Phẩm 22

Quyết Chứng Quả Tối Cực

 

Quả tối cực là quả chứng ngộ bản tâm, rốt ráo, cùng cực, tối cao vô thượng, quả giác chỉ vào bậc chuyên tu tâm, cương quyết bất thối chuyển, nhất định giữ gìn từng niệm khởi sáng, trưa, chiều, tối, dù tứ thời hay lục thời chỉ là thời gian, lòng kiên định giờ phút nào cũng công phu, không xao lãng, đó là cơ hội để chứng quả tối cực, tu bằng pháp tụng kinh, trì chú, lạy Phật, niệm Phật, ngồi thiền đều là những thời khóa công phu xuyên suốt trong đời sống, không dãi đãi, không để tâm bàn nói chuyện thế gian phải quấy, hơn thua, lời lỗ, bàn chuyện gia đình tôi, gia đình chị, chuyện thăng trầm ngoài xã hội. Phật nói tất cả những điều này là phan duyên, đã niệm theo vọng tưởng điên đảo, nếu giác biết nhận ra các pháp chỉ là duyên trần tạm gá, quyết tâm xả bỏ, lòng không mong động duyên theo pháp trần, một lòng nhớ pháp Phật áp dụng vào hành động sống bằng chánh niệm là biết tu sửa, dùng pháp lìa vọng xả sạch huyễn trần cho lòng trong sạch bỏ tà tánh thì chơn tánh sẽ hiển lộ là chứng cực quả, ta cần biết cực quả là gì? Là quả giác từ đức độ thật tu thật chứng của con người, gọi là Phật (là giác). Ngày nay nếu ta quyết tu vẫn chứng cực quả hay giác ngộ. Phật là con người như bao con người ở thế gian, nhưng Ngài là bậc đã giác chứng ngộ rõ các pháp, ta cũng là con người nếu quyết tu đúng phương pháp trao dồi đức hạnh giống như đức Phật thì ta là Phật sẽ thành, Phật là người có tâm thanh tịnh, có tánh giác, ta cũng là có sẵn tâm thanh tịnh, có tánh giác nhưng gọi ta là chúng sanh chỉ vì lòng còn niệm tưởng mê lầm nên rơi vào duyên nghiệp huyễn mộng đã nhiều đời nhiều kiếp mãi luân hồi đọa vào những giấc mơ trần tục.

Giấc mơ nhiều kiếp li bì,

Càng quanh lộn mãi, càng si mê hoài

Mãi lo xây đắp mộng đài

Ở nơi huyễn cảnh dặt dài thời gian.

Lúc còn sanh tiền cần chú ý nhơ rằng, khi mãn duyên trần rời bỏ xác thân cần phải biết nếu hiện tại đã có nhân lành do tâm tạo tác là duyên nghiệp, thì nghiệp đó là nhân, sẽ dẫn ta về đâu? Nếu không giác mãi tạo nhân ác thì khi bỏ xác thân sẽ hiện rõ nghiệp tướng, chính nhân là nghiệp duyên tâm đã tự tạo dựng ngay sáu căn, mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý, nếu không thường sống bằng pháp tu, không biết nương ba ngôi tam bảo Phật, Pháp, Tăng, không kinh kệ, không niệm Phật, không thiền định, không trì chú, không bảo hộ bản tâm thì đến giờ phút tan rã xác thân tâm sẽ hoảng loạn, sợ sệt, khổ sở la hét vì hoang mang, không biết sẽ đi đâu, về đâu cõi lòng mê loạn chắc chắn não loạn đảo điên đang hiện tướng vào ba đường ác. Nếu thường công phu thiền định, niệm Phật, trì chú thì đó là những pháp bảo rót sẵn đường cho ta sáng suốt nhập vào bản giác là giải thoát những tà vọng còn cư trú nơi cõi lòng chuyển thành cõi hạnh phúc an vui. Thực tại cần tạo phước báu ngay đời sống, tu tập dọn dẹp bản tâm trau dồi hạnh đức là tạo sẵn con đường chơn chánh, quyết sống bằng trí tuệ. Ta quy y cũng là quy hướng tìm đường về cõi tâm an lạc thanh thoát, cho lòng nhẹ nhàng tùy vào sức tu mà chứng quả, chứng ngộ thấy được tâm không bằng phương pháp khắc phục bản tâm, phải bỏ dần những tâm niệm xấu ác, cho đến khi thấy lòng không còn vướng bận vào pháp thế gian mới chứng quả bồ đề tối cực.

Phật trả lời cùng đại chúng trong kinh niệm Phật Ba-la-mật rằng: “Khi con người thác sanh, nếu ai tưởng ít tình nhiều thì đọa địa ngục, nếu tưởng và tình bằng nhau là sanh vào cõi người, nếu tưởng nhiều mà tình ít, sanh cõi trời”. Vậy thế nào tưởng tình? Tình là những cảm thọ vui mừng, buồn giận, thương ghét, ái yêu, thích ưa ham muốn, chán chê nếu ai nặng phần này nhiều thì càng sa đọa nhiều. Tưởng là tư tưởng qua hiểu biết suy nghĩ sáng suốt nên ta càng nhìn lại tình và tưởng ngay đời sống như thế nào để thông suốt giáo lý nhà Phật. Thời Đức Phật độ được năm anh em A Nhã Kiều Trần Như, trong đó có một vị tên A-Kiết-Thị tức Tỳ kheo Mã Thắng đi khất thực gặp Ngài Xá Lợi Phất, Ngài Xá Lợi Phất thấy tướng mạo thầy Mã Thắng trang nghiêm rực rỡ quang minh nên khởi tâm kính tin muốn đến tham vấn để tìm hiểu giáo lý, khai thông trí tuệ, Tỳ kheo Mã Thắng tùng nhân duyên đó bày tỏ chơn lý mà Ngài đã học từ đức Phật, Ngài nói bài kệ như sau:

Chư pháp tùng duyên sanh

Diệt phục tùng duyên diệt

Ngã Phật đại Sa môn

Thường tác như thị thuyết.

Nghĩa là các pháp theo duyên sanh, thành tựu pháp do duyên hợp. Trạng thái mát mẻ được thọ nhận do duyên hợp của gió, của quạt, của điện, có duyên từ tâm con người chế tạo, hợp duyên cùng nhiên liệu vật dụng v.v… Rất nhiều duyên hợp mới sanh có pháp, có tiếng động phát ra âm thanh, tiếng nói, tiếng sấm sét, tiếng chuông, tiếng la hét tất cả âm thanh nghe được vì duyên theo sáu căn, tùng duyên sanh tác động vào lỗ tai, tiếp xúc tùng hoàn cảnh thấy, nghe, đụng chạm do nhiều duyên hợp cùng kiến đại, nhờ kiến đại ta mới nghe phân biệt được tiếng chuông, tiếng động và nghe thấy các tiếng khác, kiến đại giúp ta phân biệt được mọi vật, biết người, biết những gì có hình tướng, nhờ thức đại ta biết được đẹp xấu, vui buồn, màu sắc, lớn nhỏ... là do thức phân biệt, mọi nghe thấy tràn ngập thế gian rất nhiều nên Phật gọi bằng danh từ đại là rất lớn con người cần biết rõ thất đại tùng duyên sanh, cùng phối hợp nhau gồm đất nước gió lửa không kiến và thức đại, bảy đại từ không tùng duyên hợp mà sanh có pháp, có thân gọi là ngủ uẩn là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức đều là duyên tạm gá hợp tan, nên kinh dạy:

Không là Sắc đó, Sắc là Không đây

Sắc cùng Không chẳng khác sai

Không cùng Sắc cũng sánh tài như nhau

Thọ Tưởng Hành Thức uẩn nào

Cũng như Sắc uẩn một màu không không.

