước Ma-ha. Các tâm niệm u ám đã chuyển hóa nhờ tích lũy công đức nên tươi thắm nở hoa, làm tươi đẹp cõi lòng. Nhờ mưa hoa trí huệ tưới mát cây báu, bồ đề tâm tươi nhuận, hưởng được gió đức mưa hoa. Nếu sống bằng tâm niệm phàm phu, đem lời độc ác, làm phiền não tâm ta và mọi người chung quanh là gió độc. Người đức hạnh, khi mở lời phát ra thành tiếng, cần chan rưới cam lồ vị thơm tho.
Miệng ta là cánh hoa sen
Một khi hé nở một phen thơm lừng
Tiếng ta là gió mùa xuân
Một cơn gió nhẹ muôn dân mát lòng.
Miệng người tu thường phát ra lời tươi đẹp, lời hạnh phúc, lời nói đem sung sướng, đem đạo hạnh mà hoằng hóa chúng sanh. Miệng của bậc Thánh, không buông lời thô tục, độc ác, xằng bậy, nóng nảy, sân hận, làm ưu não ta và người khác, không có lời hận thù trách móc, Tổ Dạy :
Tiền cừu hậu hận há quên
Một bên đi trả một bên đến đòi
Loanh quanh trong cạm luân hồi
Thân ta biết gởi về nơi chốn nào.
Tu là dừng tất cả niệm, tâm không buông lung, tự giữ thân khẩu ý là tịnh tam nghiệp. Miệng là nghĩa nhân, ôn hòa, đạo đức, khiêm nhường.
Miệng tu chỉ thốt lời hoa
Lời lành ý đẹp sáng lòa hào quang
Lời ra trong sáng như đèn
Rọi vào tâm địa hương sen thơm lừng
Đẹp in như tuyết mùa xuân
Đó là tiết hạnh vô chừng ta dâng
Tu sao rọi sáng tinh thần
Nghe chăng đạo hữu thoát trần độ tâm
Đời là giả tạm huyễn hư
Cũng như pháp giữa bụi trần có chi
Người giác ngộ vốn từ bi
Người đà giác ngộ nguyện đi cứu đời
Ai ơi ! Ai hỡi ! Ai ơi !!!
Ai là Phật tử, ai là người tu ?
Hãy mau dẹp hết mây mù,
Ai người cực nhọc tu trong đoạn trường
Ai lòng xông tỏa mùi hương
Mùi hương trí tuệ thanh cao rọi về
Tu như Đức Phật Chuẩn Đề
Đem nhiều lành thiện cận kề chúng sanh
Đây lời Bát Nhã Tâm Kinh
Không còn sầu khổ phỉ tình lòng ta
Tu là cứu mẹ cứu cha
Cứu cho nòi giống Liên Hoa đắc thành
Tu thời chẳng nhớ tranh giành
Chẳng buông lời ác làm lành từ đây
Lời thanh nhắn nhủ đủ đầy
Nhắn người tỉnh thức theo Thầy bao năm
Nguyện cùng Bồ Tát Quán Âm
Lòng từ trí tuệ thậm thâm diệu huyền
Tu mau phá bỏ xích xiềng
Phá lòng độc ác, ưu phiền đắng cay
Tu thời ác nghiệp không vay
Nhân lành duyên thiện dựng xây đời đời
Những ai lưu lạc xa vời
Thì đây phương tiện tuyệt vời Thích Ca
Tu tận ruột không tu da
Tu lòng chơn thật, không tu ảo mờ
Tu như dệt một vần thơ
Là lời trí tuệ tuyệt vời cao xa
Ai là Phật ai là ma?
Nếu là Phật tử nhận ra hiện tiền
Tu như thể đã tu ghiền
Ghiền tu đạo đức cũng ghiền sửa tâm
Dù khi đi đứng ngồi nằm
Đứng ngồi cũng nhớ nằm thời cũng tu
Tu là phá bỏ mờ lu
Phá đời khổ não công phu mới thành
Chữ tu liền với chữ hành
Hạnh là đạo đức hành là bỏ gian
Cầu cho Phật tử bình an
Chuyên lòng niệm Phật tu sao đắc thành
Nếu trong Phật tử thực hành
Niệm thường nhớ Phật tánh mình A Di
Phật là dứt nghĩ cùng suy
Chữ Đà giác ngộ vô vi lưu truyền
Chữ Tâm chính niệm hiện tiền
Chữ Tu tự giác quên phiền bỏ mê
Ai ai nên ráng quay về
Tòa sen chín phẩm Bồ đề chính ta
Tu sao giác ngộ Liên Hoa
Nhìn vào vật chất lòng ta xem thường
Bồ đề chánh quả ta ương
Bồ đề giác ngộ mười phương sẵn dành
Tu lòng dứt bặt chiến tranh
Tội chi mà tự đọa đày lòng ta
Thế gian nhẫn nhẫn, hòa hòa
Tu mà không nhẫn không hòa khó nên
Đạo lành Bồ Tát kề bên
Dù đời cực khổ cần nên dắt dìu
Bạn mình dù nghiệp chưa tiêu
Tìm phương cứu giúp cho siêu liên đài
Quyết tu dù gái hay trai
Tại tâm giác ngộ là đài vinh quang
Tu không phân biệt giàu sang
Tu lòng an định mười phương an hòa
Tu tâm dù ở tại nhà
Nhất tâm niệm Phật thật là thành công
Đợi chờ mà vẫn không xong
Tu cho chơn thật có không sẽ tường
Hôm nay Thầy nhắc mấy lời
Tu là chắc thật một đời thành công.
Muốn thực hành điều này, phải thiết tha nghĩ nhớ, chuyên trì, là sáng suốt giữ gìn, khi niệm sinh khởi. Niệm khởi hoàn toàn duy nhất chỉ là niệm Phật, không hề chen lẫn lộn vào một niệm nào khác ngoài thế gian, đó là niệm Phật nhất tâm. Nhất tâm là chỉ một tâm chuyên nhất, không nhớ niệm nào khác, chỉ nhớ tự tánh Phật. Nếu còn xen lộn tạp niệm thì tâm não loạn. Nếu mọi biến hiện nơi đất tâm hoàn toàn là niệm giác, thì thần thông đã thông suốt. Các niệm khởi duyên vào biển thức, chấp trước nên sanh tâm. Nếu giác thì quang minh từ tánh Phật soi sáng, lòng không vướng bận, là sử dụng được thần thông, thần thức không còn biến hiện các pháp mê loạn, tâm là Cực Lạc, không