Phẩm 23

 

MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT
TÁN THÁN

 

Mười phương là toàn thể hư không tất cả pháp giới. Phật nói mười phương là chỉ vào các cõi nơi tâm chúng sanh, tất cả đều do niệm thức biến hiện tận hư không khắp pháp giới, tùy vào duyên của nghiệp thức do vô minh hay minh mà biến hóa sanh có pháp. Tất cả pháp đều do nhân duyên hòa hợp mà thành, không thật thể, không tồn tại riêng biệt. Tất cả pháp hòa hợp đều do tâm tạo tác, các pháp sanh diệt do sự biến động của tâm niệm, vì bất giác nên thấy biết sai lầm có tâm phân biệt do thức biến niệm theo tốt xấu, nên hư, vui buồn, đau khổ gọi là vô minh ; mê lầm, bỏ quên tánh giác nên nói là mê; minh là giác là (Phật), trí sáng suốt xuất khỏi thế gian. Nếu nhận ra bản giác là ngộ nhập tri kiến Phật, cũng là tri kiến bản giác A Di Đà thường sẵn có hiển nhiên nơi mỗi con người, vì mê mãi nên đuổi theo pháp trần mà quên bỏ tánh giác, cứ chạy theo các pháp huyễn sanh diệt luân hồi. Phật cũng là một người đã giác, đã nhận thấy biết các pháp rõ ràng bằng trí vô phân biệt, tất cả vạn vật, vũ trụ con người, tâm niệm đều ở hư không, đều là nhân duyên có khả năng thường di chuyển dời đổi vô trụ, vô thường không dừng đứng hay bền vững một nơi nào, đó cũng là khả dụng tạo dễ dàng khi con người đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, ăn uống, thuận tiện sinh hoạt cho đời sống v.v... Tất cả đều nương vào hư không mà hóa hiện sanh có nhiều hoàn cảnh, nhiều thay đổi. Kinh nói mười phương là muốn chỉ khắp cả hư không, toàn thể hư không, khắp pháp giới trong tâm. Người hướng tu tìm con đường giải thoát là quyết tìm vào tận hang ổ vô minh. Vậy vô minh là gì ? Là những điều chúng sanh không biết, không thấu hiểu rõ ràng. “Vô” là không, “minh” là sáng, “vô minh” là không sáng. Tu mà mù tối, không hiểu biết vạn pháp biến chuyển sanh diệt vô thường thì bất lợi, gây tai hại, uổng công trình tu tập, chỉ tu bằng mù quáng, tu trong mê lầm. Người tu chứng ngộ quả vị có danh từ gọi là A-La-Hán, cõi lòng đã diệt được Thập Kiết Sử và đoạn luôn các Lậu Hoặc, đã diệt Tư hoặc, Vi tế hoặc, Chướng hoặc, phiền não đã đoạn sạch nhưng vẫn còn Vô minh hoặc, còn những chỗ A-La-Hán chưa biết. A-La-Hán là quả Thanh Văn, người ở quả vị này biết những gì có trong cuộc đời đều là pháp, tuy biết pháp nhưng lầm tưởng pháp là có thật. Nhưng Phật dạy vạn pháp do tâm sanh do duyên hợp mà thành tựu pháp. Các tiểu La-Hán biết thân là không bền chắc, nhưng chấp thập pháp giới là có thật, như chấp pháp giới của Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục, A-tu-la, Người, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật, 33 tầng trời là có thật, nếu chấp có tướng là còn chấp pháp tướng. Tổ dạy:

Vật chi nếu tướng hình

Thảy đều hư mộng, vọng tình lông bông

Bằng xem tướng có là không

Nhận ra đức Phật khắp trong cảnh tình

Nếu ai chấp có biết mình

Biết người cùng biết chúng sanh kia là

Lại thêm mạng số biết tà

Phải đâu Bồ tát vượt qua lưới mành

Nếu xem Phật ở tướng xinh

Lại nghe Phật ở âm thanh dịu dàng

Thì ra kẻ ấy lạc đàng

Như Lai chơn tánh có tàng chi chi

Những là các pháp hữu vi

Giống như mộng ảo khác gì huyễn thôi

Tựa hồ bọt nước dòng khơi

Mãnh hình ảnh giả chút hơi sương tàn.