Nếu sáng suốt biết thân người do thất đại hợp thành thì sau khi mãn duyên trần, ta không còn niệm nhớ trụ vào buồn giận, thương, ghét, đau khổ, luyến ái, khi mãn duyên lòng không còn nhớ con, không nhớ nhà cửa, tiền bạc, tài sản, vật chất vì biết tất cả đều là vọng trần là lòng còn nặng tình ở thế gian, phải đủ lực buông xả cho cõi lòng trong sạch mới khỏi rơi đọa vào địa ngục. Nếu tư tưởng là quang minh luôn sáng suốt minh tường các pháp, thì mạn mạch từ nghiệp thức mới minh bạch, đó là hào quang đức độ của con người có danh từ gọi là Bồ tát quang minh tại lòng ta đã hóa hiện, giáo hóa dẫn nghiệp thức thông hiểu giáo lý xa lìa mọi tà kiến, tránh rơi vào ba đường ác nên kinh nói:

Các vị Bồ tát nương tùng tuệ năng

Tâm không còn chút ngại ngăn

Cũng không còn chút băn khoăn sợ gì

Đảo điên mộng tưởng xa lìa

Niết bàn mới đến bên kia bến bờ . . .

Nước sẽ tràn ngập thế gian hay bất cứ nơi nào khi đủ duyên, như có mưa lũ bảo tố sông suối ao hồ, biển cả tất cả đều là duyên tạo mà sanh có hoàn cảnh, khi duyên mãn trở lại trạng thái bình thường là tùng duyên diệt, pháp đã diệt trở về với hư không, con người vạn vật cây cỏ đều cần đầy đủ nước vì nước là duyên cho sự sống, tất cả đều sẵn sàng nơi tánh không nên từ không có khả năng sanh ra tất cả. Khi có tiếng nói nhờ duyên của gió từ hư không phát ra âm thanh tùng duyên của ý niệm sanh tâm, sanh hành động, nếu ngưng âm thanh không còn nghe thấy nữa là tùng duyên do ý thức dừng mà tâm diệt, âm thanh diệt. Khắp thế gian nơi nào cũng có đất, cát bụi khi đủ duyên hợp sẽ có đá, núi, đồi ... là các pháp vô tình.

Kinh nói:

Hữu tình nhơn vật các loài

Vô tình bụi đất đá cây bao đồng,

Thảy đều đắc quả thành công.

Cả nên Phật đạo hiện trong kiếp này.

Ta thường đau khổ vì lầm lạc chấp thức, cho thức biến hóa là thật, chấp nhà thật của ta, chồng vợ con cái tiền của tài sản đồ vật, vui buồn, thương ghét, chán ưa, yêu thích, muốn ham mà sanh tâm luyến ái, nhận tâm thức luân hồi là ta, thức thường phân biệt do  duyên kết hợp từ 7 đại biến hóa sanh diệt luân chuyển nên Phật nói các pháp đều do duyên sanh, lửa cũng từ không tràn ngập thế gian, cũng hợp duyên từ đá mồi kết hợp với diêm quẹt hay sức nóng từ mặt trời chạm vật khi đầy đủ duyên hợp sẽ có hiện tượng cháy, trong đá cũng có lửa, khi 2 viên đá chạm mạnh vào nhau được kết hợp duyên sẽ phát ra có lửa cháy, khi duyên đến có hoàn cảnh bất như ý lòng người sẽ phát sinh bừng sân hận tức tối thì lửa sân, lửa phiền não sẽ cháy rực thiêu đốt tất cả đạo đức, lòng sẽ bừng cháy vì lửa sân do ý niệm chấp vào có, không phải, quấy, được, thua... nên Tổ dạy:

Sự duyên thì đạo khác đời

Lý chơn thì đạo khác đời không xa

Chấp không chấp có rầy rà

Đến khi vô chấp mới hòa thuận nhau

Sao sao thôi cũng là sao

Sự chi cũng vậy thế nào cũng không

Tâm không vạn sự đều không

Tâm chơn vạn pháp thảy đồng quy chơn

Họ đòi theo bậc Thánh nhơn

Phải trừ tâm vọng mới hườn bổn nguyên.

Mọi vật, mọi hoàn cảnh và tâm niệm sân si sẽ tắt sau khi lửa bên ngoài hay lửa lòng đã tắt, sau khi thiêu hoại tất cả lửa và sự nóng nảy đều trở về không, lửa sân hận cũng là không nhưng gặp duyên sẽ có. Đất nước gió lửa cũng vậy, các pháp sanh đều do duyên hợp, thấy nghe cũng từ kiến thức mà có tâm phân biệt, đều từ 7 đại mà có hằng sa số pháp, chơn lý không của riêng ai cả vì thất đại cũng tùng duyên mà sanh sắc pháp, các pháp tùng duyên sanh cũng tùng duyên diệt nên chợt có chợt không, biến chuyển theo nhân duyên, vạn pháp vô thường như huyễn không pháp nào chắc thật, không là ai hay của riêng ai ca, theo duyên sanh sẽ theo duyên diệt, kinh nói:

Pháp lành khởi vốn xưa là huyễn

Nghiệp dữ gây cũng huyễn mà ra

Mình bọt đậu gió lồng qua     

Không căn không thật pháp là huyễn thôi.

Tất cả pháp là hữu hình hay vô hình đều là mộng không thật, có thân hay mất thân đều do duyên, đã giác ngộ nhân duyên lòng ta không còn hoảng sợ khi mãn duyên trần, trí tuệ minh mẫn sáng suốt, lòng tỉnh lặng nhìn các pháp biến chuyển, không vướng vào mến tiếc, kinh hoảng, não loạn, không còn sợ mất mác gì cả nên không có tâm đau khổ sân si, tham đắm, bằng lòng, sẵn sàng cùng các duyên nên kinh bát nhã dạy:

Hết già hết chết giả không có gì

Đảo điên mộng tưởng xa lìa

Niết bàn mới đến bên kia bến bờ.

Không còn sợ sanh già bệnh chết mà biết các pháp đi hay đến do duyên hợp hay duyên tan.