còn niệm sanh diệt nên không sanh, già, bệnh, chết, niệm niệm đều minh quang trong sạch, niệm nào cũng hướng về Vô Thượng Bồ đề. Vậy niệm Phật bằng cách nào cho nhất tâm bất loạn? Tổ dạy, trong tâm có tất cả, nên Phật ở đâu thì có ma ở đó, chỉ là trạng thái đổi thay của tâm niệm, ma hiện thì Phật tịch diệt, Phật hiện tiền thì ma biến mất. Thảnh thơi, tự tại trong ánh sáng là tâm Phật ; lăng xăng, não loạn, ám độn là cõi ma. Tức thời biến chuyển cũng tại tâm, nên Tổ dạy, “bỏ phiền não tức Bồ đề”. Nếu bất chợt khởi tâm giận tức, buồn phiền, sân hận, thì tâm hiện tại chính thật là địa ngục. Sáng suốt, tự giác, nhận biết được những niệm này vì vô minh do thức biến hiện mà sinh có tâm. Nếu tự giác, lập tức xả bỏ thì chỉ khảy móng tay là tới Tây Phương, về tới đất Tịnh Độ, tâm đã an ổn, định tĩnh vì không có xen tạp tà niệm. Ta tu pháp niệm Phật, cần hiểu rõ yếu chỉ của pháp môn Tịnh Độ. Việc cần thiết là cách hướng tâm và lòng phát nguyện, nhất định ta sẽ đi về đâu? Xét kỹ lòng, tự phát nguyện là hướng về Tịnh Độ, về Cực Lạc hay vẫn còn niệm hướng tâm vào mong cầu, muốn gia đình hạnh phúc, cầu tiền của, cầu phước thế gian, cầu khỏi tai nạn, cầu được công danh... Miệng niệm Phật mà tâm còn hướng vọng, nhớ nghĩ tham muốn, mong chờ các pháp thế gian, lăng xăng sự thế nên Phật tâm chưa an ổn, chưa tịnh, chưa an lạc, chưa phải là pháp tu cho tâm tịnh, không phải là Tịnh độ. Chưa cầu vãng sanh về Cực Lạc, không thể giác ngộ giải thoát được, vì ý còn mê mù dẫn tâm sai phương hướng. Niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ là buông xả các vọng niệm, nhiếp tâm vào thiền định, vì tâm tịnh chính thật là tâm thiền, đã phá vỡ các vọng tưởng vô minh, vượt lên khỏi ngũ dục và thập sử, là những tâm niệm yếu hèn, mê muội đã chết, không còn sanh khởi, gọi là vãng sanh. Tâm thuần sạch, an lạc, là thực hành đúng pháp môn niệm Phật, đã giáo hóa cho các tâm niệm độc ác tại lòng được siêu thoát. Các niệm mê đã vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, đã đến An Dưỡng Quốc Cực Lạc, thế giới của A Di Đà, là cõi Tịnh độ ngay thế gian. Không lìa bỏ cuộc đời mà tìm Tịnh độ được. Vẫn ở trong trần nhưng không nhiễm, không đắm lụy vật chất, của tiền, danh lợi, vì Phật Pháp bất ly thế gian giác. Muốn niệm Phật đến tri kiến Phật, cần nương giới luật. Vòng giới luật là pháp bảo, giúp ta ngăn chặn, gìn giữ, bảo vệ cho tâm niệm không sa ngã, không đọa vào ngũ dục, không nhiễm tục. Tất cả các pháp vốn tự nhiên thanh tịnh, biến hiện tùy duyên, chỉ vì tư tưởng con người qua tư duy suy nghĩ, có niệm phân biệt bằng tà tưởng, cho là tốt xấu, ưa thích, chán chê... mà chấp, nên sai sự thật, làm các pháp mất tự nhiên, con người do niệm khởi động, nên nói là tâm động. Kinh Hoa Nghiêm Phật nói “Pháp giới chúng sanh giai hữu phật tánh” hay “Tình dữ, vô tình, tề thành Phật đạo”. Hữu tình hay vô tình đều có Phật tánh. Khi ngộ nhập tri kiến Phật là thấy tánh, cần tinh tấn săn sóc, nuôi dưỡng, tưới tẩm tự tánh bằng giáo pháp, bằng đạo đức, để bảo vệ hạt giống Như Lai. Có hai cách : Thiền Chỉ và Thiền Quán.
1. Thiền Chỉ : Là dừng tất cả vọng niệm do tác ý mà sanh có niệm khổ đau, đày đọa nơi sông sầu, biển ái, là chỗ trầm luân của chúng sanh. Nếu khi tác ý liền giác biết, tự dừng thì nghiệp sẽ ngưng, không tạo nhân luân hồi nhưng A-lại-da-thức còn tích trữ rất nhiều nghiệp dữ xưa cũ, gọi là nghiệp câu sanh. Phải dùng pháp Thiền Quán, thường quán xét tâm ý khi niệm khởi tham, sân, si. Nên quán nhân duyên, nếu tâm còn tham thì quán pháp bố thí, để xả bỏ tánh keo kiệt, ích kỷ, nhỏ mọn. Lòng không cầu phước báu là cách săn sóc, nuôi dưỡng tánh từ bi. Xét vào tâm địa thấy còn niệm ái nhiễm, phải quán thân bất tịnh, thấy thân con người đầy nhơ nhớp nên bỏ bớt tâm tham ái, tiêu trừ dần phiền não. Bỏ yêu ái thân, chấp cho thân là thật, dẹp tự ngã, buông bỏ tánh sân si, kiêu mạn. Nếu dừng được các tâm niệm phàm phu thì cõi tâm đã đình chỉ mọi mọi biến hiện do tác ý, tự vượt lên. Ta tu mà còn u tối thì cũng là sen, nhưng còn ở trong thai sen là Hạ Phẩm Hạ Sanh. Nếu bứt phá, vượt lên mọi tham ái là vào Trung Phẩm Trung Sanh. Khi cõi tâm rỗng rang, trí tuệ chiếu soi các pháp là nhập vào cõi Tịnh độ, là hàng Thượng Phẩm Thượng Sanh. Còn giữ vọng tưởng, vọng niệm là Hạ Phẩm, buông bỏ tất cả chấp là Thượng phẩm. Pháp niệm Phật thành tựu, cõi tâm hoàn toàn thanh tịnh, là kết quả giá trị của thiền tâm, đã sống với tánh Phật chính mình. Đất tâm là Tịnh thổ. Tâm là thế giới của Cực Lạc, thể nhập bản tánh tự A Di Đà.