La-Hán là danh từ tên đặt để gọi, nói lên từng quả giác của con người cũng là pháp, vạn pháp do tâm mà có, pháp sanh do tâm tạo tác. Nếu ta cứ mãi cầu khẩn mong được mọi người cung phụng, được phục vụ ăn uống, thỏa mãn cho cuộc sống đầy đủ tiện nghi, tâm niệm đòi hỏi cho thân sung sướng đáp ứng cho nhu cầu của ý riêng tư, miệng nói tu mà lòng còn ham hưởng thụ các pháp đời là cõi lòng còn vướng trụ pháp thế gian, không biết làm ích lợi cho mọi người đang cần sự giúp đỡ của người tu chơn chánh, dùng kinh nghiệm tư trí tuệ chỉ rõ bản tâm biết xả bỏ tham sân si ra khỏi tâm cho thoát khổ, vì thế Pháp Sư Đạo Chứng nói rằng: Nếu người tu có quan niệm đó là còn ý tưởng ham muốn hưởng thụ riêng mình được sung sướng là “Cõi cực lạc dành riêng cho người tu bằng tâm làm biếng”. Tu bằng tâm dải đải chỉ lo riêng cho mình, thế giới này chỉ vô ích làm nhân loại thiệt thòi. Tu để tự độ ta, còn dẫn dắt độ người được giác ngộ, đồng thoát khổ mới là tự độ, còn độ tha là bậc Bồ tát vào đời cứu độ chúng sanh, phần giác tiểu La Hán còn sợ nghèo, sợ khổ, sợ bệnh, biết sợ tội lỗi nhưng không dám xả thân để làm lợi lạc chúng sanh. Tổ nói đó chỉ là cách tu chồi khô, mọng lép, sẽ cháy tiêu tất cả công phu tu tập, vì Phật dạy: “Tiền cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh”. Ngày xưa đức Phật rời triều đình đi tu vì thương vua cha, thương công chúa Gia-Du-Đà-La, thương La-Hầu-La, thương cả triều đình, thương dòng tộc cùng thương khắp cả chúng sanh mà ra đi tìm phương giải thoát để tự cứu mình và cứu muôn loài thoát trầm luân khổ ải.

Phật không ở non núi để người tìm kiếm mất công, mà Phật ở ngay tại lòng mọi người đều có, đừng tìm kiếm lấn chen bên ngoài, mơ vọng tìm bằng âm thanh sắc tướng, vĩnh viễn sẽ không thấy Phật, tự độ mình sẽ độ được người chung quanh. Nếu chọn đúng pháp tu  trở về sống được với tư tánh Di Đà vô biệt niệm thì mười phương chư Phật đều tán thán. Kinh dạy:

Trí thần sáng chiếu thế gian

Tiêu trừ thống khổ phá tan mây mờ

Sông mê đã vượt khỏi bờ

Soi ra Ngũ uẩn một giờ thành không.

Khắp pháp giới hư không đều là quang minh sáng suốt chiếu diệu bởi hào quang trí tuệ biết rõ vạn vật, biết sắc thân được duyên hợp từ bảy đại: đất, nước, gió, lửa, không, kiến, thức gọi chung là thất đại. Ta tu để biết rõ rằng khi bỏ xác thân này là chết, không đi về đâu cả. Sự sống hay chết đều là vọng tưởng, chỉ thay đổi tùy duyên tan hợp, không có gì ta muốn cho nó biến mất và cũng không có gì tự tạo ra được, mà tất cả đều là những tướng trạng biến dạng, thay đổi của pháp, Tổ dạy:

Uẩn từ không đến, không sanh Uẩn về

Này là các pháp chấp nê

Vốn không có tướng nào hề diệt sanh

Chẳng dơ, chẳng sạch khó rành

Chẳng thêm chẳng bớt thôi thành hư không.

Ở thế gian khi nhà cũ hư sập thì xây cất nhà khác, thân cũng vậy nếu thân tướng này hư hoại vì già bệnh chết sẽ rã tan đổi tướng khác, tùy nghiệp do tâm thức tạo tác mà có tướng hình, nên kinh dạy:

Ý kia đã dứt nghĩ suy

Bao nhiêu cái thức chung quy chẳng còn

Vô minh đâu có sanh tồn

Vô minh cũng chẳng hao mòn mất đi.