Chứng quả tối cực nhờ nương pháp Niệm Phật, Trì giới, Thiền định, Tụng kinh, Trì chú, Cúng dường, Bố thí làm phước cầu quyết lòng tu mới chứng ngộ, sống bằng hành động có việc làm thể hiện trong tánh đức từ bi giác ngộ các pháp, thì tất cả đều là pháp Phật tối thượng cả, pháp không phân biệt lớn nhỏ, chỉ vì trí tuệ con người rộng lớn hay nhỏ hẹp mà có cao thấp, pháp tu thiền định đem lợi lạc cho người tu chứng ngộ bản tâm là tối thượng. Pháp niệm Phật giúp người tu được nhất tâm, lòng không còn điên đảo là pháp tối thượng, pháp trì chú tâm được chuyên nhất, bất loạn là tối thượng, pháp tụng kinh thâm nhập kinh tụng khai thông trí tuệ cũng là tối thượng, vì tất cả pháp được lợi ích làm tỏ ngộ nguồn tâm, thấy được Phật tánh đều là tối thượng, chỉ tại người tu mãi đeo níu niệm nghiệp thế gian, vì nặng hoằng tham luyến dãi đãi bởi tu không quyết tâm, không thật tu miên mật, không giữ vững an  định cõi lòng nên không chứng ngộ rốt ráo không thông suốt được bản tâm, không minh tâm kiến tánh, vì đạo chơn chỉ truyền đạt cho người thật tu mới được phước báu sử dụng quang minh. Vậy quang minh là gì? Phật nói: “Ta dùng bất tư nghì lìa bỏ các lậu hoặc mới chứng được các quang minh”. Tư nghì là suy nghĩ, tính toán, bất tư nghì là dừng mọi suy nghĩ tính toán, chỉ có thật tướng niệm Phật mới dừng được mọi vọng tưởng tính toán dính mắc bàn tán pháp thế gian, là ngưng dứt nghiệp ác sẽ sanh trưởng nghiệp lành, kinh dạy:

Sống mà giữ giới chẳng lầm

Thì bề yên tịnh mười phần chẳng sao

Chẳng ganh chẳng ghét người nào

Chẳng hay phá hại đau sầu chúng sanh

Chẳng còn mong mõi ham tranh

Chẳng còn luyến ái quẩn quanh theo mình

Phải cần khéo tập khéo gìn

Thì phần phước trọn mặc tình thảnh thơi.

Niệm phật thì không còn tâm hờn giận ghét ghen, buồn phiền thì hiện tại đang gieo nghiệp lành, đất tâm đã trồng giống thiện thanh tịnh vào ruộng phước điền, không còn niệm nghĩ nhớ điều xấu, quấy ác. Khi tâm có sân si nổi dậy sẽ hiện lên tướng trạng ngay gương mặt ta, mắt trợn tròng, chân mày xếch, mặt đỏ gay, miệng la hét, mặt hung tợn là tâm đã duyên vào niệm xấu, quấy ác, tu là lìa bỏ các niệm này vì tâm tùng tướng hiện, thí xả hết các niệm ác, để trên gương mặt lúc nào cũng nở hoa trí huệ xinh tươi, không còn hiện hoa tang tóc hằn lên gương mặt xấu xa, làm cho mọi người nhìn thấy phải khổ sầu, sợ sệt muốn lánh xa nên Phật dạy tu là xa lìa nghiệp xấu, xa lìa mọi mê hoặc. Mê là không tin nhân quả, không tin tam bảo, chỉ tin những điều sai lầm. Mê ngủ dục sắc, tài, danh, thực, thùy. Hoặc là những điều huyễn hoặc không thật ở thế gian gọi là vọng tưởng. Ta đừng đem những pháp huyễn hoặc mơ hồ mà truyền đạt cùng nhau hay quảng bá truyên truyền khi chưa chứng ngộ bản tâm sẽ làm hại ta, mà còn đem tai hại đến cho mọi người bằng tâm bảo thủ, hại Phật pháp suy đồi cả ta và mọi người đều tan nát tín tâm, làm trí Phật lung lạc, đảo điên phá chánh tri kiến gọi là mê hoặc chúng sanh. Kinh nói người giác ngộ thì “quang minh vân đài biến pháp giới” là vầng mây to sáng rực rở trùm phủ quang minh. Không chỉ Phật và Bồ tát có quang minh mà tất cả mọi người đều sẵn có, chỉ vì không biết thực hiện sử dụng nên bị vô minh là mây đen che mất quang minh, đã che khuất mây lành. Tự tánh là ruộng phước lành mà ai cũng có, chỉ vì không biết gieo vào ruộng phước giống lành, giống thiện nên đất tâm không có cây lành. Nếu cõi lòng gieo được quả lành sẽ sáng rực quang minh vì đã tích lũy được vô lượng công sức, lòng được tích lũy bằng tâm nguyện chánh trực của người tu phát ra vô lượng công hạnh. Hạnh là hành động phát ra từ 6 cửa, sáng suốt là Phật nhãn biết dùng mắt trí tuệ nhìn các pháp bằng đạo hạnh thì phước đức vô lượng, không nhìn pháp mắt mù quán là nhục nhãn, cần sáng suốt biết đây là chánh pháp, đây là phi pháp, pháp nào cần nuôi dưỡng  giúp cho người tu tinh tấn, pháp nào cần thí xả, buông bỏ để không làm tâm sa đọa. Tu bằng mắt tuệ trong sáng đó là Phật nhãn. Thấy biết tất cả pháp thấy bằng pháp nhãn, vẫn thấy rõ đồ vật chung quanh mà không mê đắm sa đọa vì nghiệp thức dẫn mỗi người đều có sẵn quang minh, muốn sống được quang minh cần phải chọn lựa pháp mà sử dụng ngay đời sống hiện tại, cần quán tâm bằng trí sáng suốt mà dò xét, nên kinh dạy:

Sờ thiên lý nắm huyền cơ

Sờ chừng tâm trí xem hờ kẻo quên

Ý đừng vọng tưởng rối ren,

Thường nên quán xét nhân duyên tao phùng.

Tâm trong sạch định tỉnh là an trụ trong Phật đạo, dù bên ngoài có muôn vạn thần thông biến hóa hay có vạn sự thay đổi, bậc giác cũng không sanh tâm bất an, chỉ nhớ đến bổn tâm vô nhất vật không vật gì bên ngoài lung lay chuyển động bổn tánh chơn như. Nếu hiện tu pháp niệm Phật mà còn nghe lời bày vẽ bên ngoài, theo sự linh thiêng ham muốn cho là hay hơn pháp đang tu mà khởi tâm thích muốn duyên theo là không an trụ trong Phật đạo, không an trụ được với Phật tánh sẽ mất cơ hội được tiếp nhận được quang minh, tâm còn lăng xăng não loạn chạy theo trần cảnh, theo âm thanh sắc tướng là lạc vào rừng mê. Phật đạo chính là tự tánh thanh tịnh, trí huệ minh bạch, bản tánh sáng suốt của mỗi người vốn thật là Chơn không mà Diệu hữu.