Thế giới chư Phật là cõi Tây Phương Cực Lạc. Người về an dưỡng tại cõi này chỉ ăn cơm Hương Tích. Là các pháp bảo, hương thơm tỏa sáng, từ công đức tu hành tích chứa, đức độ của tánh giác. Kinh nói, nổi lên chầm chậm là từng niệm từng niệm đã tự giác, chen nhau liên tục không gián đoạn là quang minh sáng suốt nơi cõi lòng người giác ngộ, phát ra âm thanh vi diệu tự lòng, sáng suốt, khuyên nhắc ta nhớ lại, hiểu rõ các pháp chỉ là tướng trạng sanh diệt, trong đời tùy duyên mà biến hiện. Tánh giác của người sáng suốt trí tuệ, là Tự tánh A Di Đà chính lòng ta, thường diễn nói dạy ta biết pháp đời là Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngã. Tiếng Ba-La-Mật, nhờ hương giác ngộ tỏa sáng lan truyền, biết rõ sự thật muôn pháp, muôn thứ là không thật, tự buông xả mọi dục vọng thấp hèn, lòng trong sạch trở nên ấm diệu. Khi đã nghe Tự tánh A Di Đà thuyết pháp thì các niệm si mê bừng tỉnh tự giác, buông xả mọi tập khí trần lao, là bỏ những thói quen đòi hỏi trong đời, không còn niệm vô minh, gió đức thổi đến sẽ cuốn quét sạch cỏ dại, rừng hoang, ô uế nơi cõi tâm. Công đức là những hành động thiện lành ngay đời sống, đó là công trình của bậc giác ngộ đã trồng cây báu, khắp đất tâm đều tỏa ngát hương trí huệ, hương giác ngộ, hương giải thoát. Có muôn vạn quang minh đủ màu sắc là hào quang các tâm niệm tự giác tỏa sáng, giác ngộ sâu vào Tứ Diệu Đế, Tứ Niệm Xứ, từng bước tu hành mà chứng Tứ quả Thánh, là món ăn tinh thần của quả Thanh Văn, nên kinh nói, qua bữa ăn lại giăng hoa mới. Hoa mới là từ quả chứng Thanh Văn, tinh tấn vượt lên hành hạnh Bồ Tát. Kinh nói tùy vào thời tiết là tùy vào trình độ người tu, biết điều phục sáu căn. Sáu căn là cửa vào tâm. Khi các căn tịch tịnh thì hào quang trí giác chiếu soi khắp mười phương thế giới.
Lắng lòng nhè nhẹ thoáng nghe
Tiếng chư Bồ Tát gọi khuyên ta về
Kêu người còn đọa trần mê
Hãy nương gió đức mê chi cõi trần
Tỉnh tâm suy nghiệm lần lần
Lặng nhìn trần tục vạn phần đắng cay
Vì đâu đời sống đọa đày?
Vì mê trần thế ngày dài khổ đau
Khêu cao đuốc huệ mau mau
Cõi chư Phật Thánh dạt dào từ bi
Nghe âm điệu rất diệu kỳ
Thổi lên chầm chậm xuyên màn lưới hoa
Len hàng cây báu chan hòa
Phát ra âm điệu nhẹ nhàng thanh trong
Nhắc khuyên thôi thúc cõi lòng
Tiếng vi diệu nói, Khổ, Không, Vô Thường
Tiếng Ba-La-Mật náu nương
Cuộc đời vô ngã chơn truyền Thích Ca
Rộng thuyền pháp báu hà sa
Hương hoa đức hạnh người nghe ấm lòng
Bỏ dần nghiệp lụy long bong
Tự nhiên tịch lặng đảo điên tỉnh rồi
Không não loạn chẳng bồi hồi
Cõi lòng thoát tục nhẹ rồi nghiệp duyên
Hương bay gió quyện khắp miền
Chạm thân lữ khách trần miền xa quê
Lòng an tâm định dứt mê
Như Tăng nhập định phá mê tận tường
Thanh thanh nghe rõ mùi hương
Hương lòng giác ngộ len xông khắp rừng
Hoa bảy báu chẳng danh xưng
Đủ màu, đủ sắc, quang minh vô chừng
Hoa giác ngộ như mùa xuân
Hái hoa trí huệ kính dâng Phật Đà
Thân tuy còn tại Ta bà
Mà lòng rực sáng quang minh tuyệt vời
Từng màu từng sắc chiếu ngời
Tiếng chư Phật Thánh tuyệt vời giáo khuyên
Ứng đời thân tạm hóa duyên
Nguyện tu đem đến bình yên cho đời
Gió từ đâu đến gió ơi ! !!
Từ người đức độ từ nơi trí mầu
Người tu nguyện bắt nhịp cầu
Cầu là đức hạnh, cầu là yêu thương
Thương mà lòng chẳng vấn vương
Chẳng gìn, chẳng giữ, chẳng nương sự đời
Pháp âm diệu lý tuyệt vời
Phật đem tât cả cuộc đời cho ta
Xông vào thế giới tinh ma
Chịu mang thân tục, giúp ta giải nàn
Thanh cao đạo đức nhẹ nhàng
Nhắc ta trở lại đài vàng ngày xưa
Vì ta mãi mến mãi ưa
Cực lòng chư Phật sớm trưa đợi chờ
Vì sao tâm trí lu mờ?
Vì theo huyễn cảnh bến bờ khó qua
Đời là vạn nẻo bôn ba
Sức ta yếu kém tà ma chực chờ
Nhìn đời như một giấc mơ
Là ta đã xả bợn nhơ cõi lòng
Tâm trí huệ vốn thong dong
Hương hoa thơm ngát bủa xông khắp miền
Gió thanh len nhẹ rừng thiền
Cuốn mau cho hết lụy phiền vô minh
Tùy thời tùy tiết đẹp xinh
Huệ khai rộ nở tánh chơn xuất trần.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Long An, ngày 20 tháng 03 năm 2012
Người soạn : NHƯ THÁNH