Mang tướng trạng diện mạo do nghiệp quả nên có sự thay đổi khác nhau. Ngày xưa đức Phật ngồi dưới cội Bồ-đề thấy chiếc lá vàng từ thân cây rơi xuống, Ngài tự giác ngộ “thấy đời như chiếc lá”, khi mãn duyên khô héo sẽ rơi rụng, từ thân cây biến đổi sẽ có chiếc lá khác, chiếc lá vàng trước kia có cũng từ duyên hợp sanh ra, duyên của đất tươi nhuận phát triển, từ duyên của nước, duyên gió là không khí, ấm áp nhờ duyên của lửa, có nhân duyên hợp sẽ sinh ra muôn loài vạn vật, khi rơi rụng là duyên tan lá cũng trở về không. Con  người tâm thức biến đổi nên có lúc buồn, vui, thương, ghét, vậy lúc hết buồn vui thương giận ghét thì những trạng thái của những hoàn cảnh này sẽ về đâu ? Tất cả là vô thường đều trở về hư không nên lòng ta không còn vui buồn thương giận ghét nữa, chẳng còn tâm vui buồn thương giận ghét nào là của ta cả nên đã sống được với đạo chơn. Ngày xưa Ngài Thần Quang bạch với Tổ rằng : “Bạch Thầy tâm con không an” vì tâm Ngài Thần Quang còn đầy ắp phiền não khổ sở, còn chất chứa vọng trần, hiện tại tâm còn có các niệm mê là những chúng sanh não loạn đang hoành hành cõi lòng, toàn niệm khởi bất an. Nên Tổ bảo : “Con đem tâm ra ta an cho”. Ý Tổ nhắc Ngài Thần Quang thấy được các vọng tâm mà buông xả nên lúc này nhìn lại sự thật thấy không còn tâm, quay nhìn không thấy tâm nào của Ngài cả. Ngài bạch rằng: “Bạch Thầy con tìm không thấy tâm” vì không dính trụ pháp trần, đã buông xả các duyên, tất cả đều trở về thất đại, về với hư không, hư không có vô số, vô số rất nhiều nguyên tử sanh diệt, đạo tâm trong sạch là lìa bỏ hết mọi toan tính, âu lo, mừng vui, giận ghét, được thua, dứt mọi tưởng tượng thì tất cả về với hư không, nhưng khi có duyên đến nếu bất lập tức sẽ có tâm sanh khởi, các pháp thành tựu chờ đủ duyên. Khi duyên đến sẽ có hoàn cảnh, nếu không sáng suốt giác biết sống bằng giới luật giữ tâm an định thì mọi toan tính âu lo, sợ sệt, vui buồn, thương giận, tức tối, tham ái ... sẽ luân hồi quanh lại, sẽ sanh có tâm, quấy nhiễu làm bận rộn não loạn cõi lòng, rối bời vì điên đảo. Chúng ta tu học để hiểu biết giác ngộ tất cả duyên, sáng suốt không gá vào duyên huyễn giả là giận hờn, phải quấy, buồn khổ, không nhận pháp huyễn để làm tâm của ta hay tâm của tôi cần tạo an lạc bình an bằng pháp từ bi hỷ xả thì hiện tại cõi lòng là quốc độ an ổn, nên Tổ Đạt Ma nói với ngài Thần Quang “Ta đã an tâm cho con rồi đó”. Kinh dạy:

Giữ cho tâm ý lần lần thanh bai

Chớ lầm một việc đơn sai

Là theo chánh đạo Như Lai chơn truyền.

Niệm Phật thực tướng là kêu ngay tánh Phật, niệm nhớ ngay Phật trí tuệ tại cõi lòng ta, gọi kêu tánh từ bi hỷ xả, đừng kêu, đừng gọi, đừng niệm nhớ giận hờn, hận oán, buồn khổ ghét ganh, đừng niệm nhớ gọi kêu tâm niệm độc ác là những chúng sanh mê muội trong lòng, chỉ gọi nhớ tha thiết tự tánh Phật A Di Đà là chơn tánh sáng suốt, trí tuệ vô lượng quang tại lòng ta đã tỉnh thức, cùng ta san sẽ trí minh cho thoã lòng chờ đợi là nguyện thiết tha chỉ nhờ và muốn gặp Phật tánh, vì vô minh đã bỏ quên phai mờ từ vô lượng kiếp, khi duyên khởi ta từ không đến, nên hết duyên rời bỏ thân huyễn tạm cũng trở về không, đó chính là định luật tự nhiên, chẳng đi đâu cả, các pháp như huyễn tùy duyên đến tùy duyên đi.