Tánh giác thường sẵn sàng là không, nếu khắp nơi đều dày đặc thì không thể dung chứa ta được, cái không luôn sẵn sàng, tâm không cũng vậy, chẳng vướng bận. Nếu ta cứ mãi chất chồng vào bản tâm bằng những niệm hận oán thù hằn, thương ghét, phiền não thì sẽ đây kẹt nơi lòng những tâm vọng là pháp nhiễm ô khiến cho bản tâm chật hẹp rất là khổ sở. Khi chưa vào thai mẹ có dòng máu của cha, vậy ta ở đâu? Tổ dạy:

Thân thọ từ nơi không tướng, như giấc mơ do tượng hình ra. Tất cả pháp khi chưa có tướng hình đều là không, vì có niệm sanh khởi cảm thọ nhận dòng máu của cha, dòng sữa mẹ tiếp nhận sự nuôi nấng, xúc cảm mến thương đùm bọc thiết tha trìu mến bằng hành động bên ngoài thân xác do Ngũ uẩn hợp thành đó chỉ là ấm thân là duyên trần tạm huyễn gá hợp thọ thương, thọ khổ, thọ lạc, thọ ghét, thọ giận khổ, muốn ưa khổ, tất cả tạm gọi là ấm thân. Tu là lòng quyết xa lìa ấm thân, nếu người thương ta và ta thương họ thì lúc xa lìa sẽ vướng bận vì luyến ái rất khổ đau nên thương là khổ, ghét nhau lại càng khổ nhiều hơn, những trạng thái này tạm nói là ấm, sắc thân gọi là ngũ ấm, thân do các pháp huyễn nhóm hợp sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm. Người tu cần biết rõ bằng tuệ giác, xác định rõ rằng năm uẩn chỉ là duyên tạm nhóm hợp từ thất đại mà có sắc thân, các duyên trần nhóm hợp không tồn tại, nếu ngộ lý vô thường của các pháp chỉ là vọng trần thì lòng chẳng đắm lụy đa vào duyên nghiệp, có thân chỉ là những nghiệp thức biến đổi luân hồi. Tu là tập lìa Ngũ uẩn, không chấp lầm có thật thân sẽ thấy ta là cái không vô ngại thì tự giải thoát tự giác, không vô ngại là vui lòng chấp nhận sự đổi thay các pháp. Nếu chấp thật có ấm thân sẽ còn chướng ngại vì sợ mất thân, vô ngại thì tự tại, lòng tự tại thì ăn sao cũng được, được người thương cũng vui, có người ghét lòng vẫn vui, hoàn cảnh nào đến cũng tốt. Sống được những đức tính này là tâm tự nhiên ở trong pháp giới trong sạch, hành động bằng đạo đức giới luật trang nghiêm không bận rộn vào các ấm, bản tâm sáng suốt ra khỏi ngũ ấm đã chứng ngộ giác biết được cái không, chẳng mê muội vì phiền não vô minh, không còn các ấm che lấp quang minh làm mờ trí tuệ. Trở lại cái không xưa kia khi chưa vào thai mẹ, ta là cái không vô ngại đại bi. Cần quán tự tại Bồ tát là tự nhìn lại cõi lòng thấy tâm vô quái ngại, đã viễn ly mọi vọng tưởng điên đảo thì bản tánh chơn như vắng lặng các pháp thế gian không còn vướng trụ là cứu cánh Niết Bàn, ba đời chư Phật đều chứng ngộ y như vậy, muốn tu pháp này cần định tâm là thiền, thiền là tâm. Niệm Phật tụng kinh thật nhiều lòng thật chơn chánh cho trí tuệ khai thông mới quên được các ấm này, sẽ nhập vào thế giới vô ngại đại bi tâm đà la ni, là trí tuệ cao thượng của bậc thượng thủ, là người sáng suốt đã hết lòng sống cùng với pháp tu. Tại vì sao? Kinh dạy tất cả đệ tử Phật phải hướng về tánh giác, đức Phật Thích Ca ngày xưa cũng hướng về tánh giác là hướng về tánh Phật để tu sửa bản tánh. Vì hoài bảo này Ngài sẵn sàng bỏ ngai vàng, bỏ địa vị, uy quyền, giàu sang bỏ công chúa Da Du Đà La, bỏ vua Tịnh Phạn bỏ, con là La Hầu La, Ngài bỏ tất cả, lòng không vướng bận chỉ vì đại sự nhân duyên để hướng về tánh giác là hướng về Phật tánh mà vào rừng tu khổ hạnh gọi là rừng khổ hạnh lâm, quyết hướng về tánh Phật mà tu đến khi gần bỏ thân mạng chỉ miệt mài lo tích lũy công đức.

Kinh dạy thành quả là do

Nhân lành nhiều kiếp góp phần tạo nên

Công trình quá khứ nào quên

Đường trần ngàn lối bước lên nẻo lành

Xuất thân khổ hạnh tu hành

Lập nên giáo lý tự mình tìm ra ...

Kiên quyết rời xa tất cả cuộc đời chỉ một lòng muốn tìm Phật. Ngày xưa Tổ Huệ Khả cũng một lòng hướng về Phật, Ngài đến cầu đạo với Tổ Đạt Ma. Tổ nói : “Nếu ông muốn cầu Phật thì khi nào tuyết rơi nơi đây biến thành màu đỏ, phải đoạn tả bàn thì mới thấy được đạo”. Ngài Huệ Khả vì quyết tìm Phật nên chặt đứt một cánh tay, máu đỏ nhuộm lên tuyết đó là chí lớn quyết tìm Phật nên Tổ Đạt Ma liền trao pháp Phật cho Ngài Huệ Khả. Ý nghĩa đoạn tả bàn của Tổ nói là: khuyên người cầu đạo phải đoạn lìa là chặt đứt “tả đạo bàn môn”, không còn tư tưởng nghĩ nhớ tà pháp tà vọng bên ngoài, không tu  theo ngoại đạo. Ngày nay ta là đệ tử Phật cũng phải y như Phật Tổ ngày xưa, cần hết lòng hướng về tánh giác (Phật), mới chứng quả Phật. Ta đừng tu bằng cách miệng niệm Phật mà tâm hướng về danh lợi. Muốn hạnh phúc giàu có xin được tiền của, xin phước báu ngoài thế gian sẽ không thấy Phật bao giờ, vì Phật là bản giác chơn không chẳng ham muốn không có tâm gì cả. Kinh nói:

Thân không thật ấy là thân Phật

Tâm bông lông biết Phật bông lông

Thân tâm tánh ấy vốn không,

Người ta với Phật cũng đồng như nhau.