NAM MÔ PHÁP GIỚI TẠNG THÂN
A DI ĐÀ PHẬT !

Kính bạch chư Tôn Đức Tăng Ni !
Cùng quý độc giả gần xa !
Trên đây là lời biên soạn từ trí tuệ giảng dạy của Sư phụ từ phẩm thứ 8 đến phẩm thứ 20 trong kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh. Vì nhận thấy bài giảng dễ nghe, dễ hiểu, rất cần cho người tu pháp môn Tịnh Độ và tất cả các pháp môn. Không thể bỏ qua lời giảng quí báu. Sau khi nghe, cảm nhận sự lợi ích cho sự tu học rất nhiều, nên dù sức tu hạn hẹp, học vị đơn giản bởi chú trọng pháp tu trực chỉ vào tâm, quyết lòng mượn lời văn bình dị, chân thành ghi lại những gì tâm đắc qua quá trình tu tâm học Phật, mục đích làm sáng tỏ đạo tâm, là tha lực cho những ai cùng duyên lành học Phật đồng hướng về bản giác chân tâm.

Kính bạch quí Ngài !
Vòi vọi không trên pháp thẩm sâu
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe đặng chuyên trì niệm
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Phật pháp vô biên, ý kinh vô lượng nên dù người biên soạn đã cố gắng đem hết sức mình, góp phần vào biển pháp vô tận cũng không thông thấu ý kinh sâu kín và diễn đạt hết được lời giảng từ trí tuệ của Sư phụ.
Người biên soạn xin nhận tất cả sự đóng góp qua những tâm ý thiện lành để quyển sách thêm phần sáng tỏ.