Trong đời sống nhà cửa là pháp cần thiết của con người, nhà nào cũng tạo đường đi ra ngoài, nhưng nếu đường ra vào trải bằng gai gốc hoặc đồ bén nhọn, không sửa sang dọn dẹp trơn láng thì chính chân ta đạp những vật này. Đường vào nhà tâm cũng vậy, niệm niệm sanh diệt luân hồi ra vô hằng ngày nếu ta trải đường vào tâm bằng các pháp độc ác, là gai gốc hận thù thì chính những sự độc ác này là nghiệp báo khổ đau, nếu tự ta gieo tạo thì tự ta gánh chịu, tự nhận lấy không chối bỏ hay tránh né được. Đường vào nhà tâm luôn là hờn giận, trách móc, tội lỗi là tự tạo con đường gai gốc cho ta tự nhận. Nếu tạo phước báu là lót đường bằng gấm lụa, tức là pháp từ bi hỷ xả, lòng tha thứ độ lượng khoan dung. Nhẫn nhục thì đất tâm là cõi an lạc được lót bằng vàng ròng, thì khi rời bỏ xác thân ta sẽ đi đúng y con đường mà ta đã tự xây dựng tích luỹ bằng phước đức. Nếu không nhận được điều này, mãi tích trữ vào tâm bằng ác nghiệp thì con đường ác đạo tiếp tục dành cho thân sau tự mà lãnh nghiệp thọ sanh theo nhân quả. Tu là tự sáng suốt biết chuyển đổi nghiệp, bỏ tham sân si chuyển thành từ bi hỷ xả, vậy mười phương chư Phật ở đâu? Là ai? Chính là khắp cả chúng sanh, khắp pháp giới mười phương đã giác ngộ, hoàn toàn sống bằng chơn lý, mỗi niệm là một vị Phật, niệm niệm đều giác là chư Phật khắp mười phương nên mười phương chư Phật đều tán thán, kinh Phật mà mọi người thường đọc tụng, nhắc nhở mục đích muốn khai thị cho ta biết rõ mười phương là các thế giới tại cõi tâm, phải hằng nhớ mà quán sát tại lòng, tự quay vào mà đãnh lễ “Chí tâm đãnh lễ Nam mô tận hư không biến pháp giới hóa hiện vị lai chư Phật Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trú Tam Bảo”. Vậy không như thế nào? Không mà người tu cần biết là:

          Sự rỗng không từ vô thỉ và mãi mãi rỗng tuếch. Phật nói là Ngoan Không, cái không này chẳng liên quan gì với nhà Phật, là cái không khô cứng tối tăm, vì chấp không ngơ nên lòng chai cứng không làm điều thiện, không bố thí cúng dường, chẳng niệm Phật, chẳng thương yêu giúp đỡ hay san sẽ sự khổ cùng ai, cái không nầy bồng bềnh trôi nổi là không ngơ.

Không tự tánh là tự có sẵn, chơn như bản tánh trùm khắp. Không này thoát ra từ tự tánh, chơn tâm, từ Như Lai Tạng Tánh biến hoá có hư không. Hư không này chứa trong Như Lai Tạng Tánh (hư không này khác với không ngơ) là đương thể tức không, như ta đang có thân là đương thể vì thân là sắc pháp chỉ là huyễn tạm vô thường nên không bền chắc chỉ nương gá nhân duyên mà dính kết, mãn duyên sẽ tan rã vì già bệnh chết, nên nói thân là đương thể sẵn sàng chờ tan rã là tức không, chỉ vào pháp không vĩnh viễn, bởi vì các pháp đều từ nhân duyên tạo tác mà thành, duyên hết pháp hoại diệt.

Chơn Không sanh Diệu Hữu.

Chơn là chơn lý, không là không nhiễm. Diệu Hữu là sự biến hóa tự nhiên thanh tịnh. Hữu là có vạn vật hữu tình, có tuớng tức là cái diệu dụng từ tâm thể, là những diệu hữu mầu nhiệm từ bản thể chơn không mà ra, khi đã nhận bản thể không còn một pháp mới thấy được diệu hữu của chơn tâm. Diệu hữu là biến hóa, mà Chơn Không là tâm thể của con người, còn tánh không là thể tánh của muôn pháp, tánh không do duyên hợp mà sanh có muôn pháp hư vọng.