Người thật tu giữ gìn ý không sanh khởi niệm vào ác pháp gọi là vô ác tác, thường sống bằng tuệ giác cho quen dần, tập sống bằng quang minh, quyết lìa bỏ những ác pháp. Nếu bỏ một điều ác thì tâm tích lũy một điều lành, bỏ một niệm quấy thì tâm sẽ được một niệm chơn chánh, bỏ tất cả điều ác thì cõi xuất hiện vô lượng quang minh nên Phật là đại giác đại quang minh, hào quang sáng suốt không thể đo lường. Nhờ tu tập tích lũy vô lượng công đức, đã lìa bỏ ra khỏi lòng những tánh xấu xa quấy ác, bỏ nói thêm bớt, bỏ khen chê, bỏ hết những niệm thấp hèn bằng tâm kiên cố quyết thí xả cho cõi lòng trong sạch là cõi Thường Tịnh Quang Tịnh Độ. Nếu cõi lòng là vô minh vừa sanh khởi một niệm vào thế gian thì niệm khởi đó sẽ phá mất quang minh, lập tức tâm thức đã duyên theo bên ngoài làm phan duyên theo ngoại cảnh là đạo, ngoài đã mất đạo chơn nên tu cần nghiêm mật niệm Phật, đừng niệm việc bên ngoài để tự gìn giữ quang minh thường tịch mà chiếu rọi thấy rõ vạn pháp.

Người tu chuyên giữ giới là giữ gìn chặt chẽ nơi lòng luôn nhớ lời Phật dạy giữ cho tâm an định, giữ giới là giữ sự tiếp xúc ngay lục căn không hệ lụy vướng nhiễm lục trần thì trí huệ mới phát sanh.

“Lại này A-Nan”. Đức Phật dùng danh từ A-Nan mượn hình ảnh Ngài là bậc thượng thủ biện tài đa văn đệ nhất. Phật dùng danh từ A Nan đầu kinh vì Phật muốn dẫn quang minh tại tâm ta ứng hóa hiện nhập vào kinh mghiệm của Ngài. Danh từ A Nan chỉ vào tâm diệu hỷ, yên vui an lạc, chỉ thế giới là quốc độ cõi tâm nơi mỗi con người điều có sẵn sự an lạc. Nếu đọc tụng kinh hay nghe thuyết pháp mà thân trí thông suốt thì cõi lòng rất hoan hỷ, giống như lòng Phật, thật vi diệu, đức từ bi quảng đại. “Trong cõi Phật đó thảy đều không ánh lửa, bóng tối, mặt trời, mặt trăng, tinh tú chiếu diệu, hiện tượng ngày đêm”. Kinh nói : cảnh tối tăm là chỉ bóng đêm u tối. Hiện tượng của ban đêm chỉ đến cõi lòng vô minh, chợt tỉnh, chợt mê của con người. Nên cõi Cực lạc là Thường Tịch Quang, không nói sáng hay tối hoặc phân biệt ngày hay đêm. Đêm tối nói vào tâm niệm độc ác, xấu xa. Nếu muốn vào cõi quang minh phải có tấm lòng hoan hỷ không còn độc địa, bẩn nhơ, quấy ác. Thế giới cực lạc đầy đủ quang minh nên không còn đèn đuốc, mặt trời, mặt trăng. Nếu thường sống bằng tánh minh là cõi lòng minh diệu, tại lòng sẽ thấy tam thiên đại thiên thế giới hết thảy đều biết rõ. Ta biết khi lòng đang có phiền não, sân si hay hiện đang an lạc, sẽ nhận thấy rất rõ mà không cần đèn đuốc. Nên Phật dạy vạn pháp tự tâm sanh, mười phương cõi nước đều ở tại tâm ta, phải thường xử dụng trí tuệ soi rọi vào tâm bằng quang minh giác ngộ mà không cần đèn đuốc, mặt trời mặt trăng, ngôi sao, ánh lửa hay ánh sáng ngày đêm, nhờ hào quang tánh giác chiếu rọi mà mọi bóng tối vô minh đều tan biến, dù hoàn cảnh thế giới biến đổi bị thu hẹp tối tăm, mọi vật chìm vào bóng tối, nhưng trí tuệ từ tánh giác vẫn minh minh soi rọi vào vạn pháp không gián đoạn, sáng suốt trong sạch vô cùng mà không ngăn ngại là nhờ quang minh trí tuệ chiếu diệu. Bậc giác ngộ dù ở trong hoàn cảnh tối đen như mực, mà cõi tâm luôn luôn có hào quang thường chiếu vào vạn pháp, lúc nào cũng khởi niệm thiện lành tốt đẹp, đem năng lực từ lòng đại bi đại ái làm lợi ích cho mọi người mà không nhờ ánh sáng nào ngoài thế gian cả. Kinh dạy:

Đạo vàng như ánh triều dương

Thế trần như giữa đêm trường tối tăm

Bao phen sụp đổ sa hầm

Ngày nay tỉnh mỉnh biết tìm nẻo ra

Về đây gặp cửa, gặp nhà

Gặp cha gặp mẹ gặp bà con xưa ...

Cũng không có năm tháng kiếp số” vì sống với tư tưởng ngoại đạo, không biết được lý nhân quả tin bằng tà tín nên bị nô lệ vào thời gian, năm tháng, số kiếp rủi may, vận mệnh hên xui, chấp theo phong tục tập quán cho là có năm xui tháng rủi, khi cất nhà, cưới gả, chôn cất phải lệ thuộc vào năm tháng kiết hung ngày lành hay dữ. Tin những điều này là tư tưởng bên ngoài không tin theo lời Phật dạy. Phật giáo là đạo hòa hợp, sống biết nhân quả, không chia rẽ phân biệt một pháp nào, không khen chê tốt xấu ưa thích hay chán ghét gì. Tất cả những pháp trong đời dù cho là tốt hay xấu, hên hay xui, may hay rủi, đều như huyễn, vô thường không gì bền chắc hay thật cả. Nên người Phật tử sống bằng tâm không thì lòng chẳng bị chướng ngại điều gì làm khổ bản tâm cả. Tất cả các pháp đều giải thoát ra khỏi tâm mới sống cõi lòng vô quái ngại, không còn bị pháp huyễn đảo điên khủng bố vì mộng tưởng chỉ sống với trí giác không chướng ngại ngày giờ năm tháng, kiếp số, chỉ chú trọng vào tâm, nương chơn lý mà tu sửa bản tâm cho lòng sạch trong thánh thiện, đạo đức tròn đủ.

Tất cả pháp tùng duyên mà sanh diệt, có biến hóa là duyên tạm tan hợp mà sanh có pháp hay hư hoại, những tướng trạng diệt sanh do biến hóa tự nhiên, thật sự không có danh từ nào có tên là thật cả, do tâm người tự đặt tên cho các pháp có thân con người, do duyên hợp từ bảy đại. Khi mãn duyên bỏ xác thân nếu còn nặng mang tư tưởng thương chồng vợ, con cái, tài sản, còn luyến  tiếc những gì chung quanh cuộc sống gọi là nặng tình. Nếu thông suốt được những điều này nhờ tư tưởng đã sáng. Tu cần sáng tư tưởng mới nhẹ được tình, kinh dạy:

Tánh chúng sanh thảy thanh tịnh hết

Do không sanh không diệt mà ra

Thân tâm là huyễn thôi mà

Huyễn thì tội phước hóa là thành không.