Xin chân thành kính bút.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

Như Thánh

LUẬN GIẢI THÂM MẬT NGHĨA
KINH PHẬT THUYẾT
ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ
TRANG NGHIÊM-THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC KINH
( Quyển Trung )
TỪ PHẨM 8 ĐẾN PHẨM THỨ 20

Lời giảng : Tỳ Kheo Thích Minh Đức.
Biên soạn : Cư sĩ Phật tử Như Thánh.

TỔ IN ẤN VÀ PHÁT HÀNH KINH SÁCH THỰC HIỆN
Địa chỉ : THIỀN VIỆN MINH ĐỨC, PHOTOCOPY SĨ PHÚ, Tổ 3, Khu 1, Thôn Phước Thành, Xã Tân Hòa, Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Điện thoại : 0972. 008727

Chịu trách nhiệm in ấn :
TK. THÍCH MINH ĐỨC
Biên soạn : NHƯ THÁNH.
Vi tính : PT. NGỌC VÂN, PT. THIỆN TẤN
Sửa bản in : CHƠN MINH.
Trình bày : CHƠN MINH.
Bìa : TÂM PHÚC.

Phương danh Quí vị phát tâm
ấn tống cúng dường
VỰA GẠO VIỆT LINH
( Tân An – Long An )
1. PHẠM NGỌC DIỆU LINH
PD : NHƯ HUỆ
2. NGUYỄN THÀNH TÂM
PD : NHƯ HIỀN
Phước đức ấn tống kinh này hồi hướng cầu an cho :
Cha là : PHẠM QUANG MẠNH
PD : GIẢI THÔNG, tuổi : Bính Tuất.
Được tai qua nạn khỏi, nghiệp chướng tiêu trừ, tăng long phước thọ.
CẶP KỲ SIÊU CHO :
Mẹ là : ĐỖ THỊ HOÀI, PD : DIỆU NIỆM.
NGUYỄN VĂN MY, PD : ĐỨC TRỌNG.
Và Cửu Huyền Thất Tổ được tốc vãng mê đồ, siêu thăng Tịnh Độ, cùng pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

THÔN PHƯỚC THÀNH-XÃ TÂN HOÀ-HUYỆN TÂN THÀNH-BÀ RỊA VŨNG TÀU