Hiện tại ta đang có thân là do duyên  hợp, sự sinh hoạt theo thói quen của đời sống thế gian là do thức diễn biến tiếp trần mà sanh pháp từ lục căn là: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức tiếp xúc sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, sanh ra có phân biệt, mọi thấy, nghe, ngửi, nếm, trơn láng, nóng lạnh, đều nhờ sáu thức, nếu sáu căn được gìn giữ thanh tịnh thì không còn nói nghiệp dẫn hay sanh già bệnh chết nữa, nên Tổ nói:

Cái già cái chết thấy chi

Pháp nào tận diệt ai bi chết già

Bốn đề thanh diệu bao la

Khổ Tập Diệt Đạo cũng xa mấy vòng

Đến đây cái trí không không

Có chi là đắc mong chi cho thành?

Bởi không có đắc riêng mình

Thế nên Bồ tát tâm tình không ngăn

Nương theo trí huệ vô ngần

Không còn sợ hải băn khoăn cảnh đời

Đảo điên mộng tưởng xa vời

Không còn ưa thích nghỉ ngơi Niết bàn

Ba đời chư Phật khắp tàng

Nương thuyền trí huệ mà sang bến bờ

Quả linh hiển đắc kịp giờ

Chánh đẳng chánh giác tôn thờ không trên

Cho hay trí huệ tảng nền

Ai mà thấu nhập trở nên phép thần ...

Thái tử Sĩ Đạt Ta vì biết rõ đương thể tức không nên Ngài rời bỏ ngai vàng điện ngọc, vợ đẹp, con ngoan, bỏ địa vị chức quyền, Ngài biết các pháp thế gian không gì vĩnh viễn là của ta cả, hết thảy sẽ trở về thất đại, thức hằng chuyển biến từng sát-na để trở về không, vì biết rõ nên lòng không luyến ái, quyết ra đi tìm chơn lý.

Nếu ai tu bằng ảo giác, cứ mãi chấp có Phật A Di Đà bằng hình tướng đến rước người thế gian khi lòng họ còn ngút ngàn sâu độc, tam nghiệp nặng oằn thì những oan nghiệp họ đã gieo tạo, vậy ai trả thế cho họ đây? Không còn tin nhân quả hay sao? Không thể có A Di Đà nào làm trái ngược chơn lý được, nghiệp báo sẽ theo ta như bóng theo hình không ai can gián gánh thay được cả. Tu là mở rộng trí tuệ tỏ tường nhân quả, muốn nhân quả lành phải tự chuyển đổi thói quen xấu ác là chuyển nghiệp bằng hành động không nói lời độc ác, ý không nghĩ ác, nên trả hết lại cuộc đời những oan trái chướng nghiệp tà vọng xưa nay lầm chấp vào hư không pháp giới, để sống bằng hạnh đức thiện lành, phước đức trí huệ, hiểu biết thông suốt sự thật cuộc đời mới đi đúng vào con đường bát chánh đạo. Cái không thứ ba được thấy rõ trong Bát Nhã Tâm Kinh, Sắc tức là Không, Không tức là Sắc, Chơn Không mà Diệu Hữu, khắp vạn pháp hữu vi như trời, trăng, mây, nước, mưa, gió, chim bay, cá lặn, thú vật, con người v.v... Các pháp mà ta nhận được là có gọi là hữu vi pháp, đều như bọt như bóng, như điện chớp, không thật, người  giác ngộ nhìn bằng mắt tuệ giác biết các pháp từ không mà có gọi là diệu hữu. Mắt phàm phu nhìn bằng nhục nhãn tưởng pháp hữu vi là thật nên chấp có chắc chắn gọi là mê, khắp vạn vật vũ trụ thế giới con người đều ở trong cái không. Không này thênh thang không ngằn mé, không giới hạn nên dung chứa hết vạn hữu, dù có bao pháp cái không bao la rộng lớn đều chứa được nên gọi là chơn không mà diệu hữu. rDù chơn không nhưng chứa đủ pháp vi diệu đủ duyên sẽ diệu dụng ra có tuy có mà không tuy không mà có, không nhưng có tất cả đất nước gió lửa, có đầy đủ pháp làm lợi ích cho chúng sanh chẳng phải không ngơ trong vô ký, người tu là đem kinh nghiệm trí tuệ ra tự chuyển nghiệp còn đem sự giác ngộ nơi mình ra cứu độ chúng sanh là hạnh tác Như lai xứ hành Như lai sự, nhưng Như lai là ai? Như lai chính là bản giác chơn như bất khứ bất lai, người hướng tu mục đích duy nhất là thành Phật là thấy lại tánh Phật chính mình tức kiến Như lai. Kinh dạy : “Nguyện giải Như lai chơn thật nghĩa”, nếu chỉ tu bằng miệng thì tu hoài cũng chẳng xong vì chưa thấy được tánh tham, chưa thấy tánh sân si, những tánh phiền não, giận hờn ghen ghét ngã mạn, tự cao, ích kỷ, hẹp hòi, kiêu căng, tự phụ... tất cả đều là tánh nhưng chỉ là tánh phàm phu tục tử độc ác, cần phải nhận thấy để mà lìa bỏ đoạn trừ các chủng tử này từ biển thức do phân biệt biến hóa sanh ra tất cả đều nằm trong thất đạ. Tu là sáng suốt chuyển thức về trí gọi là Tịnh trí, muốn chuyển thức thành trí phải thấy ta đã tự quy y Phật nghĩa là trở về sự tỉnh giác, quy y Pháp là trở về chánh định, chánh niệm, quy y Tăng là trở về sự hòa hợp, cần quán xét vào tận đáy lòng coi có sống được nơi tam quy y chưa? Quyết quy Phật, quy Pháp, quy Tăng để trở thành người thánh thiện sống bằng tâm thật tu, thật tu là dù hoàn cảnh nào có đến cũng giữ gìn tấm lòng vững chắc, không giao độc bát phong là khổ, vui, lợi, hại, khen, chê, tốt, xấu, nguyện tu sống bằng tâm bồ đề thật kiên cố, chí tu học vững bền, xa bể khổ nguồn mê, chóng quay về bờ giác, cảnh nào đến lòng cũng an nhiên, kiên định, thật tu là quyết giữ với tấm lòng không nổi sóng vì gió nghiệp thổi vào biển thức.