Tại sao lại có núi, sông, biển, ngôi sao, tinh tú, nhật, nguyệt? Tất cả đều từ hư không có duyên chuyển hóa có tâm mà sanh pháp, từ hư không do duyên hợp mà tự có tất cả. Hư không chẳng bờ bến rộng lớn vô cùng, nên bao nhiêu cũng sanh sanh hóa hóa dung chứa được. Kinh nói: Chơn khôngDiệu Hữu. Từ không có duyên sanh có pháp, Không tức thị Sắc (từ không mà có). Từ Có khi mãn duyên pháp sẽ vô thường hư hoại tan rã trở về Không, nên Sắc tức thị Không. Con người cũng tùng duyên thiện ác mà sanh sắc tướng đẹp xấu, đủ căn hay tật nguyền, khiếm khuyết thiếu thốn, nghèo giàu, sáng suốt trí tuệ hay u đần ám độn. Nếu biết gieo nhân thiện lành đạo đức bằng quang minh giác ngộ mới là chánh tri kiến. Nghiệp duyên thiện ác xoay vòng nơi thức đại, không ai cho ta nhân duyên cả, đừng mơ mộng tìm kiếm bằng ảo giác cầu xin trừu tượng, ảo huyền, huyễn hoặc, không tu bằng cách phan duyên theo thế tục, không chìu theo vọng ý, kinh dạy :

Con người vọng ý gồm hai

Khi buồn khi giận đổi thay khôn lường

Vội vàng khi ghét khi thương

Khi vui vui ngất, khi buồn buồn hiu ...