Lại nữa A Nan, trở về đông phương thế giới nhiều như cát sông Hằng, mỗi thế giới có hằng sa Phật, mỗi vị đều dùng tướng lưỡi rộng dài, phóng vô lượng quang, nói lời thành thật xưng tán công đức Phật vô lượng thọ”. Phật vô lượng chính thật là tự tánh A Di Đà có khả năng thọ dụng đất, nước, gió, lửa không kiến thức là thất đại đều là duyên ai cũng có khả năng thọ dụng cũng như các pháp thế gian và xuất thế gian đều thọ nhận, nên khắp pháp giới thành tựu nơi tâm người là thế giới hư không tạng chứa vô lượng pháp gọi là vô lượng thọ, chỉ vào tự tánh Di Đà nơi mỗi con người đều có khả năng đều thọ dụng là bản thể chắc chắn vững bền không thay đổi, từ vô thi kiếp mãi mãi vô lượng, từ chơn không biến ra diệu hữu thay đổi chuyển biến lên xuống, có khi làm người, làm thú, làm Bồ tát, làm Phật, gọi là dụng, thọ dụng này là pháp sử dụng được tất cả thiện ác, phải quấy, tốt xấu, nên hư chính nơi ta. Người tu nhờ giới luật gìn giữ bản tánh cho trong sạch tự trang nghiêm quốc độ vì giới luật có trang nghiêm thì đạo quả trí huệ phát sanh nói bằng chính ngữ là tướng lưỡi rộng dài, khi mỗi niệm khởi vì mê cứ chấp trụ cố giữ cho là của riêng tôi, cho mọi sự vật yêu thích buồn khổ là của tôi như toi buồn tôi khổ, tôi hạnh phúc tôi giàu có, cho rằng cha mẹ con cái những người thân là của tôi, mỗi niệm sanh khởi tự chấp nhận cho là tâm cố giữ là có gọi là chấp ngã chấp pháp, con người thường sống bằng vô số tâm niệm, mỗi niệm chấp giữ thì tâm có mỗi thế gian. Nếu tâm tham lam thì là thế giới loài ngạ quỷ, tâm niệm phiền não là thế giới của loài súc sanh, tâm mãi si mê là thế giới địa ngục, tâm nóng nảy là thế giới của A-tu-la, cõi lòng trong sạch là thế giới A-La-Hán, thương yêu giúp đỡ mọi người lòng không tư lợi thì đất tâm là thế giới của Bồ tát. Bậc giác ngộ thường sống bằng trí tuệ hằng giác nên lòng luôn an lạc, tâm cao thượng chính là Thế giới tây phương cực lạc là quốc độ chư Phật. Thế nên Phật dùng pháp tướng chỉ số nhiều của cát sông Hằng để ẩn dụ chỉ vào vô số vô biên tâm niệm nơi mỗi con người là vô biên chúng sanh còn chất chứa vô lượng phiền não. Tu là độ tận các chúng sanh mê muội tại cõi lòng, còn phải đoạn vô lượng phiền não tại lòng ta, nên Lục Tổ nói : “Không ngờ trong tâm có tất cả, không ngờ trong tâm chứa muôn pháp”, có vạn pháp do tâm. Phật nói tâm tâm địa có vô số thế giới nhiều như cát sông Hằng, tâm địa cũng có vô số niệm đã giác, là có hằng hà sa số Phật, mỗi vị Phật đã tự giác, nói tướng lưỡi rộng dài, có nghĩa là cứ mỗi lời nói từ miệng bậc giác ngộ từ lưỡi thốt ra đều là chánh ngữ, lời nói là kim ngôn ngọc ngữ tức là lời vàng tiếng ngọc chắc thật trong sáng, chiếu suốt vang vọng cùng khắp pháp giới cõi tâm, lưỡi nói lời chơn lý biết trùm khắp xóa tan được tội lỗi lầm lạc  các niệm vô minh tại cõi lòng và giáo hóa được chúng sanh hữu hình bên ngoài được tỏ ngộ, lưỡi rộng dài nói tất cả nguồn tư tưởng chánh minh từ trí huệ sáng suốt phóng ra vô lượng quang minh, không còn một niệm vô minh nào chen tạp, tướng lưỡi rộng dài phát ra âm thanh vi diệu gọi là lưỡi bậc trí tuệ nói thông suốt trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói bằng vô lượng từ bi, vô lượng sáng suốt, vô lượng thọ nhận biết vô lượng pháp mà bản thể chơn tâm không hề đắm lụy. Cõi tâm rộng lớn thênh thang hoàn toàn chơn lý, nhìn vạn pháp bằng Phật nhãn, pháp nhãn không thể suy nghĩ bàn luận, mà nói hết được đánh thức các tâm thức mê muội tại lòng hằng sa quốc độ đều tỉnh giác nên chư Phật khắp mười phương đều tán thán. Nếu tu mà không nghiêm giới luật thì lời nói thật ra là tà ngữ, tà vọng, yêu mị, tội lỗi phát sanh, vì giới cũng là duyên lành giữ gìn mạng mạch, Phật pháp giúp ta thành chánh giác. “Hằng sa thế giới chư Phật xưng tán, cũng lại như thế bốn phương phụ và hai phương trên dưới, hằng sa thế giới chư Phật xưng tán lại cũng như thế, tại vì sao thế? Bởi khiến cho chúng sanh phương khác nghe danh hiệu Phật, phát tâm thanh tịnh, quán chiếu thọ trì, quy y cúng dường, cho đến hay phát một niệm tịnh tín, có được căn lành chí tâm hồi hướng nguyện sanh nước ấy. Tùy nguyện được sanh, đắc bất thối chuyển, cho đến vô thượng chánh đẳng bồ đề”. Nghe các đức Phật khác là sử dụng hạnh lắng nghe lại cõi lòng, nghe lại những tâm thức đã giác, nghe bằng thiền định đã biết chuyển thức thành trí, tâm thức không còn phân biệt, từ tận đáy lòng tất cả tâm niệm đều trở về quy ngưỡng Như Lai Tạng Tánh, vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng như nhau, chỉ vì đuổi theo nghiệp thức biến hóa lầm chấp không đồng, tùy nghiệp nhân mà hiện nghiệp quả có tướng nam nữ, thông minh, trí tuệ hay u mê đần độn. Nếu sáng suốt đồng trở về tự tánh vẫn đủ khả năng làm Phật, làm Bồ tát, làm Thánh. Tất cả chúng sanh đã giác ngộ đều là chư Phật nên khắp mười phương đều tán thán nhờ đã tri  kiến Phật tánh, thường sống với Phật tánh nên biển thức không còn loạn động tự chuyển thành trí, bởi vì những tâm thức ham muốn, duc vọng đòi hỏi đã giác thì chẳng còn nghiệp gì cả nhờ tự tánh Di Đà vô lượng quang chiếu soi nhờ diệu quang sát trí, là quang minh Bồ tát thế âm quán sát quán tự tại cõi lòng tầm thinh nguyện cứu khổ khắp chúng sanh mê muội tại lòng, chuyển hoá các tà niệm mê si vào tận hư không tận cùng pháp giới, trí tuệ rộng lớn thênh thang hằng hữu khi giác ngộ tự nhập bản giác, tâm thức không còn mây vô minh che khuất, ác niệm đã siêu thăng vào hư không hoàn toàn giải thoát.

Phật dạy nhân nào quả nấy, muốn sanh đâu cứ tạo nhân thì nhận quả đúng y như vậy, cứ mãi tạo nhân quấy ác, tội lỗi mà muốn về Cực lạc, muốn vãng sanh là điều không thể có, rất vô lý. Phát hạnh nguyện thiện lành thì mới được về thế giới thiện lành là điều chắc chắn vì Niết bàn do tâm tạo, địa ngục chính tâm sanh, pháp này mười phương chư Phật đều tán thá. Mọi người đều có tánh Phật sáng suốt trí tuệ sẵn tận hư không biến khắp pháp giới, sẵn sàng hóa hiện vì si mê nên không biết sử dụng bỏ quên tánh Phật, sự sanh diệt của tâm thức cũng từ thức đại nằm trong tạng tánh thức giao động biến hóa phân biệt nên có tâm, sanh có pháp thức còn sanh diệt là tâm còn chúng sanh, não loạn bản giác là hào quang sáng suốt tỉnh thức gọi là minh là trí xuất thế. Nếu nhận lại bản giác tịnh minh ngộ nhập tri kiến Phật cũng là sống với bản giác A Di Đà hiển nhiên hằng có sẵn ở mỗi con người. Vì cứ đuổi theo pháp trần mà quên bản giác, mãi theo thức luân hồi sanh diệt chấp thật, cố bám giữ Phật cũng là một con người đã giác ngộ sống bằng trí vô phân biệt, nếu ta tu giác ngộ sống như ngài thì ta cũng là Phật đã thành.