Tu niệm Phật mục đích chính là quay trở về chơn tâm, giữ chặt niệm Phật. Niệm Thánh hiệu làm giới luật che chắn ngăn ngừa sự xâm nhập của các niệm trần lao, nghe bằng hiểu biết cung kính, tin lời Phật dạy để sám hối tự sửa đổi từng hành động, xây dựng đạo hạnh ngay đời sống, không tu bằng cách miệng thì niệm Phật mà tâm vẫn niệm thế gian, vẫn còn hành động phàm phu tục tử. Một niệm Phật chơn thật là đã xả bỏ bớt một niệm thế gian, biết có pháp sanh đều từ bản thể Như Lai Tạng biến hiện, có duyên khởi nên có tướng hữu tình và vô tình chúng sanh. Vạn vật hóa hiện đều từ bản tánh Như Lai. Bản tánh Như Lai Chơn Không rất thanh tịnh nhưng Diệu Hữu đủ khả năng sanh ra có, nên Như Lai trùm khắp dung chứa cả thế gian. Các pháp từ không sanh ra nên không pháp nào thật cả, vì chúng mê lầm đuổi theo thức biến, vì chấp thật pháp, mãi ôm giữ pháp huyễn mà bỏ bản tánh Như Lai thường hằng hữu. Bảy đại có duyên dung hợp cùng nhau mãi mãi hợp tan mà không tàn rụi. Bảy đại là dụng của cái không, đủ duyên liền hợp, hết duyên sẽ tan, phước giàu nghèo cũng là duyên đến, nếu đủ duyên thì tiền của đến, Phật pháp cũng từ bản tánh Như Lai tùy duyên hóa hiện. Tướng người và vật vốn không, nhưng đủ duyên từ không ta sử dụng được tất cả nhờ duyên hợp. Mắt và lỗ tai bình thường sẵn cái không nhưng lúc có tiếng động hay lời ai nói sẽ nhạy bén tiếp xúc nên có nghe, thấy có vật. Sự thấy biết do kiến và thức đại tiếp xúc mà phân biệt được vật, biết được người. Sáu căn thường ở tánh không mà sẵn sàng để nghe, để thấy ngửi nếm xúc chạm. Ý ở tánh không mà sẵn sàng sanh khởi, nhưng khi hết nghe thấy biết tất cả đều trở về không. Tánh không vốn là thể của dụng, giúp ta sử dụng. Nhờ mắt là nhãn căn dụng cụ để tiếp vật, biết được vật nhờ có kiến và thức giúp ta phân biệt đó vật gì, có duyên thì thấy nghe hết duyên thì không còn nghe thấy vì bản thể của tất cả pháp vốn là không, qua cảm thọ xúc chạm hết nóng rồi mát, rồi lạnh đều là thọ, ý niệm thường thay đổi vì bản thể nó vốn là không. Lúc cha mẹ mới sanh ta chẳng biết gì cả, vì bản thể của sắc pháp vốn là không, do tiếp vào pháp đời mà thọ nhận. Sự huân tập từ cha mẹ, người thân dạy ăn, dạy nói, dạy theo mọi hoàn cảnh, có tội phước theo thói quen cõi đời gọi là tập đế, tu để sáng suốt biết duyên khởi là nhân lành hay ác mà sử dụng, bảy đại trùm khắp hư không đời đời kiếp kiếp không mất là duyên luân hồi mà biến hiện. Sáng suốt ít mà ham muốn nhiều sẽ đọa địa ngục. Tình cảm ít sáng suốt đầy đủ tâm không thù ghét, lòng cảm thông bình đẳng như nhau thì đất tâm chính thật là bản giác là Phật là Cực lạc Niết bàn. Bản tâm đã viễn ly xa lìa mọi phiền não, không còn ham muốn đòi hỏi, chỉ sống bằng trí tuệ minh mẫn từ bi hỷ xả, nếu thực hành đúng theo lời Phật dạy thì tánh đức đạo hạnh sẽ viên mãn. Tánh giác không phải là không ngơ hay không có gì hết, mà giác là biết thật rõ, liễu thông các pháp, vẫn thấy nghe biết hết mọi Có Không mà lòng chẳng vướng trụ, đọa vào pháp không hay pháp có, duyên khởi mê lầm là đọa lạc, duyên khởi giác ngộ là Phật, là Bồ tát, là Thánh, là Hiền nhơn. Kiết số ngay đời sống hiện tiền, không đợi đến đời sau hay kiếp sau mới tu, dù mang hình tướng nào vẫn có Phật tánh quang minh trí tuệ, không hề thiếu sáng suốt. Sở dĩ có tướng nam nữ đẹp xấu, giàu nghèo đều do nghiệp chướng nhân quả mà thọ nhận tướng hình, nhưng Phật tánh vẫn bình đẳng. Phật tánh thì giống nhau nhưng nghiệp báo khác nhau, mang tướng trạng vô thường thọ nhận tướng nghiệp đều do nhân quả, không tướng nào còn mãi mà Phật tánh thì vĩnh viễn thường còn. “Lại không có sự tham đắm nhà cửa”, tánh Phật vốn không vô nhất vật, không dính trụ nhà cửa, không chấp tướng nhà cửa vật chất các pháp thế gian cho  là của tôi. Phật tánh như hư không ưng vô sở trụ, không trụ đâu cả. Nếu hư không thì không sợ gì cả, nói biết buông xả giải thoát là ngầm chỉ tự tánh chơn không rất tự tại, vật chất tài sản có được do tâm ham muốn tính toán hơn thua mà có. Phật chỉ là bản giác không tính toán nên không đắm lụy thế gian. Nói là Phật ý muốn chỉ vào tánh giác. Nói đức Phật là chỉ trí tuệ đức tánh giác ngộ đã buông xả các pháp, Ngài đã đem cho bố thí vạn pháp cho cuộc đời, người chí lớn quyết tu chỉ hướng về đức độ trí tuệ là bổn giác gốc có sẳn từ vô thỉ đến nay, ta không có chỗ nào để đến hay đi đâu cả, chỉ theo nghiệp thức hay điên đảo chịu luân hồi, nếu hướng tâm niệm vào mê đắm thế gian sẽ về với chúng sanh. Chúng sanh là những tâm niệm tham, sân, si, cõi của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Giữ năm giới là cõi nhơn vẫn làm người, tiếp tục chịu khổ theo đời. Tu thập thiện là cõi trời nếu hết phước vẫn luân hồi vào ác nghiệp thọ nhận quả khổ. Sống được pháp Phật là quay về với tánh giác là về với cõi Phật, tâm nguyện hành đạo Bồ tát giữ gìn pháp lục độ thì về thế giới Bồ tát tâm niệm hướng vào pháp giới nào thì cõi lòng sẽ là thế giới đó, không có chỗ nào để đến, để đi nên nói là Như Lai. Bất khứ bất lai “Không có hình thức, không có danh hiệu” hình thức như nhà cửa sang trọng, cảnh vật xinh đẹp chỉ là hình thức được tô điểm ở cuộc đời, mượn danh gọi là nhà lầu, biệt thự sang trọng hay nhà lá, chòi tranh thô sơ đều là những pháp tướng, có tên do tâm người, tâm đặt để gọi. Khi chưa có các pháp tướng này tất cả đều ở tận hư không, do duyên hợp nên có tướng có cảnh có tên gọi để phân biệt cho từng pháp. Tất cả dù đẹp xấu sẽ tan hoại theo thời gian không ở yên một trạng thái nào nên gọi là vô thường, không thật, không bền. Cõi trời cũng không thật, có tên gọi chỉ là danh đặt cho tâm người giữ giới tu thập thiện. Địa ngục cũng không thật, có tên cõi này là chỉ người sống bằng tâm địa độc ác mê si, chỉ vào tư tưởng điên đảo, não loạn, đau khổ tại lòng người đang thọ nghiệp. Có tướng hình có danh gọi chỉ là hình thức, danh hiệu xưng hô đặt tên cho các pháp hay pháp giới để diễn nói, không gì ngoài tâm mà có, Địa ngục do tâm sanh, Niết bàn do tâm tạo tác, nếu không thông suốt được những điều này sẽ sống bằng tư tưởng hoang man, mộng tưởng, tin quàng xiêng, mơ hồ qua ảo giác. Nếu hiện tại đang sử dụng niệm độc ác tham lam thì tại cõi lòng đang là địa ngục do tâm niệm sanh ra. Phật nói có tướng địa ngục để huấn cải xây dựng lại những tâm độc ác sẽ là khổ nghiệp do tâm tạo tác, khai thị cho chúng sanh tự giác mà tu sửa tâm cực khổ trở thành tâm cực lạc. Nếu mắt tai mũi lưỡi thân ý còn bận rộn vào độc ác thì lòng ta hiện có địa ngục, lục căn không nhiễm thì tâm không tịch lặng, chắc chắn không bao giờ cõi tâm có địa ngục. Tất cả pháp giới đều do nhân duyên kết cấu mà có tên đặt. Con người vừa sinh ra cũng không có tên, chỉ là sắc pháp do duyên hợp, chơn không chẳng mang danh từ nào của cõi thế gian, có tên gọi là do tâm cha mẹ đặt, mọi vật có tên cũng do tâm đặt, không có địa ngục nào sẳn để chờ đợi ta, không có Niết bàn hay cực lạc chờ ta đến cả, tất cả đều do niệm mê hay giác mà sanh có thế giới được đặt tên là cực lạc hay địa ngục. Ta đừng tu bằng cách mơ cực lạc bằng tưởng tượng, ngẩn ngơ, mơ hồ vào tận đâu đâu, hay sợ địa ngục thẳm sâu trong lòng đất, ở một nơi nào đó chờ ta đến để xử tội, phải biết hiện tại tâm đang gieo giống an vui thì đất tâm hiện có cực lạc, còn gieo trồng giống mê lầm, phiền não đất tâm là địa ngục, cõi si mê là của ngạ quỷ, súc sanh. “Thủ xả phân biệt”, Cực lạc chính tại tâm mỗi người, không phân biệt của ai, không riêng biệt gì của tôi. Nếu cực lạc còn chất đầy “cái tôi” thì tâm địa không phải là cõi không rỗng lặng, còn riêng của tôi là còn tâm phân biệt bảo thủ riêng tư lo sợ mất nên còn niệm giành giật, hơn thua, não loạn. Cực lạc là cõi lòng người trong sạch đã thí xả hết mọi niệm bợn nhơ thế tục, chỉ một lòng phục vụ chúng sanh để cúng dường chư phật, không gì riêng tư cả. Cõi cực lạc đủ của báu chỉ tiếp nhận người niệm Phật chí tâm. Địa ngục không riêng của Diêm vương bắt giữ tội nhân mà cõi đó do tự lòng người độc ác tự tạo tự nhận lấy theo nhân quả. “Chỉ thọ khoái lạc thanh tịnh tối cực”, lòng an ổn là thọ vào cõi cực lạc dành cho người biết niệm phật chơn chánh. Cực lạc không dành cho riêng ai mà cho tất cả khi buông bỏ được các niệm phàm tục đã thọ dụng nhiều vô lượng. Người có tâm cõi nầy không nghe tiếng chết, không nghe bệnh đau, không nghe tiếng than khổ, không tranh đấu, cãi vả, thù oán nhau, thường lắng nghe lòng nhắc nhở, biết đời là vô thường, khổ, không, vô ngã, chẳng có gì bền vững tồn tại nên gọi là cõi không. Công phu chuyên nhất có nghĩa là lúc nào cũng thành kính niệm nhớ Phật. Nhớ Phật chính là nhớ tánh giác, khi có hoàn cảnh là có duyên đến, nếu có người mắng nhiếc, nhục mạ, lập tức quay vào tánh giác sẽ gặp Phật, tánh Phật tại lòng sẽ dạy ta nhớ Phật, biết niệm Phật. Khi có người trù rủa, chửi mắng, thì xem  họ cũng là thiện tri thức nhắc ta niệm nhớ Phật tánh, sẽ không còn niệm nhớ vào chê bai, trù rủa, quên Phật là bất giác, không giác nên bỏ Phật chạy theo âm thanh chửi rủa, chê bai nhục mạ là mê muội duyên theo thanh trần, theo cảnh theo sắc tướng nên quên niệm nhớ Phật tánh (tánh giác) tối thượng, không còn nơi nào cao siêu cao tột hơn nữa. “Nếu có thiện nam, thiện nữ đã sanh, sẽ sanh đều được ở trong chánh định, quyết định chánh quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác”, dù nam hay nữ đều có tâm niệm thiện lành, nếu là trai tốt, gái xinh, lòng yên tịnh, dù có bao nhiêu sự quyến rũ ngoài thế gian cũng quyết lòng niệm Phật, dù có vạn điều vui thích cũng quyết giữ vững pháp tu tấm lòng không thối chuyển, lòng chơn chánh không nghiêng ngã là bậc giác ngộ tu chánh định, không để niệm ô nhiễm chen vào làm bản tâm lung lạc. Chánh đẳng chánh giác là tâm trong sạch, không còn vướng một mảy trần, trú vào chánh định  là thể nhập tự tánh chứng A-Nậu-Đa-La Tam-Miệu-Tam-Bồ-Đề đã giải thoát tất cả pháp thường ở trong tánh giác, là Phật đã hiện nơi lòng người giác ngộ, ngay cõi thế đã có Phật hiện tiền. Tại sao thế? “Nếu là tà định và bất định tụ chẳng thấu triệt đăng nhân tối cực đó” vậy tà Định là gì? Người sống bằng tà vọng tư tưởng sẽ sanh tà niệm, tin bằng tà tư duy gì không rõ lý nhân quả, tâm hướng về đâu nghiệp sẽ ngã về đó, trồng nhân là giống gì thì lên cây nấy sanh quả y như vậy. Niệm Phật chỉ nhớ A Di Đà Phật là gieo giống giác ngộ vào tâm, không cho niệm khởi duyên theo vật chất, không vướng trụ vào tiền tài danh lợi, dù gặp thần thông phép thuật linh ứng lòng không khởi ham thích, một lòng trì danh nhớ A Di Đà Phật hằng nhớ tánh Phật. A Di Đà Phật chính là Tâm, Tâm và Phật danh từ tuy hai tên gọi nhưng chỉ là một tâm niệm gắn bó thật chặt chẽ không lơi lõng. Niệm Phật mà tâm còn nghĩ nhớ vọng động ngoài thế gian thì công phu niệm Phật sẽ tan vỡ theo mây khói vì mất định tụ, tâm bất an đã mất quang minh sáng suốt. Nhân quả vốn bình đẳng, tự tánh mỗi người cũng bình đẳng, đều đầy đủ sáng suốt trí huệ nhưng bình đẳng theo nhân quả, biến hóa tùy vào tâm niệm trình độ, căn tánh của chúng sanh mà chứng quả rốt ráo tối cực hay phải chịu sa đọa mãi trong sáu nẻo luân hồi đời này sang đời khác.