Tâm thức thường biến hóa tận hư không, khi tâm thức tịnh là trở về với tự tánh, không còn giới hạn chấp hẹp vào sở chấp cho pháp là của ta. Vì chấp trụ nên tâm nhỏ hẹp, tâm lượng thu nhỏ chỉ trong gia đình ta, người thân, của cải vật chất, danh vị, ghét thương, si mê, oán hận, buồn vui... Nên tấm lòng mất quảng đại, vì lầm nhận những pháp chấp này giữ chặt không lối thoát, nếu sống bằng tánh Phật tự nhiên của mỗi người khi đã xả bỏ hết pháp tà huyễn thì trí tuệ thênh thang rộng lớn trùm khắp vạn pháp, nên khi chánh giác chư Phật tán thán, tất cả pháp giới mười phương đều nằm trong Như Lai Tạng Tánh, là tự tánh chơn tâm của mỗi con người hằng sáng đầy đủ trí tuệ, cũng là pháp giới tạng thân A Di Đà Phật. Kinh Bát Nhã dạy : Chỉ một niệm chuyên chú nhất tâm có thể nghiền thành vi trần hết thảy đại địa, trong tam thiên đại thiên thế giới nhiều như cát sông Hằng trong cả mười phương, sức lực của nhất niệm không thể nghĩ bàn, niệm Phật được như vậy thì tâm chính là Phật, Phật cũng chính là tâm, chẳng nói trong ngoài không nói trói buộc hay nói giải thoát, khắp cả núi sông đại địa, mười phương hư không chẳng một nơi nào dầu nhỏ bằng hạt cải, lại chẳng phải là chỗ đức vô lượng thọ Phật hiện thân thuyết pháp, cho nên ly cũng chính là phân ly nên nhập ngay vào đại quang minh tạng Như lai. Tổ dạy:

Cho hay trí huệ tảng nền

Ai mà thấu nhập trở nên phép thần

Oai to lực rộng sáng ngần

Phép nào cao cả dám phân phép này

Năng trừ các thứ nạn tai

Rõ ràng chơn thật chẳng sai ngoa lời

Bờ bến trí huệ rộng khơi

Buông ra muôn trượng gom thời một câu

Độ đi độ khắp đâu đâu

Độ cho giác ngộ chóng mau viên thành.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

 Cư  Sĩ Phật tử Như  Thánh

Thành Kính Cúng Dường