Hào quang tánh Phật đón chào

Rước người chìm nổi dạt dào từ bi

Nếu lòng tịch tịnh kiên trì

Cõi lòng thanh thoát hiện liền quang minh

Tấm lòng cần phải đẹp xinh

Tâm thanh vi diệu trang nghiêm vô chừng

Học đạo xây đắp tình thương

Thương người mến vật hiển bày quang minh

Tại gia còn ở gia đình

Thương cha kính mẹ quang minh rạng ngời

Quang minh tỏa sáng cho đời

Sao người thế tục không hề mến ưa

Phật xưa vào thuở xa xưa

Cũng nhờ niệm Phật mà ưa Niết bàn

Phật thương hết thảy trần gian

Giác là tánh Phật thế gian vui mừng

Cuộc đời như thể mùa xuân

Là nhờ niệm Phật tấm lòng bình an

 

Muốn lìa bao cảnh sầu than

Lòng chuyên niệm vang vang mỗi ngày

Cuộc đời mê vật mê tài

Mà quên tánh Phật ngày ngày khổ đau

Đệ huynh nắn nót cùng nhau

Tin mình niệm Phật trước sau cũng về

Xa rồi khổ hải sông mê

Thì người con Phật vẹn bề bình an

Chèo thuyền cát tiếng hò khoan

Quyết lòng niệm Phật cũng khoan cũng hò

Cũng như chỉ gả đưa đò

Mượn danh Phật hiệu lần dò Tây phương

Pháp môn chẳng thể nghĩ lường

Nhờ người trí huệ đác đương nhiệm mầu

Niệm Phật quán xét thâm sâu

Vào đường hiểm nạn mặc dù khó đi

Đường trần cõi tục hiểm nguy

Biết nương pháp Phật ra đi nhẹ nhàng

Giống như bỏ lái chiếc thuyền

Biển đời sóng gió chèo thuyền ngược xuôi

 Tu nhìn vạn pháp đều vui

Nhất tâm niệm Phật buông xuôi bớt trần

Niệm Phật tròn nhớ Tứ Ân

Ân cha nghĩa mẹ tinh thần ngày nay

Nặng ân Thầy Tổ đừng sai

Nhờ ân Tam Bảo ân sâu ta nhờ

Cuộc đời giống thể giấc mơ

Nương cùng tuệ giác bớt đời mộng mơ

Kìa!!! Kìa Phật vẫn đứng chờ

Chờ lòng an định tức thời tâm tu

Sáng tâm đừng sống mê mù

Tu theo Phật đạo đừng tu theo  đời

Tu tìm Phật trí ai ơi

Sống bằng trí Phật bỏ đời sầu than

Giữ lòng nguyện chẳng mê man

Tâm là chí thiện thế gian hết phiền

Pháp Phật chẳng thể nghĩ bàn

Lý chơn tỏ ngộ luận bàn đôi khi

Tu thời hiển tánh từ bi

Từ là không khổ bi thời giúp cho

Ai tu cũng quyết lòng lo

Thương người mến vật cân phân thủy tình

Kệ văn gởi chút tâm tình

Vài lời nhắn nhủ giữ gìn pháp tu

Thoát ra khổ nạn Diêm Phù

Là người con Phật y như giáo truyền

Vạn pháp đều tại nhân duyên

Duyên lành nhân thiện hiện là phước xưa

Cuộc đời thay đổi nắng mưa

Quyết tâm niệm Phật tự đưa ta về

Đoạn trừ cho sạch tâm mê

Nhất tâm nhớ Phật đặng về bồng lai

Dứt rồi nghiệp lụy trần ai

Giữ lòng mãi mãi vẫn là thiện tâm

Chí thành niệm nhớ Quán Âm

Tu là thí xả cho tâm rỗi nhàn

Kệ văn dứt hết nghĩ bàn

Thiết tha nhớ Phật tại lòng công phu.

 

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

 

Cư sĩ Phật tử Như Thánh

Thành Kính Cúng Dường